Đặc San 2006 ( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

 
Đại Hội 2006 :

Tâm tư gửi bạn
    CungVĩnhThành

Những HC2 rời đàn
    NguyễnXuânDục

Hồi ký 36 năm ra khơi
    AnhChịHuỳnhvănBảnh

Thoáng giấc mơ qua
    ChịNguyễnNgọcChâu

Bút ký đh2006
    AnhChịNguyễnPhúcVĩnhViễn

Thuyền lại bến xưa
    TônThấtCường

Cảm nghỉ về đh2006
    20 và thân hữu


Đặc San 2006 :

Trang bìa
    TrầnTuấnĐức
Giới thiệu
    CungVĩnhThành

Những chuyện kể năm xưa
    Gia đình 20

Hiệp định ngưng bắn Paris và ...
    TrầnĐìnhTriết

36 năm ra khơi
    Chị LêvănTài

Nhớ về khóa 20
    ĐặngNgọcKhảm

Hội trùng dương
    CungVĩnhThành

Nẻo đường Thi Sách
    NguyễnvănĐệ

Hội ngộ
    ViễnHuy

Hai chuyến đi
    LêvănChâu

PCE08
    NgôThiệnTánh

Ông thần râu kẽm
    LêvănThạnh

Triệu đóa hồng
    NguyễnÁnh

Vĩnh biệt Nguyễn H. Tâm
    LưuĐứcHuyến

Nhớ anh trong tù
    LêKimCúc

Nhớ em trong tù
    HuỳnhvănBảnh

Một kiếp hải hồ
    LêvănTài

Mây tháng tám
    NgôThiệnTánh

Nam vang đi dể khó về
    HuỳnhKimChiến

Biển chiều
    CungVĩnhThành

Đi tìm mẩu xương xườn thất lạc
    NguyễnvănHùng

Thu, vỏ ốc và chuyến tàu khuya
    ThânHữu

Thầm hỏi? Nổi niềm
    VõKimMai

Lá thư bâng quơ
    VõthịĐồngMinh

Lục bát biển
    NgôThiệnTánh

Kỷ niệm vui buồn trên HQ9610
    ĐặngNgọcKhảm

Tìm tự do
    LêKimCúc

Nổi trôi
    NguyễnvănVang

Bố và con
    QuỳnhChâu

Những mảnh đời cải tạo
    HuỳnhKimChiến

Chuyện đàn bà
    NguyễnvănHùng

Đêm ngồi nghe thác đổ
    NgôThiệnTánh

Trang nhà khóa 20
    LêvănChâu

Bạn tôi
    NguyễnvănChín

Vượt thoát
    NguyễnÁnh

Bàn nhảm về chử Nôm
    NguyễnvănHùng

Chúng tôi muốn sống
    NguyễnvănChín

Trang cuối
    TrầnTuấnĐức


những chuyện kể năm xưa



Các bạn thân mến;
Bao nhiêu năm tháng trôi qua, bao nhiêu đổi thay đã xẩy đến cho cuộc đời của chúng ta. Nhưng trong tâm tưởng chắc chưa một ai trong chúng ta đã quên đi được hình ảnh của những chàng trai mới lớn, ngoài hai mươi tuổi, mắt còn sáng, môi còn tươi, ngày nào từ giã bút nghiên, lên đường theo tiếng gọi của non sông đất nước.
Rồi những buồn vui, mưa nắng dãi dầu trong quân trường, những gian nan trong chiến trận. Người theo tàu chiến bồng bềnh với sóng nước đại dương, kẻ lặn lội vùng sông lạch với những chiến đỉnh nhiều khi kề bên nỗi chết. Trong số chúng ta cũng có những người đã hy sinh cho tổ quốc, những bạn đã vĩnh viễn giã từ chúng ta khi tuổi đời còn trong lứa thanh xuân!
Theo vận nước nổi trôi, chúng ta đã đành đoạn tan hàng rã ngũ. Kẻ theo hạm đội di tản, lận đận với cuộc mưu sinh nơi đất khách quê người. Người ở lại ngậm ngùi trói thân trong vòng tù tội oan kiên. Sau đó là cả một phong trào vượt biên, bất chấp mọi hiểm nguy. Trong đó những người thuộc Hải Quân chúng ta đã đóng góp những vai trò quan trọng.
Những trang kỷ niệm sau đây đã dành cho chính những người trong cuộc kể lại cho nhau nghe. Mỗi người một cảnh ngộ, mỗi người nhìn sự việc qua một góc độ riêng của mình. Nhưng tổng hợp lại chúng ta sẽ thấy một bức tranh sinh động về một giai đoạn thương khó trong cuộc đời chúng ta nói riêng, và trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung.
Xin thân mời các bạn cùng chia sẻ những hoài niệm sau đây.
Trân trọng,
Cung Vĩnh Thành.



Trong lớp Hán Văn vào những năm đầu thời trung học, chúng ta thường được học những câu “chữ nho”. Trong sách Luận Ngữ, Đức Khổng Phu Tử có nói về ngài bằng những câu:
                      Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học.
                      Tam thập nhi lập.
                      Tứ thập nhi bất hoặc.
                      Ngũ thập nhi tri thiên mệnh.
                      Lục thập nhi nhĩ thuận.
                      Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ.
                      Bát thập cổ lai hy.

(Ta lúc vào tuổi mười lăm chỉ chí thú vào việc học, ba mươi phải nên người, bốn mươi đã có lòng tự tin, năm mươi đã biết được mệnh trời, sáu mươi nói lên đã nghe thấy thuận tai, bẩy mươi thì tùy theo lòng mà muốn nhưng không ra ngoài phép tắc, ít người thọ tới tuổi tám mươi lắm! Chỉ xin dám hiểu loáng thoáng như vậy.)
Vào năm 2006 này, chúng ta cùng nhau kỷ niệm 36 năm ra khơi của gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp. Chúng ta đều đã và đang trải qua cái tuổi “tri thiên mệnh”, và một số bạn cũng đã ăn mừng tuổi thọ Sáu Mươi Năm Cuộc Đời!
Tập Hồi Ký này được khởi xướng ra trong những lần họp mặt để “Mừng ngày gặp nhau đều đều” ở miền Nam California. Đã có rất nhiều kỷ niệm được nhắc lại, và tiếp tục được lập lại trong những lần họp kế tiếp hay mỗi khi có đám cưới con cái của các quan trong khóa mà không biết chán! Vậy tại sao chúng ta không cùng nhau ghi lại những kỷ niệm đó để mỗi khi buồn tình thì nhớ đến những ngày xưa kiêu hùng hay gì gì đi nữa… và nhất là mừng vẫn còn nhớ lại những kỷ niệm của chính chúng mình. Chúng ta hồi tưởng những kỷ niệm cũ, và ghi lại theo thể ký những kỷ niệm trong đời quân ngũ. Bởi vì chúng ta đã xấp xỉ “sáu bó” hay hơn rồi, và chỉ còn một cái vèo của thời gian nữa là chúng ta sẽ trở thành một đám già nua, hom hem, lọm khọm, lẩm cẩm ngay! Hồi ký này là của tất cả chúng ta. Cùng một câu chuyện, cùng một biến cố nhưng qua nhiều cái nhìn khác nhau, và dưới góc độ, tầm nhìn của mỗi người, của nhiều người.
Vậy thì, sau đây chúng ta hãy cùng kể cho nhau nghe:

Chương 1: Nhập Ngũ

                      Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
                      Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
                      (Chinh Phụ Ngâm Khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
       Vào năm 1969, chúng ta gồm 270 chàng trai đến từ khắp mọi vùng trên đất nước đã khởi đầu trang sử cho Khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân/Việt Nam Cộng Hòa, mang tên Đệ Nhị Hổ Cáp. Chúng ta gia nhập Khóa 20 vì nhiều lý do, nhưng phần đông là đã trôi nổi trên một năm tại Đại Học, đa số là Đại Học Sài Gòn, và đông nhất là phân khoa Khoa Học. Do đó Khóa 20 SQHQ rất đa dạng và đa hiệu. Tổng cộng có 270 người nhập khóa, nhưng cuối cùng chỉ còn 267 người trở thành sĩ quan Hải Quân. Có rất nhiều ý kiến ý cò mỗi khi có chuyện gì cần bàn cãi, nhưng chúng ta không bị phân hóa bởi những bất đồng và khác biệt, có lẽ nhờ ở cái mẫu số chung là Đệ Nhị Hổ Cáp chăng? Xin mời quý bạn cùng nghe lại chuyện những ngày đầu đời đi làm lính chiến của chúng ta:


1.- Nguyễn Xuân Dục: Hơn ba mươi năm trước, vào năm 1969 tôi còn đang vui đùa với đời trai mới lớn, và còn hồn nhiên lãng đãng với tuổi thanh xuân. Sau khi tốt nghiệp ngành Hàng Không, và đang chờ được bổ nhiệm sở, một hôm chợt có tên bạn cũ là Ngô Nguyên Trực từ Đà Lạt xuống, ghé tìm và nhờ chở ra BTL/HQ để nộp đơn xin gia nhập khóa SQ/HQ.
Tôi đã chở hắn ra Trung Tâm Tuyển Mộ Hải Quân ở số 2 đường Thi Sách. Trực vào và mang ra hai tờ đơn, tôi đã điền thử xem sao, không ngờ hai đứa đều được nhận ngay! Về nhà tôi ém nhẹm đi chuyện nộp đơn vào Hải Quân, cho mãi đến hôm phải trình diện nhập trại; Trực đến và rủ tôi đi, Ba Má tôi mới biết! Mọi người trách tôi là ngu dại vì có biết bao nhiêu người muốn được như tôi mà không được, nay tôi lại đi đâm đầu vào làm lính. Tôi phải biện minh mãi, và cuối cùng thì mọi người đành phải chịu. Những ngày đầu trình diện, chúng tôi làm thủ tục giấy tờ, bị hớt tóc “ba phân”, lãnh quân trang quân dụng, và được hướng dẫn qua trại Bạch Đằng II.

2.- Mai Kim Phụng: Các bậc cha mẹ hồi xưa khi mới có con thì cầu cho chúng ăn no chóng lớn, đến khi chúng trưởng thành đến tuổi đi lính thì lại than là “làm sao mà thằng bé nó chóng lớn thế!” Thế là bố đi lính, con đi lính, và chỉ có mẹ là không phải đi lính thôi. Nghĩ mà thương các bậc làm cha mẹ, và các bà vợ thời chiến tranh. Trước khi đi lính tôi “học đại” ở Đại Học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học, và rất có nhiều triển vọng là sẽ được thuyên chuyển tới Đại Học Thủ Đức. Tôi bèn xin phép “ông bà già” để tình nguyện đi Không Quân, làm Pilot thì bị ông bà ấy “sỉ vả” cho một “mách”… thế là tôi lại tiếp tục “tụ” ở Khoa Học. Cho đến khi Hải Quân mở tiếp khóa huấn luyện sĩ quan cho những người trai thời loạn thích mộng hải hồ thì tôi xin tiếp, và ông bà ấy im lặng “không ý kiến” nên tôi đi nộp đơn ngay. Cùng đi nộp đơn với tôi là quan Mai Ngọc Oanh, chú em con ông chú, mặc dù nó đang theo học ở Đại Học Kiến Trúc.

3.- Nguyễn văn Hùng: Sau khi giựt được mảnh bằng Tú Tài II “có dán hình”, tôi xin lập lại là “Tú Tài II có dán hình” chứ không phải loại chép sao, hay vì bão lụt, hoặc vì chiến nạn… Thuở đó, những người con gái đẹp và nhà giầu, nhưng không biết có học giỏi hay không, thường truyền miệng nhau câu “Phi đẳng cấp, bất thành phu phụ!” nghĩa Nôm là mấy anh không bằng cấp thì đừng có hòng mà rớ đến bọn em. Tôi bèn đua đòi theo chúng bạn mà xuôi Nam, ghi tên theo học trường Đại Học Sài Gòn, Phân khoa Khoa Học, chứng chỉ MPC hay là Toán Lý Hóa. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn theo học ở đây, tôi biết ngay là mình đã đi lầm đường, đành phải phụ lòng cha mẹ, và các người đẹp Nha Thành. Tôi ghi tên gia nhập khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân.

4.- Trần Ken: Theo giấy khai sanh thì tôi sanh vào năm 1946, khai sụt mất 3 tuổi, khi cha mẹ tôi lập giấy Thế Vì Khai Sanh vào năm 1960, vì cha mẹ tôi muốn tôi tránh đi quân dịch.
Tôi đậu Tú Tài II năm 1967, và sau đó trúng tuyển vào Dược Khoa nhờ hai môn thi Anh Văn và Vạn Vật. Môn Anh Văn thì nhờ đã học qua nhiều lớp Anh văn ở Hội Việt Mỹ nên tương đối được điểm cao, còn môn Vạn Vật thì nhờ “trúng tủ” hai câu hỏi then chốt trong bài thi. Câu hỏi thứ nhất về “vi trùng truyền nhiễm” và câu hỏi thứ hai là về vấn đề “truyền giống”. Do đọc truyện “Người Vợ không bao giờ cưới” có đề cập về truyền nhiễm vi trùng bệnh phong cùi do An Khê viết, đăng trên báo Tiếng Chuông nên tôi đã tương đối hiểu biết về câu hỏi này mà trả lời trót lọt. Nhờ một tài liệu khoa học đã đọc được trước đó, và bài học trong cuốn “Toát yếu môn Vạn Vật” lớp Đệ Nhất ban A, nên tôi đã không thấy khó khăn trong câu trả lời về “truyền giống”. Tuy đã được đậu vào trường Dược, nhưng tôi lại không thấy thích hợp với môn học này vì nó đòi hỏi phải học thuộc lòng, và phải có trí nhớ tốt nhiều hơn là phải suy luận. Tôi vốn có khiếu về phân tích và suy luận, và đầu óc thì không khá về tổng hợp cũng như học thuộc lòng. Tôi đã như kẻ đứng giữa ngã ba đường vào lúc đó! Nhưng cuối cùng thì tôi cũng theo đuổi phân khoa Dược vì nghĩ rằng người ta đã phải tốn tiền hối lộ để được theo học ở đây mà mình đã được đậu, không phải tốn một “xu teng” nào, bỏ qua thì uổng quá! Tôi lại có một cái mộng lớn là sau khi thành tài thì hy vọng sẽ có thể phối hợp được giữa đông dược và tây dược.
Theo luật quân dịch vào năm 1967, sinh viên đại học được quyền học nhồi một năm nếu thi rớt mà không phải nhập ngũ vì quân dịch. Nên tôi tà tà xin đi dạy giờ thêm ở trường Tri Dụng, gần chợ An Đông để kiếm thêm tiền. Tôi muốn đỡ gánh nặng cho cha mẹ tôi, đã gởi tiền nuôi tôi ăn học trong suốt tám năm qua trọ học ở Sài Gòn, và vì nghĩ rằng nếu lỡ mà có thi rớt một năm thì cũng chẳng sao, học lại thêm một năm nữa thì thế nào cũng phải đậu mà thôi. Nhưng chẳng may cho tôi và các bạn thanh niên cùng một trang lứa đã sinh “bất phùng thời”, Cộng Sản VN phát động chiến dịch Tổng Công Kích Tết Mậu Thân! Lệnh Tổng Động Viên đã được ban hành sau đó, tất cả các nam sinh viên nếu không được lên lớp, đều phải trình diện để theo học các khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi phải quyết định dứt khoát là không đi dạy học nữa, dồn hết thì giờ để ôn luyện bài vở cho kỳ thi cuối khóa. Nhưng cuối cùng thì tôi vẫn không “qua khỏi cầu” được! Dược khoa đòi hỏi sinh viên phải học thuộc lòng các thành phần thuốc, và môn hóa học cũng đòi hỏi nhiều đến trí nhớ chứ không cần mấy đến suy luận nên rất thích hợp cho các người học ban A, chứ không hạp với những người thuộc ban B như tôi.
Tôi thuộc thành phần khóa 3/69 Thủ Đức, và hạn chót phải trình diện hình như là vào ngày 8 tháng 3 năm 69 thì phải (?) Tôi cũng đã trúng tuyển vào khóa 19 SVSQ/Hải Quân nhưng đã không trình diện đi khóa này vì vẫn kỳ vọng rằng sẽ còn có cách tránh bị động viên vào giờ phút chót. Ông Cậu ruột của tôi có đề nghị với ba má tôi là nếu muốn, ông ấy sẽ lo “xoay sở chạy chọt” cho tôi vào ngành Cảnh Sát như là con trai của ông ấy, nhưng không biết rõ là sẽ tốn hết bao nhiêu tiền! Vì không muốn cha mẹ tôi lại tốn thêm quá nhiều tiền cho tôi nữa, nên tôi đã không chịu; vào giờ chót tôi đành ghi danh xin gia nhập Khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân trước khi đến hạn kỳ phải trình diện Thủ Đức có mấy ngày. Thôi thì đành làm nhánh lục bình vậy:
                      Bông lục bình trắng, điên điển mầu vàng
                      Điên điển mọc ở đất làng
                      Lục bình trôi nổi như chàng Hải Quân.
                     
(Ca dao chế biến)

5.- Ngô Nguyên Trực: Đang theo học tại Đại Học Đà Lạt, khoa Chính Trị Kinh Doanh, sau vụ Tổng Công Kích hồi Tết Mậu Thân của VC, tôi bị đâm ra “dư tuổi” để được hoãn dịch vì lý do học vấn! Thấy chương trình quảng cáo tuyển mộ SQHQ trên đài phát thanh hay truyền hình, tôi về Sài Gòn và nộp đơn xin gia nhập khóa 20 SQHQ. Tôi ghé nhờ một tên bạn học cũ ở trường trung học Võ Trường Toản là Nguyễn Xuân Dục chở đi nộp đơn, rốt cuộc rồi hắn cũng theo tôi gia nhập HQ luôn!

6.- Nguyễn văn Đệ: Tôi đã được quan Đỗ Ngọc Viêm, ông anh họ của tôi, rủ rê nộp đơn xin theo học Hải Quân khi đã có triển vọng phải nhập ngũ khóa 6/69 Thủ Đức. Di cư năm 1954, tôi theo gia đình của bà cô ruột vào Sài Gòn một mình. Cha mẹ và các anh chị em tôi không đi thoát hay đã chọn phương cách ở lại. Trong tâm tư, tôi đã luôn lo sợ bị vướng vào tình cảnh anh em ruột ở hai bên giới tuyến khác biệt, và bắn giết nhau một cách vô tình và vô nghĩa! Tôi gia nhập Hải Quân vì đó là một phương thức tương đối có một xác suất đỡ rủi ro vướng vào hoàn cảnh anh em ruột chúng tôi trực diện bắn giết nhau nhất.
Thế là hai anh em chúng tôi nộp đơn, những tưởng lại phải thi cử để chen chân vào, nhưng bất ngờ Hải Quân họ nhận hết ráo trọi bất kỳ cao quá khổ như quan Nguyễn Hải hay Nguyễn Hoàng Liêm, “mem mém” thiếu thước tấc như quan Vũ Lùn hay HTDzân, mập mạp như quan Hai Néo, đen đủi như Khanh Xi-ra hay Sơn Đen, cổ rụt như Dzũng Rùa, “già nua” như NVXuân Già hay ĐHTrí Già, lạch bạch như HLVịt (xin mở một dấu ngoặc ở đây, quan Hồ Ái Việt không có lạch bạch một “tí ti ông cụ” nào mà còn nhẩy Tango và Valse hết sức là lả lướt, nhưng vì tên “Vịt” mà các bạn đặt cho anh thấy có vẻ gợi hình như cái dáng đi lạch bà lạch bạch của chú vịt. Cũng như trường hợp ông bạn cùng chung một tiểu đội với tôi từ thuở quân sự học đường là quan Võ văn Hai ở trên! Tôi chỉ xin nêu lên đây một vài thí dụ để qúy bạn nhớ lại thuở xa xưa mà thôi), nghe nói có bạn tú tài ban A, hình như có cả tú tài ban C nữa (?), và Hải Quân thường chỉ dành ưu tiên cho những người có bằng tú tài ban B. Lúc bấy giờ Hải-quân nhận “tuốt tuột” như vậy có lẽ vì đã làm trai ở trong trời đất thì mọi người trai Việt Nam đều đã được hun đúc bởi những bài học:
                      Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái,
                      Cái công danh là cái nợ nần,
                      Nặng nề thay hai chữ quân thần,
                      Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ.
                     
(Nợ Nam Nhi - Nguyễn Công Trứ)

7.- Phan Ngọc Long: Tôi chào đời năm 1946 tại Nam Định, di cư vào Nam năm 1954 và trên vai không quên vác theo cọng rau muống. Đang theo học tại Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, ban Công Chánh, tôi yêu mộng hải hồ nên một hôm đẹp trời tự nhiên nổi hứng, bèn “xếp bút nghiên theo việc kéo neo”. Gia nhập khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân vì sự mong muốn, nhất định, và tự lựa chọn, không vì “quân dịch quân giếc” chi cả.
Các bạn HC2 đầu tiên tôi gặp và chơi chung tại Bạch Đằng II là quan Heo Dầu Nguyễn Xuân Dục, Phạn Xá Nguyễn văn Đệ, Ngô Nguyên Trực Đà Lạt, và Nguyễn Hữu Hải (đã giã từ HC2 trong thời gian bị huấn nhục tại Nha Trang.)

8.- Mai Kim Phụng: Tôi tuy trông ốm yếu gầy còm nhưng khi khám sức khỏe thì “qua cầu một cái vèo.” Một vài người có hỏi nhỏ tôi là hồi sáng ăn cái gì mà cân nặng đủ ký thế? Tôi nói là chỉ mới có độc một ly cà phê uống vội thôi, các vị ấy nghe thấy vậy thì bỏ đi “nước một” vì tưởng là tôi đã …giấu nghề!

Chương 2: Bạch Đằng II

       Trong tháng Ba và Tư năm 1969, chúng ta trình diện BTL/HQ để được chính thức trở thành những sinh viên sĩ quan Hải Quân Khóa 20. Tất cả đều tạm trú tại trại Bạch Đằng II, và trên tạm trú nổi HQ 9600 cặp bến ngay tại cầu C, nằm phía trước cổng trại BĐ II. Thượng Sĩ Nhất Quản Nội Trưởng Thinh và Trung Úy Nghiệp là những người đầu tiên đã chỉ huy chúng ta.

9.- Nguyễn Xuân Dục: Ngày đầu trình diện, chúng tôi làm thủ tục giấy tờ, lãnh quân trang rồi được đưa qua trại Bạch Đằng II. Qua đến đây, chúng tôi thấy có khoảng bốn trung đội đang đứng so hàng thẳng lối dưới sự điều động của Nguyễn Hùng Tâm. Chúng tôi gồm có Ngô Nguyên Trực, Nguyễn Minh Cảnh, Ngô Viết Hùng, Tô Ngọc Diệp, Phan Ngọc Long, Tôn Long Thạnh, Trương văn Hiếu, Lưu Ngọc Quang, tôi và Nguyễn Hữu Hải (đã đào ngũ ngay khi đi bờ lần đầu tiên ở Nha Trang để gia nhập Cảnh Sát) thành một tiểu đội riêng biệt, và NNTrực làm trưởng toán. Khi các bạn khác tuần tự trình diện thì quân số của chúng tôi tăng lên đến đủ số cho một trung đội, và chúng tôi thành Trung Đội “Fulro” vì đứng biệt lập. Sau nữa thì các bạn Tô Ngọc Điệp và Nguyễn Minh Cảnh đã được tách ra coi những trung đội mới khi có thêm quân số.
Trong lúc chờ đợi để nhập khóa, hàng ngày chúng tôi sau buổi tập họp điểm danh vào buổi sáng thường được chia nhau đi bờ tùy theo phân đội. Phân đội Tả gồm các trung đội 2, 4, 6 và phân đội Hữu gồm có các trung đội 1, 3, 5. Vì thời gian chờ đợi quá ư rảnh rỗi, nên chúng tôi thường đi chơi chung với nhau thành từng nhóm. Nhóm chúng tôi thường đi chơi chung với nhau gồm có Ngô Nguyên Trực, Lưu Ngọc Quang, Phan Ngọc Long, Lưu An Huê, Nguyễn Hữu Hải, Tôn Long Thạnh, Nguyễn văn Đệ, Huỳnh Hữu Lành và Nguyễn Xuân Dục. Chúng tôi la cà hầu hết các tiệm kem tại trung tâm Sài Gòn, khi thì rạp ciné Eden, khi thì sở thú… Sau đó HHLành có bạn gái nên phải túc trực thường xuyên tại quán bán vải nên không còn đi chơi chung nữa.
Tôi vẫn còn nhớ vào một buổi chiều khi không còn chỗ nào đi chơi nữa, và tài chánh cũng không còn, tôi bèn rủ cả bọn ghé vào nhà một người quen trên đường Trần Hưng Đạo. Chúng tôi được tiếp đón nồng hậu, và chuyện trò vui như ngày Tết với cô con gái chủ nhà, tuy cô ta mới mười sáu “trăng tròn lẻ” hay mười bẩy tuổi “bẻ gẫy sừng trâu” nhưng duyên dáng và rất khéo léo gợi chuyện. Sau hôm đó thì bỗng thấy bạn PNLong có vẻ như mất hồn:
                      Trúc với mai, mai về nhớ trúc,
                      Trúc ra về, trúc nhớ mai không?
                     
(Ca Dao)
Sau cùng thì PNLong đã “thú tội” là cô bé con chủ nhà đã làm anh ta ngây ngất vì “nàng” có dáng đi, tiếng nói, giọng cười giống “y chang người yêu cũ” của mình. Sau đó thì chuyện gì phải đến đã đến, tôi và NNTrực đã trở thành những con thoi đưa thư cho “đôi trẻ”. Cũng vì đôi trẻ này mà sau này tôi đã thành “người tù” đầu tiên của Khóa 20 tại quân trường Nha Trang.

10.- Mai Kim Phụng: Khi đi trình diện ở Bạch Đằng II xong thì tôi cũng chả được cấp phát quân phục gì cả nên cuối tuần… “về phép” chẳng có một ai tin là mình đã đi lính rồi! Không biết lệnh lạc từ đâu đến mà tôi nghe nói ai mà không có quân phục mầu vàng thì không được chuyển ra Tạm Trú Hạm. Tôi tuân lệnh… “đàn anh” răm rắp nên cho đến giờ phút này cũng vẫn chưa được biết là cái nếp sống ở Tạm Trú Hạm nó ra làm sao nữa! Vô Bạch Đằng II được vài ngày thì quan Nguyễn văn Yên “Bột” cũng nhập trại. Sở dĩ tôi chú ý đến hắn là vì chỉ thấy hắn đi ăn rồi nằm “thuỗn” người ra, mấy chú rệp hoạt động du kích tích cực gần bên mà hắn cũng cứ tỉnh bơ coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, rất là hòa bình.

11.- Trần Ken: Trong thời gian tạm trú ở Bạch Đằng II, chúng tôi khá rảnh rỗi, chỉ phải làm tạp dịch lai rai thôi nên đã có khá nhiều thời gian rong chơi “Đi Bờ”. Trong Khóa chúng tôi có cả thẩy bốn anh mang tên Lộc, nhưng riêng anh TMLộc thì quá thành công trong chuyện bồ bịch, và nhất là chăn bắt “bò lạc”, vì vậy anh đã có biệt danh là “Lộc Bò Lạc” để phân biệt với những anh Lộc khác. Có một dạo tôi đã “thèm” để được “giỏi” như anh TMLộc. Tình cảnh Anh Lộc BL đúng như là:
                      Sáng về con Hai nó cắt
                      Con Ba nó đột
                      Con Tư nó lược
                      Con Năm nó viền
                      Con Sáu nó kết nút
                      Con Bẩy nó đơm khuy
                      Sáng ngày ra anh vừa mới cất bước ra đi
                      Con Tám nó kéo
                      Con Chín nó trì
                      Mười ơi để vậy còn gì áo anh.
                     
(Ca dao)
Riêng tôi thì thường đi chơi chung với bạn Lê văn Thảnh và Đàm Thanh Tâm. Hai bạn LVThảnh và ĐTTâm có bạn gái làm y tá ở Tân Định, và hình như chị LVThảnh là người đẹp y tá từ dạo ấy thì phải. Anh Đàm Thanh Tâm cũng là một tay chơi volleyball có hạng trong khóa chúng tôi.

Chương 3: TrungTâm Huấn Luyện Quang Trung

       Vào khoảng đầu tháng 05 năm 1969, Khóa 20 được đưa lên TTHL Quang Trung để học khóa Căn Bản Quân Sự. Được chia ra làm 2 Đại-đội (?) thuộc Tiểu-đoàn Trần Bình Trọng, mang bảng tên mầu đỏ, chúng ta đã được huấn luyện và thực tập như một người lính Bộ Binh. Cũng có đi bãi, cũng có tập bắn, và nhất là cũng có “chà láng” những công sự phòng thủ chung quanh doanh trại, tuy không được say mê và hăng hái như những người bạn Bộ Binh. Ba tháng quân trường, chúng ta chia nhau từng miếng thịt, quả trứng kho, hay tí muối mè trên những bãi tập. Những tấm hình chụp làm kiểng để kỷ niệm làm cho chúng ta gần nhau hơn. Những buổi thăm viếng chia sẻ cho nhau những miếng bánh, cái kẹo làm cho chúng ta cảm thông với nhau nhiều hơn.
12.- Mai Kim Phụng: Hồi thụ huấn ở Quang Trung thì có ông sĩ quan cán bộ đi theo là chuẩn úy CB tên Rượi, đã từng học chung một lớp với tôi ngày xưa nên dùng tôi làm liên lạc viên, và ngủ chung cùng một bunker. Tuy thế cũng hơi khó nói chuyện, nên ngày hôm sau tôi đã xin ra “tiền đồn” cho nó vui hơn. Ngày đầu “đi kích đêm”, chúng tôi đã chọn được một chỗ coi có vẻ bằng phẳng mà cắm lều. Thật là không may cho bọn chúng tôi vì nơi ấy là chỗ trũng nước, và đêm hôm đó thì mưa to nên lều của chúng tôi bị ngập nước, và chúng tôi đành phải ngủ ngồi cho qua đêm! Lần sau thì có “kinh nghiệm” hơn, nên chúng tôi đã chọn một cái gò cao để cắm lều. Đêm hôm đó cả bọn chúng tôi chỉ có một thế nằm duy nhất là nằm sấp mà thôi, nằm ngửa hay nằm nghiêng đều không được vì mặt đất chỗ dựng lều nó cong vòng.

13.- Nguyễn văn Đệ: Lên TTHL/Quang Trung, tôi tiếp tục làm thư ký Đại Đội cùng Trần Đông Phước. Chúng tôi lè phè chia nhau ở nhà với danh nghĩa “trực đại đội” mà không phải đi bãi nhiều như các anh em cùng khóa. TĐPhước người miền Nam, hiền lành và ít nói, nhưng tán đào thì đáng làm sư phụ của tôi. Tôi không hiểu anh “thả dê” như thế nào mà mấy em bán nước ngọt tại đó mê anh như điếu đổ! Tôi được “ăn ké” chè đậu xanh và đậu đỏ bánh lọt thường xuyên. Hôm nào đi gác đêm bên đài phát tuyến là anh lại rủ tôi chui vào nhà một quan chức trong khu, nơi có mấy cô con gái xinh thật là xinh để xin ngủ nhờ trong nhà thay vì phải chăng lều ngủ ngoài tuyến gác.
Nếu tôi nhớ không lầm thì Nguyễn Hải là người đầu tiên đã “diện” đồ tím đi bờ. Với bộ đồ tím HQ, gắn lon Alpha và mũ mão với những đường giây kim nhũ vàng chóe, làm cho mấy anh bộ binh đứng gác cổng hoảng hốt bồng súng lên chào “rùm rụp”, mà chẳng dám hỏi giấy phép xuất trại của “quan” chi cả. Với hệ thống tự chỉ huy, các svsq thay nhau làm sinh viên trực để điều động hàng quân, báo cáo quân số, và những sinh hoạt trong ngày… Quan Vũ Huy Tự hay “cụ Tự”, một người hiền lành và trông rất đạo mạo. Hôm anh làm SVSQ trực, khi điều động hàng quân anh đã hô khẩu lệnh “thao R_I_Ễ_N …nghỉ” với giọng nói “ngọng” đặc rệt của miền quê thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Mọi người cười lên ầm ỹ, nhưng anh vẫn tiếp tục những khẩu lệnh phải làm mặc cho ai cười thì cười. Qua trận cười đó thì chúng tôi tuân lệnh anh răm rắp vì thấy anh nghiêm chỉnh quá.

Chương 4: Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang,
Giai đoạn Sinh Viên Đàn Em

       M ới ngày nào chúng ta còn là những bạch diện thư sinh, nay chúng ta đã là một tập thể lớn mạnh. Chúng ta đã nghĩ là mình đã có đủ bản năng, và bản lãnh để đối diện với những gì đang chờ đón chúng ta tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Những gì mà chúng ta đã đồng ý bỏ lại cho đời sống dân sự những cái “tà tà dân chính”, và để trực diện với “trước mặt là biển cả mênh mông, và sau lưng là núi non hùng vĩ…”:

14.- Mai Kim Phụng: Ngày tháng trôi qua vùn vụt, hết Quang Trung rồi lại tới Nha trang, Theo tàu từ Sài Gòn ra Nha Trang tôi không bị say sóng gì cả, nhưng khi lên bờ thì lại thấy đất trời quay cuồng chập chùng khoảng 15 phút sau mới hết cái cảm giác bị say, say đất như thế.

15.- Nguyễn văn Đệ: Chúng tôi được chở ra Nha Trang bằng Hải Vận Hạm HQ 406. Tàu từ từ rời bến Bạch Đằng khoảng giữa trưa. Chúng tôi náo nức nhìn phố xá Sài Gòn một lần cuối trước khi ra Nha Trang, trên bờ còn sót lại một vài tà áo dài vẫn còn lưu luyến buổi tiễn đưa mà chưa chịu về.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
(Chinh phụ ngâm khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
Hạm trưởng đem theo gia đình với một vài bóng hồng làm cho chuyến đi của chúng tôi bớt phần nào tẻ nhạt. Những người đẹp này đã đứng khóc ròng khi thấy chúng tôi bị đàn anh “quay như dế” trong mấy ngày đầu. Đến Nha Trang và ủi bãi khoảng chập tối. Tôi đứng ngay ổ súng 40 ly kép bên tả hạm phía trước mũi. Trên bờ thấy có nhiều người đi đi lại lại, đồ tiểu lễ trắng cũng có và đồ đậm mầu cũng có. Khi tàu đã thả neo lái và ủi bãi, cửa đổ bộ hạ xuống, chúng tôi xếp hàng theo như đội hình đã có sẵn ở Quang Trung, bầu trời đã chập choạng tối, khu quân trường đã lên đèn. Chúng tôi hồi hộp, im lặng ngoại trừ những tiếng hô khẩu lệnh của NHTâm cho đoàn quân với những thủ tục xếp hàng theo đội hình từ ngoài bãi biển. Một vài đàn anh có vẻ có nhiệm vụ chỉ huy và tiếp đón chúng tôi đã thấy đứng ở phía trước hàng quân, tay chống nạnh coi bộ tịch ra vẻ rất ư là đàn anh.
Theo lệnh sinh viên trực của trường SQHQ, NHTâm đã điều động chúng tôi đếm bước đi vào quân trường. Đàn anh khóa 19 đứng rải rác dọc theo đường đi. Họ im lặng quan sát, có người mặc đồ tiểu lễ đi bờ vì là cuối tuần, có người mặc đồ tím. Chúng tôi xếp hàng tại Thao Diễn trường. Thủ tục điểm quân được thi hành, và NHTâm báo cáo quân số cho sinh viên trực. Hình như đàn anh 19 Lê Rĩnh hay Trần Đức Hợp là người có nhiệm vụ đón tiếp và ra lệnh cho chúng tôi thì phải. Chỉ có khoảng hai hay ba chục sinh viên cán bộ đàn anh là chia nhau đứng chung quanh chúng tôi, còn những người khác tụ tập đứng gần, đùa giỡn rần rần với chúng tôi bằng những câu quát tháo vu vơ nghe rất tức cười, nhưng chúng tôi cố nén không dám cười. Sau một vài điều giới thiệu và căn dặn, giọng đầy uy quyền của sinh viên cán bộ đàn anh. Hình như có một hay hai anh trong số chúng tôi đã bật khóc (?) thút thít vì những giọng nghiêm nghị quát tháo om sòm của đám đông đàn anh bu quanh. Sau đó chúng tôi được điều động đi vào một tòa nhà to lớn trống trơn, sau này mới biết đó là Phạn Xá Đoàn Viên. Chúng tôi được lệnh nằm nghỉ qua đêm tại đây. Vào đây chỉ còn cán bộ đàn anh, còn những đàn anh khác tản mác đi về phòng. Mọi người được lệnh mở sac marine lấy đồ ăn ra và phải ăn cho hết, không được dấu giếm, nếu ăn không hết thì phải vứt bỏ. Đó là lệnh, ngắn và gọn, nhưng rất là cương quyết. Thôi thì bánh kẹo, thịt chà bông được lôi ra ăn, nhiều quá thì chia bớt cho những anh em không có mang đồ nhiều như tôi ăn giùm. Những vật nhọn như dao kéo đều bị tịch thu. Độ sáng của đèn trong nhà được giảm xuống, và chúng tôi được lệnh đi ngủ. Chúng tôi nằm xuống nền nhà, gối đầu trên sac marine cố dỗ giấc ngủ mà lòng đầy những lo âu. Cán bộ đàn anh còn lại khoảng năm ba người đi tuần loanh quanh chỗ chúng tôi nằm, luôn luôn nhắc nhở bằng những giọng khe khẽ nhưng đầy quyền uy “ngủ đi anh!” Sau một hồi trằn trọc vì lo âu, tôi mệt quá nên ngủ thiếp đi. Anh bạn tôi, Vương Thế Phiệt và một vài người nữa mà tôi không nhớ tên, đã lén lút giữ lại đường và bánh kẹo, trong giai đoạn bị huấn nhục đã bị phát giác, và phải chịu đựng những hình phạt thật là đắng cay vào những ngày sau đó.

16.- Trần Ken: Ngày hôm sau, chúng tôi phải chạy vòng quanh quân trường với sac marine trên vai hai chục vòng để chào mừng quân trường, vì chúng tôi thuộc khóa 20. Cũng nhờ chúng tôi đã tập luyện mấy tháng tại TTHL/Quang Trung rồi nên cũng đỡ khổ. Tuy nhiên nơi quân trường Nha Trang thì hầu như được bao phủ toàn là cát, cát trắng mịn nhưng đã làm cản trở bước chân chạy của chúng tôi rất nhiều. Nhiều nơi chúng tôi đã phải bò mà ủi sac marine lăn trên đường. Đàn anh ăn mặc dị hợm, người thì mang áo tập võ, người thì áo bỏ ngoài quần, đầu luôn mang mũ ngược, túa ra hò hét la lối những câu nghe “chướng phè”, lôi một vài người ra khỏi hàng mà bắt nhảy “thăng thiên độn thổ” hay hít đất vài chục cái trước khi phải chạy tiếp. Chúng tôi được tập họp sau màn chạy “chào mừng quân trường.” Chúng tôi được phân tán về hai dẫy nhà tiền chế, và nơi đây sẽ là chỗ trú ngụ của chúng tôi trong suốt thời gian làm đàn em.
Tuần lễ huấn nhục có lẽ bắt đầu sau buổi cơm trưa ngày hôm sau. Vào đêm tuyên bố mở màn chương trình huấn nhục, chúng tôi được tập họp ngoài sân cát trước cửa Câu Lạc Bộ SVSQ, mọi người phải quỳ gối nghe đàn anh”truyền lệnh”. Có khoảng 20 “Đao phủ thủ” ăn mặc “lôi thôi lếch thếch” và trông không giống ai, thay phiên nhau lên mà la hét những tiêu lệnh mà chúng tôi sẽ phải thi hành trong nếp sống hàng ngày, và họ đã luôn bắt đầu bằng câu “Khóa Hai Mươi nghe đây…” Cứ mỗi lần một “Đao phủ thủ” chấm dứt câu hét là đều được nhấn mạnh đồng loạt của cả tập thể đàn anh đứng chung quanh, bằng cách lập lại mấy chữ sau cùng của câu hò câu hét đó. Tôi không nhớ được nội dung của những câu hò câu hét của đàn anh. Bị quỳ gối qúa lâu trên những hạt sạn bằng đá xanh đập nhỏ để lót đường, đầu gối tôi đau thốn, tôi giả bộ nằm vật xuống như là bị té xỉu để khỏi phải quỳ gối nữa! Nhưng có lẽ đàn anh biết được nên đã lôi tôi ra, và bắt nhẩy thăng thiên độn thổ!
Vào một trong những ngày đó, tôi không nhớ là tôi đã làm điều gì sai quấy, nhưng một đàn anh mà tôi không nhớ mặt, đã ra lệnh cho một số các bạn cùng khóa của tôi thi hành việc kéo lê tôi trên bãi cát gần Câu Lạc Bộ SVSQ. Các bạn đó đã nắm hai chân của tôi mà kéo chạy, người tôi lê trên mặt cát, tôi phải gồng mình, ngẩng đầu lên cho khỏi bị lết trên mặt đất. Sau này tôi có nghe kể lại là tôi còn bị kéo trên cả mặt của vỉ sắt nữa, nhưng tôi không còn nhớ là sự thật đã xảy ra như thế nào. Ban đầu tôi bị kéo lê ở trong vị thế nằm ngửa, tôi cắn răng gồng mình chịu đựng. Bị kéo quá lâu, tôi chịu không thấu nên đã tự xoay qua thế nằm xấp mà gồng mình chịu tiếp. Tôi không nhớ là đã bị kéo như thế đến bao lâu, nhưng thời gian có lẽ thật là lâu đối với nỗi đau đớn quá sức chịu đựng của tôi. Sau nhờ một người khóa đàn anh đã dìu tôi ra khỏi hiện trường bằng cách bắt tôi chạy theo rồi ngồi xếp bằng từng chặng một dưới bóng mát của những gốc cây rồi sau cùng anh hướng dẫn tôi chạy về phòng, và bảo tôi nằm trên giường của tôi. Trên đường về phòng, anh có cho tôi biết tên anh là Nguyễn Cư. Anh có hỏi tôi là có tập Yoga hay không là vì có lẽ anh đã thấy tôi gồng mình trong khi bị kéo. Sự thật là tôi có đọc qua nhiều sách tập luyện Yoga nhưng chưa bao giờ thực hành; có lẽ nhờ đọc sách Yoga nên tôi áp dụng phương pháp gồng mình để chịu đựng cơn đau buốt khi bị kéo sước da, và tôi nghiệm thấy việc khi gồng mình như vậy thì tôi cảm thấy bớt bị đau đớn. Dường như anh đã cho tôi biết là anh cũng có luyện tập Yoga.
Sau khi lên giường, tôi đi vào giấc ngủ mê man, và nằm mộng thấy mình được đi Nhật Bản để sửa chữa những khiếm khuyết trên mặt hay trên đầu mà tôi đã từng bị mang mặc cảm. Tôi nhớ mang máng trong cơn mê sảng, tôi có sờ đi sờ lại vào nơi cái sẹo ở phía sau ót. Cái sẹo này tóc không mọc ra được, và càng bị lộ thật là rõ nét một khi tôi hớt tóc cao. Trong khi bị phạt có lẽ bị mất nước nhiều vì mồ hôi luôn luôn vã ra như tắm, và bị lên cơn sốt vì cái nắng chang chang của buổi trưa hè, nên khi bị mê man như thế tôi đã thấy khát khô cả cổ; tôi thức giấc và mò vào trong buồng tắm tìm nước uống, nhưng vòi nước chảy ra một thứ nước vàng khè vì rỉ sét! Tôi đã không dám uống mà trở lại nằm vật xuống giường ngủ thiếp đi trong cơn sốt nặng. Tôi cũng nhớ mơ màng là dường như đã có lấy trong sac marine của mình ra chai thuốc bột peniciline mang theo, để rắc lên những vết thương trên mình trên mẩy trước khi ngủ thiếp lại. Tôi được đánh thức dậy vào giờ cơm chiều. Theo các bạn xếp hàng đi vào phòng ăn, tôi đi thất thểu như một người mất hồn và thấy rêm khắp châu thân; tôi bước đi như một kẻ mộng du! Đâu đó tôi nghe văng vẳng có tiếng la lớn của một đàn anh nói: “Khóa 20 có người bị điên!” và dường như đã có ai đó la lên “Trần Ken bị điên!” Tôi phân vân tự hỏi: “Hay là mình bị điên thật rồi chăng? Thế là đời mình tàn rồi!” Tôi cảm thấy thật xuống tinh thần. Tôi thấy thất vọng về cái cuộc đời “mạt rệp”, dang dở vì thi rớt của mình! Tâm trạng của tôi lúc đó thật là hoang mang, hụt hẫng! Dường như là sau bữa cơm chiều hôm đó, SVSQ trực đã dẫn tôi lên trình diện Đại Úy Đăng, SQ Đại Đội Trưởng. Tôi không nhớ lại những lời hỏi đáp giữa Đ/U Đăng và tôi khi ấy, nhưng tôi nhớ mang máng là mình đã có thắc mắc là mình có bị điên hay không? Đ/U Đăng có hỏi tôi là có bị thương ở đầu hay không? Rất may là tôi không có bị thương ở đầu, nhưng có lẽ trong lúc nằm sốt ngủ li bì mê man tôi đã rờ đi rờ lại nơi vết sẹo phía sau ót như đã kể bên trên, nên mọi người đã tưởng là tôi bị thương nơi đầu và bị điên chăng? Tôi có xin Đ/U Đăng cho tôi lên bịnh xá để được xức thuốc vào những nơi bị thương. Sau đó SVSQ trực lại dẫn tôi lên bệnh xá để được trị liệu, nhưng y tá trực chỉ xức thuốc đỏ vào những vết thương trên bụng, lưng và ngực của tôi mà thôi! Nếu không nhờ có bột thuốc penicillin mang theo, thì những vết trầy xước nơi bụng nơi ngực của tôi có thể đã làm độc, và để lại đầy những vết sẹo trên thân thể tôi rồi.

17.- Nguyễn văn Đệ: “Bố” tôi là đàn anh 19 Nguyễn Hữu Khiêm, Tiểu đoàn trưởng SVSQ với bốn “bệt” vàng trên cổ áo, quyền uy một cõi. Tôi nhẩy xổm hay nhẩy như con cóc vào phòng “C2” đầy hắc ám để nhận lễ Bố-Con. Nơi đây một con gà quay có quết bơ thơm lừng, vài ổ bánh mì, và nhất là một “ly cối” coca cola có quậy thêm sữa đặc có đường đang chờ tôi sau những màn hít đất “sương sương” gọi là cho có lệ. Sau những ngày hùng hục thi hành và mệt rã rượi chân tay mình mẩy với những hình phạt “thăng thiên độn thổ”, hít đất, tập họp “ba mươi giây”, những buổi sáng chạy, buổi trưa chạy, buổi chiều chạy, buổi tối chạy. Chúng tôi chạy huỳnh huỵch! Chúng tôi chạy trước khi ăn, chúng tôi chạy sau khi ăn. Chúng tôi chạy một mình, chạy một nhóm, chạy cả một trung đội, chạy cả một đại đội, chạy cả một khóa, chạy như chưa bao giờ từng được chạy như thế! Đêm ngủ, nằm mơ cũng thấy chạy, và lúc nào cũng tưởng như là đang nghe thấy tiếng còi tập họp “ba mươi giây”. Chúng tôi mệt mỏi đến phờ phạc cả người, cũng như chúng tôi thèm ngủ đến quay quắt con ngươi. Đến lúc nhận lễ “Bố - Con”, được hưởng một ly “cối” nước Coke lạnh, có quậy thêm sữa đặc thì có lẽ là cả một thiên đường thần tiên của chúng tôi. Những sự tức giận, những nỗi ấm ức, những niềm căm hờn đã được ấp ủ, chôn dấu theo những bước chân chạy bao lâu nay cứ thế mà tuồn tuột trôi đi mất tiêu theo những ngụm nước Coke mát lạnh và “ngọt lừ” chất đường từ sữa.
Đàn anh 19 Hoàng Công Dược, “ông chú” cùng phòng với Bố tôi, khuyên tôi nên nhảy ra làm một cái “chức sắc” gì đó cho nó “phẻ con gà”, nhất là làm sinh viên ẩm thực như ông ấy nữa thì thật là nhất. Tôi đã nghe lời mà nhẩy ra tranh cử chức trưởng ban ẩm thực ĐĐ1 Khóa 20 SVSQ. Tôi đã được đắc cử “ngon ơ” vì không có đối thủ, và nay nghiệm lại thì thấy lời khuyên của ông này quả là hết sức có lý. Xin cám ơn đàn anh Hoàng Công Dược đã chí tình chỉ bảo! Nhưng cũng vì được lè phè như thế, ra Nha Trang như đi chợ như vậy mà tôi đã có nhiều khi bỏ cả lớp, đến nỗi chẳng thi cả ESL nữa! Cũng vì vậy mà tôi không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội chăng, mặc dù sinh ngữ chính của tôi thời còn học trung học đã là Anh văn, và hồi còn trẻ mới mười lăm mười sáu tuổi đã được một con bé người Mỹ gốc dân Bakerfield ở ngay kế bên nhà tôi tập cho “uốn lưỡi” mỗi khi trăng lên lờ mờ trên sân thượng nhà nó!

18.- Mai Kim Phụng: Đương là một “sinh viên sĩ quan” ở Quang Trung, nhưng khi ra đến Nha Trang thì lại được đàn anh “phong cho” lên ngay chức “tân binh”… và sau đó thì cứ lăn lăn lóc lóc mà quay cuồng. Châm ngôn của tôi là lặn vô đám đông thì dễ sống hơn, nên rất hiếm khi tôi “mò” lên Câu Lạc Bộ. Trong suốt thời gian bị huấn nhục, Hùng Bò Bía nằm kế bên tôi là dân Nha Trang, vào một buổi tối khi chúng tôi đã lên giường và tắt đèn rồi, thì có một niên trưởng K.19 vào chỗ chúng tôi nằm và gọi khẽ kêu Hùng BB đi uống nước, đúng là phe đảng, đúng là có “bít tông”, quen biết với đàn anh! Nhưng Hùng BB giẫy nẩy kêu là đã uống rồi nên không đi.
Thế là hắn bị “chì chiết sỉ vả” ngay là “sao mà anh ích kỷ thế, nếu anh không khát thì anh cũng phải đi lấy về cho bạn bè anh uống với chứ!” Hùng BB nhà ta bèn tuân lệnh, rồi nửa tiếng sau hắn vẫn còn biệt tăm, cũng chưa thấy về! Khoảng một tiếng sau mới thấy hắn mò về, và không biết là hắn đã bị uống hết bao nhiêu là nón sắt nước nữa. Từ đó về sau chúng tôi đã làm như là cứ như ngủ rồi thì không còn thấy bị ai đánh thức dậy để đi uống nước nữa.
Thời gian bị huấn nhục rồi cũng qua đi. Tôi hơi bị mất tinh thần khi thấy quan Trần Mạnh Hà bị kéo lê! Sau đó tôi học làm thợ lặn, chẳng bao lâu thì chúng tôi được gắn Alpha và cho đi bờ, để rồi khi về lại bị đàn anh xúm vào sỉ vả cho đủ thứ tội… mà mình không làm! Tôi còn nhớ có những lần được “ông già” quan Hùng BB chở trên xe Jeep của ông ấy đi phố, chúng tôi đã không dám ngắm cảnh mà chỉ nhấp nhổm coi xem có thấy đàn anh nào đang đi dưới đường hay không để mà chào tay răm rắp. Ông ấy bực mình đã nói “ chúng nó không chào tao thì thôi chứ tại sao chúng mày lại phải chào chúng nó.” Tới lúc được đi phép về Sài Gòn thì các quan nhà ta đã tự động lên lon Alpha Chuẩn úy ngay tại phi trường Nha Trang. Chúng ta đã đi rong chơi khắp cả Sài Gòn với cặp lon này mà BTL/HQ cũng chả biết gì cả, thật là khẩu phục tâm phục BTL/HQ nhà ta.
Ở quân trường Nha Trang, tôi biết có hai quan chống đối việc đi bờ nhất đó là quan Tôn Thất Thái và quan Tăng văn Hiệp thì phải? Quan TTThái có cái thú vui là…đánh giầy. Đánh xong giầy mình rồi mà chưa thấy “đã” thì mang thêm giầy của quan Trần Xuân ra đánh tiếp. Riêng tôi thì có cái thú là đi tắm biển. Sáng nào cũng bỏ cả ăn sáng để đi tắm biển, khi về không có thì giờ để tắm lại nước ngọt nên cứ thế mà mặc quần áo vào, và đi học ngay. Mới đầu thì cũng thấy hơi khó chịu, nhưng sau rồi riết cũng quen đi. Lên đàn anh, tôi ở chung một phòng với Yên Bột, Hùng BB, và Nguyễn Anh. Bây giờ Nguyễn Anh đã ra người thiên cổ nghĩ cũng thấy buồn, vì chính hắn là người đã dậy tôi tập lái xe số tay bằng chiếc Dodge của đơn vị hắn ở Đồng Tâm!
Chẳng bao lâu thì đàn anh 19 ra trường, mà đàn em 21 lại chưa vào! Chúng tôi sắp lên “quan” làm đàn anh, chẳng lẽ lại còn phải làm tạp dịch nữa hay sao? Thế là chẳng có ai làm tạp dịch, thôi cũng đành ở bẩn ít lâu mà chờ đàn em vào làm luôn một thể vậy! Trong khi chờ đàn em 21 nhập trường thì chúng tôi được làm lễ gắn Alpha Chuẩn Úy. Xin cám ơn tất cả các quan đã tranh đấu với quân trường đễ cho chúng tôi được mang lon Alpha Chuẩn Úy “le lói” trong giai đoạn làm đàn anh. Có một lần trong lúc đi tuần quanh vọng gác, khoảng hơn hai giờ đêm, khi đi ngang qua khu đàn em thì thấy có ba người đàn em đang ngồi hăng hái đánh bóng giầy! Tôi thấy thương hại mà ghé lại bảo rằng là các anh cứ đi ngủ đi, chứ có đánh cho bóng vào rồi ngày mai lại bị chạy trước khi thanh tra giầy thì …trước hay sau gì rồi cũng sẽ phải bị phạt mà thôi! Bây giờ thì chịu khó đi ngủ đi, để còn lấy sức mà chịu phạt ngày mai.

19.- Nguyễn văn Đệ: Tôi thuộc trung đội 4, Đại Đội 3, trung đội trưởng là đàn anh K19 Hồ Ngọc Hoa, trung đội phó là Nguyễn Hải khi còn làm đàn em. Nguyễn Hải còn có một biệt danh là Hải ngựa, chẳng là khi còn đang học căn bản quân sự tại TTHL/Quang Trung, vì thuộc loại cao lớn nhất khóa nên anh thường được cầm cờ đi trước hàng quân của Tiểu Đoàn SVSQ/HQ, Tiểu Đoàn Trần Bình Trọng.
Trong một lần ra bãi tập, khi đoàn quân của chúng tôi và một đoàn quân của một tiểu đoàn khác cùng đang tiến đến một ngã tư giữa đường nhưng trên hai trục lộ khác nhau. Khoảng cách tới ngã tư cùng vào khoảng hơn nửa cây số, nếu đoàn quân nào tới sau thì sẽ phải dậm chân tại chỗ, đợi cho đoàn quân đến trước đi qua rồi mới được tiến bước. Mọi người thuộc cả hai đoàn quân cùng nhận ra điều đó, và cố đếm bước tiến mau để mong tới trước. Anh thủ kỳ thuộc tiểu đoàn kia dợm bước vượt nhanh về phía trước, tính qua mặt chúng tôi. Nguyễn Hải tung mình, cầm cờ phóng nhanh như tên bắn lên phía trước khi thấy tay kia cũng đang cố chạy đến ngã tư. Nhưng làm sao mà tới trước được một khi Nguyễn Hải đã như con ngựa Xích Thố phóng mình như bay để đến ngã tư, qua trước, và đứng đợi chúng tôi. Từ đó anh mang biệt danh là Hải Ngựa.
Người có “tầm vóc” trái ngược lại với Hải Ngựa trong trung đội 4 chúng tôi là Hùng Fox trong ban nhạc Khóa 20, anh có biệt danh này vì anh có một chiều cao hơi thiếu thước tấc, nên mỗi khi trung đội bị phạt chạy thì anh và những người “nùn” khác lúp xúp chạy theo, hổn hển kêu gào “đằng trước chầm chậm lại” thì mấy anh mới theo kịp. Trong Khóa 20 của chúng tôi có rất nhiều tài năng nhưng tôi không nhớ hết, riêng trung đội của tôi thì có nhớ nhiều vì gần gũi với nhau, như Nguyễn Ngọc Châu hay Châu “Phít” vì tài ăn nói có duyên của anh, hay Lê Quang Chung, biệt danh Chung Hợi lại là người được cảm tình của nhiều anh em vì tính tình hiền hậu, đứng đắn nhưng vui vẻ của anh. Anh rất hay nói chuyện vui đùa với những người quen biết anh nhiều. Anh đẹp trai, to lớn, phương phi nhưng lại có vẻ nhút nhát (?) với đàn bà. Anh hay bị quan Đinh Phú Thịnh cùng một trung đội chọc quê nhiều lần, nhưng không thấy anh giận chi cả, một phần cũng vì mồm miệng của quan ĐPThịnh khôn khéo quá, trơn như mỡ vậy. Quang đờn hay Huỳnh Minh Quang thì yêu “đờn địch” ngang với hay nhiều khi còn hơn hẳn yêu đờn bà. Trên trần, phía đầu giường anh nằm lại luôn luôn có sẵn trà, thuốc lá, cà phê hay kẹo bánh. Tối tối chúng tôi thường tụ tập tại đây, uống trà, nói chuyện trên trời dưới nước khi còn làm đàn em, ngụ tại mấy dẫy nhà tiền chế. Đàn anh K19 Hải “Mưu” cũng hay la cà chui sang tụ hội. Trong phòng tôi còn có Nguyễn Hùng Tâm, anh chứng tỏ mình có tài chỉ huy ngay từ những ngày đầu khi mới nhập trại Bạch Đằng II. Anh đã tình nguyện làm đại diện cho chúng tôi ngay từ đầu khi mà mọi người còn đang hoang mang với nếp sống mới trong đời quân ngũ. Sau này anh là Tiểu Đoàn Trưỡng SVSQ cho đến gần ngày ra trường. Cách chỉ huy của anh có vẻ kiểu anh hùng Lương Sơn Bạc nên có một số anh em đã không thích lắm. Anh lại có đệ nhị đẳng Thái Cực Đạo nên trong những ngày còn bị huấn nhục, vào ban đêm anh thường bị đàn anh lôi ra phạt liên tu liền tù cho tới khuya. Người bị phạt nhiều không kém là quan Nguyễn văn Độ. Anh là dân Thiếu Sinh Quân, và ở bên trên phòng của tôi. Đàn anh kéo qua khu tôi ở là thích lôi anh và Nguyễn Hùng Tâm ra phạt “thăng thiên độn thổ” liên tu bất tận, thành ra hầu như quên mất bọn tôi. Hai anh thi nhau nhẩy huỳnh huỵch ngoài đầu hè nhiều khi đến gần sáng, mà chẳng thấy than thở chút nào.

Chương 5: Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang,
Giai đoạn Sinh viên đàn anh.
       Sợi dây tình cảm đã nối chặt chúng ta hơn mỗi ngày một chắc chắn hơn. Chất liệu “Đệ Nhị Hổ Cáp” đã hòa vào trong máu chúng ta, đã luân lưu trong tim trong mạch chúng ta. Tập thể Khóa 20 đã hoàn toàn lớn mạnh, trổ hoa khi lên làm đàn anh, mang lon Alpha Chuẩn Úy. Những thành tựu về thể thao như bóng bàn với Trương văn Hiếu, Mai Tất Đắc, Trịnh Công Đoàn… Với điền kinh việt dã như Huỳnh văn Tài, Nguyễn Hải… Với tiếng hát ngọt ngào của Nguyễn Thế Trác, cao ngút ngàn của Đỗ Thanh Vẽ, độc đáo của Trần Kim Hoàng, những bản nhạc ngoại quốc đương thời kích động của Lưu An Huê… và ban nhạc khóa 20 gồm có Huỳnh Minh Quang (Quang đờn), Phạm văn Hùng (Hùng Fox), và tay trống Phan Thiết Dũng (Dũng Rùa) đã làm mưa làm gió khắp miền duyên hải Vùng Hai Chiến Thuật. Trong dịp Lễ Phật Đản năm 70, chiếc xe hoa đại diện Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang của Nguyễn văn Quan “Quan Già” thiết kế với ánh đèn phát ra như ánh hào quang tỏa ra từ bức tranh Bụt đã làm dân Nha Thành không tiếc lời khen ngợi. Chiếc nhẫn của khóa 20 là một thành công tốt đẹp với bản vẽ kiểu của Lưu Quốc Bảo, và thêm đây là những kỷ niệm đáng nhớ của chúng ta.

20.- Nguyễn văn Hùng: Tôi không nhớ là vào thời điểm nào thì chúng tôi đã được thực tập hải hành ngoài khơi với chiếc Lương Vận Hạm HQ541.
Súp lê một còn huyên thuyên nói,
Súp lê hai nửa đứng nửa ngồi,
Súp lê ba tàu ngang Hòn Lớn,
Tay vịn song sắt tắc lưỡi kêu trời…
(Ca dao chế biến)
Khi tầu rời Cầu Đá, chúng tôi thay phiên nhau đi quart, còn lại thì tụm năm tụm ba đứng trên boong tầu mà tán hưu tán vượn, cùng ngắm mỏm Chutt nơi có em Jackie với sắc đẹp lồ lộ của một người con gái lai tây mới lớn đang lui xa dần về phía sau, hay ngắm trời mây non nước mà thả hồn về nơi quê nhà yêu dấu. Chúng tôi cười đùa rất ư là vui vẻ. Con tầu rẽ sóng, nhẹ nhàng tiến ra cửa biển để lại những chùm hoa biển, hai hàng trắng xóa phía sau. Trời nắng ráo, trong xanh, lãng đãng vài cụm mây trôi lững lờ trên cao. Khi chiến hạm ra đến gần Hòn Lớn thì gió thổi mạnh, ngọn cờ trên kỳ đài bay phất phới, reo lên những tiếng vui tươi, phần phật trong làn gió sớm mai.
Những ngọn sóng bạc đầu đã bắt đầu làm con tầu trồi lên hụp xuống theo một chu kỳ chầm chậm và đều đặn một cách rất ư là khó chịu. Tôi thấy nhộn nhạo trong bụng, kiếm chỗ ngồi để cho đỡ mệt và tránh những làn gió biển lạnh. Các bạn tôi cũng đã tìm chỗ ngồi. Chúng tôi ngồi bệt xuống sàn, không còn nói năng cười đùa như trước nữa, mặt mày căng thẳng và xanh mướt. Con tầu vẫn trồi lên hụp xuống lao đao theo từng con sóng. Bụng tôi cồn cào vì say sóng. Nước miếng, nước rãi cứ ứa ra đầy miệng. Tôi chập choạng bước ra bên hông tầu và nôn thốc nôn tháo xuống biển. Những miếng đồ ăn sáng nay đã được tống ra khỏi cửa miệng tôi ào ào, mạnh mẽ như gớm ghiếc cái thằng tôi. Bụng tôi thắt lại. Mắt tôi đẫm mờ đi vì cơn nôn mửa. Nước rãi, nước miếng theo thức ăn ứa phun ra khỏi miệng khỏi mũi tôi. Tôi lấy tay áo chùi đại ngang miệng cho xong, bò về lại chỗ ngồi, và cảm thấy khoẻ hẳn hơn lúc trước khi ói. Bạn tôi, nhiều đứa cũng đang làm như thế. Đầu tôi nhức, tai tôi ù đi, chỉ muốn nằm vật xuống sàn. Chúng tôi ngồi rũ ra, rã rượi như những con “gà rù” sắp chết. Bụng tôi thắt lại từng hồi. Nước mắt nước mũi cứ ứa ra. Những chất chứa trong bao tử của tôi cứ dâng thốc lên cổ. Tôi cố nuốt nước miếng, đè xuống. Nước rãi liên tiếp tuôn ra trong miệng ở hai bên hàm. Ruột gan tôi như đang bị ai xoắn lại, quặn thắt bao tử. Tôi bò lết ra bên thành tầu. Tay tôi bấu chặt vào hàng dây cáp an toàn quanh tầu, cằm tôi bạnh ra, miệng há hốc rộng mở, tôi cúi gập người nôn ọc nôn oẹ ra, thỏa mãn như chưa bao giờ được nôn mửa như thế, và như đang cố tống khứ những cơn say sóng đang dầy vò thân tôi ra khỏi tôi vậy! Tôi mệt quá, và nằm luôn tại chỗ.
Đại úy Tâm la mắng và ra lệnh bắt tôi phải đi lên phía mũi tầu, chỗ ổ neo để tập làm quen với sóng với gió. Sóng với gió lúc nào chẳng có ngoài khơi, cần gì mà làm quen với lại không quen, tôi ngần ngừ nhưng cũng phải tuân lệnh. Tôi loạng choạng lần mò tiến lên mũi tầu. Các bạn tôi cũng nửa nằm nửa ngồi la liệt trên boong, nơi ổ súng. Tới mũi tầu, tôi thấy từng cơn sóng lớn như muốn úp chụp lấy thân con tầu của chúng tôi. Mũi tầu được đưa lên cao rồi thụp xuống tận đáy ngọn sóng! Bọt biển tung toé bắn cả lên mũi tầu. Tôi nằm xụm xuống đống giây để trước mũi, và tôi đã ói như điên ngay tại chỗ ổ neo mà chẳng kịp bò ra bên mạn tầu. Ối cha mẹ ơi, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi mới thấy say sóng biển nó khủng khiếp đến như thế. Trước kia khi còn thuở học sinh tôi cũng đã có mấy lần theo bạn bè đi ghe du lịch ra đảo chơi thì cũng chỉ thấy hơi hơi khó chịu một chút chứ đâu có khó chịu quá mà ói mửa ra cả mật xanh mật vàng như bây giờ! Bụng tôi quặn lại từng cơn! Tôi đã ói sạch sành sanh những gì đã có trong bao tử, kể cả mật xanh mật vàng thế mà tôi vẫn còn muốn ói từng hồi. Tôi muốn thí mạng cùi, nhẩy đại xuống biển để tránh cơn say sóng này, nhưng mà người tôi cứ rũ rượi ra, như chết tiệt mà không sao nhúc nhích lên được! “Ôi biển cả giờ đây ta mới biết; Mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta”. Câu thơ của đàn anh 19 truyền lại trong những ngày huấn nhục nay nghe sao mà thấm thía quá vậy. Đại úy Tâm thấy tôi tội nghiệp quá nên có sai quan Mai Kim Phụng thì phải (?) lên mũi tầu dìu tôi đi xuống. Tôi đã biết ngay là mình chọn lầm quân chủng sau chuyến hải hành thực tập này.

21.- Nguyễn văn Đệ: Trong lần thăm viếng Căn cứ quân sự Đại Hàn, ngay từ sáng sớm chúng tôi được chở bằng xe GMC đi để bắt đầu cuộc thăm viếng. Có lẽ vì bí mật quân sự nên chúng tôi, những sinh viên Sĩ quan, đã không được Bộ Chỉ Huy quân trường chia sẻ hay tiết lộ chương trình cùng giờ giấc thăm viếng. Chúng tôi chỉ được biết là ngày hôm đó sẽ được đi thăm viếng CCQS Đại Hàn, và không được chuẩn bị hay mang theo nước uống! Trời nắng chang chang, với cái nóng kinh hồn của mùa hè miền Trung, chương trình thăm viếng được trải dài với nhiều tiết mục và dồn dập nhiều nơi trong một thời gian ngắn ở căn cứ Đại Hàn. Chúng tôi cũng chưa từng được học hỏi, chỉ bảo, hay hiểu biết về cách thức ăn uống tự chọn (self-serve), một số các quan đã quên mang theo tinh thần tự trọng, và nhất là cơn khát nước đến khô cổ đã làm cho chúng tôi rối loạn hàng ngũ. Vào buổi trưa, khi được đãi ăn, ngay khi xuống xe, một số đông chúng tôi đã chạy ào đến và bu túm lại nơi quầy nước để uống mà chẳng hề quan tâm đến tiếng còi của quan SVSQ trực nhật. Đáng lý ra là chúng tôi phải tập họp xếp hàng rồi lần lượt đến uống.
Khi về lại quân trường, tập họp nơi Thao diễn trường, HQ Thiếu-tá Hà Ngọc Lương, giáo sư môn Lãnh Đạo Chỉ Huy và cũng đồng thời là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hải quân, đã lặng người đi vì cơn giận đến cả mười phút. Ông đi tới đi lui trước hàng quân, chúng tôi đứng thế nghiêm và im lặng như ngậm tăm vì biết đến điều có lỗi của mình. Khoảng mười phút sau, Ông đứng lại và quát lên:” Đồ mất dậy…”. Ông đã dùng những lời nghiêm nghị, cay đắng để chửi chúng tôi, nhưng tôi chỉ nhớ được ba chữ đầu. Ông đã đau thật là đau, và đã cảm thấy nhục nhã vì cái cảnh chen lấn, vô kỷ luật của bọn chúng tôi trước mặt những quân nhân nước bạn. Riêng tôi thì đã thấm ngay từ lúc đó, và sau này khi ra đời, tôi đã không bao giờ quên được cái hình ảnh ngày hôm đó và luôn nhớ mang theo mình câu tự trọng.

22.- Nguyễn văn Hùng: Khi Lực Lượng Người Nhái (LLNN) vào tuyển người, tôi đã hăng hái ghi tên ngay, và được chọn vì biết bơi kha khá. Trong bụng tôi rất mừng vì biết là trong tương lai mình sẽ không phải gặp lại cái cảnh bị say sóng ói mửa như khi thực tập hải hành ngoài khơi nữa, và nhất là mình vẫn còn tiếp tục được là một Sĩ quan Hải quân. Vài tuần lễ sau thì có Sở Phòng Vệ Duyên Hải (PVDH) lại cũng vào tuyển người. Sau khi nghe thuyết trình về tổ chức và những hoạt động của đơn vị này, tôi vội có ý định gia nhập đơn vị này ngay. Vì có cơ hội lãnh nhiều tiền hơn, và có vẻ “le lói” hơn vì có những hoạt động ra Bắc, tha hồ mà nói phét khi về thành phố. Sở PVDH chỉ nhận rất ít người nên phải rút thăm. Tôi là người may mắn đã bốc được một thăm nhận tuyển.

23.- Nguyễn Minh Cảnh: Hồi học ở lớp Đồng ấu, em có được học truyện “Lục súc tranh công” khoái tỷ quá “chời”, nhất là lời tranh công của con bò. Sau này LLNN vào tuyển, em lại nghĩ đến truyện ngụ ngôn “Con nhái muốn to bằng con bò nên cố nín hơi, và phành bụng ra cho to bằng con bò”. Vả lại Bố em “vưỡn” thường chửi em là “Mầy học gì mà dốt như con bò vậy!” Thành ra em nhào “dzô” liền tù tì vì lực lượng này chỉ cần đến sức khoẻ, không cần biết chữ nhiều, và em được nhận. Đúng là chó “ngoáp” phải ruồi nên em đã được cho đi học bên Mỹ, dưới San Diego. Cùng khoá có Phan Ngọc Lựu, Long Yoga hay Long Mực và Lê văn Từ thuộc đàn anh K-19.

Chương 6: Thực Tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ

       S au khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, chúng ta được chuyên chở về Sài gòn bằng HQ 406. Một số đủ điểm ESL, được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ.

24.- Cung Vĩnh Thành: Tôi tốt nghiệp Khóa 20 SQHQ Nha Trang với hạng thứ 70 trong tổng số 167 Sĩ quan ngành chỉ huy. Điểm ESL Anh văn là 73, đủ điều kiện để được đi thực tập trên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Trong khoảng gần hai tháng trước ngày đi, vào mỗi buổi sáng hàng ngày, những Sĩ quan sẽ đi thực tập phải trình diện tại Câu Lạc Bộ Nổi trong BTL/HQ để phòng Quân huấn dặn dò những việc nên và không nên làm trong lúc đi thực tập. Chúng tôi cũng phải đi chích chủng ngừa tại Viện Pasteur, xin visa nhập cảnh những quốc gia tại Á Châu mà chúng tôi có thể sẽ được ghé thăm, đổi tiền tại Ngân Hàng Quốc Gia, may quần áo ở một tiệm may thuộc vùng Phú Nhuận.
Ngày 18 tháng 9 năm 1970, năm tân sĩ quan gồm có quan Trương Đình Quí, Phan Xuân Sơn, Trương Minh Lộc, Nguyễn Chánh Tâm, và tôi đã đáp máy bay quân sự Hoa Kỳ đến Clark Air Base, Phi Luật Tân để bắt đầu cuộc thực tập hải hành với chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Chúng tôi đã được chuyển vận bằng xe buýt đến căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay để trình diện thực tập trên chiến hạm USS White Plains AFS-4. Đây là một chiến hạm thuộc loại phụ trách chuyển vận và tiếp tế nhu liệu cho các chiến hạm khác đang hoạt động trong vùng của Đệ Thất Hạm Đội kể cả Hàng Không Mẫu Hạm. Vì thế cho nên chúng tôi đã thường xuyên phải gặp gỡ các chiến hạm khác bất kể ngày hay đêm để tiếp tế cho họ. Trong những lần như vậy, tôi đã thường hay lên phòng vô tuyến để liên lạc với những chiến hạm đang nhận tiếp tế xem là có ai trong khóa mình hiện cũng đang thực tập ở trên đó hay không? Trong suốt thời gian thực tập, chúng tôi đã được ghé thăm nhiều bến bờ như Hồng Kông, Đài Loan, Phi Luật Tân, và cả Việt Nam nữa. Sau năm 1975, vào thời điểm phong trào vượt biên lên cao độ thì USS White Plains cũng đã có thực hiện vài lần vớt người trên biển Đông, và nó đã có hậu cứ tại San Diego.
25.- Trần Ken: Toán đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội chúng tôi gồm có năm người là Đàm Thanh Tâm, Đỗ Minh Hào, Lê văn Lộc, Võ văn Hai, và tôi. Chúng tôi lên đường bằng phi cơ quân sự Hoa Kỳ tại phi trường Tân sơn Nhất, ghé qua một phi cảng quân sự của Hoa Kỳ tại Nhật sau khoảng tám giờ bay. Chúng tôi được chuyển máy bay để đến Clark Air Base ở Phi Luật Tân, và được đưa bằng xe buýt về căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ ở Subic Bay.
Sau khi hoàn thành những thủ tục cần thiết, chúng tôi được đưa đến Dương vận hạm USS 1167 (hay có thể là USS 1169 mà tôi không nhớ rõ) hiện đang cập bến tại chỗ. Mỗi anh em chúng tôi đều có một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ làm sĩ quan hướng dẫn đi kèm. Sĩ quan hướng dẫn của tôi là thiếu úy John Clark, đã chỉ dẫn cho tôi mọi chi tiết sinh hoạt trên chiến hạm.
Ngay ngày đầu tiên tại Subic bay, chúng tôi đã gặp một vị sĩ quan Hải Quân Việt Nam đang chờ lãnh tàu tại đây. Ông ta cho biết là trong mấy ngày trước có một vị sĩ quan VN đã bị bọn du đãng Phi gí dao ăn cướp ngay nơi một cầu tiêu công cộng ngoài phố! Chúng tôi đâm ra “lạnh cẳng” mà không dám “đi bờ” trong mấy ngày đầu. Nhưng sau một vài bữa chúng tôi đã bắt đầu thấy ngán món ăn Mỹ nên đâm “liều” mà “mò” ra phố khi không có phiên trực. Gần căn cứ có một quán cơm cơm của người Phi, và tôi là một khách hàng thường xuyên ở đây vì họ có một món gà kho rất gần gũi với món ăn của người mình. Khi ăn cơm ở đây, tôi rất nhớ đến mẹ tôi và những món ăn mà bà thường hay làm. Tôi vốn có nước da bánh mật là do nơi bà cố ngoại của tôi gốc người Miên. Cũng nhờ vậy mà khi đi bờ dạo phố bên Phi, tôi đã không hề bị làm khó dễ hay bị đối xử như với người ngoại quốc vì làn da bánh mật này.
Khoảng một tuần lễ sau thì chiến hạm USS 1167 được lệnh trở về bến chính là Yukosuka bên Nhật. Là một trong hai căn cứ Hải Quân lớn nhất của Mỹ nằm trên đất Nhật, Yukosuka nằm trên đảo Honshu, và cách Tokyo khoảng hai đến ba tiếng đi xe lửa. Từ Yukosuka đến Tokyo, xe lửa có ghé qua hai ga chính là Kamakura và Yokohama. Kamakura là một trong những cố đô của Nhật, nơi có rất nhiều chùa chiền và đền thờ thần đạo; còn Yokohama là một thương cảng chính của Nhật, và là cửa ngõ của Tokyo. Vì được có cơ hội thực tập trên chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ, và ghé thăm những bến bờ nằm ngoài lãnh hải Việt Nam nên tôi đã cố không bỏ lỡ cơ hội, luôn luôn tranh thủ đi bờ mỗi khi tàu ghé bến. Thứ nhất là đi ngoạn cảnh cho thỏa lòng ham thích, và thứ hai là ra ngoài căn cứ để tìm những món ăn hợp khẩu vị. Tôi rất thích món tempura hay đồ biển lăn bột chiên, và món yaki tori hay thịt gà ướp nước sốt đặc biệt đem xâu que nướng bếp than ăn khá ngon miệng. Đi chơi về khuya ăn món bình dân nóng hổi là bánh canh Udon, vừa túi tiền mà lại đầy bụng. Tôi cũng lặn lội vào cả những khu chợ để xem sinh hoạt chợ búa của người Nhật, và thưởng thức những bữa cơm bình dân trong chợ. Một đôi khi tôi cũng hay ghé quán chuka-ryori, tiệm ăn Trung Hoa, để ăn mì xào hay bánh xếp.
Như người xưa thường nói “tha hương ngộ cố tri”, tôi bắt liên lạc được với một người bạn thuở còn niên thiếu là anh Hàn Đức Quang lúc bấy giờ đang theo học tại Đại Học Keio ở Tokyo. Khi tàu về bến, chúng tôi thường hay lên Tokyo vào chiều thứ Bẩy, ngủ qua đêm tại phòng trọ của anh Quang, và ngày Chủ Nhật anh đã dành thời giờ qúy báu cuối tuần của anh để dẫn chúng tôi đi chơi. Chúng tôi được đi thăm vườn Đông Ngự Uyển, công viên Ueno, Tháp Tokyo, khu bán đồ điện tử, khu thương mại lầu Ginza, khu ăn chơi Shinjuku, và dự tiệc mừng ngày Quốc Khánh VN, 26 tháng 10 năm 1970, tại tòa Đại Sứ VN tại Tokyo. Ông Đại Sứ VN Nguyễn Triệu Dân và nhân viên Tòa Đại Sứ đãi chúng tôi món chả giò và có cả nước mắm.
Người Nhật rất hiếu khách. Trong một dịp đi chơi, tình cờ chúng tôi quen biết với gia đình một cô sinh viên người Nhật tên Michiko mang họ Hosoya. Cha của nàng là ông Todayoshi, một cựu sĩ quan Hải Quân Hoàng Gia Nhật, đã tiếp đãi chúng tôi tại nhà ông bằng món quốc hồn quốc túy Nhật là món sushi. Món này đã làm cho anh bạn chúng ta là Lê văn Lộc đã ói ra cả mật xanh lẫn mật vàng sau miếng đầu tiên vì không quen mùi tanh của đồ biển. Cũng chính gia đình Hosoya này đã chuyển giùm tôi lá thư đầu tiên về Rạch Gía cho mẹ tôi báo tin là đã tới được bến bờ tự do sau khi chúng tôi đến được Kuantan, Mã Lai Á vào cuối tháng 5 năm 1978. Còn cô Michiko cũng đã thành lập gia thất vào ngày 1-10-1977.
Có một lần tàu chúng tôi ủi bãi tiếp tế cho căn cứ TQLC Hoa Kỳ tại Niwakuni gần núi Phú Sĩ nổi tiếng của đất Phù Tang. Vì tàu ghé ngắn hạn nên chúng tôi không có dịp thăm viếng núi này, nhưng chúng tôi đã được ngắm cảnh núi Phú Sĩ lúc chiều tà hoàng hôn, và lúc mặt trời mọc từ xa trên chiến hạm. Phải nói là tuyệt đẹp như hình chụp trong những tấm card postal, làm tôi liên tưởng đến nhân vật Hiệp Sĩ Mù, trong những phim Nhật mà tôi đã có dịp xem, tuy bị mù nhưng chỉ mơ là được đi “ngắm” cảnh Phú Sĩ Sơn lúc mặt trời mọc. Tại Niwakuni, chúng tôi được gặp các bạn cùng khóa là Lâm Quốc Hùng và Kha Tư Tiếp đang thực tập trên dương vận hạm USS 1169 (hay USS 1167). Than ôi thật là bùi ngùi, vật đổi sao dời, nay thì LQHùng và KTTiếp đã ra người thiên cổ.
Tàu chúng tôi cũng có ghé tiếp tế cho căn cứ TQLC/Hoa Kỳ tại Okinawa. Trong khi chờ tàu xuống hàng, tôi đã có dịp ghé thăm thành phố Naha ngay gần đó. Gần căn cứ có những thứ ăn chơi của các chàng trai GI hào hoa nhưng xa nhà. Tôi đã có “thử qua cái mục ấy” vì muốn tránh bị các bạn chê là “cù lần”, và cũng muốn thử qua cho biết mùi đời cái món massage với người đẹp “đạp đạp” trên lưng. Cái mục “ấy” thì vì là lần đầu nên chỉ một cái “vèo” là xong và chưa kịp thấy thích, còn cái mục massage thì chẳng “chấm mút” gì được hết cả như người ta thường nghĩ!

26.- Mai Kim Phụng: Thấm thoát rồi cũng đến ngày ra trường, chúng tôi về phép Sài Gòn để chờ ngày đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội. Cùng đi chung với tôi có quan Ngô văn Long, và cả hai chúng tôi đều thuộc loại “kha khá” tiếng Anh nên mỗi khi nói chuyện với Mỹ thì thật là mỏi tay! Đến kỳ lãnh lương thì hai thằng đâm sợ mà không dám ký nhận vì thấy nó trả lương cho mình nhiều quá. Tụi Mỹ thấy tụi tôi lắc đầu quầy quậy lại tưởng là bọn tôi chê ít! Bèn phân bua là tụi nó chỉ có thể trả lương cho tụi tôi bằng lương của một thiếu úy mà thôi. Chúng tôi bèn cắn răng mà ký vào…để chịu “thiệt” vậy. Tới ngày gần về thì tầu ghé Nhật, chúng tôi xin Hạm trưởng cho phép chúng tôi đi Tokyo. Ông ta okay liền, và nhắc nhở chúng tôi phải về tàu cho đúng ngày để còn trở về VN. Tại Tokyo chúng tôi trú ngụ tại nhà của một anh bạn của tôi là anh Đỗ Thông Minh, lúc đó đang du học tại Tokyo. Cũng nhờ thế mà chúng tôi có được người hướng dẫn đi chơi. Đi đâu chúng tôi cũng dùng xe điện, thật là tiện lợi, còn nếu đi xe taxi thì chỉ có từ chết tới bị thương thôi! Nhậu nhẹt thì về nhà tự nấu nướng lấy, nhưng rất vui. Cuộc vui nào rồi cũng tàn, chia tay anh ĐT Minh, chúng tôi về đến tầu vào khoảng hai giờ sáng. Lính gác đánh thức viên sĩ quan nhân viên dậy, hắn cằn nhằn là làm sao mà chúng tôi đã về trễ thế! Hắn có cho lính đi tìm chúng tôi ở ngoài phố mà không gặp. Chúng tôi chống chế là đã về trước lúc điểm danh 8 giờ sáng cơ mà còn kêu ca nỗi gì! Hắn nói là chúng tôi phải rời tầu lúc 1 giờ sáng để đi Tokyo, và từ đó sẽ bay về VN. Chúng tôi đã khiếu nại là chưa được lãnh lương! Hắn đánh thức tên sĩ quan phát lương dậy để thanh toán tiền lương cho chúng tôi, hối chúng tôi về phòng sửa soạn hành trang vào khoảng nửa tiếng nữa sẽ có xe đưa ra phi trường Tokyo. Hắn nhắn vói theo là tụi mày không phải trả tiền ăn kỳ này, lại thêm một cái may nữa, đã “ăn chùa” được hai tháng. Khi tới phi trường thì chúng tôi có gặp lại Nguyễn Hùng Tâm và một số bạn khác mà tôi đã không nhớ tên. NH Tâm có rủ rê chúng tôi ở lại chơi thêm một vài tuần nữa, nhưng ai cũng “rét” nên chỉ có một mình Tâm ở lại.

27.- Lê văn Long: Ra trường được xếp hạng “top 10” ngành chỉ huy, chỉ sau các cao thủ Lưu Đức Huyến, Mai Tất Đắc, Đỗ Minh Hào, Nguyễn Minh Cang, Huỳnh Minh Quang. Được đi thực tập trên chiếc khu trục hạm DDG 14, USS BUCHANAN thuộc Hạm Đội 7 ở vùng Thái Bình Dương, cùng đi chung trên chiến hạm có quan Đinh Minh Nhuận
Chiến hạm này dùng làm bản doanh cho một ông tướng Tư Lệnh Task Force cho nên thủy thủ đoàn khá vất vả vì phải di chuyển khắp cùng mọi nơi. Bắt đầu lên tàu ở ngoài khơi Đà Nẵng, tham dự các cuộc hải kích phía Bắc từ Cửa Việt ra đến Hải Phòng… ghé qua các hải cảng hoặc căn cứ như Subic Bay, Hong Kong, Singapore, Yankee Station với các hàng không mẫu hạm USS 66 America, USS 38 Shangrila, USS 34 Oriskany, các tàu tiếp tế… và lập đi lập lại không ngừng.
Tôi và Đinh Minh Nhuận cũng đã được dịp lên trên cả ba chiếc hàng không mẫu hạm nói trên để thăm cho biết người biết ta!! Trước khi gần hết thời hạn thực tập, Ông Tướng ra lệnh cho Hạm Trưởng chạy rất xa về hướng Nam, băng qua khỏi lằn Xích Đạo (vĩ tuyến zero) rồi quay ngược về phương Bắc, không biết để làm gì?, thì ra Ông Tướng muốn cho thủy thủ đoàn của DDG 14 đứt đuôi con nòng nọc. Nghe các Sĩ Quan trên tàu nói là truyền thống của Hải Quân Hoa Kỳ, các thủy thủ khi chưa vượt qua lằn Xích Đạo thì vẫn còn là con nòng nọc chưa đứt đuôi và khi đã băng qua Xích Đạo rồi mới cắt bỏ được cái đuôi con nòng nọc. Xin các quan nào biết rõ về truyền thống của Hải Quân Hoa Kỳ hãy bổ túc cho các Hổ Cáp 2 biết chính xác hơn.
28.- Ngô Thiện Tánh: Trời nắng chang chang có đến cả trăm độ F. Phi trường Đà Nẵng như bốc khói, ĐNViêm và tôi nhảy xuống khỏi chiếc C-130 sau khi hạ cánh và vào bến đậu. Không có xe đưa vào, chúng tôi đành đu theo cái rờ mọt kéo hàng để vào phòng nghỉ. Ở đây có máy lạnh. Cái nóng tháng 7 như đổ lửa bên ngoài đã không còn làm cho chúng tôi khó chịu.
Chưa kịp móc điếu thuốc ra khỏi bao, tôi bỗng nghe như có tiếng rít xé không khí bay đến, và những tiếng la hoảng hốt vang lên “..pháo kích, pháo kích..”. Ầm ầm, tiếng nổ rổn rảng rớt đằng phía trước như rách cả màng nhĩ. Khi mở mắt ra mới thấy khói đụn lên có ngọn cách đó không xa. Đồ đạc văng tung toé mọi nơi. Viêm lồm cồm ngồi dậy nói với tôi:” Người Anh Em chào đón tụi mình đến Đà Nẵng đây mà !!”
Chúng tôi phải đáp máy bay từ Sài Gòn đi Đà Nẵng để lên chiến hạm của Đệ 7 Hạm Đội Hoa Kỳ. Theo như chương trình họ sẽ bốc chúng tôi ở một điểm nào đó ngoài khơi Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng đã nhộn nhịp với đủ quân binh chủng từ giữa thập niên 60. Chúng tôi đến Đà Nẵng đúng vào lúc cao điểm của cuộc chiến, đầu thập niên 70.
Đây là thời điểm của những yểm trợ hải pháo, của những phi vụ oanh kích, phản kích, và dĩ nhiên là cả pháo kích. Trong làn khói bụi mù mịt của một thành phố đang lên cơn sốt đó, chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau khi biết rằng hành lý của chúng tôi đã thất lạc đâu đó ở tận phi trường Tân Sơn Nhất!
Không thể làm gì hơn, ĐNViêm và tôi rủ nhau đi bát phố. Đà Nẳng chan hòa những màu áo trận. Nhiều nhất là hoa dù. Chúng tôi chen vào một cửa hàng nhỏ ven đường. Cô bán hàng tươi cười sau khi trả tiền thối lại cho chúng tôi. Cô bán cho chúng tôi một cặp voi nhỏ bằng sứ xanh. Cặp voi rẻ tiền nhưng đầy đủ ý nghĩa, Viêm nói với tôi như vậy, sau khi hết đi lên rồi đi xuống con phố đầy bụi của Đà Nẵng. Tìm đâu cho ra món quà xứng đáng để làm quà cho chiến hạm mà tụi tôi sắp sửa đi thực tập bây giờ bây giờ. Mãi rồi chúng tôi cùng đồng ý vào cửa tiệm của cô gái có nụ cười tươi như hoa này. Cô gái có nước da bánh mật, mặc chiếc áo màu hoa cà. Thứ màu tím dịu dàng quyến rũ khiến cả hai chúng tôi như bị hớp hồn. Cho nên khi nàng hỏi các Anh từ đâu đến Đà Nẵng thì chúng tôi đã khai hết. Nàng nói:”..còn quê Em ở Hòn Cọp, từ lâu rồi đã vào đất liền sinh sống làm ăn. Tiệm này của Dì Canh, dì em đang buôn bán ngoài nớ. Ngoài nớ tức là vùng xa lắm. Lâu lâu dì về mang thêm hàng rồi lại đi”. Nàng tưởng là lính Hải Quân nên chắc rằng chúng tôi biết được tất cả những gì ngoài khơi, kể cả Hòn Cọp của nàng. Nàng có biết đâu rằng chúng tôi mới ra trường, chưa một lần hải hành thật sự. Cho nên trong khi nàng thao thao về Hòn Cọp, thì cả Viêm và tôi cứ gật gật đầu và chỉ biết cười tình.
Trả tiền xong, Viêm và tôi tìm sang tiệm phở bên cạnh kêu hai tô đặc biệt. Ăn liền một lúc hai tô, tôi nói với Viêm:” Mày nhớ ăn cho đã, lên tàu Mẽo không có mấy món này đâu!” Tôi chỉ đoán mò vậy thôi mà trúng. Sau này khi tàu về Subic của Phi Luật Tân, chúng tôi vội vã đón xe đò từ Olongapo đi Manila. Tại đây, chúng tôi tìm ra một tiệm ăn Thái với món cá chiên giòn ăn với xoài xanh. Ngon nhất phải nói là nước mắm. Giọt nước mắm thần sầu làm cho những vị giác của chúng tôi bừng sống dậy sau những ngày lênh đênh trên biển cả.
Tuần lễ thứ nhất trôi qua lẹ làng. Cảm giác hơi bỡ ngỡ. Đầu tiên khi tôi đưa tay chào Quốc kỳ của Hoa Kỳ đằng sau lái và bắt tay hai Sĩ quan ra đón chúng tôi ở hạm kiều. Từ đây họ đưa chúng tôi vào phòng khách của chiến hạm. Tôi không nhớ đã nói những gì trong buổi gặp gỡ với họ. Cũng quên hẳn tên của hai Sĩ quan ra đón. Chỉ nhớ chắc chắn một điều làm Viêm thất vọng không ít là không thấy mặt hạm trưởng. Viên hạm phó rất điềm đạm chuyện trò với chúng tôi một chút rồi cũng lặn mất. Chúng tôi nhờ hắn chuyển đến hạm trưởng cặp voi sứ màu xanh mua ở Đà Nẳng. Trái với điều mong ước, họ dường như chẳng tha thiết gì với món quà mà chúng tôi đã lụm cụm mang theo.
Đó là giai đoạn đầu khó khăn nhất của chúng tôi. Kế đó là bữa cơm tối. Ngồi chủ tọa là hạm phó. Tôi chờ mãi vẫn không thấy hạm trưởng xuất hiện. Trước mặt là một cái đĩa lớn với đủ bộ dao nĩa lỉnh kỉnh. Ngồi kế hạm phó bên tay phải là viên Đại úy Hải hành, bên trái là viên Thiếu tá Tuyên úy. Kế theo nữa cứ theo thứ tự cấp bậc thâm niên mà ngồi. Tôi đoán như vậy, vì bên phải tôi là một trung úy, bên trái tôi là Viêm, kế theo Viêm là một Trung úy nữa. Chúng tôi được gọi là Aspirant, ngồi sau chót. Đó là chức vụ nhỏ và kém thâm niên nhất trong bàn ăn. Bàn ăn trải khăn màu trắng toát cùng màu với bộ khăn ăn dầy cộm. Mọi thứ đều ngăn nắp và quá ư là sạch sẽ.
Tôi ngồi im nhìn thẳng giống như những ngày còn làm đàn em ở quân trường. Tôi đoán họ đang chú ý xem xét tư cách của Sĩ quan Việt Nam như thế nào. Hầu bàn có hai hay ba Thủy thủ người Phi. Họ chuyền thức ăn cũng theo thứ tự khởi đầu từ hạm phó. Tôi cứ chờ họ làm gì thì mình cứ làm theo như vậy. Khi viên Tuyên úy chấm dứt lời nguyện thì bắt đầu bửa ăn. Thức ăn dọn lên trông thì ngon mà ăn thì dở ẹc. Tôi thì dễ ăn nên cứ đớp túi bụi, còn Viêm thì cứ ngồi thừ người ra. Tôi nhớ khi tới món trái cây tráng miệng họ dọn ra cho mỗi người một đĩa lê trắng. Đây là loại trái cây đóng hộp rồi ướp lạnh. Tôi khen ngon. Viên Trung úy ngồi cạnh tôi hỏi tôi ở nước mày có loại trái cây này không? Tôi trả lời có nhưng chắc ở miền Bắc lạnh lẽo, chứ ở miền Nam thì không có. Những chuyện đại loại như thế, vô thưởng vô phạt cho đến cuối bữa ăn.
Ngày kế chúng tôi bắt đầu đi phiên. Vì là dân Chỉ huy cho nên chổ chính tôi thực tập là Đài Chỉ huy. Vậy mà tôi vẫn không thấy mặt Hạm trưởng. Tàu cắt sóng lướt nhanh về phía trước. Tôi nhìn ra chung quanh chỉ thấy biển và sóng. Dòm vào hải đồ mới biết vẫn còn ngoài khơi Đà Nẵng. Đi phiên ngày hôm đó gồm có một sĩ quan trưởng phiên, một phụ tá, hai quan sát viên, và tôi. Thích nhất là vì nhiệm vụ chưa phân định rõ rệt nên tôi được quyền chạy đù chổ mà không ai dám đụng tới.
Chiến hạm thuộc loại tàu dầu mang tên USS NAVASOTA. Nhiệm vụ chính là tiếp tế dầu cho các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội đang tuần tiểu ở Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ thực tập về hải pháo, hải hành, vận chuyển, giám lộ, phòng tai,.. đủ hết. Hình như chúng tôi được trả 20 đô la một kỳ lương. Không nhớ rõ vì vào thập niên 70, độc thân và còn quá trẻ, chuyện tiền bạc không thành vấn đề với tôi. Chỉ mong sao tàu đi công tác lẹ lẹ rồi về bến để đi bờ. Những bến bờ xa lạ mà trong trí tưởng tượng của tôi là thiên đàng.
Tuần lễ thứ nhất trôi qua mập mờ lặng lẽ. Bấy giờ tôi không quan ngại lắm về hải hành vì tôi vẫn chưa có đủ ý niệm rằng suốt cuộc đời tôi sẽ phải gắn liền với con tàu và biển cả. Tại sao phải thế? Đi lính với tôi là một tình cờ của thời cuộc. Có nhiều lần tôi vẫn tự hỏi nếu không có lệnh tổng động viên thì tình thế sẽ ra sao? Tôi vẫn còn lang thang vọc nắng, hay nơi những bục giảng đường! Hoặc đang rong chơi ở một vùng biển bờ nào đó. Tôi vẫn luôn tìm hiểu, cố xác định cái vị trí hiện hữu của tôi trong cõi đời này. Nó như một lời tự hứa mà tôi phải hoàn tất. Bao giờ thì mới hoàn tất đây? Tàu bắt đầu nhảy sóng. Trong vịnh nó là một con kình ngư vĩ đại, ra khơi tôi mới thấy nó chỉ như là một con cá lòng tong. Con cá con đang cố trườn mình tới phía trước. Cứ mỗi lần nó cố ngóc đầu lên là cả một khối bọt trắng xóa khổng lồ đổ ụp xuống. Nó chìm lỉm trong đó, ngoắc ngoải khoảng vài giây rồi lại vượt lên. Khi vượt qua được cái đầu, bấy giờ cái mình mới nhoài tới được một chút. Cả một nửa thân trước con tàu bỗng chới với đổ xập xuống vì khoảng trống phía dưới và phía trước. Tôi gọi đó là “thung lũng tử thần” vì có nhiều lúc tôi những tưởng như là con tàu không thể nào ngóc lên nổi nữa. Đài chỉ huy rung lên chào chạo, và cũng nghiêng chúi về phía trước. Hay thật, mấy thằng đi phiên trông như cái mền rách nhưng vẫn bám lấy thành tàu. Còn tôi thì đang ở trong cơn hải hùng của mưa bão giữa biển khơi.
Tôi thấy con tàu tiến tới một vùng không nhất định. Nó chao đảo như một người say rượu. Khi ngọn sóng quá lớn, cả thân tàu như chìm vào hố thẳm. Tôi có cảm tưởng như rơi vào quãng không. Bỗng nhiên sức rơi đó bị chận lại, và ầm...ầm... tiếng dội vang lên từ phía dưới đánh bật con tàu trở ngược lên. Tôi cảm thấy muốn nôn tháo ra vì cảm giác buồn nôn ở miệng. Nước miếng tuôn ra trước, kế theo là nước dãi. Rồi cả bên dưới cái cằm nó như cứng đơ lại, không giữ nổi nữa, một luồng nhễ nhại từ dưới bao tử dâng thốc lên, rồi trào ra khỏi miệng ra như suối. Tôi nhắm ngay bên dưới đài chỉ huy mà nôn thốc nôn tháo. Bao nhiêu món ngon từ bửa ăn tối, coi như cho cá ăn hết. Tôi cứ nửa mê nửa tỉnh như thế cho đến khi thấy mình nằm trong một căn phòng nghe phảng phất mùi cà phê. Tôi bật ngồi dậy, và vội phóng ngay đến phòng rửa mặt để tống khứ cho hết những gì còn sót lại trong miệng. Bấy giờ tôi mới nghe loáng thoáng tiếng cười nói của một nam, một nữ. Sao lạ thật trên tàu mà làm gì lại có đàn bà. Tôi gắng nghe kỹ một tí nữa cho thật rõ, rồi mới tiến về phía có tiếng động. Ở đó qua làn ánh sáng mờ ảo tôi thấy ĐNViêm đang tình tứ bên cạnh người đẹp. Nhìn kỹ hơn nữa tôi mới thấy người đẹp coi thấy quen quen. Hình như chúng tôi đã gặp nhau ở đâu đó không xa lắm. Có lẽ trên bờ. Cô em Hòn Cọp? Nhưng tại sao nàng lại ở đây? Không lẽ tàu chúng tôi đang mắc cạn! Nghìn câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu làm tôi rất nôn nao muốn biết sự thật. Nhưng không hiểu sao tất cả như phim câm. Tôi không còn nghe thấy tiếng động nữa chỉ có tiếng rì rào của lớp sóng vỗ nhẹ nhàng vào mạn tàu. Mơ chăng? Tôi bấm mạnh vào làn da tay để xem thử tôi có cảm giác gì không. Tôi không có cảm giác gì cả. Vậy thì đúng rồi tôi đang mơ ngủ. Giấc mơ kỳ lạ thật. Không lẽ mọi người đều mê ngủ cả sao? Tôi cố ngóc đầu dậy nhưng bất lực. Bóng dáng của cô gái cũng từ từ biến mất một cách mờ ảo kỳ diệu. Còn ĐNViêm?
Viêm cho tôi biết đó là Hòn Cọp, một hòn đảo nằm ngoài khơi Quảng Bình. Tàu đang trực chỉ Vịnh Bắc Việt từ Đà Nẵng để cho bọn tôi sáng mắt về một cuộc thực tập vận chuyển tiếp tế của hạm đội Hoa Kỳ. Chẳng may tàu gặp bão, lại là một cơn bão lớn. Tàu phải đào thoát vì mắc cạn. Tôi hỏi Viêm: “Thế còn cô gái, tại sao nàng lại ở đây?” Viêm cười híp cả mắt ra chiều bí mật, rồi đưa một ngón tay lên miệng khẽ suỵt bảo tôi đừng làm động vì nàng đang ngủ. Tôi định hỏi hắn thêm vài điều nữa thì tiếng còi bỗng vang lên…Tiếng còi dứt với một tràng vỗ tay và tiếng la ó vang lên như vỡ chợ. Tụi Mỹ vừa mới xong một xuất phim. Tôi không nhớ phim gì nhưng phải tình tứ và lãng mạn lắm. Tuần lễ đầu tiên đã dạy bọn tôi một bài học về đời sống của thủy thủ Mỹ trên biển cả. Sau này khi trở về trình diện Hạm đội và theo dấu cuộc sống của thủy thủ Việt Nam, tôi mới thấy một trời một vực. Người thủy thủ Việt Nam đi Hạm đội nhất là những thủy thủ tuần dương có cuộc sống tương tự những nhà tu

Chương 7: Sĩ Quan Hải Quân

       K hoảng hơn hai phần ba trong số tân SQHQ khóa 20 không đủ điểm ESL, nên không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ! Nhưng để bù lại, những bạn này đã được tự chọn đơn vị để tân đáo theo thứ tự đậu cao hay thấp. Vào một buổi sáng Thứ Hai, chúng ta tụ tập tại Câu Lạc Bộ nổi để lựa chọn nhiệm sở. Một tấm bảng xanh do Phòng Tổng Quản Trị HQ dựng lên ngay trên sân khấu. Trên đó ghi lại tất cả các đơn vị đang cần bổ xung thêm quân số sĩ quan. Lần lượt, chúng ta được kêu tên lên theo danh sách đậu hạng cao trước rồi hạng thấp sau. Tuần tự, chúng ta lựa chọn đơn vị, và đi lên lập thủ tục. Đơn vị nào đã đầy đủ cấp số thì được nhân viên TQT gạch bỏ tên trên bảng. Những đơn vị thuộc hạm đội đã được chiếu cố nhiều và nhanh nhất, kế đến là những đơn vị hải đội, còn những đơn vị giang đoàn thường được để dành cho những anh bạn lỡ đậu phải hạng thấp! Chúng ta đã thực sự trở thành những sĩ quan Hải Quân, và sẵn sàng nhận lãnh những trách nhiệm được giao phó.

29.- Phan Ngọc Long: Vì quá dốt tiếng Anh, nên khi tốt nghiệp tôi may mắn không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Đến khi tới phiên lên lựa đơn vị để phục vụ, tôi thấy chẳng còn bất kỳ một đơn vị chiến hạm hay hải đội, hoặc những đơn vị bờ tà tà nào để mà cho mình lựa chọn hết! Tôi thấy còn toàn là những giang đoàn xung phong… và BTL/Vùng 3 Sông Ngòi. Tôi chẳng biết giang đoàn xung phong làm cái gì, nên nhận đại BTL/V3SN vì thấy nó lẻ loi và dù chẳng biết nó nằm ở đâu nữa.
Khi trình diện BTL/V3SN mới biết nó nằm ngay tại… Sài Gòn, sau này dời lên cầu Biên Hòa (CCHQ/Long Bình)! Tôi được giao phó cho chức vụ Sĩ Quan Huấn Luyện, nhiệm vụ thiết lập chương trình huấn luyện cho các giang đoàn xung phong trực thuộc như GĐ22XP, GĐ24XP, GĐ28XP, GĐ30XP, và lực lượng Giang Cảnh thuộc Vùng 3! Với cấp bậc chuẩn úy OJT (on the job training) mới ra trường mà phải lo chuyện huấn luyện cho các đơn vị giang đoàn thiện chiến của V3SN về hành quân sông, và các sĩ quan cảnh sát mang cấp bậc Đại Úy Biên Tập viên thì thật là tréo cẳng ngỗng và nực cười! Nhưng rồi thì công chuyện cũng xong, nay thì Phú Cường-Bình Dương, mai thì Nhà Bè-ĐKRS, mốt lại Bến Kéo-Tây Ninh… Cũng may, quan Hà văn Lượm làm chánh văn phòng TL/V3SN nên tất cả những tin tức quan trọng liên quan đến huấn luyện đều được thông báo cho biết trước!
Một hôm tôi đang làm SQ trực tại CCHQ Long Bình, ông Cảnh nhái lèng èng và đám tùy tùng lè phè ghé qua để điều tra hay tham khảo một vụ nổ xà lan chở đạn ở một khúc trên sông Đồng Nai. Tôi phải dùng giang đỉnh cơ hữu để đưa ông Cảnh lè nhè, và nhóm của ông này ra chỗ đó. Mọi người vào một cái xã hẻo lánh nằm gần bờ sông trong một vùng coi có vẻ xôi đậu lắm, tôi và mấy thằng em nằm chờ dưới giang đỉnh. Trời tối dần, mà sao chưa thấy ai trở lại! Tôi và mấy thằng em cũng đâm lo. Quái, làm cái “khỉ gió” gì mà lâu thế, VC nó ra nó “xụyt” cho một phát thì nguy hiểm quá. Mãi tới khuya mới thấy ông ấy mò về tàu, và cũng may là lúc trở về không có chuyện gì bất trắc xẩy ra.
Vào một ngày mưa gió mịt mù, đám sĩ quan trẻ chúng tôi, kể cả HV Lượm và tôi, đi theo CHT/CCLB xuống Biên Hoà nhậu. Trên đường về, chiếc jeep lùn chở chúng tôi bị lật! Tất cả đều bị thương, ngoại trừ HQ Đại Úy Vinh (K15) CHT/CCHQ/LB bị tử nạn. Sau khi ở nhà thương về, chúng tôi bị kêu lên Cục An Ninh Quân Đội, và bị tống vào Quân Lao Gò Vấp vì cái chết của CHT/CCHQ/LB có thể là do bị ám sát. Thật là hãn hữu khi bị nhốt tại Quân Lao mấy tháng! Sáng thức dậy được thả ra ngoài hít thở không khí trong lành, nhưng phải làm việc khuân vác hay lao động tay chân, ăn uống với cá ươn, gạo mục. Chiều đến thì bị nhốt vào nằm xếp lớp như cá hộp trong những dẫy nhà mái tôn. Xin cám ơn bạn HV Lượm đã chia sẻ những đồ ăn tiếp tế của nhà.

30.- Nguyễn văn Đệ: Tôi vốn tính nhút nhát ngay từ thuở còn thơ, và cái số kể ra cũng nhàn. Kể từ ngày ra trường tôi chỉ đóng nơi những đơn vị loanh quanh gần Sài Gòn, nên chẳng có mấy kinh nghiệm đánh đấm đụng trận với tụi VC. Khi ra trường, tôi đã chọn để phục vụ trên chiếc trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ 225 vì con số “chín nút”. Tôi và một số bạn đã trình diện trễ văn phòng TLP/Hạm Đội khoảng năm ba phút, nhưng không được ông trung sĩ bí thư chấp thuận cho điểm danh, và ngồi chờ trình diện TLP/HĐ vào lúc hai giờ chiều. Dù cho lúc đó TLP/HĐ, Đại tá Bùi Kim Nguyệt, vẫn còn đang trong giấc ngủ trưa! Một giờ là một giờ, không phải một giờ năm phút, nghe chưa? Chúng tôi bị ký tám “củ”. Trong lúc chờ phương tiện để đi trình diện đơn vị, thì chiếc trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ 225 đã bị trúng mìn trôi và bị chìm tại Năm Căn. Tôi được thuyên chuyển về chiếc hỏa vận hạm HQ 471. Chúng tôi lãnh dầu từ những kho xăng Nhà Bè, và đi tiếp tế những CC/YTTV/HQ thuộc Vùng 4 như Long Xuyên, Cần Thơ, Đồng Tâm, Tân Châu, An Thới, thuộc Vùng 3 như Cát Lái, Cát Lở, và cả cho Côn Sơn nữa. Tôi gặp được những vị hạm trưởng dễ tính và chịu chơi, nên mỗi lần đi công tác là chúng tôi thường mang theo xe gắn máy theo tàu. Đến nơi trong khi tàu tiếp tế, chúng tôi thường có “nhiệm vụ vận chuyển” xe xuống và rong ruổi đi chơi những thành phố quanh vùng. Khi đi tiếp tế An Thới hay Dương Đông thì chúng tôi thường ghé hòn Mau trong quần đảo Nam Du, phía ngoài khơi Kiên Giang để “tạm nghỉ” qua đêm!

31.- Nguyễn Đăng Khúc: Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân, tôi được nằm trong danh sách dự khuyết đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, nhưng chờ mãi chẳng thấy quan nào từ chối cái việc đi thực tập thành ra tôi không được “đôn” lên danh sách chính thức, mà đành phải trình diện chọn nhiệm sở! Tôi lựa Hải Đội 2 Duyên Phòng. Tôi chọn đơn vị này chẳng phải vì những chuyện “phủ phê” sau này mà vì nào đã có biết gì đâu! Chẳng là vì những mối tình con con còn xót lại tại thành phố Nha Trang, và nhất là những đơn vị khác còn lại toàn là giang đoàn và giang đoàn! Tôi trực thuộc Phân Đội 2 tại Cam Ranh, và ngoài ra còn có thêm các quan khác như Phạm Đức Phong, Ngô Nguyên Trực, Đỗ Ngọc Viêm “tango”, Ngô văn Long hay Long Xùi… Chúng tôi hiện diện thường xuyên mỗi khi về bến, và thường làm “sì bông xo” cho cư dân “phái đẹp” ở vùng Cây Số Chín.
Khoảng gần cuối năm 1972, tôi được thuyên chuyển về Duyên Đoàn 14, nằm ở Cửa Đại, Hội An. Hùng Fox từ HĐ2DP/Phân Đội 1 (Quy Nhơn) cũng được thuyên chuyển về cùng đơn vị với tôi. Toán của Cảnh Nhái cũng nằm tại đây vì VC nhiều cũng “như rươi”. Chúng tôi có nhiệm vụ tuần tiễu, ngăn chận, tiêu diệt, và nhiều khi hành quân yểm trợ hỗn hợp với Bộ Binh thuộc tiểu khu Quảng Nam trong những mật khu như Cẩm Thanh, Đồng Bò và trên sông Thu Bồn nên cũng có đụng độ lai rai hay ăn pháo kích của VC. Nhờ biết đờn địch nên Hùng Fox nắm Ban CTCT và Nội Vụ, còn riêng tôi thì sau cùng nắm chức vụ Chỉ Huy Phó đơn vị thay thế Quan Long Đột (K19) thuyên chuyển đi đơn vị khác.
Khoảng giữa năm 1974, tôi được thuyên chuyển về Giang Đoàn 24 Xung Phong tại Bình Dương, Phú Cường. Cùng đơn vị còn có các quan Phạm văn Độ và Nguyễn văn Thắng. Đang ngất ngưởng làm CHP duyên đoàn, về giang đoàn làm sĩ quan trưởng toán dẫn tàu đi lên đi xuống cho VC nó tập bắn B40, lòng tôi buồn rưỡi rượi! Thủy thủ duyên đoàn đa số là dân địa phương nên tương đối hiền lành và nghiêm túc. Lính giang đoàn có nhiều tay “bạt mạng”, coi Trời bằng vung huống gì sĩ quan chỉ huy! Vùng hoạt động của chúng tôi nằm trong những mật khu khét tiếng của VC như Tam Giác Sắt, Dương Minh Châu… nên chuyện bị phục kích, đụng trận, trúng mìn xảy ra như cơm bữa! Có một lần công tác tuần tiễu trên sông Sài Gòn hay sông Bé (?), khúc gần chợ Phú Cường, ngang xóm Lò Heo, chiếc monitor command của chúng tôi bị trúng mìn trôi. Vào khoảng quá nửa khuya, tôi đang nằm thiu thiu mơ màng chuẩn bị đi vào giấc ngủ thì một tiếng “ẦM” vang lên, mũi tàu như bị nẩy lên đưa cao lên khỏi mặt nước rồi đâm chúi xuống! Tôi tỉnh hồn, chụp vội ống liên hợp của máy truyền tin, liên lạc với mấy thằng em và báo cáo về TTHQ. Chưa đầy năm phút sau, nước đã ngập lên khỏi phòng lái khi tôi chưa dứt liên lạc. Chỉ trong vòng tích tắc sau là chúng tôi đã “lóp ngóp” trong làn nước sông đen ngòm của một đêm tối trời! Tôi vội sải tay, đạp mạnh hai chân tống mình bơi ra xa vì luồng nước hút tạo ra bởi con tàu đang chìm dần xuống đáy sông như muốn cuốn chúng tôi theo! Nước sông lạnh và tôi cảm thấy hụt hẫng giữa dòng! Ban ngày nhìn vào hai bên bờ khúc sông này thấy nhỏ hẹp, nhưng bây giờ chơi vơi giữa dòng thì lại thấy bờ xa ngút ngàn! Những giang đỉnh trong toán đã vòng lại tiếp cứu và đón chúng tôi lên tàu. Kiểm điểm nhân viên thấy đầy đủ, và không ai bị thương. Chuyện chìm tàu này tôi đã bị Ty 3 An Ninh “neo” lại bờ cả tuần để điều tra!

32.- Nguyễn văn Hùng: Sau lễ mãn khóa tốt nghiệp, chúng tôi đi phép, và trình diện BTL/HQ để nhận nhiệm sở.
Tôi phải đi người nhái vì đã được nhận bởi đơn vị này trước. Tôi đã phải năn nỉ ỷ ôi để LLNN bỏ tên tôi ra khỏi danh sách tuyển chọn, và để cho tôi được về Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Phải mất hơn một tháng sau thì tôi mới được toại nguyện, và được thuyên chuyển về Sở PVDH. Khi trình diện Sở PVDH, tôi đã mất cơ hội phục vụ trên tầu của Lực Lượng Hải Tuần. Các bạn cùng khóa như quan Bạch Xuân, Dương Xuân Phong, và Vũ Hữu Lý đã may mắn được làm HP/PCF. Riêng tôi và quan Đỗ Thanh Vẽ phải ngồi cạo giấy “chán phèo” nơi văn phòng. Chúng tôi không có được phụ cấp cho những đơn vị tác chiến, và nhất là không được có những “món tiền phụ trội do số dầu thặng dư” trên chiến đỉnh đem ra đầu tư trên những con thuyền đánh cá của ngư dân giầu có hay đầu nậu buôn bán dầu trong vùng.

33.- Mai Kim Phụng: Sau khi đi thực tập ở Đệ Thất Hạm Đội về, trình diện BTL/HQ thì tôi cứ đinh ninh là mình sẽ đi PT thuộc Sở PVDH vì đã có xin đi từ trước, nhưng khi đó mới chưng hửng ra là mình đã được chỉ định phục vụ tại Hải Đội 5 Duyên Phòng! Chẳng biết phải trình diện đơn vị Hải Đội ở đâu, hỏi BTL/HQ thì được chỉ là ở Vũng Tàu. Tôi khăn gói lò mò ra Vũng Tàu, tới nơi mới được biết là chỉ có một chi đội ở đây thôi, còn phải về Mỹ Tho để trình diện BCH/HĐ5DP. Thế là tôi phải về lại Sài Gòn để theo xe đò xuống Mỹ Tho. Thật là khẩu phục tâm phục BTL/HQ nhà ta thêm một lần nữa! Xuống đến nơi, tôi thấy có quan Võ văn Tâm thuộc Phòng 1, nhân viên, có quan Bùi Cảnh Bằng thuộc Phòng 4, tiếp liệu, và quan Ngô Bá Nhẫn làm thuyền phó của một trong hai chiếc PCF nằm tại Mỹ Tho. Một trong hai chiếc PCF là soái đĩnh của CHT “Cao Bồi” Luật. Tôi chả có chức vụ gì nên không có chỗ ngồi chính thức, ngoại trừ tại Câu Lạc Bộ. Có một lần tôi đang ngồi trên bàn trong BCH vì không có ghế, bất ngờ CHT đi qua thấy tôi ngồi trên bàn coi chướng mắt quá, ông ta nói “này ông thiếu úy kia, đừng có bắt chước Mỹ!” Thế là tôi mất luôn chỗ đặt bàn tọa! Hết tiền ngồi trên CLB, tôi bèn mò xuống tầu quan NB Nhẫn tạm trú vậy.
Có một lần đang làm SQ Trực, BCH vắng hoe, CHT về Sài gòn, CHP và các SQ khác cũng đi chơi đâu hết thì tôi nhận được một “cú” điện thoại từ BTL/HQ/TTHQ là “công tác sớm hơn năm giờ”. Tôi chẳng biết “trời trăng mây nước” gì nên cứ hỏi tới mãi, làm cho vị sĩ quan ở đầu dây bên kia mới thắc mắc là tôi không nhận được công điện hay sao? Lệnh là phải gởi hai chiếc PCF đi hộ tống một chiếc LST đi Tân Châu. Sau này tôi mới rõ là công điện đã nhận được rồi nhưng các quan lớn cất kỹ, tính để chiều về giải quyết. Nhưng thú thật dù có thấy công điện thì tôi cũng mù mờ về cách giải quyết mà thôi! Tìm mãi không ra Lệnh Công Tác, tôi bèn ký Sự Vụ Lệnh cho quan NB Nhẫn dẫn hai chiếc PCF thi hành công tác! Một mình quan NB Nhẫn dẫn hai chiếc đi vì hai thuyền trưởng đã “dzọt” theo CHT, còn thuyền phó của chiếc còn lại cũng “dzọt” về Sài Gòn mất tiêu! Hai chiếc PCF theo quan NB Nhẫn đi mấy ngày mà chẳng thấy liên lạc truyền tin về BCH gì hết cả, nên ai cũng đinh ninh là hai chiếc này đi lạc lối rồi! Đến khi quan NB Nhẫn trở về bến rồi thì tôi mới biết là quan Nhẫn đã dẫn tàu “đi lạc” tới chỗ nào rồi, đã thế mà một chiếc lại còn bị mất cả chân vịt nữa chứ! Chắc quan NB Nhẫn nhà ta lúc đó cũng âu lo dữ lắm, nhưng không ngờ rốt cuộc lại được khen mới chết chứ. Còn vị thuyền phó kia thì bị phạt về tội bỏ tầu về SG. Cứ “cà nhổng” như thế cho đến khi quan NB Nhẫn thuyên chuyển về HĐ3DP thì tôi xuống thế chỗ làm thuyền phó cho một đàn anh K.18 cho đến khi lên làm thuyền trưởng cho một chiếc khác.

34.- Nguyễn văn Hùng: Sở PVDH được chia ra làm hai lực lượng: Hải Tuần và Biệt Hải. Sau một vài tháng ngồi cạo giấy cho Hải Tuần, Sở PVDH thành lập thêm một toán Biệt Hải, Toán Trâu Nước.
Tôi tình nguyện đi ngay vì dân Biệt Hải coi “gồ ghề” lắm. Sau vài tháng huấn luyện, tôi làm trưởng toán Trâu Nước gồm có 14 người kể cả tôi. Ba toán còn lại của Biệt Hải là Cá Mập, Ó Biển, và Rồng Biển. Trưởng toán Cá Mập là một Sĩ quan Lục quân, và trưởng toán của hai toán còn lại là hai Thượng Sĩ HQ đầy kinh nghiệm. Chúng tôi có quyền mặc đồ dân sự lè phè hay rằn ri khi ở bờ không đi công tác, và nhất là có giấy phép đặc biệt được đi cả trong những giờ giới nghiêm. Trong khi thi hành công tác thì chúng tôi đặc biệt chuyên “diện” đồ đen, chân đi đất hay giầy vải hoặc “dép râu”. Tôi vẫn còn đôi dép râu này dù sau hơn ba mươi năm không còn phải đi công tác nữa. Chúng tôi đã được trang bị như một toán VC với cây AK47 làm chuẩn.

35.- Dương Thiệu Tùng: Trong cuộc đời binh nghiệp, có nhiều bạn cùng khóa đã phải đối đầu với nhiều hiểm nguy hơn tôi, nhưng có lẽ tôi là người đã ở trong một trạng huống bi thảm nhất khi tân đáo đơn vị đầu tiên. Năm 1970, sau khi thực tập trên chiến hạm USS Chevalier (DD805) thuộc Đệ Thất Hạm Đội trở về, tôi được chỉ định phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211.1 (BCH/LĐĐN/TB). LĐĐN/TB 211.1 gồm có hai giang đoàn Thủy Bộ 70 và 71 đang đồn trú tại Căn Cứ HQ/Kiên An thuộc Quận Kiên An, Tỉnh Kiên Giang.
Sau một tuần nghỉ phép, tôi trình diện BTL/LLTB đang đồn trú tại Căn Cứ HQ Đồng Tâm (Mỹ Tho). Tư Lệnh LLTB lúc đó là HQ Đại tá Nguyễn văn Thông (Thông đầu bạc), còn Tư Lệnh Phó là HQ Trung tá Hoàng Cơ Minh. Sau khi trình diện, Trung tá Hoàng Cơ Minh cho biết là ngày hôm sau tôi sẽ tháp tùng theo xe của Tham Mưu Trưởng LLTB là Trung tá Nồng văn Lạng, đi công tác tại CCHQ/Kiên An, để tân đáo đơn vị. Trên đường đi chúng tôi ghé qua Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận HQ Rạch Sỏi ở ngoài thị xã Rạch Giá để nghỉ qua đêm, đến sáng sẽ vào CCHQ/Kiên An cho an toàn hơn.
Trong lúc ngủ qua đêm tại CCYT/TVHQ/Rạch Sỏi tôi được gặp một chuẩn úy CB (không nhớ tên) thuộc giang đoàn 70TB cho biết là tình trạng tại CCHQ/Kiên An rất là bi đát! Mới mấy hôm trước, căn cứ đã bị địch pháo kích rất dữ dội. CHT/LĐĐN/TB211.1 là HQ Thiếu tá Nguyễn văn Học đã bỏ nhiệm sở về Sài Gòn khi nhận được lệnh đưa Liên Đoàn từ Nam Vang về Kiên An, nên đơn vị đã báo cáo đào ngũ! CHP là HQ Đại úy Nguyễn An Cường (K14) thì hiện đang ở vùng hành quân cùng với hai giang đoàn. Liên đoàn hiện đang hành quân yểm trợ cho Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại vùng U Minh Thượng. Anh có rủ tôi bỏ về Sài Gòn trình diện BTL/HQ, tôi tuy bị hoang mang nhưng đã không nghe lời, và tiếp tục theo xe của Trung tá Lạng để tân đáo nhiệm sở vào ngày hôm sau.
Xuống đến CCHQ/KA, tôi không phải qua thủ tục trình diện vì CHT và CHP đều không có mặt. Ông thượng sĩ Quản Nội Trưởng hướng dẫn tôi vào một căn nhà tiền chế, và để tôi tạm ngụ tại chiếc giường của chuẩn úy CB Nghĩa. Chuẩn úy Nghĩa đã bị thương và đang được điều trị tại bệnh viện Rạch Giá. Mấy ngày hôm sau thì tôi được trực thăng của Hoa Kỳ bốc vào vùng hành quân, căn cứ Rạng Đông trong vùng U-Minh nơi đặt BCH của Trung Đoàn 33 BB. Trực thăng bay dọc theo Kinh Cán Gáo, tôi thấy lác đác một vài xác tàu chìm mà chưa được vớt lên! Khi gần đến căn cứ Rạng Đông tôi thấy có một nghĩa trang của VC nằm phía bên phải của bờ Kinh. Ngoài cổng vẫn còn thấy hai tấm bảng đề “Sống Oanh Liệt” và “Chết Vinh Quang” tuy đã bị miểng đạn bắn lỗ chỗ. U Minh Thượng vốn là mật khu, khu dưỡng quân, và thường là vùng bất khả xâm phạm của VC.
Sau khi trình diện CHP là Đại úy Cường, tôi được đưa xuống một chiếc quân vận đỉnh tác chiến Tango, là một loại LCM được biến cải thành chiến đỉnh với hỏa lực hùng hậu và có sàn (platform) để trực thăng có thể đáp xuống. Tàu đang ủi bãi bên bờ kinh, bên hông vẫn còn hai túi đựng xác của hai người lính chết mới vớt lên được từ một chiếc tàu chìm, đang chờ trực thăng đưa về Rạch Giá, trên trời thì một bầy kên kên đang bay lượn vòng vòng, kêu réo vang trời bằng những âm thanh “quang quác” nghe rất chói tai, có lẽ vì chúng nghe mùi tử khí nồng nặc bên duới. Đó là những ngày đầu tiên tân đáo, tôi bước ra khỏi những bài học, những mộng mơ thời quân trường để đi làm người chinh chiến, đối diện thực sự với những hiểm nguy, những lo âu, và nỗi chết luôn luôn có mặt kề bên.
Ít lâu sau thì HQ Đại Úy Nguyễn Duy Long (K13) được điều động về làm CHT. BCH/LĐĐN/TB 211.1 được đưa lên bờ làm việc chung với BCH của Trung Đoàn 33 BB để phối hợp hành quân hỗn hợp giữa BB và HQ. Lên bờ, tôi không còn phải trực diện với những cuộc chạm địch, bị phục kích trên sông, hay những cái lo ngay ngáy đến việc bị mìn của VC, tuy cũng vẫn còn có những màn pháo kích lẻ tẻ của đối phương. Nước sông vùng U Minh Thượng mặn như nước biển, nên chúng tôi đã phải chắt từng lon sữa bò từ những vũng nước mưa để đánh răng hay rửa mặt. Muỗi cũng trở thành một vấn nạn vì nhiều quá đỗi! Đại úy NDLong lên thiếu tá và được đổi đi làm hạm trưởng, Trung tá Nồng văn Lạng về thay thế, rồi Đại úy NACường cũng được thuyên chuyển đi làm CHT/CCHQ/An Thới, và tôi cũng được đổi về phục vụ trên Trợ Chiến Hạm Đoàn Ngọc Tảng (HQ228), giã từ vùng U Minh hung hiểm.

36.- Nguyễn Minh Cảnh: Hồi trước khi là HC2, em đã có đầu quân làm lính biệt kích cho ông Cha Hóa ở Đặc Khu Hải Yến ở dưới miệt Cà Mâu được đâu đó khoảng gần một năm. Ông cha Hóa trước là một Đại Tá của Trung Hoa Dân Quốc, sau khi Trung Cộng chiếm Hoa Lục, ông đã dẫn cả Sư Đoàn dưới quyền gồm toàn dân tộc thiểu số người Nùng và gia đình của họ ở vùng Vân Nam xuôi Nam và tạm định cư bên đất Cam Bốt. Đến khi ông Diệm mần Tông Tông thì ông xin đưa bầu đoàn của ông về lập khu dinh điền tại miệt Cà Mau, vùng Cái Đước khu sông Ông Đốc theo đúng chính sách của Phủ Tổng Ủy Tỵ Nạn đặt ra. Khu này muỗi thì như rạ, mà VC thì cũng “sêm sêm” không kém. Lần đầu tiên đụng trận khi toán của em bị VC phục kích ở gần quận Đồng Cùng, tỉnh Cà Mau. Em teo quá xá, phải thụp mình nấp xuống bên bờ kinh cho tới khi xong chuyện, Trưởng toán đi tìm và gọi tên thì em mới dám ló mặt lên và mò ra. Bây giờ nghĩ lại thấy làm sao mà lúc đó mình hèn quá sức, chịu không được! Kể từ đó, cứ mỗi lần trước khi đi công tác là “chúng nó” lại bắt em “phải” uống rượu! Và quả thật đấy, có lẽ rượu đã là “thần dược” làm hăng tiết vịt tuổi trẻ của em lên, và em thành “đầu bò” chẳng biết gì, cứ húc đại. Và cũng xin nhắc lại để cám ơn giới “chị em ta” đã giúp em “xả xui” trước và sau mỗi lần đi công tác.

37.- Cung Vĩnh Thành: Sau khi thực tập trên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, trở về nước ngày 15 tháng 11, tôi được tân đáo về phục vụ tại Giang Đoàn 43 Ngăn Chận, lúc đó đang hành quân tại vùng sông Ông Đốc thuộc tỉnh Cà Mâu. Bao nhiêu những cái học tại trường SQHQ Nha Trang như Hàng Hải Cận Duyên và Thiên Văn, Lý Thuyết Thuyền Bè, Hải Pháo, Vận Chuyển, Toán Đại Cương… và những gì thu nhận được trong thời gian đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đều không thể đem ra thực hành tại nơi này được! Ngày đêm chúng tôi đã phải đối diện với những rình rập phục kích của Cộng quân. Chúng tôi đã luôn luôn phải cảnh giác, và sẵn sàng trong tư thế phản công trong những lúc di chuyển, kích gác ban đêm, và ngay cả những khi đi tìm hay vớt xác những người lính thuộc quyền mới chết đêm qua, hoặc sau những lần quần thảo đụng trận với địch quân, đang tấp vào đâu đó bên bờ sông…
Khoảng giữa năm 1971, GĐ43NC được tăng phái cho chiến dịch Trần Hưng Đạo 27 tại Bình Dương cùng với các GĐ53TT, GĐ24 và 30XP thuộc Vùng 3 Sông Ngòi. Tuy được ở gần Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi hành quân thì hầu như là chúng tôi luôn luôn bị đụng trận bởi vì vùng trách nhiệm hoạt động của chúng tôi bao gồm cả những địa danh nổi tiếng như những mật khu Tam Giác Sắt, Hố Bò, và Bời Lời của Cộng quân. Cũng tại những nơi này mà niên trưởng K.19 NVSơn đã hy sinh sau khi bị hứng trọn một trái B.40 trong một lần chạm địch, niên trưởng K.18 LDụng và niên đệ K.21 PTĐạt đã bị thương mà qua thặng số. Không như những GĐXP trực thuộc Vùng Sông Ngòi ít khi phải di chuyển đổi vùng; những GĐNC, trực thuộc BTL/Lực Lượng Trung Ương tại Cát Lái, có tính cách lưu động và thường phải di chuyển vùng hành quân theo tình hình chiến sự.
Sau 8 tháng hoạt động tại vùng Bình Dương, GĐ43NC chúng tôi được lệnh di chuyển xuống trấn giữ con Kinh Đồng Tiến thuộc Vùng Hồng Ngự. Kinh Đồng Tiến là một con kinh đào có chiều ngang khoảng 5 hay 6 thước, chừng hơi lớn hơn chiều ngang của hai chiếc giang đỉnh nằm cạnh nhau mà thôi, do đó Cộng quân thường hay xử dụng mìn trôi để tấn công chúng tôi! Chúng tôi hoàn toàn bị thụ động, không đánh được một trận nào cho ra hồn cả mà vẫn phải chấp nhận những thiệt hại hay tổn thất mỗi khi giang đỉnh bị chạm mìn! Thành quả có được trong thời gian này thật là ít ỏi, chỉ là những lần giang đỉnh đi kích đêm, đôi khi tóm được vài ba tên Cộng quân về nhà dân thu thuế hay thăm gia đình mà thôi… Nhưng sự hiện diện của GĐ43NC và GĐ54TT tại con kinh này còn có mục đích chính là làm giảm thiểu việc điều binh của Công trường 7 Công quân tại Vùng 4. Ngoài ra GĐ43NC chúng tôi một đôi khi cũng còn phải tăng phái cho những vùng như Trà Cú, Gò Dầu Hạ, Tuyên Nhơn hay Mộc Hóa mỗi khi tình hình sôi động tại những nơi này.
Sau hai năm phục vụ tại giang đoàn, tôi được thuyên chuyển về Hạm Đội, phục vụ trên Hỏa Vận Hạm HQ473. Đây có lẽ là thời gian nhàn nhã nhất sau khi ra trường của tôi. Sau khi nhận đầy dầu tại những kho xăng tại Nhà Bè, chiến hạm của chúng tôi thường đi tiếp tế cho các Căn Cứ Hải Quân, Tiền Doanh Yểm Trợ, Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận tại Vùng 4 và Năm Căn. Đôi ba lần chúng tôi cũng ra tiếp tế cho Vùng 2 tại Căn Cứ Hải Quân Cam Ranh. Những chuyến công tác tiếp tế như vậy thường là ngắn hạn, do dó tôi có mặt thường xuyên tại Sài Gòn mỗi khi tầu về bến.
Sau hai năm phục vụ trong Hạm Đội, tôi đã tình nguyện làm đơn đi học lớp Sĩ quan An ninh tại trường Cây Mai ở Thủ Đức. Cùng đi học với tôi khóa này còn có HC2 TTCường, và thời gian theo học là 3 tháng. Đây đúng là thời gian phải học thật và khi thi mãn khóa cũng là thi thật chứ không phải học và thi đại khái như những nơi khác. Mặc dù đã là một sĩ quan, nhưng cách đêm chúng tôi cũng phải ôm súng ra vòng rào ứng chiến cùng một lúc thắp đèn cầy (?) để học bài thi cho ngày hôm sau. Thậm chí còn có những anh nhát gan vào cuối tuần đã không đi phép để ở lại trong trại mà gạo bài. Riêng cá nhân tôi, vào những đêm không phải ứng chiến, thường cùng với các sĩ quan cùng khóa học và thuộc các quân binh chủng khác như Nhẩy Dù, TQLC, hay BĐQ rủ nhau lên CLB để uống bia. Chúng tôi thường thi nhau uống, ai bị “gục” trước thì phải trả tiền cho nguyên bữa nhậu đêm đó! Cũng may vào cuối khóa học, tôi cũng đã được tốt nghiệp. Sau đó tôi được bổ nhiệm làm SQAN thuộc BTL/V4DH. Tại nơi này tôi đã được gặp lại hai vị thầy cũ của trường SQHQ Nha trang đó là HQ Đại Tá KHBá và HQ Trung Tá MMLiên hiện đang đảm nhiệm chức vụ TL và TLP/V4DH. Đã là một sĩ quan chuyên ngành như an ninh, sưu tập, phòng nhì hay tiếp liệu thì thường sẽ được theo học các lớp trung cấp trong ngành mình đã chọn. Tuy nhiên vì những lý do này nọ, tôi đã cố gắng xin xuất ngành an ninh. Sau cùng thì đơn xin xuất ngành của tôi đã được chấp thuận, và tôi được về học khóa Tham Mưu Trung Cấp Hải Quân tại TTHL/HQ/Sài Gòn tại HQCX. Đang theo học được giữa khóa thì tình hình đất nước biến động, và rồi Tháng Tư Đen của năm 1975 đã xẩy đến!

38.- Ngô Nguyên Trực: Sau khi đi thực tập trên một chiếc destroyer của Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ về, tôi được tân đáo Hải Đội 2 Duyên Phòng tại Cam Ranh. Tôi làm thuyền phó cho HQ Đ/Úy Bình (K.14) trên chiếc CoastGuard HQ 716, một thời gian sau thì lên làm thuyền trưởng chiếc PCF 3850. Đỗ Ngọc Viêm, Nguyễn Đăng Khúc ở chung một đơn vị với tôi. Sau hai năm tôi được thuyên chuyển về GĐ 55 Tuần Thám tại Châu Đốc. Nhiệm vụ của chúng tôi bao gồm tuần tiễu, ngăn chận, tiêu diệt VC, phối hợp hành quân với Bộ Binh. Chúng tôi lưu động tùy theo tình hình sôi động, từ Kinh Vĩnh Tế, An Phú, đến cả Kinh Đồng Tiến trong vùng Đồng Tháp Mười, và một đôi khi phải hộ tống tàu buôn lên đến tận Tân Châu. Có một lần chiếc PBR của tôi đang trên đường về căn cứ để lấy dầu thì bị trúng mìn VC. Sức nổ của quả mìn quá mạnh, hất tung người tôi lên, rớt xuống sông, chúng tôi bơi lóp ngóp và được chiếc PBR đi cùng vớt lên. Tôi bị tức ngực, máu rỉ ra từ lỗ mũi và hai bên lỗ tai. Sau đó tôi được tản thương về bệnh viện ở Long Xuyên, và điều trị tại đây hơn một tuần. Tôi và quan Nghiêm Xuân Chương được biệt phái cho toán “Viper” dưới quyền của HQ Tr/Úy Sơn (K.16) để thử nghiệm những chiếc “viper”. Toán chúng tôi gồm có một soái đỉnh là chiếc LCM6 biến cải và 8 chiếc viper. Đó là một loại ghe ximăng được sản xuất tại HQCX, và được gắn máy phản lực của PBR. Vỏ của PBR nhẹ nên máy phản lực đẩy nó ngóc đầu lên, và chạy như lướt trên mặt nước. Ghe làm bằng ximăng thì trái lại, dễ bể, nặng nề nên khi chạy nhanh nó cứ chúi mũi xuống sóng đòi đi thăm Hà Bá! Sau sáu tháng thì chương trình này được hủy bỏ, tôi được trở về BTL/LLTT 212, Tư Lệnh là HQ Đại Tá Nghiêm văn Phú (Phú Già.)

39.- Trần Tuấn Đức:
Đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội cùng với các quan Phạm văn Độ, Nguyễn văn Xê, và Nguyễn Đình Tiến (Tiến Răng Dzaàng) trên chiếc tầu dầu Ashtabula USS AO-51 xong, tôi được tân đáo Trợ Chiến Hạm Nguyễn Ngọc Long HQ-230 cùng với các quan Trần Đức Chấn (Gà Mái Mập) và Cơ Khí Trưởng Nguyễn Hữu Thiện.Chiến hạm chúng tôi đa số là được biệt phái vùng Năm Căn, trên sông Ông Đốc, và một đôi khi cũng được biệt phái cho Vùng 4 Sông Ngòi.
Trong một lần đang vận hành trên sông Ông Đốc, chúng tôi bị VC tấn công bằng những loạt đạn B 40, tôi đang đi quart, mọi người nhốn nháo nhẩy vào nhiệm sở tác chiến. Anh hạ sĩ giám lộ giữ nhiệm vụ lập lại lệnh truyền xuống phòng lái vội nằm rạp xuống sàn của đài chỉ huy để tránh lằn đạn, vì quýnh quáng nên anh đã chụp vội theo cái “ống phễu” truyền lệnh xuống phòng lái, thế là lệnh của sĩ quan đương phiên hay của hạm trưởng đều vô hiệu! Chiến hạm vẫn tiếp tục giữ hướng cũ, và có khuynh hướng lao vào bờ! Những loạt đạn phản pháo từ trên tàu đã làm im tiếng súng địch. Hạm trưởng và sĩ quan đương phiên đã lấy lại bình tĩnh, nên đã điều chỉnh lại kịp thời và hướng dẫn con tàu trở lại đúng hướng. Một lần khác, cũng bị địch tấn công bằng B-40 trên sông Ông Đốc, quan Chấn “Gà Mái mập” đang đi quart.
Một trái B-40 trúng ngay chiếc thuyền phao cấp cứu treo dọc đài chỉ huy, nhưng không nổ vì lớp foam xốp, miểng sơn văng tứ tung. Quan Chấn bị một miểng văng trúng người, có chẩy tí máu, và được hưởng một chiến thương bội tinh. Một lần khác, tàu bị trúng đạn B-40 ngang lườn làm cho nước theo lỗ hủng vào tàu. Cơ khí trưởng Nguyễn Hữu Thiện được lệnh balance các khoang chứa nước để làm nghiêng con tàu về một bên, tránh cho lỗ hủng do đạn phải nằm dưới mặt nước trong lúc nhân viên phòng tai làm việc vá tạm lườn tàu.
Sau hai năm, tôi được thuyên chuyển về Tiếp tế hạm HQ-459 thuộc Vùng 1 Duyên Hải. Nhiệm vụ chúng tôi là chuyên chở tiếp liệu từ CC/YTTV/Đà Nẵng cho các duyên đoàn thuộc Vùng 1, nhất là cho Cù Lao Ré. Sau đó được lệnh thuyên chuyển và được đi huấn luyện về môn Hydrography & Oceanography, đo đạc và thám sát để nhật tu hải đồ, giang đồ, và các bãi ủi. Về làm ở Sở Thủy Đạo, trực thuộc P2/BTL/HQ cùng với quan Hoàng Kim Công cho đến ngày mất nước.

40.- Lê văn Châu: Sau khi đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội về, tôi được lệnh trình diện tân đáo đơn vị đầu tiên là Hải Vận Hạm Hậu Giang HQ 406. Hạm trưởng là HQ Th/tá PTQuỳnh (vừa bàn giao với HQ Th/tá LVRạng, cùng khóa 11), Hạm phó là HQ Đ/úy LATuấn (khóa 14), Cơ khí trưởng là NT19 HQ Th/úy CK NTHoàng. Ngoài ra, còn có thêm 2 NT19 nữa là HQ Th/úy TTAn (SQ Đệ Tam) và HQ Th/úy NVOanh (SQ vận chuyển), và một bạn khoá 20 là HQ Ch/úy Nguyễn Đình Noa (SQ ẩm thực).
Chức vụ đầu tiên của tôi là Phụ tá Cơ khí trưởng kiêm SQ phòng tai. Vài tháng sau, NT NTHoàng được lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác, và tôi lên thay thế làm Cơ khí trưởng. Lúc đó, HQ 406 đang đi tiếp tế khắp các vùng duyên hải và sông ngòi. Chúng tôi đi công tác nhiều nơi như Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Quốc, Côn Sơn, Năm Căn, Đồng Tâm, Cần Thơ …v..v. Có một lần tham gia hành quân bên Cao Miên, chiến hạm hải hành lên tận hải cảng Shihanookville để tiếp tế nhiên liệu và chở mấy chiếc Thiết vận xa bất khiển dụng của quân lực VNCH về Việt Nam. Một kỷ niệm nhỏ về chuyến đi này là tôi theo Hạm phó LATuấn ra phố hớt tóc. Cứ nhớ đến hai chữ “cáp-duồn” là tôi rợn tóc gáy khi anh thợ hớt tóc người Miên đưa dạo cạo lên mặt!! Cũng may là không có chuyện gì xảy ra.
Một lần khác khi đi công tác ở Phú Quốc, Hạm trưởng Quỳnh rủ các SQ hùn tiền mua nước mắm về Sài Gòn bán lấy lời. Các SQ trên tàu đồng ý chung tiền vào. Nhưng trên đường về, gặp sóng to, hầu hết các bình nước mắm bị bể, cả tàu xông lên toàn là mùi nước mắm hôi và rất khó thở!! Khi tàu về đến sông Sài Gòn, phải bơm nước ngọt lên để rửa tàu mới bớt hôi. Đúng là ‘tiền mất tật mang’!!!!
Tôi được nếm mùi ‘cây còn’ lần đầu khi tàu về bến, tất cả SQ (kể cả HT và HP) được một SQ (tên Hóa, biệt phái từ Thủ Đức, nhà ở Xóm Mới) mời về nhà ăn giỗ, đặc biệt có “hạ” một con “cầy tơ” để đãi khách quý. Trong giới nhậu đã có câu thơ rằng:
“Sống ở trên đời ngon nhất dồi chó,
Chết xuống âm phủ biết có hay chăng?”

Tôi chỉ dám thử món dồi nhưng vì không được nóng cho nên tôi không thích lắm.
Trong một chuyến công tác khác, chiến hạm đang trên đường hải hành ra Đà Nẵng thì máy ép gió còn lại bị hư! HQ 406 có hai máy ép gió, một máy bị bất khiển dụng, đang chờ sửa chữa tại Hải Quân Công Xưởng thì được lệnh đi công tác khẩn, chiến hạm phải lên đường với một máy ép gió còn lại. Hai máy chánh của tàu dùng sức gió để khởi động máy. Ông Thượng Sĩ phụ tá của tôi loay hoay mãi mà không sửa được! Tôi tìm cuốn Cẩm nang (Manual instruction), đọc kỹ thì đâm ra nghi ngờ là có thể một cơ phận bị đặt ngược chiều (do một thủy thủ trên tàu thay thế cơ phận này). Tôi ra lệnh đổi chiều của cơ phận vừa thay thế, quả nhiên, máy ép gió hoạt động trở lại. (Vì cơ phận bị đặt ngược chiều nên máy ép không đưa gió vào bình chứa được). Nhờ vậy nên chuyến công tác trở về bến bình yên và tôi được HT Quỳnh khen thưởng.
Thời gian sau cùng của tôi trên HQ 406, chiến hạm đi công tác hàng tuần ở Năm Căn, Cà Mau. Hạm Trưởng Quỳnh tình nguyện đi công tác này vì tàu rời bến ngày thứ Hai và trở về thứ Sáu nên ông được gặp vợ con mỗi tuần. Chúng tôi cũng thích vì được về Sài Gòn mỗi cuối tuần. Chuyến đi chỉ gặp nguy hiểm trên đường từ cửa sông vào căn cứ Năm Căn, và từ căn cứ trở ra đến cửa biển. Mỗi khi tàu vào đến cửa sông là đã có các chiến hạm loại giang pháo hạm hay trợ chiến hạm ra hộ tống vào. Có một lần, lúc trở ra, tàu bị trúng một viên B-40 bắn lủng thân tàu, gần phòng máy. Nhưng may mắn là không có ai bị thương và chiến hạm vẫn hải hành an toàn về đến Sàigòn, rồi sau đó được sửa chữa tại Hải Quân Công Xưởng. Một lần khác, trên đường về từ Năm Căn, ra đến biển thì cửa đổ bộ không đóng chặt được nên Hạm trưởng chỉ thị cho tôi xuống xem xét. Lúc đó vào ban đêm, trời tối đen như mực, sóng hơi to, sân tàu trơn trợt, một mình tôi leo lên cửa đổ bộ để quan sát coi xem tình hình ra sao, và sau cùng đã đóng cửa được (vì bị một thanh sắt chấn ngay cửa đổ bộ thành ra bị kẹt nên cửa không đóng chặt được). Bây giờ, nhớ lại, tôi thấy mình có thể rớt xuống biển rất dễ dàng nếu lúc đó không cẩn thận. Vài tháng sau, HT Quỳnh bàn giao cho HQ Th/tá NKKhánh (cùng khóa 11). HQ 406 tiếp tục đi công tác Năm Căn hàng tuần. Tôi vẫn còn nhớ mỗi lần ủi bãi Năm Căn, là có nhiều bạn 20 (không nhớ tên) thuộc HĐ5DP lái PCF đến để lấy dầu. Chẳng những lấy đầy hầm mà còn cố chất thêm vài thùng lẻ tẻ trên sàn tàu nữa????
Gần mãn nhiệm kỳ trên HQ 406 thì có một đàn em cơ khí khóa 21 (HQ Th/úy CK HVDự) xuống phục vụ chung với tôi. Khi tôi rời HQ 406 thì bàn giao chức Cơ khí trưởng cho Dự. Tôi không nhớ là Noa còn ở HQ 406 khi tôi rời chiến hạm hay không?
Rời HQ 406 giữa năm 1972, tôi về phục vụ đơn vị thứ nhì là Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Nhà Bè. Chỉ huy trưởng là HQ Tr/tá CK NHNăng, Chỉ huy phó HQ Th/tá CK HNam. Rất nhiều bạn 20 đang phục vụ ở đây. Bên Chỉ huy có Trần Đông Phước (Trưởng phòng Nội Vụ), bên Cơ khí thì có: Trần Mạnh Hà (Trưởng Ty Tiếp Liệu), Nguyễn văn Long (Trưởng Ty Chuyển Vận), Ngô Ngọc Luật (Trưởng Xưởng Buồm), Trần văn An (Trưởng Xưởng Động Cơ/ Cơ khí) và tôi. Tôi được bổ nhiệm làm Phó Trưởng Ty Công Thự Tiện Ích (Trưởng ty là NT19 ĐLMTruyết). Ty này lo về tiện nghi cho căn cứ (chăm sóc và bảo trì nhà máy điện, nhà máy nước; tu bổ và sửa chữa hệ thống điện nước, quân xa .v.. v.).
Căn cứ Nhà Bè này rất gần Sài Gòn, chỉ cách khoảng 10 hoặc 15 cây số. Một số nhân viên ở căn cứ này thuộc loại “con ông cháu cha”, rất khó đưa vào khuôn phép. Nhưng tôi vẫn nhốt những anh nào bê bối, vi phạm kỷ luật như trốn lên Câu Lạc Bộ hoặc ngủ trong giờ làm việc. Vì thế, tôi được CHP HNam trọng dụng, coi như đàn em thân tín, mỗi lần đi công tác xa đều rủ tôi đi cùng.
Lúc này, tình hình chiến sự bắt đầu sôi động, nên hầu hết các đơn vị phụ cận Sài Gòn được lệnh cấm trại thường xuyên. Chiều chiều, tôi đi xe gắn máy về Sài Gòn (được đi bờ vài giờ), ghé nhà hàng “Phi An” của gia đình bạn Trần văn An ở ĐaKao (mang theo tờ giấy viết tay của An để lấy đồ nhậu). Rồi trở về Nhà Bè sau khi mua thêm một chai Johnnie Walker cổ đỏ hoặc Napoleon. Chúng tôi (Long, Hà, An và tôi) thường vào phòng của tôi để ăn nhậu. Ngoài nhóm 20 chúng tôi, còn có thêm một đệ tử ruột nữa là BKVi (khóa 21). Trong phòng ngủ của tôi, dưới gầm giường toàn là những thùng đựng vỏ bia và chai không!!!! Chỉ trừ bạn NNLuật là một “con chiên ngoan đạo” nên không tham dự những cuộc vui. Có một lần, quá say, tôi rút súng lục bắn lên trần nhà (trên lầu là chỗ cư trú của Hạ Sĩ Quan). Khiến cho một ông Thượng Sĩ phải thốt lên: “Ngủ ngoài vọng gác còn an toàn hơn ở đây???” Sau vụ này, tôi bị thưa, lên trình diện CHT và bị phạt 8 ngày trọng cấm.
Sau hơn một năm phục vụ ở CCYTTV Nhà Bè, tôi được lệnh thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Yễm Trợ Tiếp Vận ở Bộ Tư Lệnh HQ. CHT là HQ Đ/tá NKLuân. Nhiệm vụ mới của tôi là tháp tùng phái đoàn Cố Vấn HQ Hoa Kỳ đi thanh tra tiếp liệu điện tử một số đơn vị Hải Quân (Căn cứ Yễm Trợ Tiếp Vận, Đài kiểm báo, Căn cứ Hải Quân). Phương tiện di chuyển nếu gần thì sử dụng quân xa của Cố vấn Hoa Kỳ, nếu đi xa thì có phi cơ của Air America. Thường đi công tác chung với tôi là một đàn em khóa 23 (?) tên GCNghĩa (con của Nghị viên GVThập, và có anh rể là HQ Đ/tá NGLuật tự “cao bồi” Luật). Thêm một kỷ niệm đáng nhớ trong thời gian này là chuyến thanh tra Đài Kiểm Báo 101 Cù Lao Ré (?) ở Vùng I Duyên Hải. Chỉ huy trưởng ĐKB lúc đó là NT18 LBChư, CHP là HC2 Tôn Thất Cường. Cường đưa tôi xuống làng Bình Vĩnh nhậu với dân làng. Lần đầu tiên, tôi được ăn con cua Huỳnh Đế (không to nhưng nguyên con cua là đầy thịt) và uống bia lạnh ngâm dưới giếng. Quá đã, quá đã! Cường nhường giường cho tôi (ở trailer) ngủ qua đêm ở ĐKB 101.
Cuối năm 1974, tôi rời Bộ CHYTTV về học khóa Tham Mưu Trung Cấp do Trung Tâm Huấn Luyện HQ điều hành trong Hải Quân Công Xưởng. Sau khi tốt nghiệp, tôi được lệnh thuyên chuyển về CCYTTV Bình Thủy. Về đây giữa tháng 04 năm 1975, hai tuần sau thì xảy ra biến cố 30-04.

Chương 8: Chuyện Súng Đạn

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Chinh Phụ Ngâm Khúc – Bà Đoàn Thị Điểm
       C húng ta lớn lên và sống trong chiến tranh suốt tuổi hoa niên, chuyện súng đạn là chuyện hàng ngày, nhưng tình nguyện gia nhập Hải Quân, chúng ta đã được huấn luyện và chuẩn bị để đối đầu với những cơn phong ba bão táp nhiều hơn là chuyện bóp cò súng. Tuy nhiên trong cuộc đời quân ngũ, chúng ta cũng đã phải trực diện đối đầu với những hòn tên mũi đạn, với chết chóc chia lìa, với mìn trôi, mìn từ... Chúng ta đi qua những cuộc đụng trận trong cuộc chiến không phải một cái “vèo” như những bạn phi công, nhưng cũng không đến nỗi phải ngày qua ngày như các bạn “cùng cha khác mẹ” TQLC. Những cuộc đụng trận của chúng ta chỉ trải qua vài phút, vài giờ, hay vài ngày, nhưng cái nạn mìn trôi thì cả ngày lẫn đêm! Xin mời các bạn hãy hồi tưởng lại một thoáng những kỷ niệm trong ta đó:


41.- Phan Ngọc Long: Sau hai năm ở BTL/V3SN, tôi được thuyên chuyển về tuần duyên hạm Tây Sa HQ-615 thuộc Hạm Đội, đang công tác tại Năm Căn. Trên HQ-615 có rất nhiều nhân viên ba gai, có thành tích, và Hạm Phó là quan Đỗ văn Sử. Sau một vài tuần công tác tại Năm Căn, tôi được chỉ định làm Hạm Phó thay thế quan Sử. Ngay ngày đầu tiên đảm nhận chức vụ Hạm Phó, tôi chỉ thị ông “Quản” đọc lệnh phóng thích quân lao của tôi để dằn mặt và đánh phủ đầu những nhân viên khó trị. Từ đó về sau, tôi đã rất dễ làm việc với đám nhân viên khó trị này. Sĩ quan chúng tôi ngoài Hạm Trưởng, tôi, quan ĐV Sử, còn có thêm HQ Ch/Úy Tuấn (K.21) và HQ Ch/Úy Thích (K.22). Tất cả những dụng cụ điện tử hải hành như radar, loran trên HQ 615 đều bất khiển dụng, chúng tôi chỉ có la bàn, kính sextan, hải đồ, và những sự trợ giúp, hướng dẫn của các đài kiểm báo mà thôi.
Khi còn công tác tại Năm Căn, chúng tôi nghe tin HC2 Huỳnh Hữu Khương bị tử thương ở khúc ngã ba làng, Năm Căn! Khi các bạn cùng khóa được thăng cấp thì tôi vẫn còn phải mang cấp bậc chuẩn úy, quan ĐV Sử trở lại làm Hạm Phó, và tôi xuống thành sĩ quan đệ tứ. Trong một chuyến tuần tiễu vùng Năm Căn như thường lệ, theo chức vụ, bạn Sử, CHP, đứng phía bên trái của đài chỉ huy, sĩ quan đệ tam Tuấn (K 21) làm trưởng khẩu 40 ly trước mũi, còn tôi làm sĩ quan đệ tứ coi khẩu 20 ly trên nóc, sĩ quan đệ ngũ Thích (K.22) làm trưởng khẩu súng cối 81 ở sân sau. Đang đi tuần, bất thần tàu bị VC tấn công ở khoảng một phần ba đường từ cửa Bồ Đề đến CC/HQ/Năm Căn, tại ngã ba Tam Giang nếu tôi không nhớ lầm. Khẩu 40 ly phía mũi bị trúng một trái B40, hay 57ly không giật, Tuấn và hai nhân viên trọng pháo bị thương nặng. Đài chỉ huy bị trúng một trái hoả tiễn, Hạm Trưởng HQ Đ/Úy Quý (K.14) bị thương nặng, quan Sử bị hất văng xuống tận cửa phòng ăn, lồm cồm đứng lên thì bị trúng tiếp ngay một viên thượng liên xuyên ngang ngực, nằm gục ngay tại chỗ! Tôi vội nhẩy xuống, điều khiển tàu, cho lệnh phản pháo vào các mục tiêu nghi ngờ, và cho nhân viên y tá chăm sóc những người bị thương. Khi tàu về đến CC/HQ/Năm Căn, những người bị thương được chuyển ngay về bệnh viện Cà Mâu điều trị. Bạn NX Dục đang làm trưởng xưởng cơ khí tại HQCX, nghe loáng thoáng tin hành lang là Hạm Phó HQ 615 bị thương nặng có thể đã chết rồi, nên vội vã phi báo ngay cho gia đình tôi biết là tôi đã bị tử thương trong trận này, làm cho mọi người trong gia đình hoảng sợ, nhưng sau đó tìm hiểu ra là bạn ĐV Sử mới giữ chức vụ hạm phó và bị thương nặng chứ không phải tôi nên vội chạy về đính chính lại! Hai nhân viên trọng pháo bị bán thân bất toại, Hạm Trưởng sau đó được bình phục và thuyên chuyển đi đơn vị khác, quan ĐV Sử cũng được bình phục và được thuyên chuyển về làm Chánh Văn Phòng cho Tham Mưu Phó Hành Quân, sau đó được vinh thăng Đại Úy, riêng tôi thì vẫn tiếp tục phục vụ trên HQ 615 thêm một thời gian nữa.
Hạm Trưởng mới là HQ Thiếu Tá Bài (K.13) và thêm một SQ/CB tân đáo chiến hạm ngay tại Năm Căn. HQ 615 chỉ với một máy khiển dụng, nước vào hầm máy phải dùng máy bơm nước ra nhưng vẫn tiếp tục được công tác vùng Năm Căn. Vào năm 1972, HQ 615 đã được biệt phái đến Hà Tiên, vùng biên giới Việt/Miên để yểm trợ hành quân cho một tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng trong chiến dịch dành dân chiếm đất. Chúng tôi đã dùng đại bác 40ly và BKP 81 ly trên chiến hạm để bắn yểm trợ tối đa cho đơn vị bạn, nhưng đồng thời cũng bị tụi VC bắn “lia chia” nhưng không ai bị gì hết.
Ngoài Năm Căn và Vùng 4 Duyên Hải, chúng tôi cũng phải công tác tuần tiễu tại khu Đại Lãnh-Vũng Rô thuộc Vùng 2, và trục Bắc thuộc Vùng 1 Duyên Hải nơi mà các loại PCE, WHEC, hay DER không được phép léo hánh tới vì sợ đụng chạm với HQ Bắc Việt. HQ 615 tuần tiễu ban ngày thì không đáng ngại, nhưng lại là một chuyện khác khi vào ban đêm chỉ với một la bàn từ, không dụng cụ hải hành điện tử, và ngoài tầm giúp đỡ của các đài kiểm báo. Nhiều khi vào lúc mặt trời mới lên, chúng tôi đã thấy Hòn Cọp mờ mờ và lù lù ngay trước mặt, hoảng hồn vội cho quay đầu và máy tiến “full” chạy trở ngược về miền Nam! Cũng rất nhiều khi tàu đã gặp phải những cơn bão “ghê hồn”, được chạy về Đà Nẵng trú bão, nhưng khi cơn bão vừa mới được thổi qua là HQ 615 lại được tiếp tục trở lại vùng tuần tiễu ngay lập tức! Những lúc như thế thì thật là khốn khổ, con tàu HQ 615 trồi lên hụp xuống như trái hột vịt lộn trong cơn sóng gió! Hai tay của sĩ quan đương phiên chỉ còn biết ôm chặt lấy chiếc la bàn để chống đỡ lại những con sóng phủ đầu, cao quá cả đài chỉ huy. Những vật gì trên boong tàu hay trên sàn của đài chỉ huy mà không được cột chặt thì sẽ bị nước biển lùa đi!
Tuy cực khổ như vậy, nhưng mỗi khi tàu về bến Đà Nẵng thì hầu như tất cả thủy thủ đoàn của HQ 615 đều “mò” ra khu đường rầy xe lửa để cùng chung vui với các quân binh chủng bạn mà không cần biết đến ngày mai. Nói đến khu đường rầy xe lửa ngoài “Đaà Neẽng” thì chắc chắn là các bạn đã từng phục vụ tại nơi đây đều không thể nào quên cho được. Chúng tôi lại có được những vị hạm trưởng với máu mê cờ bạc nên tôi luôn phải trực tàu, vì hạm phó là con chó giữ nhà mà, tôi thường hay lên nằm ngả lưng tại phòng của HC2 C/K NNChâu trong căn cứ yểm trợ Đà Nẵng để tạm quên đi những cơn lắc của sóng biển. Tuy nằm trên giường đệm êm ái, máy lạnh chạy rì rì của CC/YTTV/ĐN, nhưng cũng bị giật mình trong những giấc ngủ mệt mỏi, chân tay tự động phản ứng tự nhiên theo phản xạ như khi bị sóng đánh. Rất tiếc là tôi chưa có dịp được hưởng cái thú ngủ đò trên sông Hương, bây giờ nếu mà có dịp về thăm lại Huế để mong hưởng cái thú ấy thì già “mẹ” nó rồi! Trong khi phục vụ trên HQ 615, tôi đã có dịp gặp gỡ các bạn cùng khoá trên hầu hết các vùng chiến thuật như Vũ Đức Thiệu, Vũ Quốc Hiệp ở Phú Quốc, Nguyễn Hải ở Năm Căn (có còn nhớ Tr/Tá Tuyên không?), Nguyễn Ngọc Châu cơ khí ở Đà Nẵng…Riêng ở Vùng 2 thì không được gặp ai vì tàu ghé bến để lấy tiếp tế xong là phải đi ngay, không có thời gian la cà.
Sau hơn hai năm phục vụ tại HQ 615, tôi được thuyên chuyển về HQ 475. Tương đối nhàn hạ, chúng tôi đi tiếp tế dầu cho những căn cứ Chợ Mới, Long Xuyên, Năm Căn, Bến Lức, Cát Lái, Cát Lở, và Vùng 1. Một thời gian ngắn sau tôi được thuyên chuyển về BTL/Phòng Trợ Huấn được vài tháng thì biến cố tháng 4 năm 1975 xẩy ra.
42.- Mai Kim Phụng: BCH/HĐ5DP đóng ở Mỹ Tho, có các chi đội hoạt động ở Vũng Tàu, Tân Châu, và Năm Căn. Sau một chuyến thanh tra thường niên của BTL/HQ và vì có sự “bất hòa” giữa BTL/HQ và BCH/HĐ5DP nên tất cả HĐ5DP bị điều động về Năm Căn hết. Được ít lâu thì tôi được chỉ định làm thuyền trưởng cho một chiếc khác. Năm Căn có tiếng là muỗi “khá nhiều” nên vào buổi tối khi chúng tôi ngồi phải để chân lên ghế cho dễ đập muỗi. Cũng may là khi mặt trời lên thì muỗi chúng nó rủ nhau đi ngủ nên thấy cũng tàm tạm sống được. Chúng tôi đụng trận cũng nhiều, có khi tịch thu cả AK47, dàn phóng B40 và đạn dược nhưng chưa bao giờ tôi nhận được huy chương khen thưởng cả!
Một lần khác, có một chiếc PCF bị mắc cạn và sóng đánh giạt vào sát bờ. CHT đã huy động dân làng vào đó đốn cây để có chỗ đáp cho trực thăng câu mấy khẩu súng về. Tàu tôi được lệnh vào gần bờ để tìm cách kéo chiếc PCF đó ra, những chiếc khác còn lại nằm phía ngoài xa vì ở gần bờ nước rất cạn. Hai chiếc trực thăng của Mỹ có nhiệm vụ câu súng. Một chiếc đang câu khẩu 81 ly lên, thì bất ngờ sóng đánh tạt ngang vào khẩu 81 làm cho chiếc trực thăng này mất thăng bằng và bị lật rơi xuống, một chút xíu nữa thì trúng ngay chiếc xuồng cao su hay xa hơn một chút nữa là trúng vào chiếc tàu của tôi! Nếu tôi nhớ không lầm thì đàn anh K.18 Lê Bá Chư là người đã chui và bơi ra khỏi chiếc trực thăng đầu tiên. Anh pilot người Mỹ bị thương và được nhân viên trên chiếc xuồng cao su cứu vớt, đưa sang tàu tôi. Chúng tôi đã chở hắn vào sông Bồ Đề, tìm chỗ trống, ủi bãi để chiếc trực thăng còn lại chuyển thương. Sau đó chúng tôi đã trở lại chỗ cũ để tiếp tục tìm cách kéo chiếc PCF bị mắc cạn ra. Trong lúc đang loay hoay kéo neo đàng trước thì bất ngờ dây kéo phía đàng sau bị chùng và bị cuốn vào một chân vịt của tàu tôi. Tôi hoảng quá, ra lệnh cho nhân viên cắt dây và chạy ra ngoài xa, bỏ lại CHP vẫn còn ở trên bờ! Ông tức giận ra lệnh cho tôi quay lại đón ông, nhưng tôi không chịu, viện dẫn lý do là tàu tôi chỉ còn một “giò”, rất khó xoay trở, rất dễ bị mắc cạn, yêu cầu CHP ra lệnh cho chiếc khác. Tối hôm đó trong cuộc họp, ông đã “sỉ vả” tôi không tiếc lời, nào là tôi “thiếu khả năng, thiếu thiện chí, thiếu…đủ mọi thứ!” Lúc đó CHT mới nói: tôi không nghĩ là ông thiếu úy Phụng thiếu khả năng hay thiếu thiện chí đâu, ông ấy chỉ có thiếu kinh nghiệm khi kéo tàu.”
Ngày hôm sau thay vì ở nhà thì tôi lại để Thuyền phó lo việc cắt dây ở chân vịt tàu mình ra, còn tôi thì theo tàu của quan Phạm văn Cần ra chỗ cũ coi xem tại làm sao mà đã không kéo chiếc PCF ra được? Tàu chạy ra tới Ngã Ba Tam Giang, vào gần vừa thấy bờ thì…”ĐÙNG” một phát, đạn nổ trúng ngay tàu. Chúng tôi đã bị trúng ngay phát súng đầu tiên của VC. Tôi bị thương ngay lúc đó, người tôi bị sức công phá nẩy văng lên, hổng sàn rồi rớt xuống! Tôi bị tức ngực, ho ra máu! Một cục máu bầm bằng đốt ngón tay út từ trong cuống họng tôi “phọt” ra theo cơn ho. Tôi bị thương nơi cổ. Tầu về căn cứ, tôi được chuyển thương lên bệnh xá, và trực thăng đưa tôi về Bệnh Viện Quân Đội ở Cần Thơ ngay chiều hôm đó.
Tại bệnh viện trong lúc chờ trống phòng giải phẫu, tôi nằm tạm trên một chiếc giường, đến khoảng 11 giờ đêm thì tới phiên tôi được lên bàn giải phẫu. Nhân viên y tá mang chiếc giường có bánh xe để chuyển vận anh thương binh là tôi vào phòng phẫu thuật. Tôi ngồi “rột” dậy, và leo xuống đất để tính leo lên nằm trên chiếc giường họ mới mang tới. Nhân viên y tá vội hỏi là tôi có đi được hay không? Tôi đã trả lời là có, và họ bèn để tôi tự túc đi lên phòng mổ. Tới phòng mổ tôi lại phải ngồi chờ xem bác sĩ mổ người khác! Tích tắc, tích tắc… hơn nửa tiếng sau mà họ vẫn thấy tôi ngồi coi tỉnh queo, không thấy có vẻ đau đớn rên la, càu nhàu chi cả nên bảo “thôi ông về phòng nghỉ đi rồi ngày mai tính!” Nhân viên bệnh viện đưa tôi đi nhận giường nằm. Ngày hôm sau bác sĩ vào khám, có hỏi tôi là đã được mổ để gắp mảnh đạn ra chưa? Tôi nói chưa… và được đi chụp hình X-Ray. Kết quả của X-Ray là phổi “tốt”! Chụp X-Ray lại nơi cổ xem sao? Vẫn không thấy tăm hơi cái miểng đạn quái ác nó nằm ở nơi nào! Khi đó tôi mới nghĩ là cái miểng đạn đã tự động được vọt ra ngoài theo cục máu bầm rồi. Vẫn còn may mà tối hôm trước nếu tụi nó cứ đè tôi ra mà mổ để tìm mảnh đạn “lạc” thì chắc là bây giờ tôi á khẩu rồi! Nghỉ được vài tháng rồi tôi trở lại đơn vị cũ ở Năm Căn.
Sau đó tôi được thuyên chuyển về Lực Lượng Thủy Bộ, phụ tá cho Thiếu tá Vinh, SQ Đại Diện HQ thuộc Sư Đoàn 21 BB đóng ở Chương Thiện. Nằm ở Chương Thiện, chúng tôi ăn đạn pháo kích của VC như cơm bữa, nhưng con người nó có số cả, Trời kêu ai thì người ấy dạ thôi. Được một ít lâu, tôi được về lại BTL/LLTB ở Bình Thủy.
Tôi được thuyên chuyển về LST HQ800 được vài tháng trước tháng 4 năm 1975. Chúng tôi có được một vài chuyến công tác là đúng nghĩa, còn lại thì chỉ toàn chỉ là di chuyển tái phối trí rồi lại tái phối trí về phía miền Nam, nay viết lại cũng thấy mà buồn!

43.- Nguyễn văn Hùng: Làm trưởng toán Biệt Hải Trâu Nước, khi không có hành quân hay công tác miền Bắc, chúng tôi thường được giao phó những “công tác” tại các mật khu Việt Cộng ở miền Nam. Mỗi khi đi công tác như thế, chúng tôi luôn luôn được trang bị vũ khí của cộng quân như AK47 và mặc quần áo đen, chân đi dép hay giầy vải. Lần đầu tiên dẫn toán đi công tác tại một mật khu Cộng Sản trong vùng Năm Căn. Nơi có tiếng là “muỗi kêu mà như sáo thổi, và đỉa lội lềnh kềnh tựa bánh canh”. Sau khi quan sát địa thế, chúng tôi chia nhau phục kích ở bờ sông. Trời mờ mờ ánh sao về sáng, sương xuống ướt đẫm lưng áo, xa xa những con vạc ăn khuya kêu lên một vài tiếng rời rạc trong màn đêm u tịch.
Khoảng chừng ba bốn giờ sáng, có tiếng mái chèo đưa đẩy, khua nước tuy nghe thấy khoan thai nhưng rõ mồn một trong đêm thanh vắng, và cũng đủ để làm cho chúng tôi tỉnh hẳn cơn buồn ngủ. Một chiếc xuồng con chợt thấy xuất hiện trong giữa đám sương mù, đang dần tiến về phía chúng tôi. Khi đến gần nơi chúng tôi đang nằm chờ, tôi nhận rõ là bọn chúng gồm có hai tên, một tên đứng chồm hổm nơi đầu mũi quan sát, và một tên ngồi phía sau chèo ghe. Nỗi sợ và sự hồi hộp nổi lên trong tôi. Mồ hôi tôi rịn ra trên trán và nơi lòng bàn tay. Miệng tôi đắng ngắt và cổ tôi khô ran. Tim tôi đập loạn xạ như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực! Ghe chúng tiến đến gần, rồi thật gần, và sau cùng tôi cũng đã ra được lệnh khai hoả, và đồng thời nghiến răng bóp mạnh cò súng. Khói súng khét lẹt làm mắt tôi cay xè, hay có lẽ sợ nhìn thấy cảnh máu đổ thịt rơi nên tôi đã nhắm chặt mắt. Tai tôi ù đi vì tiếng súng, tiếng AK nổ nghe lắp bắp như bắp rang, mắt tôi nhắm tịt chẳng còn biết đâu là đỉnh đầu ruồi hay đâu là lỗ chiếu môn nữa. Tôi bóp cò súng như điên để trấn an cơn sợ mà chẳng biết mình nhắm bắn đi đâu! Mãi đến khi người toán viên nằm kế bên tôi vỗ vào vai tôi và cho biết là chuyện đã xong rồi, tôi mới tỉnh hồn, mở mắt, và nhổm người lên quan sát.
Cảnh vật trở nên yên lặng lạ thường, khói súng còn quyện vào với màn sương đêm. Hai tên VC đã biến mất, chiếc ghe còn dập dềnh cách bờ khoảng vài sải tay. Tôi cho lệnh đàn em lội ra kéo thuyền vào. Trên thuyền chỉ thấy có một cây AK47 còn lại và một băng đạn còn nguyên, không thấy xác hai tên Việt Cộng đâu hết cả! Không biết chúng đã bị bắn hạ lọt sông, hay là chúng đã nhẩy xuống sông trốn mà bơi đi thì chỉ có Trời biết! Đó là lần đầu tiên tôi đã cầm súng và cố ý giết người, tuy là bắn vào địch quân nhưng không phải dể dàng như người ta thường nói, dĩ nhiên là những lần sau thì dễ dàng hơn, và không còn bị mất bình tĩnh như là lần đầu.

44.- Nguyễn văn Đệ: Mùa hè năm 1972 tôi được thuyên chuyển từ Hạm Đội về BTL/Vùng 3 Sông Ngòi đóng tại CCHQ Long Bình gần chân cầu Long Bình, Biên Hoà. Chiều chiều trên đường về Sài Gòn, khi đi ngang khu Nghĩa Trang Quân Đội, tôi hay nhìn vào vì thích xem pho tượng Tiếc Thương ngồi buồn, nhìn ra đường, và được dựng ngay ở phía ngoài cổng nghĩa trang. Chiến trường đang hồi đỏ lửa nên những lá cờ “Tổ quốc ghi ân” phủ lên những ngôi mộ mới vàng rực lên đầy một ngọn đồi. Cứ như thế, tuần lễ sau là đã thấy màu cờ vàng hực lên, phủ đầy thêm ngọn đồi kế tiếp; Và đồi kế tiếp…!
Từ đầu năm 1973, BTL/HQ/Vùng 3 Sông Ngòi có thêm 3 chiến đỉnh thặng dư cấp số từ các Giang đoàn Xung phong gửi về. Từ đó các sĩ quan cấp úy thuộc BTL/HQ/V3SN đã phải thay phiên nhau chỉ huy 3 chiến đỉnh đi tuần trên sông Biên Hoà, loanh quanh gần cầu tầu của CC Long Bình (Hoa Kỳ) vào ban đêm để tránh đặc công thủy CS đánh mìn cầu tầu, chiến đỉnh, hay các xà lan đạn neo trên sông hoặc chính cầu Long Bình trên xa lộ Biên Hoà! Chúng tôi thường cho chiến đỉnh chạy lòng vòng mấy tiếng vào buổi tối trước khuya, rồi cột tầu vào mấy xà lan trống đạn neo trên sông ngủ qua đêm, để hôm sau còn sức mà làm việc tham mưu. Thằng em nào đang gác “quart” đúng vào lúc con nước đứng sẽ thẩy xuống sông vài trái MK3 để tránh đặc công thủy “mò” đến gài mìn.
Ngày ký hiệp định Ba Lê năm 1973, đúng phiên tôi làm SQ trực và phải chỉ huy mấy chiến đỉnh! Bẩy giờ chiều, sau khi cơm nước và điểm danh xong, chúng tôi xuống tầu đi tuần. Tôi họp mấy anh em thuyền trưởng lại, bàn và ra lệnh đêm hôm đó phải đi tuần đến quá giờ nước đứng, khoảng nửa đêm mới được về cột neo. Khoảng hơn một giờ khuya, sau khi dòng sông đã đổi thành con nước ròng, chúng tôi chạy đến một xà lan trống đạn để neo ngủ. Chúng tôi kín đáo cột chiến đỉnh vào phía khác bên với bên cầu tầu Long Bình để tránh ánh sáng chói loà từ những ngọn đèn pha trên cầu tầu hắt ra. Nằm trên bệ sắt phía trước phòng lái của chiếc chiến đỉnh monitor, tôi đang sắp sửa thả hồn vào giấc điệp thì một tiếng nổ long trời lở đất đã xẩy ra. Chiếc xà lan rung mạnh, và kêu lên răng rắc! Sức chấn động và sóng dội đẩy nhẹ tầu chúng tôi ra xa. Thằng em đang trực gác giật bắn mình, nả một băng M16 vào khu đất hoang, bờ sông phía trước mặt, ngay khu mấy ngọn đồi BS Tín! Thuyền trưởng cũng chưa kịp ngủ, nhẩy vội lên phòng lái, rồ máy và cho tháo dây cột tầu. Tôi cho “tương bừa” thêm mấy quả MK3 xuống sông cho chắc ăn, liên lạc với hai chiếc kia, và báo cáo tình hình về Trung tâm Hành quân. Chiếc xà lan bị trúng mìn, vào nước nghiêng qua một bên, nhưng không chìm. Thế là chúng tôi hú hồn, và mất ngủ luôn đêm! Té ra là bọn đặc công thủy VC đã điều nghiên giờ giấc tuần tiễu của chúng tôi, và cho gài mìn để mong đánh đắm tàu tuần. May mắn thay cho chúng tôi là đã đi tuần đến quá giờ đổi con nước, nên chiếc xà lan đã chuyển hướng và đưa mặt có gắn mìn qua phía hướng vào cầu tầu Long Bình, đối diện với hướng chúng tôi cập tầu để nghỉ. Nếu chúng tôi về sớm như mọi khi thì đã cột tầu tại ngay nơi chúng gài mìn, và trúng kế của bọn chúng. Lỗ thủng trên xà lan do sức công phá của trái mìn thì to bằng chiếc chiếu lớn, nhưng không đủ làm cho xà lan chìm vì chiếc xà lan có nhiều ngăn chắn nước.
45.- Nguyễn Minh Cảnh: Sau khóa học Người Nhái ở Mỹ về, em nhận nhiệm sở ở Vùng 1 và hậu cứ nằm ở Duyên Đoàn 14, Cửa Đại thuộc Tiểu Khu Quảng Nam. Vùng hoạt động của toán em đi từ Quảng Ngãi ra đến tận vùng của Duyên Đoàn 11, Quảng Trị. Em đóng ở Vùng 1 là lâu nhất, bằng với thời gian ở cả Vùng 2, 3, và 4 cộng lại. Em thích đi công tác vì đỡ phãi bị tiêu tiền, mà lại có thêm tí tiền còm chứ chẳng phải gan dạ gì cả. Em yêu đời lính vì làm đời lính thì chẳng còn phải lo lắng gì “sốt” cả, vả lại nghĩ rằng sống chết thì nó có số cả, đến cả giầy dép, quần áo cũng còn có số nữa là.
Bây giờ thì em đã tới thời kỳ “sám hối” rồi, và tối tối trước khi leo lên giường (run run) nằm xuống kế bên “mẹ nó” thì em đều phải có “màn lâm zâm” đọc kinh.

46.- Viết theo lời kể của quan Trần Đức Chấn (San Diego): HC2 Chấn có một thời gian đã từng phục vụ ở Giang Đoàn 28 Xung Phong hoạt động trên sông lạch, vòng đai phía Nam của Thủ Đô Sài Gòn (Tôi không nhớ tên con kinh hay con sông này, mong các quan đã từng phục vụ nơi đây bổ túc). Trong đêm ngưng bắn, ký Hiệp định Ba Lê năm 1973, để tránh rủi ro và có chỗ an toàn nghỉ ngơi, giang đỉnh thuộc GĐ28XP đã kéo về cặp kế một đồn Địa Phương Quân khi chập tối, trong khu vực hoạt động để nghỉ ngơi. Bất ngờ Cộng quân đã tấn công đồn ĐPQ khi quá nửa đêm. Các giang đĩnh của GĐ28XP đã được lệnh kéo ra giữa sông, xếp hàng ngang, và những khẩu 50 ly và cối 81 trên giang đỉnh đã được sử dụng để trực tiếp yểm trợ tối đa cho đồn ĐPQ. Sáng ra, đồn ĐPQ này chỉ bị thiệt hại nhẹ, và xác VC nằm phơi thây đầy nơi ngoài hàng rào phòng thủ. VC đã định nuốt sống đồn ĐPQ, nhưng không may cho chúng là các chiến đĩnh của GĐ28XP với hỏa lực khủng khiếp đã bất ngờ về nằm nghỉ bến nơi ấy, nên đã cho chúng nếm mùi thất bại chua cay.

47.- Nguyễn văn Hùng: Trong một lần công tác tại Năm Căn, tất cả 4 toán Biệt Hãi chúng tôi cùng đi chung, và có cả CHT/BH. Một chiếc ghe có ba tên VC đã lọt vào ổ phục kích của chúng tôi. Thuyền của chúng đi cách bờ khoảng 5 thước. Tôi cầm cây AK47 khua khua trên đầu để làm hiệu cho chúng ngừng lại và xin nhờ chở qua sông. Ghe VC ngừng lại nhưng không ghé vào! CHT ra lệnh khai hoả, và hơn 30 khẩu súng nhắm vào chúng mà nhả đạn thả giàn. Chúng tôi còn thẩy cả MK3 xuống sông để ngừa bọn chúng nhẩy xuống nước hầu mong tìm đường tẩu thoát. Chiếc ghe VC bị lỗ chỗ đầy vết đạn, một khẩu K54 bị bắn bể báng nằm trên ghe, nhưng không thấy xác địch đâu hết, kể cả không một vết máu để lại! Như thế thì quả thật là con người ta đều có số cả, không dễ gì mà bắn cho người ta chết khi chưa chưa tới số chết.
Trong một lần phục kích khác ở vùng sông Ông Đốc, Cà Mâu. Chúng tôi đã ngủ quên mất tiêu cả giờ về vì nằm quá lâu mà không thấy động tịnh gì hết cả! Đến khi trời mờ mờ nhá nhem sáng, thì có một người đàn ông trung niên đến gọi chúng tôi dậy mà hỏi là sao mà giờ này mà còn nằm nơi đây? Giống y như cái cảnh Bố Đường đến đánh thức mình dậy như hồi còn ở trong quân trường vậy. Vì chúng tôi mặc quần áo đen, mang AK47 nên hắn mới lầm tường tụi tôi là đồng đội của hắn nên mới lầm to đến như thế. Sau này nhờ khai thác hắn mà Quân Đoàn IV đã giải cứu được một số anh em QL/VNCH từ một trại tù của VC trong vùng.

48.- Nguyễn văn Đệ: Vào năm 1974, tôi phục vụ tại Giang Đoàn 22 Xung Phong, hoạt động tại ngay Đặc Khu Rừng Sát thuộc Vùng 3 Sông Ngòi với chức vụ sĩ quan hành quân. Đặc Khu Rừng Sát bao gồm hai thủy trình huyết mạch từ Sài Gòn ra biển là sông Long Tào và sông Soài Rạp cùng những vùng phụ cận. Đây là một vùng đầm lầy, đất tân bồi với những cây tràm cây đước mọc chằng chịt. Nước lên thì ngập tràn mênh mông, còn khi nước xuống thì phơi ra những bãi sình lầy đen ngòm, vòng vo những con lạch quanh co uốn khúc.
Trong một cuộc hành quân phối hợp với TĐ-359 ĐPQ vào khoảng cuối tháng 9 năm 1974, chúng tôi đã được lệnh xâm nhập càn quét một mật khu VC trong vùng. Tăng phái cho GĐ22XP gồm có Toán Hải Kích với 6 giang đỉnh do quan Nguyễn Minh Cảnh làm Chỉ Huy Trưởng, và 4 chiếc trung vận đỉnh (LCM-6) thuộc GĐ27XP do quan Nguyễn Hoàng Liêm chỉ huy. TĐ 359 ĐPQ đã được quân xa của Quân Vận chở đến Phước Lễ từ mấy hôm trước, và họ có nhiệm vụ phải lội bộ truy kích tiêu diệt VC và lần ra đến Tắc Ông Kèo, hướng đổ vào sông Long Tào thì sẽ được các chiến đỉnh của Hải Quân đón về. Nhiệm vụ của chúng tôi thấy ra thì có vẻ dễ dàng và nhanh chóng, nhưng Tắc Ông Kèo lại là một vùng mà VC đã coi là khu vực bất khả xâm phạm của chúng. Nếu giang đỉnh của Hải Quân mà xâm nhập là chắc chắn sẽ bị dàn chào bằng những dàn hoả lực dữ dội của các chốt các điểm của Cộng Quân đóng dọc theo bờ sông.
Sáng sớm ngày đón quân, quan NMCảnh và NHLiêm chui qua giang đỉnh Monitor chỉ huy của chúng tôi để họp lần chót, TĐ 359 ĐPQ đã kéo quân ra đến bờ Tắc Ông Kèo từ chiều ngày hôm trước, đóng quân trải dài dọc bờ sông. Nhiệm vụ đã được chia ra là sáu chiếc giang đỉnh của Toán Hải Kích sẽ tiên phuông dẫn đường, kế đó là chiếc monitor cuả GĐ22XP, các trung vận đỉnh (LCM 6) của GĐ22XP và GĐ27XP sẽ nối đuôi theo sau. Hai cặp truy kích đỉnh (RPC) và tiểu giáp đỉnh (FOM) chia nhau chen vào giữa đoàn trung vận đỉnh, các tiểu vận đỉnh (LCVP) sẽ đi sau cùng. Các giang đỉnh sẽ vận chuyển cách nhau khoảng từ năm đến mười thước. Các chiến đĩnh của Toán Hải Kích sẽ tiến sâu quá khỏi chỗ đóng quân trong cùng của ĐĐ3 thuộc TĐ359ĐPQ, bắn vào những bụi rậm đáng nghi trên bờ, trong khi đó ba chiếc trung vận đỉnh sẽ vượt lên, ủi bãi, và đón Đại Đội 3ĐPQ. Đồng thời ba chiếc trung vận đỉnh khác cũng sẽ ủi bãi ngay chỗ đóng quân của Đại Đội 2ĐPQ nằm giữa, và hai chiếc quân vận đỉnh còn lại cùng ba chiếc tiểu vận đỉnh ủi bãi ngay chỗ Đại Đội 1ĐPQ còn lại ở phía ngoài cùng. Các giang đỉnh còn lại sẽ “lình xình” (tiếng của HQ Th/Tá Nguyễn Bê, CHT/GĐ22XP) theo hàng dọc, phía ngoài giữa sông để yểm trợ. Sau khi đón xong Đại Đội 3 ĐPQ các trung vận đĩnh này sẽ lùi tầu, quay mũi, hai máy tiến “full” chạy ra ngoài. Kế đến là ĐĐ2ĐPQ, và sau cùng là ĐĐ1ĐPQ. Các giang đỉnh của Toán Hải Kích khi rút lui ra thì sẽ trở thành đi đoạn hậu, và rải đạn vào những bụi rậm trên bờ để tránh VC đánh tập hậu.
Chúng tôi bắt đầu rời sông lớn, và chuyển hướng theo đội hình hàng dọc tiến vào Tắc Ông Kèo. Tôi thường hay ngồi trên chiếc truy kích đỉnh (RPC) mỗi khi đi hành quân, vì chiếc này có hai máy, xoay trở nhanh, tương đối thấp so với tầm bắn của B40, và trang bị một hoả lực mạnh với khẩu 50 ly kép nằm trước mũi. Nhưng lần này, vì hành quân lớn nên có cả CHT đi theo, và ông đã dẫn theo đàn anh khóa 18 Nguyễn Chung mới tân đáo đi cùng để biết thêm về vùng hoạt động, nên tôi phải cùng ngồi chung trên chiếc Monitor. Đại úy Chung ngồi bên trái CHT, còn tôi ngồi bên mặt và cầm ống liên hợp liên lạc với các giang đỉnh. TSI/TT Thà liên lạc hàng ngang với TT Hành Quân cũng như với ĐPQ theo lệnh CHT. HSI/TP Sơn, tài xế CHT, thủ cây ĐL30 nằm phía bên tả. Giang đỉnh của quan NM Cảnh nằm ngay phía trước chiếc monitor của chúng tôi, và thấy quan Cảnh ngồi vắt vẻo trên thành phòng lái, tay cầm ống liên hợp lè nhè chỉ huy mấy thằng em giang đỉnh chạy làng tàng phía trước. Lính Hải kích thật là chuyên nghiệp và nhanh nhẹn khi vào vùng hành quân, họ cuốn gọn các giường chiếu lên, những tấm vải bạt căng chung quanh chiến đỉnh để che mưa cũng được cuốn lên gọn ghẽ. Mọi người đứng khơi khơi trên nóc giang đỉnh, những khẩu 50 ly được hạ thấp nòng, hướng xeo xéo vào phía bên bờ sông. Chẳng phải như ở những Giang Đoàn Xung Phong đóng gần Sài Gòn như chúng tôi, quân số dưới giang đỉnh luôn thiếu hụt và đa số thì lè phè.
Chúng tôi vượt qua chỗ tạm đóng quân của ĐĐ1ĐPQ không thấy có gì xẩy ra, tôi ra lệnh cho ba chiếc trung vận đỉnh tăng vận tốc, vượt lên để sẵn sàng ủi bãi đón ĐĐ3ĐPQ. khi đi ngang một trong những con lạch nhỏ nằm giữa chỗ đóng quân của ĐĐ2 và ĐĐ3ĐPQ thì tôi thấy nổ một cái ầm thật to, và chiếc giang đỉnh của quan Cảnh rung rinh mạnh, và xịt khói đen ngòm. Nhổm mình nhìn vội vào bờ phía bên trái thì tôi cũng thấy một ánh lửa vừa loáng lên từ phía bụi cây phía trong bờ, ngay đầu con lạch con, và một tiếng nổ ầm sau đó, tầu tôi rung rinh, chao đảo thật mạnh. Một làn hơi thật nóng tạt mạnh vào người, vào mặt tôi! Tôi thấy tối sầm mắt lại. CHT la lên tôi bị trúng đạn rồi! Mặt tôi nóng ran như bị phỏng bởi chảo mỡ đang sôi, tôi lấy tay vuốt mặt, cố mở mắt ra. Mắt tôi mờ đi vì máu. Mắt trái đau nhức, cồm cộm rất khó chịu! Mắt phải tôi nóng nhưng nhìn rõ mọi vật. Tay tôi bụm mắt trái, ra lệnh ba chiếc trung vận đĩnh tiếp tục vượt lên đón ĐĐ3ĐPQ. HSI/TP Sơn đang tiếp tục nhả đạn vào những bụi cây bên bờ, Các giang đỉnh của Hải Kích cũng đang rải đạn vào những bụi cây nằm phía cửa con lạch. Tụi VC đã im tiếng súng. Đại úy Chung có vẻ bị thương nặng, ống quần dưới chân anh nhuộm đầy máu đỏ, một bàn chân anh coi như thấy máu thịt lẫn lộn. CHT thấy có vẻ nặng hơn, hai ống quần đầy máu, mặt nhợt nhạt, ngồi dựa lưng vào vòng trụ phòng lái. Tôi nhìn xuống thấy chiếc bàn ăn dầy mặt, nặng nề nằm ngay phía dưới chỗ chúng tôi ngồi, đã hứng hết miểng đạn cho chúng tôi, bị nát bấy, một vài mảnh gỗ còn lềnh bềnh dưới sông, đôi dép của tôi để trên ấy văng đâu mất tiêu. Ống thoát hơi từ phòng ngủ phía dưới, nằm chếch ngay phía dưới chiếc bàn ăn, trúng đạn trực tiếp bị vạt ngang, văng mất nắp, “toe loe” miệng lỗ. Tôi thấy mắt tôi rất khó chịu, chân tôi tê chồn, lốm đốm vài vết máu, ống quần lỗ chỗ một vài chỗ thủng vì miểng đạn. TSI/TT Thà đang liên lạc xin trực thăng tải thương. Tôi kêu Tr/Úy Điệp, sĩ quan trưởng khối giang đỉnh đang hiện diện trên chiếc tiểu giáp đỉnh nằm phía sau lên thay thế quyền chỉ huy.
Trực thăng của đặc khu đến tải thương. Tầu chúng tôi ủi bãi, trong lúc những chiếc khác đang tiếp tục đón quân. Tôi khấp khểnh leo lên bờ, và cố chạy ra chiếc trực thăng. HSI/TP Sơn sau khi đưa CHT va Đ/Úy Chung ra trực thăng xong trở lại đón tôi, anh nói: “ông thầy để tôi cõng”, và anh đùa bảo: “ông thầy yên chí, thằng nhỏ không sao”. Tôi rờ rờ bóp bóp nơi đũng quần để kiểm soát lại cho chắc ăn, và cảm thấy không bị đau. Cám ơn anh hết sức, nay vẩn chưa có dịp để được đền ơn anh.
Cũng từ dạo ấy, tôi và đàn anh K.18, HQ Đ/Úy Nguyễn Chung đã trở thành thân thiết gắn bó như anh em ruột vậy. CHT HQ Thiếu tá Nguyễn Bê (K.14) sau khi điều trị vết thương xong, đã trở về “nắm” Ban Thuyên Chuyển Sĩ Quan thuộc TQT/HQ (?) nếu tôi không lầm. Nhờ đó sau khi ra khỏi thặng số vào tháng 2 năm 1975, tôi được về làm Phòng Tư/BTL/HQ, còn Đ/U Chung về Phòng Năm/BTL/HQ. (Xin một lời cám ơn CHT đã nhớ đến đàn em.) Đàn anh K.18 Nguyễn Chung và tôi lại tiếp tục “cặp kè” đi chơi chung trong những ngày hấp hối sau cùng của Sài Gòn, và cũng như sau này trên con đường tỵ nạn thênh thang tại Hoa Kỳ.

49.- Nguyễn văn Hùng: Sở PVDH chỉ xâm nhập Bắc Việt thường là vào ban đêm, và sau khi Mỹ đã oanh tạc ban ngày. Tôi về Sở PVDH và làm trưởng toán Biệt Hải đã lâu nhưng chưa có dịp ra Bắc vì Mỹ đã ngưng oanh tạc Bắc Việt một thời gian dài. Mãi đến cuối năm 1972 khi Hoa Kỳ muốn Việt Cộng phải nghiêm chỉnh trong bàn Hội Nghị Paris, và cố đạt được thỏa hiệp bằng với bất cứ giá nào, họ mới tiếp tục oanh tạc Bắc Việt. Tôi ra Bắc công tác chỉ có hai lần. Lần đầu tiên, sau khi nhận lệnh hành quân, biết là toán của tôi sẽ đi công tác vào đêm hôm đó. Tôi dốc tiền túi, nhậu một trận tơi bời hoa lá. Tôi đã tưởng chừng như là mình đang sắp làm một Kinh Kha tráng sĩ, một kẻ đang mang một sứ mạng sẽ ra đi mà không mong ngày trở lại, sắp vượt sông Dịch Thủy sang Tần thi hành công tác như trong truyện thuyết của Tầu vậy. Cầm ly bia lạnh, uống hết ly đầy, rồi rót cho đầy một ly cạn. Công tác, hề, Nam nhi chi chí, phó mặc cho số Trời vậy. Tôi say khướt và lè nhè dặn dò anh bạn cùng khóa Bạch Xuân, nằm phòng kế một bên của tôi ở khu SQ độc thân: Này “Cao Tiệm Ly” Bạch Xuân bằng hữu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn (Chinh phụ Ngâm Khúc-Đặng Trần Côn), nếu tôi là kẻ đã ra đi và không trở về thì xin anh làm ơn thu góp đồ đạc của tôi giao lại và báo cho gia đình tôi biết”, trước khi ngủ “khì” được vài tiếng đồng hồ trước giờ đi công tác.
Toán chúng tôi chia nhau ra ba hay bốn người lên một trong bốn chiếc PT trong lần công tác này. CHT/sở PVDH cũng đi theo trong chuyến này, và cũng là lần đầu tiên của ông ra Bắc như tôi vậy. Trong khi hải hành, chúng tôi có nhiệm vụ tiếp đạn cho nhân viên cơ hữu khi hữu dụng. Khi ra đến vùng công tác, tầu chuyển hướng chạy vào bờ để thả toán Biệt Hải chúng tôi. Khi đó thì bất ngờ, trong bờ cũng có một chiếc tầu của VC chạy ra. Ông CHT vì thiếu kinh nghiệm, sợ bắn lầm tầu của quốc gia đệ tam quốc tịch, nên đã ra lệnh đánh đèn hỏi “WHAT SHIP”, thế là chúng khai hỏa bắn sối xả vào tầu chúng tôi. Hạm trưởng chiếc PT tôi đang hiện diện là người thâm niên và kinh nghiệm nhiều nhất nên đã ra lệnh tất cả mọi tầu bắn trả. Nhưng chỉ có ba chiếc kia là khai hỏa, còn sao mà lạ quá, chiếc của tôi thì nín khe! Tôi chồm lại, lắc vai anh xạ thủ khẩu Beauford 40ly trước mũi, Hạ sĩ /TP Cường. Không thấy anh nói năng gì cả, cứ chúi mũi mà ôm lấy khẩu súng! Tôi giật mạnh vai anh một lần nữa. Anh ta đổ ập xuống sàn tầu như một thân cây chuối ngả! Anh đã bị trúng ngay một trong những phát đạn đầu tiên của tầu địch và đã hy sinh vì nhiệm vụ. Chiếc PT tôi đi phải đổi hướng quay ra, chỉ còn ba chiếc kia tiếp tục bắn chìm chiếc tầu VC trước khi cùng chuyển hướng quay lại về miền Nam. Sáng ra, xét lại thì thấy một viên đạn 12 ly 6 của VC đã chạy dọc theo nòng súng, xẹt ngang ổ đạn, đâm vào ngực, trúng tim HS/TP Cường làm anh chết ngay lập tức. Mặc dù anh đã cẩn thận mặc áo giáp, nhưng anh đã không gài nút, và viên đạn đã không phải xuyên qua làn áo giáp mà trúng anh. Chuyến công tác này của toán Biệt Hải chúng tôi coi như đã bị hủy bỏ, tuy những chiếc PT Hải Tuần đã đánh chìm một tầu VC ngay trên miền đất của chúng.
Ba ngày sau, chúng tôi lại được lệnh tiếp tục thi hành công tác ra ngoài Bắc một lần nữa. Chuyến đi này suông sẻ, nhưng khi ra đến vùng hoạt động, chuẩn bị xuống xuồng cao su để bơi vào bờ thì bất ngờ nhận được lệnh hủy bỏ cộng tác. Không biết lý do gì, nhưng lệnh trên thì phải thi hành. Đó là hai lần tôi phải công tác ra Bắc, nhưng không một lần nào tôi đã phải bị ướt chân vì không phải bơi vào bờ. Nhưng cũng nhờ có vậy mà tôi mới còn sống được đến ngày hôm nay.

50.- Nguyễn văn Vang: Vào năm 1974, tôi phục vụ tại Duyên Đoàn 42 ở Phú Quốc thuộc vùng 4 Duyên Hải. Duyên Đoàn 42 nằm trên một ngọn đồi cát của Bãi Xẹp, phía Tây Nam của An Thới và cách BTL/V4DH chừng hơn một cây số. Nhiệm vụ của chúng tôi là tuần tiễu sát bờ, trà trộn vào với những toán ghe đánh cá của ngư dân, trách nhiệm an ninh vòng quanh đảo Phú Quốc. Duyên Đoàn 42 có một số ghe Kiên Giang, Yabuta, và đặc biệt là ghe xi măng do Hải Quân Công Xưởng đóng. Ghe xi măng thì nặng nề, khó xoay chuyển nhất là khi sóng to gió lớn! Vào khoảng gần cuối năm 74, một chiếc ghe xi măng của Duyên Đoàn bị đụng đá ngầm và bị chìm ở Bắc Đảo Phú Quốc. Đây là một vùng nằm sát biên giới với Cam Bốt, mất an ninh, cấm đánh cá, và có quyền được tác xạ tự do. BTL/V4DH đã biệt phái một chiếc LCM đến để tìm cách trục vớt chiếc ghe xi măng này lên nhưng vô hiệu vì không có phương tiện trục vớt và chiếc ghe xi măng này quá nặng nề cũng như đã bị chìm sâu dưới mặt nước chỉ còn nhô lên cái cột cờ chừng cỡ một gang tay. Trong hơn một tuần túc trực tại chỗ ghe bị nạn để giữ an ninh, chúng tôi đã rơi vào tình cảnh thiếu thực phẩm, ngoại trừ gạo, một ít nước mắm, và vài trái ớt hiểm! Nước uống thì còn đủ dùng cho hơn một tuần. Vì là khu vực cấm đánh cá nên ngư dân không bén mảng thế là không có thêm nguồn cung cấp cá tôm! Số lựu đạn MK3 cũng chỉ có giới hạn để phòng hờ chống đặc công thủy vào ban đêm, nên đã không dám dùng để đánh cá. Tuy nhiên với mấy trái ớt hiểm dầm nước mắm Phú Quốc chính gốc cũng làm cho đám trai trẻ chúng tôi “ngốn” cơm không đến no căng bụng.
Có một đêm, khoảng gần nửa đêm, bỗng chúng tôi nghe thấy tiếng máy ghe đuôi tôm vọng ra từ phía trong bờ Bắc Đảo! Tôi vội ra lệnh cho anh em tắt đèn, giữ im lặng, và từ từ kéo neo di chuyển tàu ra xa bờ để tránh xa tầm đạn của chúng. Chúng tôi báo cáo về BCH/ZĐ, TTHQ để xin chỉ thị, và xin một chiếc PCF đang tuần tiễu tại vùng Bắc Đảo đến yểm trợ. Mọi người trong nhiệm sở tác chiến. Tiếng máy ghe đuôi tôm đã im bặt, chỉ còn tiếng nước vỗ vào mạn ghe của chúng tôi. Chúng tôi dương mắt ngó mông lung về hướng có tiếng ghe đuôi tôm mong phát hiện một cái gì, nhưng chỉ thấy một màn đêm đen quánh! Tim tôi đập nghe thình thịch. Chúng tôi đang rình địch, và biết rất rõ là chúng cũng đang rình rập chúng tôi. Khoảng hai tiếng sau, chúng tôi nghe thấy tiếng máy ghe đuôi tôm trở lại ở hướng cũ, có lẽ chúng đã tưởng tụi tôi đi rồi chăng? Chúng tôi được lệnh khai hỏa từ TTHQ. Tôi ra lệnh bắn, và mọi người đều hướng mũi súng về phía có tiếng máy ghe đuôi tôm mà nhả đạn. Cây đại liên 50 nả từng hồi năm bẩy viên một. Tôi cũng “ria“ từng loạt M16, những lằn đạn lửa sẹt ngang trong đêm đen vào phía bờ. Mùi thuốc súng và tiếng đạn nổ làm tôi quên đi nỗi sợ ban đầu. Tiếng máy ghe đuôi tôm đã im bặt từ mấy phút ban đầu. Tôi cho anh em ngừng bắn, và chờ nghe xem có thêm tiếng động nào nữa hay không, nhưng chỉ còn tiếng gió và tiếng sóng. Chúng tôi mất ngủ nguyên đêm. Cũng ngay đêm đó, một trung đội địa phương quân tại xã Hàm Ninh đã được vận chuyển đến và đổ bộ lên vùng bắc đảo để truy kích, và lục soát. Kết quả sáng ngày hôm sau cho biết là có vết máu để lại, ngoài ra không thấy vết tích của ghe hay người. Chiếc ghe xi măng đã được phá hủy và nằm yên nghỉ tại bắc đảo sau khi đã được tháo gỡ những gì cần thiết. Đó là lần đầu tiên tôi “đụng trận” với VC, và thực sự nhả đạn về phía địch quân.

Chương 9: 1975

Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu,
Gặp thời thế, thế thời, thời phải thế.
Ngô Thời Nhiệm
       Đầu năm 1975, VC đánh chiếm Phước Long. Tháng 3 năm 1975, lệnh trực tiếp từ Thổng Thống Thiệu yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn 1 cho “di tản chiến thuật” rút lui khỏi Quân Đoàn 1. Ngày hôm sau, 14 tháng 3 năm 1975 lại cho lệnh “di tản chiến thuật” khỏi Quân Đoàn 2. Không một kế hoạch cho “di tản chiến thuật” để phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị, không một chuẩn bị cho “di tản chiến thuật” để tránh sự đột ngột hấp tấp, không một lịch trình thời gian cho “di tản chiến thuật” để tránh sự hỗn loạn, không một thứ tự lớp lang cho “di tản chiến thuật”, và nhất là không một thông tin liên lạc cho các đơn vị kể cả đại đơn vị như sư đoàn… về “di tản chiến thuật”. Mọi người nghe qua tin đồn, và ùn ùn bỏ chạy khỏi Vùng 1! CS tiến chiếm không kịp những vùng quân ta bỏ ngỏ, rót theo trọng pháo vào dân, vào quân đang hoảng hốt rút lui vì không có lệnh lạc, không có chỉ huy! Quân đoàn 2, theo lệnh rút lui hối hả xuống vùng bờ biển qua con đường tử lộ, đã bị Cộng quân chận đánh cho không một lối thoát. Vùng 1 Chiến Thuật đã thật sự hoảng loạn và sụp đổ. Vùng 2 Chiến Thuật đã bị bẻ gẫy hoàn toàn. Rồi ngày cuối tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn rơi vào tay VC.


51.- Đỗ Ngọc Viêm: Đã hơn ba mươi lăm năm biền biệt, ký ức như những đóm lửa văng ra từ lửa than ngún cháy, tôi vẫn nhớ tuy rằng vẫn cố quên đi cái làng nhỏ nơi xóm Rớ nghèo nàn, tọa lạc trong khoảng giữa vùng biển Nha Trang và Đại Lãnh. Vùng ven biển nơi Duyên Đoàn 25 trú đóng, đơn vị sau cùng của tôi, chỉ huy bởi mười hai vị sĩ quan, và vài ba chục người lính!
Được lệnh di tản, hay không muốn nói là tháo chạy ngay khi chưa kịp thấy bóng quân thù! Chúng tôi thật quá nghèo nàn cả về tinh thần cũng như vật chất; Riêng cá nhân tôi tự nhận thấy là mình đã quá hèn mạt, những kiêu hãnh của những ngày huấn nhục trong quân trường đã không còn tồn tại, những kiến thức thâu góp được trong trường đã trở thành những sự chua xót! Đưa vợ và đứa con nhỏ mới sinh ba tháng xuống ghe xong, tôi trở lại ném quả lựu đạn sau cùng cho nổ tung căn nhà nơi mà đứa con gái đầu lòng của tôi đã sinh ra. Nghiến chặt hàm răng, lòng lạnh băng như sắt nguội, tôi nhìn quanh doanh trại lần cuối! Sau cùng tôi đã gào to lên lệnh “Rút!” Nước mắt khô, lòng nguội lạnh, đầu óc trống rỗng, tôi đứng trên thuyền nhìn về phía ba làng Đông: Đông Hà, Đông Hòa, và Đông Hải. Nhìn như nhìn vào một buổi chợ chiều ngày ba mươi Tết, tôi hạ nòng súng, xuôi tay và quay nhìn ra biển!
Bãi cát vàng vùng Đại Lãnh, Bãi Dài, Đèo Cả, và Suối “Cống” nơi mà tôi và người vợ mới cưới đã có nhiều lần từng tắm dưới chân đường đèo khi còn được biệt phái chỉ huy toán đóng quân trên đỉnh đồi vụt trở lại trong ký ức. Tôi chỉ thấy sự nghèo đói, khốn nạn, và không thấy có tương lai! Lòng trôi đi theo thuyền, biển yên, gió lặng, cảnh chợ chiều đã tan. Chúng tôi yên lặng lênh đênh trên biển trong những ngày dài “Di tản chiến thuật” từ Gánh Thiềng, Hương Sơn, Hòn Rùa, Hòn Khoai nứt đôi, Hòn Một, Hòn Tre… Bao nhiêu hòn tôi đã đi qua và những “Mũi” tôi đã đi đến như Mũi Dinh, Mũi Né, Cà Ná… Những cái tên dân dã tôi đã nhớ, bấy giờ đều là hư không, chúng tôi đã trở thành những kẻ bại trận! Ôi đau thương và bi đát! Mọi sự hư không đều đã trở về với hư không. Từ đất Bắc vào Nam đã là hư không, đời Hải Quân đã là hư không, mọi sự chỉ là hư không! Không nơi nào có thể đặt để được niềm tin. Mọi sự dưới Trời chỉ là hư không!
Về đến Cát Lái, tôi chỉ còn là một sinh vật bò đi tìm cái sống! Vào đến bến tàu Thủy Xưởng, gặp lại người bạn “Nhái” cùng khoá, đến nhìn thấy tôi còn sống thì yên lặng bỏ đi! Hoan “cà lăm” chuyện trò đôi câu giúp đỡ. Một người khóa đàn em giới thiệu gia đình của mình với đứa con tóc đen mun xù chĩa. Lòng tôi vẫn lạnh ngắt, và tôi vẫn còn như một con sinh vật đang bò tìm sự sống! Đi, chạy, nằm, ngồi, và vô tư tưởng cho chiều ngày 29 tháng 4, được lệnh rời Cát Lái, im lặng vô tuyến, ngu xuẩn mù mờ, tôi lại đi như một sinh vật tìm sự sống! Tôi ngồi trên ghe xi măng với vợ, với con. Chúng tôi như những con giun con dế đang đi tìm sự sống. Trên trời, hai chiếc L 19 đang bay là đà bị bắn rớt tại hướng Nhà Bè (lại một cái tên dân dã!) Đêm ra đến cửa Vũng Tàu, tôi mắt mờ tai điếc, chỉ thấy chung quanh tôi là những đống, khối đen xì! Chẳng biết gì cả, chẳng biết là cái gì.
Tờ mờ sáng ngày 30 tháng 4, mọi người, mọi tàu bè đã đi hết!
Tôi được gọi ra chia tàu, và cho quyết định tối hậu. Tôi lấy chiếc ghe gỗ Yabuta, phủ chiếc mền cũ lên trên hình lá cờ “Victor” vẽ trên mui, dấu khẩu đại liên M 60 xuống dưới khoang, và ghe đầy người. Tôi dẫn ghe về ngược hướng Sài gòn. Một hai chiếc “skimmer” đang trên đường chạy ra cửa biển, thấy chúng tôi đang quay ngược chiều trở lại Sài Gòn đã bắn chỉ thiên và ra hiệu cho chúng tôi quay trở ra. “Mất hết rồi, đi đi!” họ đã gào to lên cho chúng tôi nghe. Lừng khừng chẳng biết làm gì, tôi từ từ cho ghe thả trôi.
Chiếc tàu “què” HQ 402 lừ đừ đi ra từ hướng Sài Gòn. Tàu đầy người, và như có ý ngưng chờ. Tôi cho ghe tấp vào, đưa đứa con nhỏ lên như một đòn bánh tét, đẩy vợ lên như một khúc gỗ, và sau cùng tôi đã bò lên như một con sâu! HQ 402 đã được tự đánh chìm tại Côn Sơn, tôi và gia đình được tiếp lên “thằng” 11, phun khói đen đặc như xe lửa. Nhưng giun dế đã được lên chỗ an toàn, kể cả một “lèm bèm” Tướng và một “cao bồi” Tá! Nhưng mọi sự vẫn là hư không, như một luồng gió thổi, tư tưởng ấy vẫn mãi ở trong tôi! Cho đến ngày nay, sau hơn ba chục năm rồi, nó vẫn còn trong tôi!
For there is a hope of a tree
If it be cut down
That it will sprout again
And that the tender branch
Thereof will not cease!
(Job 14:7)

52.- Ngô Nguyên Trực: Tháng 11 năm 1974, tôi được tân đáo Hạm Đội, HQ 11. Từ đầu năm 1975, chúng tôi đi công tác liên miên hết Vùng 1 rồi lại đến Vùng 2, cho đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 mới về đến Sài Gòn, và bị cấm trại 100%. Chiều ngày 29, tôi định về thăm nhà nhưng không được phép, khoảng 7, 8 giờ tối, Hạm Trưởng HQ Thiếu Tá San (San Xẹo) về tàu và cho tập họp nhân viên, ai muốn đi theo tàu thì đi, ai muốn ở lại thì ở! Ông dẫn theo một gia đình, nói của một người bạn gởi theo! Nhân viên ngỡ ngàng và bất mãn vì làm sao về kịp để đưa gia đình di tản theo tàu? Mấy giờ thì tàu sẽ rời bến, không biết! Sài Gòn đang trong cơn dẫy chết ngoài kia! Khoảng 10 giờ tối tàu tháo dây, tôi quá bất mãn và tức giận Hạm Trưởng nên đã nhẩy qua chiến hạm kế bên, và leo lên bờ mà không đi theo. Đêm hôm đó tôi vào trong HQCX để tìm chỗ ngủ qua đêm. Ngày 30, tôi thay đồ dân sự, ra khỏi cổng BTL/HQ. Anh em Quân Cảnh HQ 201 vẫn đứng gác sau hàng rào kẽm gai, bên ngoài người ta bu đông nghẹt. Tôi kêu một chiếc xe Honda ôm để về nhà ở đường Lê văn Duyệt. Nhà tôi khóa trái cửa, không biết cha mẹ tôi đi đâu? Sau này mới biết là cả nhà đã được thằng em ruột tôi chạy về kéo xuống Nhà Bè di tản theo chiếc LCM-8 của đơn vị nó, một Giang Đoàn Xung Phong vào ngày 29 rồi. Tôi chạy xuống nhà ông Nội tôi ở dưới Gia Định và bị kẹt luôn.

53.- Tôn Thất Cường: Sau khi từ Vùng 1 chạy vào và được tập họp tại CC/YTTV/Cát Lở (Vũng Tàu), tôi gặp lại người bạn cùng khóa là HQ Tr/Úy Lê văn Tài. Tôi được tạm trú tại Chi An Ninh 31 của HQ Tr/Úy Trương văn Tính để làm việc. Vài ngày trước khi Vũng Tàu bị mất, tôi và LVTài dự trù leo xe đò để về Sài Gòn, vì chị Tài sắp tới ngày sanh. Hôm về thì tôi bận điện thoại với với HQ Trung Tá Đinh Công Chân từ Sở nên bỏ lỡ mất chuyến xe cuối cùng trong ngày. Tối hôm đó, cầu Cây Khế bị giựt mìn sập, như vậy phương tiện đường bộ Sài Gòn-Vũng Tàu hoàn toàn bị cắt đứt, và tôi bị kẹt luôn ở lại Cát Lở! Lính Nhẩy Dù rút về Vũng Tàu, đi ngang qua cổng rất trật tự và nghiêm nghị, dân chúng đi lẫn vào trên đường di tản.
Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, một trung đội ĐPQ trên đường di tản về Vũng Tàu đã tình nguyện ở lại tử thủ CC/YTTV/CL với chúng tôi. Họ được giao cho canh giữ vòng ngoài của căn cứ. Về sau đa số những người lính này cũng đã được di tản theo tàu của Hải Quân. Khoảng 7 giờ tối, HQ Thiếu Tá Nguyễn Công Hội CHP/YTTV/CL ra cổng chánh. Hỏi tôi, sĩ quan duy nhất đứng ngoài cổng :” Anh cho tập họp đơn vị. Anh có được mấy người ?” Tôi nói :”Một người”. Ông ngạc nhiên, tôi tiếp: “Tôi thuộc Ty 1, từ Vùng 1 di tản vào.” Ông nói: “Anh tập họp anh em ở đây lại, chia nhau gác cổng chánh, anh làm trưởng toán. Anh tên gì?” Tôi vội đáp “Tôn Thất Cường”. Ngay lúc đó, địch pháo kích vào căn cứ nhưng không việc gì. Một vài người lính tuôn chạy, Thiếu tá Hội chĩa súng về phía họ, la to: “Cấm chạy, chạy tôi bắn.” Nhờ thế mà trấn an được lính, và không ai dám bỏ vị trí phòng thủ nữa. Ông quay qua tôi và nói: ”Anh Cường, tôi không bỏ anh đâu”. Tôi cảm phục tinh thần chiến đấu, và câu nói đầy tình người này của ông.
Ngoài cổng chánh, chúng tôi gồm có 6 Quân Cảnh Hải Quân 201, một toán người nhái khoảng trên 10 người, và khoảng 10 người thuộc các đơn vị di tản về. Tôi cho lập danh sách và chia phiên gác. Ngoài những người đương phiên gác, chúng tôi nằm cạnh những hố cá nhân đã đào sẵn, và may mắn là chúng tôi đã trải qua một đêm không bị pháo kích. Tôi phụ trách liên lạc truyền tin trong đêm. Danh hiệu cuối cùng để liên lạc truyền tin là: “Lôi Đạt” cho CC/HQ/Vũng Tàu, “Xích Bích” cho BTL/V3ZH, và “Thiên Nga” cho CC/YTTV/Cát Lở.
Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, tôi tháp tùng Đại tá Vương Hữu Thiều, CHT/CCTV/Đà Nẵng và một vài người nữa đi về hướng Vũng Tàu để quan sát tình hình. Đi dọc đường thì chúng tôi thấy VC pháo kích vào BTL/V3/ZH và CC/YTTV. Sau cuộc pháo kích, chúng tôi vào một quán café ven đường để dùng nước giải khát.
11giờ45 sáng chúng tôi vào tới BTL/V3/ZH để Đại Tá Thiều vào họp.
12giờ45 BCH/CCYTTV lại bị ăn pháo kích của địch. Chúng tôi trở về CC/YTTV/CL. Trước khu gia binh trại Yên Thế, một hố sâu do đạn pháo kích tạo thành. Gia đình binh sĩ trong trại Yên Thế đã được di tản. Một chiếc xe GMC đã được điều động nằm ngang, án ngữ ngay trước cổng chánh. Từ trên sân thượng của phòng Nhì, HQ Trung tá Trịnh Minh Thơ CHT/CC/YTTV/CL đang quan sát và điều động toán phòng thủ phản pháo vào những vị trí nghi ngờ bằng hai khẩu BKP cơ hữu. Tinh thần anh em HQ rất cao độ. Tôi gặp HC2 Lưu Quốc Bảo đang ngồi cạnh cây súng M16 tại tầng dưới. Đến 1giờ05 trưa ngày 29 thì bên ta ngưng tác xạ, nhưng sau đó lại phản pháo tiếp, lai rai cho đến chiều. Đến khoảng sau 5 giờ chiều thì Trung Tá Thơ cho lệnh rút lui toàn bộ bằng đường biển. Tôi nhẩy xuống một chiếc PCF đang cập sẵn ngay ở cầu tàu. Đang loay hoay tìm chỗ, bất ngờ một họng súng Colt 45 đã lên đạn chĩa ngay cổ họng tôi, và kèm theo một tiếng quát chắc nịch “Đi đâu, đi đâu???” Tôi chỉ cần nhúc nhích cây M16 trên tay là có lẽ tên Đại Úy này sẽ nhả đạn vào tôi ngay lập tức! Tôi vẫn còn nhớ hắn có một vết sẹo dài ở cổ, và đã đứng túc trực sẵn ở sân tàu từ trước. Tôi cảm thấy uất nghẹn và cay đắng vì cùng chung một màu áo mà hắn đối xử với nhau như vậy! Một ý nghĩ chợt thoáng qua trong đầu, và tôi đang còn bàng hoàng thì một tiếng nói sau lưng tôi “Đi với moi, Bốn”. Đại Tá Thiệu đang đứng ngay sau lưng tôi và lên tiếng kịp thời. Vị đại úy này mới chịu hạ nòng súng và cất vào bao. Lần đầu tiên tôi được trực diện với HQ Trung Tá Trịnh Minh Thơ, và vì cảm phục sự can trường và tinh thần chiến đấu của ông nên tôi đưa tay chào tay và lên tiếng hỏi “Trung tá là người rút lui sau cùng?” Trung tá Thơ gật đầu đáp lại “Tôi là người rút sau cùng.”
Chúng tôi ra đến cửa Vũng Tàu và chuyển sang chiếc Duyên Vận Hạm cùng loại HQ-454. Thân nhân những quân nhân HQ đã được di tản lên trên chiếc này từ trước. Những ai không muốn đi thì theo chiếc PCF quay về! Địch vẫn tiếp tục pháo kích vào thị xã Vũng Tàu và các chiến hạm đang thả trôi ngoài biển. Trên trời trực thăng bay ra hướng biển khơi. Trời tối dần. Khoảng 6 giờ 15 tối, tàu chúng tôi cập HQ-802, chỉ có Đại Tá Thiều và một quân nhân HQ bị thương là được lên HQ-802. Chúng tôi chạy ra khơi, trước mặt chúng tôi là các chiến hạm HQ-5, HQ-802, HQ-400 đang di chuyển chầm chậm, và sau lưng chúng tôi hướng 6giờ là HQ-457. Trung Tá Thơ vẫn chưa có quyết định rõ rệt là sẽ cho tàu đi về đâu! Nhưng chúng tôi cứ theo hướng các trực thăng bay ra ngoài biển khơi. Chúng tôi bắt gặp một số tàu buôn to lớn, chung quanh đang bu đầy ghe và một số chiến đỉnh. Trên những chiếc tàu buôn này đều có TQLC Mỹ đứng gác và giữ an ninh. Chúng tôi cặp vào chiếc tàu buôn đầu tiên gặp là chiếc GreenVille Victory, và leo lên. Tôi có hỏi thăm tin tức Thiếu Tá Hội, và có người nói rằng ông ta đã di tản theo một chiếc PCF, nhưng đã bị lính trên bờ bắn chìm! Tôi thấy thương cảm cho ông ta. Nhưng cách đây vài năm, HC2 Tô Phước Hồng đã cho biết là ông ta vẫn còn sống và hiện ở bên Houston, Texas. Thật là vui mừng khi biết được tin vui này. Vì lý do chiếc GreenVille Victory chở quá đông người tỵ nạn, cho nên những người tỵ nạn chúng tôi từ CC/YTTV/Cát Lở cùng với Trung Tá Thơ đều được chuyển qua chiếc TeleColorado, và chính chiếc này đã đưa chúng tôi đến đảo Guam để làm lại cuộc đời mới.

54.- Mai Kim Phụng : Tối hôm 29 tháng 4 năm 1975, HQ 800 đang thả neo trên sông Đồng Nai, khúc gần Nhà Bè thì thấy CCHQ Cát Lái bị pháo kích dữ dội, Thành Tuy Hạ bị trúng đạn phát nổ và cháy lớn. Các giang đỉnh tại CCHQ Cát Lái chạy túa ra ngoài, một số cập vào tàu tôi, nhiều người leo lên trong số đó có quan Nguyễn Hùng Tâm. Tôi đưa Tâm vào cabin tôi ở, lúc đó mới biết là Tâm có dẫn theo võ sư Hàng Thanh và hai người bạn nữa, và họ gọi nhau là tứ huynh đệ. Mọi người cùng vào tạm trú trong cabin của tôi. Đêm hôm đó tàu tôi kéo neo và chạy ra Côn Sơn.
Tới sáng khi tàu tới gần Côn Sơn thì được biết là cuộc chiến đã tàn! Tại đây, một số anh em theo một số tàu quay về lại Sài Gòn, tôi cũng xách đồ tính lên chiếc coastguard của “mục sư” Dũng đi về thì Tâm đã cản tôi lại. Tâm nói: “mầy về bây giờ, mầy có nghĩ là mầy sẽ làm khổ cho gia đình mầy hay không? Trong khi vợ con mầy lại chưa có!” Tôi dùng dằng do dự, tâm hồn tan nát! Đi thì sẽ đi đâu? Làm sao mà sống? Tương lai mịt mờ và vô định! Nhưng sau cùng tôi đã nghe theo lời khuyên của Tâm, và đi theo chiến hạm mà không quay lại về Sài Gòn nữa. Còn một ít tiền VN, tôi gom lại đưa hết cho Dũng để hắn đi về. Bây giờ nghĩ lại thấy cũng buồn, Nguyễn Hùng Tâm đã ra người thiên cổ, những gì còn lại chỉ là những kỷ niệm giữa anh em bạn bè và dĩ vãng mà thôi.

55.- Cung Vĩnh Thành: Ngày 29 tháng 4 năm 1975, tình hình Sài Gòn đang đi dần vào cơn dẫy chết! Trên trời trực thăng Mỹ tới tấp bay vào Sài Gòn đón những người mà họ muốn đón như nhân viên sở Mỹ, hay có liên hệ…Trên đường phố nhiều người chạy ngược chạy xuôi để tìm đường thoát, nhưng quái lạ sao mà không hỗn loạn! Các cửa tiệm và nhà phố đóng cửa. Vòng đai BTL/HQ và khu HQCX vẫn được cấm trại 100% từ nhiều ngày trước, nay đã được thả lỏng từ sau buổi trưa. Chiều hôm đó tôi về nhà ở bên Tân Định lần cuối và trở lại ngay vào cùng buổi chiều. Phía ngoài hàng rào cổng BTL, người ta bu đen như kiến để mong được chen vào! QCHQ 201 và những nhân viên gác cổng vẫn đang làm việc một cách tích cực. Không hiểu tại sao mà tôi đã không leo xuống chiến hạm mà tôi đã từng phục vụ là HQ 473, mà tôi đã theo chiếc Khu Trục Hạm HQ 01 để di tản ra điểm tập trung tại Côn Sơn. Tại nơi đây, HQ 473 là một trong những chiến hạm đã được chỉ định quay về lại Sài Gòn và mang theo những người không muốn ra đi. Khi đoàn tàu của Hạm Đội HQ/VNCH chuẩn bị vào Subic Bay của Phi Luật tân, tôi đã leo lên đài chỉ huy để nhìn lại cảnh cũ mà tôi và 4 bạn cùng khóa vẫn thường làm khi còn đang thực tập trên USS White Plains thuộc Đệ Thất Hạm Đội thủa nào. Cảnh cũ vẫn như xưa nhưng tâm tư tôi thì hoàn toàn khác hẳn!
Cảnh đấy, người đây, luống đoạn trường.
(Thăng Long Thành Hoài Cổ- Bà Huyện thanh Quan)

56.- Lê Trọng Lực: Năm 1975, tôi đang được biệt phái theo học tại Trung Tâm Kỹ Thuật Quốc Gia Phú Thọ. Ông anh ruột của tôi làm hoa tiêu cho Hải cảng Đà Nẵng, được móc nối và đang lênh đênh ngoài khơi, chờ giờ “G” để vào đón đại gia đình, và trong số ấy có cả tiểu gia đình của tôi để di tản theo tàu. Giờ “G” đến quá bất ngờ và quá nhanh, ông ấy đã không kịp đón đại gia đình, và cả cái tiểu gia đình của chính ông ấy nữa! Ngày 30 tháng Tư năm 1975, khoảng một đại đội Thủy Quân Lục Chiến đã đón tiếp VC bằng những màn chận đánh rất đẹp và hết sức ngoạn mục ngay tại khu khách sạn mà gia đình tôi tạm trú. Các anh em TQLC đã gây thiệt hại cho VC một cách rất đáng kể. Để tránh bị địch quân bao vây và tràn ngập, các anh em TQLC đã kéo lên cố thủ trên một ngọn đồi nằm gần kế bên. Tôi và một số người khác rút lui lên đồi theo chung với các anh em TQLC.
Hết đạn, chúng tôi bị VC bắt sống tại mặt trận! Một hai anh em TQLC tuy bị bắt nhưng vẫn kiêu hùng, chửi bới bọn CS ác ôn. Các anh đã bị lôi ra xử bắn một cách không thương tiếc ngay trước mặt mọi người! Toán tù binh chúng tôi gồm có khoảng ba bốn chục người, trong số đó có một vị bác sĩ quân y TQLC, tuy đã ra được đến tàu ngoài biển, nhưng đã theo ghe lội ngược trở lại để săn sóc thương binh. Chúng tôi bị nhốt tại trại Cây Dừa, Vũng Tàu. Nhập trại tù binh tôi đã thấy quan Trương Đình Quí hiện diện trong trại rồi, không biết đã bị bắt ở đâu? Sau khoảng ba tuần, chúng tôi được đưa về trại Suối Máu, Long Giao. Chúng tôi bị liệt kê vào loại “phản động” nên những người thuộc diện tù trình diện cải tạo đã không dám giao thiệp hay lai vãng với chúng tôi, nhiều khi có cả bạn bè nữa!

57.- Nguyễn Đăng Khúc: Trước khi di tản chiến thuật khỏi Phú Cường, CHP HQ Đ/Úy Kính nắm quyền CHT GĐ24XP. Đêm 27 và 28 tháng 4 năm 1975, CC/HQ/Long Bình bị pháo kích của VC, Đ/Úy Kính bị thương và được tải thương về Bệnh Viện Hải Quân, tôi được “đôn” lên làm XLTV/CHT GĐ24XP. Ngày 29 tháng 4, chúng tôi được lệnh bỏ CC/HQ/Long Bình, các giang đoàn đặt dưới sự chỉ huy của TMT/BTL/V3SN trong cuộc “di tản chiến thuật”. Đến khuya đêm 29, chúng tôi về đến Nhà Bè. Khoảng 11 giờ đêm, TMT/BTL/HQ/V3SN lấy một chiếc PBR vào Căn Cứ Nhà Bè họp, nhưng đến khoảng 1 hay 2 giờ sáng thì thấy chiếc PBR trở ra với khẩu lệnh của TMT là toàn quyền để cho các CHT quyết định! Chúng tôi bàn bạc suy tính, không biết phải làm gì, không có lệnh lạc chi, không còn ai chỉ huy nữa, thôi thì cách hay nhất là để bảo toàn lực lượng, cùng kéo về bến Bạch Đằng, chia nhau cập bến ở Câu Lạc Bộ nổi và các cầu tầu trong BTL/HQ, và chờ sáng ngày hôm sau xem sao!
Khoảng 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, tôi được lệnh lên họp ở BTL/HQ dưới sự chủ tọa của Đại Tá Tấn (An Ninh HQ), quyền Tư Lệnh HQ. Chúng tôi được lệnh lãnh thêm đầy đủ dầu, gạo, đạn dược và chờ lệnh. Vì nhân viên quản kho đã không hiện diện tại chỗ, nên được lệnh bắn vỡ ổ khoá! Khoảng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong lúc tôi đang ngồi ký giấy phép cho nhân viên đi bờ trên một chiếc giang đỉnh cập ở Câu Lạc Bộ nổi, và sự vụ lệnh cho một nửa số nhân viên ở lại để lãnh đồ tiếp liệu thì HQ Đại Tá Phú, Đ/Úy Tuấn, một sĩ quan OCS và là bà con của Đ/T Phú, và một số người nữa chạy xuống nói “tan hàng rồI” và rủ tôi chạy. Tôi lấy một chiếc PBR và mọi người kéo xuống. Chúng tôi mở máy, tháo dây và chạy ra hướng Vũng Tàu. Trên sông Sài Gòn, chúng tôi bắt gặp một chiếc tàu đánh tôm Việt Đức cũng đang hướng mũi ra biển. Họ thấy tàu chúng tôi lố nhố có đầy sĩ quan HQ, nên giảm tốc độ để cho chúng tôi cập vào. Té ra là trên chiếc này đầy người nhưng thiếu hoa tiêu. Nhân viên cơ hữu chỉ còn lại một vài người “thợ vịn”, và một anh thợ máy cùng một cô thư ký của hãng Việt Đức. Những người còn lại chỉ là gia đình họ. Họ đồng ý giao quyền chỉ huy việc lèo lái con tàu lại cho chúng tôi. Trên đường ra biển chúng tôi cũng vớt thêm nhiều người tỵ nạn trên những ghe xuồng trong sông nên dân số trên tàu cũng lên đến hơn một trăm người. Trên sông Long Tào, tàu chúng tôi bị trúng một quả đạn của VC vào ngay dàn radar! Tàu vô sự nhưng radar bị bất khiển dụng.
Bốn năm ngày sau, chúng tôi đến Tân Gia Ba nhưng không được cập bến! Nơi đây, tôi đã thấy sự hiện diện của một số tàu buôn VN khác như chiếc Trường Thành… và một số ghe thuyền tỵ nạn. Chúng tôi được tiếp tế thực phẩm và dầu nhớt để ra đi tìm nơi khác, sau hai hay ba ngày năn nỉ chính quyền địa phương mà không được tỵ nạn. Bẩy ngày sau chúng tôi đến Subic Bay. Thay vì giao tàu cho HQ Hoa Kỳ để hội nhập vào dòng người VN tỵ nạn đã đến từ trước, thì chúng tôi lại nghe bùi tai lời bàn của những nhân viên hãng Việt Đức là cứ tiếp tục điều khiển con tàu, và giao trực tiếp lại cho hãng Việt Đức để hy vọng sẽ được lãnh thưởng! Không có số phone của hãng bên Đức, nên cô ký đã phải gửi báo cáo theo đường con rùa bưu điện. Sau bốn hay năm ngày được HQ Hoa Kỳ tu bổ và tiếp tế, chúng tôi tiếp tục lèo lái chiếc tàu đánh tôm Việt Đức đi Guam, tuy dàn radar vẫn bất khiển dụng vì thiếu phụ tùng thay thế! Đa số những người tỵ nạn trên tàu đã rời tàu, ngoại trừ nhân viên cơ hữu và các sĩ quan HQ. Mười một ngày sau chúng tôi đến Guam. Vì thiếu chất tươi đã lâu, nên tôi bị táo bón nặng nề, nên đã phải bỏ tàu mà lên nhập trại tỵ nạn trên đảo.

58.- Nguyễn văn Đệ: Đang đi “mình ên” lơn tơn trên bãi biển Gap-Gap nơi đảo Guam, thấy ngược chiều có một tên đen đủi, mập tròn, cổ rụt, quần áo luộm thuộm vì dài quá khổ và được sắn lên nhiều lần nơi ống chân và cánh tay! Hắn cũng đang lom lom ngó tôi vì bộ quần áo được phân phát khi lên bờ ở Subic Bay mà tôi đang mặc cũng chẳng giống ai! Nó vừa rộng và vừa lòi rốn, ngắn tũn ngắn tĩn so với thân hình cao lỏng khỏng của tôi. Chợt nhận ra hắn chính là tên Dũng Rùa, Phan Thiết Dũng, một người cùng trong Trung Đội 4 với tôi khi còn ở quân trường, và là tay trống trong ban nhạc Khoá 20 ngày nào. Chúng tôi cùng mừng húm, lôi nhau ngay vào một căn lều trống ở gần đấy, thoát y và trao đổi với nhau những bộ đồ đang mặc trên người trước khi hàn huyên những chuyện khác. Sau khi đã mặc vào người những bộ đồ vừa trao đổi xong thì quần áo của chúng tôi đã được coi tàm tạm hơn, không còn luộm thuộm hay cũn cỡn như trước nữa. Sở dĩ có những tình trạng như trên là vì sau khi đã bàn giao chiến hạm lại cho HQ Hoa Kỳ ở Subic Bay, khi lên bờ chúng tôi đã được phân phát cho những bộ quần áo dân sự cũ để tắm rửa và thay thế cho những bộ đồ quân nhân đang mặc trên người. Ngoài bộ quân phục trên người, chúng tôi đã ra đi với hai bàn tay trắng đúng nghĩa, với một tinh thần chán chường của người lính thua trận, và một tâm hồn rướm máu của một người Việt Nam vừa mới bị bứng bật gốc ra khỏi đất nước thương yêu của mình. Những người quân nhân Hoa Kỳ khi phân phát quần áo cho chúng tôi, họ chỉ lượm đại một cái quần và một cái áo chứ chẳng cần để ý đến kích thước người nhận. Họ cũng đã không quên nhắc chúng tôi hãy vứt lại quần áo cũ trên người vào cái thùng rác để ngay ngoài cửa phòng tắm. Có lẽ là mùi hôi vì đã được mặc hơn mười ngày, hay vì họ không muốn chúng tôi mặc quân phục trong trại tỵ nạn, hoặc vì cả hai. Chúng tôi đã làm theo như một cái máy mà chẳng có thắc mắc gì cả!

59.- Lê văn Long: Tôi ra trình diện ở địa phương theo lệnh của Cao Đăng Chiếm, và được chỉ định đi đến trường Kỹ Thuật Phú Thọ ngày 14 tháng 6 năm 1975, trễ nhất là ngày 16, sau ngày này nếu không đi trình diện sẽ bị ghép vào tội phản động. Vào thời điểm này tội phản động chỉ bị hành xử có một cách, bản án xử bắn! Ở ngay tại Sài Gòn ít có ai thấy rõ, nhưng đi ra khỏi ngoại ô một chút là ai cũng thấy rõ điều này. Trong các lần đi tìm đường vượt biên một cách cầu may trước khi hết hạn phải ra trình diện để đi tù cải tạo, chính tai tôi đã nghe thấy những tiếng súng săn đuổi những người trốn lánh, hay tận mắt thấy những tử thi mang trên ngực bản án “thằng này phản động”. Tôi đã thấy và phải “rất tin” rằng VC đã nói thật, và chúng sẽ làm thật những điều răn đe này. Vì vậy tôi đã đi trình diện đúng ngày.
Sau khi bị bắt khai lý lịch, và ghi xuống nguyện vọng là về sau này, lúc học xong cải tạo, sẽ xin làm nghề gì? Tên nón cối sau khi xem qua trang giấy khai lý lịch của tôi trong quyển sổ bìa cứng dầy của hắn, rồi quắc mắt nhìn tôi và hỏi:” Anh có mang theo hình vợ con không?” Tôi ngạc nhiên và thấy có một điều gì không ổn, hắn còn nói thêm “Coi chừng anh đi không có ngày ra…” Tôi cảm thấy hơi nao núng, và càng tin lời của tên này vì biết chắc bọn đao phủ thủ VC đã từng làm thật là thà “giết lầm còn hơn tha lầm” những ai khác chính kiến với bọn chúng. Tia nhìn của tên nón cối này rất đáng sợ, và tôi vẫn còn nhớ rất rõ ánh mắt ấy dù đã cách đây hơn ba mươi năm! Tôi đang có sẵn ý định trốn tránh và điều này càng làm cho tôi thêm có ý định liều mạng và cương quyết tiếp tục tìm đủ mọi cách trốn thoát dù có bị kết vào tội phản động. Trước sau gì cũng chết, và đi tù mà không có ngày ra là chết chắc.

60.- Trần Tuấn Đức: Vào cuối tháng 4 năm 1975, Sài Gòn cấm trại 100%. Chúng tôi được chỉ thị thiết lập những công sự phòng thủ bằng bao cát trước cửa công sở trong vòng đai của Hải Quân Công Xưởng. CHT/Sở Thủy Đạo rất khắt khe trong việc cấm trại, nên đa số chúng tôi đều bị kẹt lại sau năm 75, kể cả CHP là HQ Đ/Úy Nguyễn Công Uông (K15). Đêm 29 tháng 4, các sĩ quan của Sở TĐ bị cấm trại và được lệnh thiết lập vòng đai phòng thủ; Khi hoàn tất thì đã quá trễ, các cổng ở BTL/HQ đến HQCX, chốt chặn đường Cường Để, và cổng sau Cầu Thị Nghè đều hỗn loạn! Chúng tôi liều mình “bất tuân thượng lệnh”, phân chia ca trực, chia nhau từng toán để về nhà, thu xếp gia đình. Nhưng đành bó tay chuyện thoát khỏi những cổng này! Người ta càng ngày tràn vào càng đông, xe cộ vứt bỏ bừa bãi. Cuối cùng một số anh em đành phải trở lại nhiệm sở mà không về nhà được! Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, gặp quan Nguyễn Hữu Thiện trong HQCX nhờ gửi hai đứa em trai trong lúc bận rộn lo sửa chữa HQ 402. Sau khi Tổng Thống DVM ra lệnh đầu hàng vô điều kiện CS. Chúng tôi hoang mang! Chúng tôi hoảng hốt! Chúng tôi mất hướng và vô định! Một vài sĩ quan còn lại của Sở Thủy Đạo đã chia tay tan hàng! Giây phút hoang mang, nửa muốn đi và nửa muốn ở lại đã luôn quay cuồng trong đầu óc tôi! Không thấy hai người em trai của Thiện đâu nữa, có lẽ đã “mò” đi tìm Thiện rồi! Quyết định nếu ra đi thì đã quá trễ đến với tôi, tôi đã không thể bỏ lại gia đình, cha mẹ, và vợ con thương yêu của tôi bơ vơ ở lại… Rướm nước mắt, và ngậm ngùi trút bỏ bộ quân phục, cấp bậc mà tôi đã từng khoác lên với lòng hãnh diện của quân chủng bấy lâu nay, và thay đổi thường phục. Tôi chạy xe Honda về nhà. Sài Gòn náo loạn trong cơn dẫy chết! Bọn đeo khăn đỏ súng ống tua tủa, chạy xe hơi, xe gắn máy đầy đường. Bọn côn đồ du đãng trở thành ăn cướp cạn… Tôi bị kẹt cứng ở nhà vào đêm 30 tháng 4, mà nếu có đi thì cũng không biết là sẽ đi đâu nữa!

Chương 10: Tù Cải Tạo

Một chiếc cùm lim chân có đế,
Ba vòng xích sắt bước còn vương.
Cao Bá Quát.
       Những kỷ niệm trong tù Cộng Sản, khốn khổ, khó khăn không bút mực nào mà tả hết được. Mời quý bạn đọc nguyên hồi ký của các quan Nguyễn văn Chín, Huỳnh văn Tài… để cảm nhận được đích thực những kinh nghiệm của những người bạn kém may mắn không ra đi được trong những ngày cuối tháng tư năm 1975, và phải hy sinh tuổi trẻ của họ trong những trại tù Cộng Sản vào những năm sau đó. Xin tóm tắt lời kể lại:


61.- Nguyễn văn Chín: Sau khi CS cưỡng chiếm miền Nam xong không lâu, chúng ra thông cáo cho tất cả quân nhân từ hàng binh sĩ đến chuẩn úy, cán bộ, dân chính các cấp nhỏ của chế độ VNCH phải trình diện học tập tại địa phương trong 3 ngày. Trong ba ngày lên phường khóm nghe chúng tuyên truyền tuyên dương về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, và láo khoét kết tội cho Quân Lực và Chính Phủ VNCH. Đúng xong ba ngày, chúng cho mọi người ra về thoải mái. Mọi người dân miền Nam thấy nhẹ thở vì VC đã làm đúng như những gì họ nói mà không ngờ đây chỉ là miếng mồi của chúng đưa ra! Khoảng một tháng sau, chúng ra thông cáo “Các sĩ quan từ cấp thiếu tá đến cấp tướng phải trình diện học tập cải tạo, mang theo theo đồ dùng và tiền bạc đủ dùng trong 30 ngày.” Rồi sau đó thông cáo tiếp theo là “Các sĩ quan từ cấp thiếu úy đến đại úy phải trình diện học tập cải tạo, mang theo đồ dùng và tiền bạc đủ dùng trong 10 ngày.” Với tính xuề xòa dễ tính của người miền Nam và kinh nghiệm của lần học tập tại phường khóm trong 3 ngày rồi được thả về của lần trước. Chúng tôi đã nghĩ và tin rằng lần này cấp úy chỉ phải đi học tập 10 ngày, còn cấp tá và tướng phải đi học tập cải tạo 30 ngày rồi được tha về, thật là hợp lý và rất “logic”! Nhưng VC đã nhập nhằng chơi chữ, và dùng đòn tâm lý để lừa lọc và hốt trọn hầu hết chúng tôi vào nhà tù cải tạo!
Nhưng 10 ngày, 20 ngày, rồi 30 ngày trôi qua cũng chẳng thấy học tập chi cả nói gì đến chuyện cho về! Hàng ngày chỉ lo nấu ăn, làm tạp dịch hay dọn chỗ ở, và nuôi hy vọng. Hai tháng rồi ba tháng trôi qua cũng không thấy động tịnh gì! Chúng chơi trò cân não, làm cho đầu óc chúng tôi bã ra, hoang mang, và vọng tưởng ngày về. Khi chúng tôi bắt đầu xì xào to nhỏ, chúng bắt đầu cho chúng tôi “lên lớp” học tập. Vì là một tập thể hỗn độn tuy cùng chung một giới tuyến, nhưng chúng tôi đa số là không biết nhau từ trước, nên VC đã gài nhiều ăng ten lẫn lộn vào trong chúng tôi một cách dễ dàng. Sau ba bài học tuyên truyền nào là đế quốc Mỹ xâm lược, ngụy quân ngụy quyền làm tay sai cho đế quốc… chúng tôi bị tự khai lý lịch. Chúng vuốt ve và chơi tiếp đòn cân não với những lời lẽ thủ đoạn, hứa hẹn vu vơ như “Cách Mạng coi theo mức độ thật thà khai báo, mức độ giác ngộ, tiến bộ học tập để cứu xét cho về…” Thế nào là đã giác ngộ, và bao giờ thì mới đủ tiến bộ để được về? Rất là mù mờ và hoang tưởng! Theo thời gian, chúng bắt chúng tôi khai đi khai lại lý lịch nhiều lần, chia loại ra từng thành phần tùy theo lời khai, để áp dụng biện pháp cho từng đối tượng, và đồng thời bắt chẹt, khai thác những khác biệt của các lần khai lý lịch vì những cái bất nhất vì vô tình hay quên lãng trong lời khai.
Những người vợ, những người cha, hay những bà mẹ người tù thì ra sao? Ngoài những cái khó khăn cực khổ của cuộc sống mới dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, những chèn ép, những hoạnh họe của công an phường khóm, và nhất là của bọn “theo đóm ăn tàn” là bọn tay sai “30 tháng Tư”. Họ còn ở trong cái cảnh đêm ngóng ngày trông mong ngày về của chồng của con. Chồng con họ đang ở đâu? Làm gì, sống chết ra sao? Không một ai biết! Không tin tức, chỉ toàn là những lời đồn đãi. Có người nói thấy họ ở vùng Biên Hòa, Long Khánh, hay Tây Ninh… Thời gian cứ lặng lờ trôi qua, 10 ngày hay 30 ngày như mọi người đã nghĩ cũng không thấy ai về! Rồi cả năm cũng chẳng thấy tăm hơi chồng con mình đâu!
Trong trại tù cải tạo, để hăm dọa và trấn áp tù nhân, VC đã ra đòn thù hung hiểm để ngăn ngừa việc nổi loạn hay chống đối là xử tử hình một vài người tù khi phạm kỷ luật như trốn trại hay cố gắng liên lạc lén lút với thân nhân mà bị phát hiện. Vụ thứ nhất xảy ra khi một người tù đã viết thư và lén nhờ người tài xế xe chở củi để đưa ra, và gửi về cho vợ anh ta là đừng nghe những gì CS nói, và đừng mong chờ anh ta trở về nữa! Nhưng than ôi, tên tài xế đã đóng kịch làm một người Quốc Gia nhưng chỉ là một tên nằm vùng, và lá thư đã được đưa ra để kết tội phản động cho anh tù cải tạo nhẹ dạ và đáng thương kia một cách không thương xót. Vụ thứ hai xảy ra cho một người tù can đảm. Anh tìm được một bộ quân phục bộ đội, mặc vào và ngang nhiên đi ra cổng chánh, nhưng anh đã không trả lời đúng mật khẩu và bị phát hiện! Biết bị bại lộ, anh đã tấn công chúng bằng những đòn Thái cực Đạo, nhưng thế cô và mất tính cách bất ngờ nên anh bị bắt! Các anh bị tử hình! VC lải nhải trên hệ thống âm thanh toàn trại về những sự chống đối, và cắt đặt một số bạn tù đi xem cảnh chúng xử bắn bạn mình để đe dọa và cảnh cáo.
Nửa năm, một năm, rồi hai năm chúng tôi vẫn ở tù mà chẳng thấy ngày về! Nỗi hoài nghi và chán chường mỗi ngày mỗi lớn. Chúng bắt đầu lai rai cho về những người tù chúng cho là có “tiến bộ”. Chúng tổ chức rầm rộ những buổi lễ thả ra lèo tèo vài ba tù nhân để làm giảm cơn phẫn nộ của thân nhân, và cố gợi lại niềm hy vọng của đám tù nhân. Chúng phát thanh đi phát thanh lại những buổi lễ này, đồng thời chúng cũng cho chuyển trại theo những thành phần mà chúng đã phân hạng qua lý lịch. Những người tù cải tạo là những người tù không có bản án, không có thời hạn nhất định! Có người bị đưa ra Bắc, có người được ở trong Nam. Nhưng ở đâu cũng là nhà tù, mà nhà tù thì đều “nhật nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Có người ở đến ba năm, năm năm, mười năm hay hơn thế nữa, và còn có những người tù vĩnh viễn đã không trở về với gia đình mà bỏ xác nơi trại tù cải tạo như bạn Nguyễn Lập Thành của chúng ta!
Thủ đoạn của CS thật là ác độc, chúng kềm chế tù nhân bằng chiến lược kiểm soát bao tử! Cho ăn thiếu dinh dưỡng, và thiếu thốn. Cái đói đã luôn là một điều dằn dặt khó chịu, và giấc mơ được ăn đầy bụng luôn là một nỗi ám ảnh tù nhân từng ngày, từng giờ một! Thiếu chất dinh dưỡng và chất vi ta min đã sinh ra phù thũng ở một số tù cải tạo, và trong số ấy có cả bạn chúng ta là quan Huỳnh văn Tài. Tình trạng sinh sống khắc nghiệt, chật chội, nóng bức, thiếu thốn, và mất vệ sinh đã sinh ra và lan tràn nhiều bệnh ngoài da. Thôi thì đủ các thứ ghẻ và lác, nào là ghẻ hòm, ghẻ ngứa, lác khô, lác ướt ……

62.- Trần Tuấn Đức: Theo lệnh “mang theo tiền bạc đồ ăn đủ dùng cho 10 ngày” của CS, tôi trình diện VC để đi học tập cải tạo. Vì đã mang tiếng là trưởng phòng Kỹ thuật Hải đồ và rất rành các trục lộ thủy đạo trên sông lạch miền Nam, nên tôi được liệt vào loại chuyên viên chuyên ngành. Chúng nhốt đám chuyên viên chuyên ngành chúng tôi tại một vùng hẻo lánh thuộc Đặc Khu Rừng Sát cũ. Trong số đó có khoảng 29 sĩ quan Hải Quân, kể cả quan 20 Nguyễn văn Gẫm nhà mình. Tôi đã ngây thơ nên chỉ mang theo một bộ quần áo, không chăn mền nên đã chịu lạnh, hơn một năm sau mới nhận được tiếp tế từ phía gia đình. Quan Nguyễn văn Gẫm đã bị ghẻ ngứa rất khó chịu. Ngứa quá, chịu không nổi, có lần Gẫm đã tính quyên sinh, nhẩy đại xuống từ một bồn nước cao. Tôi đã phải gắt lên khuyên lơn mãi hắn mới thôi. Sau này, nhờ lấy thuốc súng bôi vào nên quan Gẫm mới khỏi được bệnh ghẻ lở.
63.- Chị Trần Tuấn Đức: Nhà chúng tôi ở trong khu Hòa Hưng, cũng gần nhà Ba Má tôi. Đêm 29 tháng 04 năm 1975, anh Đức trong nhóm sĩ quan trực nên không thấy về! Bốn mẹ con chúng tôi nằm run cầm cập trong nhà vì tiếng trực thăng, tiếng súng bắn vọng về từ hướng trại Hoàng Hoa Thám của Nhẩy Dù, hay từ hướng trại Tô Hiến Thành của Bộ Binh.
Sáng ngày 30 tháng 04, tin tức trên đài phát thanh với lời của Đại tá quyền Tư Lịnh Hải Quân kêu gọi các chiến hạm quay về. Chúng tôi biết tàu Hải Quân đã ra đi, vì trước đó ít lâu, anh Đức có mang về tờ giấy để điền tên những người thân nhân Hải Quân muốn di tản theo tàu. Gia đình Ba Má tôi vì người miền Nam, không có kinh nghiệm sống với Cộng Sản nên không cảm thấy khó khăn cho quyết định ở lại VN. Tôi quá hoang mang, không biết anh Đức đã đi theo tàu hay còn ở lại? Nếu anh Đức đã đi theo tàu thì đỡ sợ cho anh ấy, nhưng còn mẹ con tôi thì sẽ ra sao đây? Tôi còn quá trẻ dại, và ba đứa con tôi thì còn quá non nớt, tôi sẽ phải xoay trở làm sao? Nếu anh Đức còn nấn ná ở lại thì làm sao để ứng phó với hoàn cảnh mới đây? Tôi đi ra đi vào, ruột nóng như lửa đốt. Ba tôi cho đứa em chạy sang gọi tôi đưa mấy đứa con qua nhà bên ấy, không nên ở một mình ở nhà. Tôi đang còn lo cho anh Đức, không biết anh ấy như thế nào, nếu anh ấy trở lại nhà mà không thấy chúng tôi thì ra sao? Tôi chần chừ, nhưng Ba tôi bắt đứa em khác chạy qua, cương quyết bắt mẹ con tôi phải sang bên ấy vì tình hình Sài Gòn lúc đó quá hỗn độn! Bọn nằm vùng lộ mặt khi Tổng Thống Dương văn Minh yêu cầu Quân Đội Cộng Hòa buông súng đầu hàng vô điều kiện. Tiếng súng vẫn đì đẹt nổ. Người ta chạy tới chạy lui. Một vài anh lính chạy vào xóm tôi, trút bỏ đồ lính, xin quần áo dân sự để thay. Chúng tôi quyên góp chút đỉnh làm lộ phí cho những người ở xa. Ba tôi qua bên Đình Hoà Hưng thắp nhang. Đến trưa cũng chưa thấy anh Đức về hay tin tức gì! Ông lén nhìn mẹ con tôi như đau sót, và nửa như không muốn nhắc ra, hoặc nghĩ đến nếu như không thấy anh Đức về. Mấy đứa con tôi sợ hãi nên cũng không chạy giỡn như mọi khi. Những nhà không có người trông nhà bị đám người hôi của phá cửa, tràn vào khuân dọn đồ đạc. Đến chiều thì anh Đức tìm về gặp được mẹ con tôi. Tôi mừng như vớ được phao khi đang tuyệt vọng trên biển khơi. Dù tình thế sau này như thế nào thì chúng tôi cũng có vợ có chồng. Mẹ con tôi không còn thấy bơ vơ nữa. Tôi lén chùi nước mắt và đi thắp nhang nơi bàn thờ Phật Bà Quan Âm.
Ngày anh Đức đi trình diện học tập cải tạo, chúng tôi đinh ninh là anh chỉ phải đi có mười ngày như VC ra thông cáo. Từ ngày anh ấy trút bỏ bộ quân phục Hải Quân, anh ấy rất buồn và ít nói nên chúng tôi cũng không tâm sự nhiều. Tôi soạn cho anh hai bộ đồ, ít đồ ăn khô, và một ít tiền dư đủ để tiêu trong mười ngày. Mười ngày sau, đến khuya rồi mà cũng chưa thấy anh Đức về. Tôi đoán chắc là quá trễ nên anh ở lại đến hôm sau, hay là anh la cà với bạn bè và ngày hôm sau sẽ về. Nhưng năm ngày, rồi mười ngày hôm sau cũng không thấy anh về! Tôi đâm hoảng chạy lên văn phòng phường hỏi cho ra chuyện. Lên phường, tôi cùng mấy chị vợ của người đi học tập cải tạo lóng ngóng ngoài cửa chờ giải thích. Mãi sau mới thấy phường lạnh nhạt trả lời là “Trên đâu có bảo là đi học tập 10 ngày rồi về đâu, thông cáo chỉ nói là đem theo để đủ dùng cho mười ngày.” Chúng tôi té ngửa ra vì lời giải thích này! Đúng là đừng nghe những gì Cộng Sản nói, chúng gạt gẫm mình như gạt những đứa con nít! Chúng tôi căm hận nhưng đành cắn răng chịu đựng. Chúng cũng không cho chúng tôi biết là chồng chúng tôi bị giam giữ nơi đâu để tiếp tế nữa! Tối về, bà tổ trưởng trong xóm cho biết những người vợ tù cải tạo phải đi học tập vì “chồng các chị có được về sớm hay không là do thái độ của các chị có tích cực hay không!” Lớp học từ 7 giờ tối đến 9 hay 10 giờ đêm. Tôi có con nhỏ cũng không được miễn, thành ra cả bốn mẹ con cùng đi học tập luôn. Chúng tôi đến lớp cố làm ra vẻ tích cực để mong cho chồng chúng tôi sớm trở về, rồi những ngày những tháng trôi biền biệt mà cũng chẳng thấy tăm hơi hay tin tức gì! Chúng tôi đâm lơ là và chống đối ngầm bằng những câu hỏi vớ vẩn đầu voi đuôi chuột, hay rì rầm bàn tán tin tức đồn đãi nơi này nơi kia. VC đoán được những bất mãn và chống đối ngấm ngầm của chúng tôi, nên sau mấy tháng thì chúng giảm dần từ nguyên một tuần, xuống đến 4, rồi 3, rồi 2, và sau cùng thì bỏ hẳn học tập họp tổ dân phố cho chúng tôi, những người vợ, người mẹ của những người tù cải tạo.
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song.
Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai?
.
(Chinh Phụ Ngâm Khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
Đã mấy tháng rồi mà anh Đức chưa được tha về! Tôi rất lo âu, hồi hộp, phân vân! Tôi mò lên chỗ BTL/HQ cũ để nghe ngóng tin tức. Chúng tôi không dám vào hỏi mà chỉ đứng loanh quanh bên ngoài nghe ngóng tin tức từ những lời đồn đại để ôm hy vọng. Hơn một năm sau thì chúng tôi mới được phường khóm thông báo cho biết anh Đức đang bị nhốt ở đâu, và lịch trình được đi thăm nuôi tiếp tế. Tụi công an phường khóm luôn luôn quấy nhiễu, hỏi han thăm dò. Cuộc sống của chúng tôi hết sức là khó chịu. Ngay kế bên nhà tôi, có một ông hàng xóm cũng hơi lớn tuổi, trước làm công việc giao hàng cho các chợ vải, sau ngày 30 tháng 04 thì hiện nguyên hình là một tên nằm vùng đeo lon thượng úy đã làm cho chúng tôi “té ngửa”. Ngay cả bà vợ của hắn cũng bảo là không biết gì, chuyện có thật hay bà ta đóng kịch cũng không ai biết! Mỗi lần hắn thấy tôi là bảo khi anh Đức về thì biểu ảnh qua gặp “thầy Hai”.
Đến khi anh Đức được tha về thì chúng tôi sợ nhất là cảnh xét nhà lúc nửa khuya. Nhiều người đi tù cải tạo về, đến nửa đêm chúng đi xét hộ khẩu, dẫn đi “mất đất”! Vì vậy anh Đức đã phải luôn luôn thay đổi chỗ ngủ ban đêm, khi thì ở nhà, khi thì bên nội, khi thì bên ngoại. Nếp sống chúng tôi hết sức là hồi hộp và phập phồng lo sợ!

64.- Trần Tuấn Đức: Sau hơn một năm khai quang làm rẫy, tôi được VC điều động cho về tù tại chỗ ở sở thủy đạo cũ (trong vòng thành HQCX, Ty Quân Cảng cũ), để lao động trí óc thay vì lao động ngoài nông trường như chúng nói. Với cả đống hải đồ do Mỹ để lại, tôi đã giấu giếm đi được một hai cái để dành cho việc tìm đường vượt biên sau này. Có một ngày trong lúc một tên thủ trưởng VC (CHT) quản lý Sở TĐ vui vẻ, cởi mở, tôi đã “gà” cho thủ trưởng là đống hải đồ của Mỹ để lại có con dấu đỏ “ Not Navigation” (không dùng để hải hành) nên dọn dẹp sạch sẽ và bán ký lô cho Chợ Lớn để kiếm ít vốn. Thủ trưởng nghe bùi tai, đồng ý cho bán sạch đống hải đồ do Mỹ để lại. Hắn ta cám ơn tôi rối rít vì nhờ đó mà hắn “sắm” được một chiếc xe Mobillette xanh cũ, và một “chiếc đài” mấy băng tần. Hắn cho tôi dễ thở hơn, nên chiều chiều tôi ra ngồi câu bên cầu tàu trong HQCX để kiếm thêm con tôm con cá cho phần ăn ngày hôm sau. Ít lâu sau, Tư lệnh HQ/VC vào thăm, thấy tình trạng tồn trữ hải đồ không còn bao nhiêu. Hỏi ra mới biết là đã bị bán sạch! Thủ trưởng bị mất chức và được điều về Bắc, chúng tôi bị An Ninh Cục kêu lên “làm việc”, nhưng dĩ nhiên là chối “phăng đi” và không biết gì cả. Tuy nhiên cũng bị chúng tiếp tục theo dõi, và “mời” lên làm việc đều đều. Gần ba năm sau tôi được tha, nhưng vẫn bị quản thúc tại nhà, tuy nhiên tôi vẫn còn được lưu dụng cho làm việc tiếp tục ở phòng đo đạc và nhật tu hải đồ.

65.- Ngô Nguyên Trực: Tôi đi trình diện tù cải tạo, bị nhốt ở một trại lính của SĐ5BB cũ trên vùng Củ Chi, Tây Ninh. Sau ba tháng thì được chuyển về trại Long Giao, Long Khánh. Khoảng tháng 1 năm 1978, tôi được đưa về nhốt ở Thành Ông Năm dưới Hóc Môn. Đến khoảng tháng 8 hay 9 thì tôi có ý tưởng vượt ngục, trốn trại. Tôi bàn với một thằng bạn tù chung tên Trọng, lái A-37 thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân. Đa số hầu hết những người tù trốn trại vào ban đêm đều bị chúng bắt lại được, bị bắn chết hay biệt giam. Chúng tôi nghiên cứu thử vượt ngục vào ban ngày xem sao? Hàng ngày, trong giờ ăn trưa, tôi ưa ngồi quan sát mấy thằng VC trên mấy vọng gác. Tại một vọng gác gần chỗ tôi hay ngồi, tôi để ý thấy có một thằng thuộc loại lè phè, chuyên môn ra trễ và vào sớm, nhiều khi đến cả mười hay mười lăm phút, đủ thời gian để cho chúng tôi nhẩy qua ba cái hàng rào, và rất vắng người vì là trong lúc mọi người còn đang lo ngủ trưa. Trọng trong nhóm làm tạp dịch cắt cỏ ngoài hàng rào nên để ý đến đường đi nước bước bên ngoài trại tù. Tôi ghi nhớ mặt thằng VC gác lè phè này. Chúng tôi chuẩn bị một bộ quần áo dân sự, loại mỏng để có thể cuốn “gọn lỏn” trong lon Guigoz (?), và đem dấu ngoài cầu tiêu. Từ trong trại tù Ông Năm ra đến bên ngoài trại giam toàn quốc, chúng tôi phải vượt qua hàng rào kẽm gai thứ nhất cao khoảng 2 thước, một giao thông hào xâu khoảng một thước rưỡi, lớp hàng rào kẽm gai thứ hai cao khoảng 2 thước như lớp thứ nhất, một bãi đất trống rộng khoảng 10 đến 15 thước, và lớp hàng rào thứ ba cao đến khoảng 3 thước hơn. Lớp hàng rào sau cùng này có dây “bìm bịp” leo kín đặc để tránh những con mắt nhòm ngó từ bên ngoài vào. Sau đó là con đường mòn rộng khoảng một đến hai thước, và ruộng khoai mì cao quá đầu người. Những vọng gác quay mặt vào bên trong để gác tù.
Trước ngày lễ Noel năm 1978 khoảng một tuần, thằng VC lè phè gác phiên từ 8 giờ sáng đến buổi trưa 12 giờ, đúng giờ chúng tôi đang nghỉ ăn trưa. Tôi và Trọng quyết định hành động ngay khi thằng gác này sách súng đi vào khi chưa có người khác ra thay thế. Đúng 11 giờ 45, hắn đi vào như dự đoán, tôi và Trọng đã lảng vảng ở khu cầu tiêu để sẵn sàng lấy lon Guigoz, và chuẩn bị hành động. Chúng tôi bận xà lỏn và cởi trần như mọi khi để tránh khỏi bị nghi ngờ hay gây sự chú ý của những tên antenna. Nhưng khi chúng tôi ra đến sát hàng rào thì mặt thằng nào thằng nấy xanh lè, lóng ngóng mãi mà không dám nhẩy! Chuyến vượt ngục này đành phải hủy bỏ vì mất cơ hội thời gian tính. Một tuần sau, cũng lại đến phiên thằng VC lè phè gác phiên buổi sáng như lần trước. Chúng tôi lại mon men ra định làm lại chuyện vượt ngục. Tôi để Trọng nhẩy trước vì nó rành đường bên ngoài. Nhưng cuối cùng Trọng cũng lại lóng ngóng, lừng chừng mà không dám nhẩy! Ngày Chủ Nhật 26 tháng 12 năm 1978, chúng tôi không phải làm việc, sân trại giam vắng vẻ, và may quá thằng VC lè phè lại đảm nhiệm phiên gác buổi sáng. Lần này tôi quyết chí thực hiện dù Trọng có dám nhẩy rào hay không tôi cũng mặc. Đúng như dự định, chưa đến 11 giờ 45, thằng VC gác đã xách súng đi vào, vừa khuất mặt hắn là tôi phóng lên leo qua hàng rào thứ nhất, Trọng cũng vội vã phóng theo. Chúng tôi không ngoảnh mặt nhìn lại phía sau, vượt qua giao thông hào, rồi hàng rào thứ hai. Chúng tôi chạy như bay qua mảnh đất trống như có gắn cánh vào chân, thẩy vội cái lon Guigoz ra ngoài trước, và lấy đà phóng mình leo lên hàng rào thứ ba. Hàng rào thứ ba này có dây bìm bịp leo kín, nên chúng tôi không liệu chừng được những chỗ có gai mắt kẽm gai, nên nhiều khi gai đâm cả vào bàn tay. Chỉ còn một sải tay ngắn nữa là tôi đã leo lên tới đầu bờ rào. Bất ngờ đầu tôi đụng phải hàng kẽm gai mái nhô ra và quay ngược vào phía trong! Chúng tôi thành như treo “toòng teeng” trên ngọn. Không còn sức để dùng hai tay kéo cả thân mình lên khỏi phần mái nhô ra này để leo qua khỏi bờ rào. Chúng tôi đành phải nhẩy xuống! Tôi không bỏ cuộc, dùng hai cánh tay, gồng mình nâng hàng kẽm gai sát đất lên cho Trọng dùng thế “bò hỏa lực” chui ra. Sau đó Trọng đứng tấn, gồng mình kéo cao hàng dây kẽm này lên cho tôi chui ra. Bên ngoài hàng rào vắng tanh. Chúng tôi lủi ngay vào khu ruộng khoai mì. Nhìn lên vọng gác thấy thằng VC gác mới đã đứng trên đó từ bao giờ! Nhưng hắn quay mặt vào phía bên trong sân trại tù nên không thấy chúng tôi.
Chúng tôi mặc quần áo vào, rồi chôn ngay lon Guigoz, và đi xa khỏi trại tù. Trọng hồi hộp quá nên đi như muốn chạy, tôi phải bảo nó đi từ kẻo người ta nghi. Chúng tôi đi dọc bờ đê, không dám hỏi đường những người bộ hành trên đường. Gặp con đường nhựa, thấy có xe đò loại Daihatsu cũ chạy đường SàiGòn/Hóc Môn/Tây Ninh. Chúng tôi ngoắc đại một chiếc và nhẩy lên xe. Xe ít người. Định thần, nhìn lại thấy hai cánh tay tôi bị trầy trụa với những vết máu coi rất lồ lộ vì mặc áo cụt tay. Một cô bé khoảng mười lăm mười sáu tuổi cùng đi trên xe, để nhè nhẹ chiếc nón cô đang mang lên tay tôi. Tôi cầm lấy, che hai cánh tay lại, khẽ hỏi nhỏ cô là xe đi đâu? Tây Ninh! Hoảng hồn, chúng tôi kêu bác tài tốp xe lại vì quên giấy tờ. Anh tài chửi thề bực bội “Mè, mấy cha đi xa mà không mang giấy tờ! Bộ muốn chết hả?”. Tuy nhiên anh tài cũng ngừng xe cho chúng tôi xuống. Tôi trả nón cho cô bé, và không quên cám ơn. Trọng mặc chiếc áo dài tay, và hắn dùng hai bàn tay để kéo dây kẽm gai lên nên chỉ bị thương ở lòng hai bàn tay mà thôi. Chúng tôi lủi ngay vào bụi mía ven đường, trao đổi cái áo, và đón xe đi ngược đường để về Sài Gòn.
Khoảng 4 giờ chiều, xe về đến bến xe ở Ngã Bẩy gần trong Chợ Lớn. Chúng tôi đi bộ ra khỏi bến xe, đến ngồi ở một chiếc xe bán nước mía. Uống một ly nước mía cho hoàn hồn, và tự thưởng cho mình vì đã vượt ngục thành công. Tiếng những cục đá lạnh va chạm vào thành ly kêu “loong coong” nghe như những tiếng hoan ca mừng vui cho sự tự do của chúng tôi. Những ngụm nước mía ngọt lịm, thơm thơm mùi quýt, sau bao ngày xa cách nay chúng tôi mới được thưởng thức lại. Sau ly nước mía, chúng tôi ngồi thừ, suy nghĩ cho thực tế đang đối mặt. Chúng tôi không thể về lại nhà được! Chúng tôi sẽ ngủ ở đâu? Ai sẽ chứa chấp chúng tôi trong lúc này? Đến tối rồi mà chúng tôi cũng chưa có được giải pháp nào thỏa đáng. Sau cùng, Trọng đề nghị về nhà cô “đào ruột” người Minh Hương của hắn ở gần bến đò Hậu Giang trong khu Chợ Lớn Mới. Chúng tôi kêu xe Honda ôm chạy về đó, và may quá mẹ nàng và mấy chị em nàng đồng ý cho chúng tôi trú ngụ qua đêm. Ngôi nhà cao năm tầng, chúng tôi trốn trên lầu cao nhất. Cả đêm tôi hồi hộp, lo lắng, trằn trọc không ngủ được! Nhất là có thằng đại úy công an trong vùng đã mê và kết cô em gái út ở nhà, khuya về “đóng đô” nơi tầng dưới. Bà mẹ trấn an, các cháu đừng có lo, nếu nó hỏi thì nói là hai đứa là cháu, dậy học dưới Long An lên chơi. Cũng nhờ hắn “bao che” và “bảo bọc” cô út như vậy nên không sợ có ai làm phiền xét nhà bất tử ban đêm.
Cứ như thế chúng tôi nay thì trốn chỗ này, mai thì trốn chỗ khác, có khi nằm ngủ ngay cả ở ngoài chợ Bến Thành lẫn với đám ăn xin. Chúng tôi chạy được giấy tờ giả mạo làm công nhân viên đi công tác, là nhờ được một người bà con của Trọng làm hiệu phó cho một trường học dưới Long An nên có con dấu của trường. Tôi được nhiều người móc nối lái tàu ra đi vượt biên, nhưng không thành hay bị bể giữa chừng. Đến tháng 4 năm 1979 thì tôi làm tài công lái ghe vượt biên từ Trà Vinh và đến Mã Lai sau mấy ngày trên Biển Đông.

66.- Huỳnh văn Tài: Chúng tôi bị nhốt ở trại Bùi Gia Phúc, thuộc tỉnh Phước Long (còn gọi là Bà Rá) nằm ở kế biên giới với Cam Bốt. Tôi, Hà Mạnh Hùng, và Dũng (Khóa 1-OCS) đã bàn luận nhiều lần, cùng có quyết định sẽ vượt ngục và trốn trại. Chúng tôi chuẩn bị kỹ lưỡng, đang cố gắng để dành cơm phơi khô. Chúng tôi nhờ gia đình làm giấy tờ giả mạo là công nhân viên nhà nước, gởi lên theo những lần đi thăm nuôi. Khoảng đầu tháng 7 năm 1979, Nguyễn văn Độ vừa mới được chuyển trại về cùng chung chỗ với chúng tôi, gấp rút ngỏ ngay ý định muốn trốn trại trong vòng một tuần lễ. Chúng tôi nhờ ở vùng này khá lâu nên rành đường đi nước bước, do đó có thể chỉ cho Độ mọi thứ cặn kẽ. Rồi ngày quyết định cũng tới, Độ vượt ngục và trốn trại một mình. Nhiều anh em khác trốn trại, bị bắt lại, bị chúng tra tấn đánh đập rất tàn nhẫn đến nỗi mặt mày sưng húp không thể nhận ra được, sau đó thì bị biệt giam và chỉ được ăn mỗi ngày một chén cơm cùng tí muối. Hơn tuần lễ sau thì chúng tôi nhận được tin là Độ đã an toàn về được tới Sài Gòn. VC áp dụng các biện pháp an ninh gắt gao hơn, siết chặt lại sự canh phòng và kỷ luật. Chúng tôi thấy cần phải ra đi càng sớm càng tốt, dù quá nguy hiểm vì sự canh phòng nghiêm nhặt của VC. Chúng tôi định sẽ đi về hướng biên giới Thái-Miên, cách trại tù khoảng trên 200 cây số đường chim bay. Thời gian dự trù là hai tháng. Lương thực mang theo là cơm phơi khô, ít muối, tí đường, thuốc chống muỗi, cái võng, la bàn, cái rựa, và tấm bản đồ nhỏ từ vĩ tuyến 17 xuống phía Nam. Khi vác balô vào thì đồ đạc mang theo quá nặng, tôi đứng lên không muốn nổi! Vì vậy chúng tôi bỏ ý định ban đầu, mà quyết định phải trốn về Sài Gòn rồi mới tìm đường vượt biên sau.
Vào lúc mười hai giờ khuya ngày 14 tháng 7 năm 1979, chúng tôi ba đứa gồm Hà Mạnh Hùng, Dũng (OCS), và tôi cắt hai lớp hàng rào trại giam để trốn ra. Âm thanh của cái rựa chặt vào những thân tre lồ ồ nghe “rốp rốp” giữa đêm khuya thanh vắng, làm cho chúng tôi hết sức phập phồng lo sợ sẽ bị phát giác. Dù đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng những điểm chuẩn để định vị trí trong đêm tối, nhưng chúng tôi vẫn bị lạc! Chúng tôi đi lòng vòng trong rừng mà chưa biết lối ra. Thình lình, Hà Mạnh Hùng nắm áo kéo tôi lại và ra hiệu bảo ngồi xuống vì Hùng nghe thấy tiếng chân người đang trờ tới. Tai tôi không được thính lắm vì ảnh hưởng của tiềng nổ trái lựu đạn lúc mới bị đi tù. Vừa ngồi xuống, không đầy một phút sau, bóng dáng hai thằng VC đi tuần ngang qua, chỉ cách nơi chúng tôi ẩn nấp không quá hai thước! Thật là hú hồn hú vía! Khi tụi nó đã khuất dạng đi xa rồi, tôi bàn lại với anh em là mình không nên đi tiếp nữa, vì không xác định được vị trí. Nếu cứ tiếp tục đi lòng vòng thì thế nào cũng đụng VC đi tuần, và sẽ bị địch phát hiện. Chi bằng tạm núp nghỉ, chờ đợi trời vừa mờ sáng rồi mình sẽ đi tiếp, và đi cho thật nhanh. Nếu chẳng may gặp VC hay đồng bào Thượng thì mình sẽ từ từ đi chậm lại, và dò xét coi xem phản ứng của bọn chúng ra sao, có ý nghi ngờ gì mình hay không? Nếu thấy nghi thì ba người sẽ theo ba ngả, phóng đại vô rừng, rồi tới đâu hay tới đó. Trời vừa mờ mờ sáng, khoảng năm giờ, chúng tôi nghe tiếng kẻng đánh báo thức, và bọn VC đang tập thể dục. Chúng tôi nghe rõ tiếng hô đếm 1, 2, 3, 4 của bọn chúng. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã đi gần hết đêm mà không đi xa khỏi trại tù được là bao nhiêu! Chúng tôi chỉ cách trại chừng khoảng một trăm thước là cùng. Chúng tôi hoảng hồn, rảo bước thật nhanh như chạy để trốn tránh càng xa vùng nguy hiểm chừng nào càng tốt chừng nấy.
Chúng tôi quyết định phải đi lần theo đường mòn cho nhanh cho lẹ. Chúng tôi bàn, nếu dọc đường lỡ có bị chận lại thì sẽ nói là “chúng tôi đi đốn cây” khi còn ở gần trại, hay “được lệnh đi khiêng heo cho tiểu đoàn” khi đã xa trại. Chỉ cần qua mấy trận mưa, và có ít người lai vãng là những con đường mòn quen thuộc dẫn về hướng Phước Long, mà chúng tôi đã ghi nhận, nay đã bị cỏ cây che khuất gần hết. Đã hơn một năm rồi chúng tôi không trở lại con đường này nên hầu như đã quên mất lối! Chúng tôi phải vất vả và khó khăn lắm mới mò ra được đường về Phước Long. Gần đến tỉnh, chúng tôi trốn vào một khu vườn bắp của dân cư, cởi bỏ đồ tù và mặc vào những bộ quần áo mang theo coi như là những công nhân. Ra đến tỉnh Phước Long thì cũng đã gần mười hai giờ trưa. Khi mò đến bến xe đò thì chuyến xe độc nhất chạy về Sài Gòn đã khởi hành từ 10 giờ sáng rồi! Dũng nóng lòng muốn thoát ngay khỏi Phước Long, nên đã lấy chuyến xe đò vào Dak-E (một xã lân cận). Tôi và Hùng quyết ở lại. Hai đứa bàn với nhau đi một vòng chung quanh khu bến xe để xem tình hình và địa thế.
Chúng tôi dự tính, khi trời vừa xập tối là sẽ lao vào núp trong một bụi rậm, gần một ngôi chùa để nương nhờ Đức Phật phò hộ qua đêm nếu không có xe về Sài Gòn. Trời còn sớm, nên tôi và Hùng trở lại bến xe đò xem xét tình hình, và hy vọng vào giờ chót còn có chuyến xe nào hay không. Khi đến chỗ bán vé thì nếu muốn đăng ký (ghi tên) thì phải đưa giấy tờ, ai đưa trước thì sẽ được đi trước nếu có chuyến. Giữa giờ tuyệt vọng như thế thì một tin vui chợt đến. Một chuyến xe đò từ Sài Gòn lên Phước Long khoảng hai giờ chiều, và chuẩn bị quay về liền ngay trong ngày. Nơi quầy bán vé thông báo, bảo mọi người xếp hàng để chuẩn bị lên xe. Họ kêu tên từng người, đóng tiền rồi lên xe. Chúng tôi chờ đợi được kêu tên mình, trong lòng thật là hồi hộp, thầm cầu mong Trời Phật phò hộ cho tên mình được kêu. Khi nghe đúng tên, chúng tôi vội trả lời “có mặt” như mọi người. Chúng tôi leo lên xe ngồi, mọi sự coi bộ xuôi chèo mát mái. Phải chi Dũng đừng có hốt hoảng mà đi trước thì giờ này chúng tôi ba đứa vẫn đi chung với nhau rồi! Xe lăn bánh, chúng tôi thở phào ra nhẹ nhàng. Xe chạy gần đến Phước Bình, lơ xe nói với hành khách là mọi người sẽ phải xuống xe, công an đọc tên người nào theo danh sách tài xế đưa, xét giấy tờ xong thì người ấy sẽ được lên xe đi tiếp! Thần kinh chúng tôi căng thẳng. Tôi bàn với Hùng là hai đứa sẽ đứng xa xa, coi xem mấy thằng công an làm gì? Những hành khách khác phản ứng ra sao? Nếu thấy gì bất trắc thì sẽ lặn luôn.
Chúng tôi rất lo lắng trong lòng vì chế độ ăn ở thiếu thốn trong tù làm cho sắc diện của chúng tôi xanh xao vàng vọt và khác biệt hơn những người dân thường. Nhất là trong bụng đang hồi hộp, âu lo vì sợ bị phát hiện. Thời gian lúc đó sao mà dài như vô tận! Sau cùng rồi cũng đến lượt chúng tôi. Hùng được kêu tên trước, rồi ngay liền đó là tới tôi. Khi nghe tiếng chúng tôi trả lời “có mặt”, hắn nhìn mặt chúng tôi một lúc rồi mới đưa lại giấy tờ bảo lên xe. Mừng hú vía, nhưng chúng tôi ráng làm mặt tỉnh cố không lộ vẻ hớn hở, leo lên xe. Xe chạy hơn một tiếng nữa thì tới gần Đồng Xoài, tài xế lại nói “mọi người hãy ngồi yên chỗ để công an làm việc.” Chúng tôi lại một phen nữa hú hồn. Tới trạm kiểm soát Đồng Xoài. Xe từ từ ngưng bánh, thằng công an đi tới từ từ, ngừng lại ngó mặt từng người khá lâu qua khung cửa kiếng xe. Chúng tôi đang ở thế cỡi lưng cọp, đành phó mặc cho số phận. Thời gian nặng nề chầm chậm trôi qua, nhưng may quá, cuối cùng rồi nó cũng khoát tay ra hiệu cho xe chạy. Thêm một phen nữa hú vía! Chúng tôi rất mừng khi nghe hành khách bàn tán là xe sẽ về thẳng Sài Gòn mà khỏi ghé Bình Dương.
Gần 7 giờ tối, xe đò về đến Sài gòn, lòng chúng tôi rạo rực, rưng rưng nước mắt khi nhìn thấy lại thủ đô Sài Gòn thân yêu sau hơn bốn năm trời xa cách. Sài Gòn của chúng tôi ngày xưa nhộn nhịp rình rang, nay coi điều hiu buồn bã, đường phố vẫn đông người nhưng sao thầm lặng quá, đa số người ta đi lại bằng xe đạp, một vài chiếc xe gắn máy chạy qua chầm chậm… Tôi và Hùng xuống xe đò lòng vừa mừng vừa lo. Chúng tôi ghé một xe bán bánh cuốn dọc đường, kêu hai dĩa bánh cuốn và hai chai bia lớn gọi là để ăn mừng đã được về đến Sài Gòn. Chúng tôi ăn ngon lành và đã thèm, vị ớt cay làm tê đầu lưỡi, và nước mắm dấm tỏi thấm vào từng kẽ răng chúng tôi. Từng ngụm bia lạnh mà sau mấy năm đã tưởng là quên mất, được chúng tôi trân trọng nhấm nháp. Chúng tôi phân vân tự hỏi, chẳng biết giờ này Dũng nó đang ở đâu? Chỉ biết cầu mong Trời Phật phò hộ cho Dũng cũng mò về được đến Sài Gòn bình an suông sẻ như chúng tôi. Sau khi ăn uống xong, chúng tôi chia tay, và hẹn là sẽ nhờ người nhà liên lạc sau. Tôi kêu xe Honda ôm về nhà một người bà con thân thiết. Lòng tôi thầm khấn nguyện và cám ơn Trời Phật đã phò hộ cho mình được thoát nạn. Hôm đó tôi đã có được một đêm thật yên lành, và một giấc ngủ thật êm đềm. Đấy là giai đoạn đầu của cuộc tranh đấu đi tìm “TỰ DO” của chúng tôi. Chúng tôi đã trốn thoát khỏi được trại tù của CS, nhưng chúng tôi chưa thoát khỏi được sự kềm kẹp và truy lùng của bọn chúng. Chúng tôi sẽ còn phải tiếp tục phấn đấu đi tìm con đường vượt biên để đến được một đất nước tự do, mà nơi ấy giá trị con người được tôn trọng.

Chương 11: Chuyện Vượt Biên

       Những kỷ niệm vượt biên nhiều khi quá buồn, quá nhiều mất mát cho một số các bạn trong số chúng ta. Xin được chia xẻ những giây phút ngậm ngùi với các bạn đã chịu sự khổ đau và mất mát, nhất là với các bạn đã bỏ mình trên đường đi tìm tự do. Chỉ xin nhắc lại sau đây kỷ niệm vượt biên không buồn:

67.- Lê văn Long: Có thể nói tôi là người có số may mắn nhất khóa đã vượt thoát khỏi lưới tù cải tạo của VC, là một trong những “boat people” sớm nhất, và có thể là người đầu tiên của ĐNHC đi vượt biển trốn tù.
Cuộc hành trình trốn tránh VC thật là gian nan và nguy hiểm. Sau ngày 16 tháng 6 năm 1975, những thành phần nào bị ghép vào tội phản động mà bị bắt, nhất là bị bắt tại địa phương nữa thì hậu quả thật là khó lường. Ở địa phương, có rất nhiều hung thần, lỡ mà lọt vào tay bọn chúng thì chúng sẽ có được dịp tận tình trả thù, và sẵn sàng treo bản án lên ngực mình. Trên đường đi tìm đường vượt biên, tôi bị bắt tại một nút chận của bộ đội chính quy VC ở Phan Rang, gần mũi Cà Ná vào khoảng 11 giờ đêm! Không hiểu vì sao mà tôi lại trốn thoát đi được, chỉ có ơn trên chớ tôi không có tài nào thoát được. Có một việc may mắn trùng hợp nữa là qua khỏi nút chận này đến một bãi biển thuộc mũi Cà Ná, tôi theo ghe đánh cá ra đảo Catwich, nơi đây là định mệnh của tôi, số gặp may khi ghe cặp vào một chiếc ghe khác, tôi gặp anh Trần Vĩnh Trung Khóa 15 HQ. Trước khi thấy NT Trung thì thấy có mấy chiếc ghe khác nữa và ghe nào cũng có treo cờ VC, tưởng là các ghe đánh cá thông thường, sau khi nhìn biết được mặt người quen trên ghe kia mới biết ra toàn là ghe ngụy trang đi vượt biên hết. Nhờ có niên trưởng Trung và ghe của anh đã có chuẩn bị đầy đủ dầu cặn, lương thực, nước uống nên chúng tôi sau khi bàn tính, đã quyết định lên đường đi Philippine, mục tiêu là Subic Bay.
May mắn kế tiếp trong lúc cơn bão đang hoành hành, để ghe khỏi bị trôi giạt xa mục tiêu lên hướng Bắc, chúng tôi đã đổi hướng Đông Nam về phía đảo Mindanao, dự tính khi ra khỏi trận bão sẽ đổi lại góc độ đi Subic Bay (xin miễn nói góc độ chính xác). Trọn nguyên một ngày và một đêm chịu đựng với sóng gió đến sáng hôm sau có chiếc tàu Đan Mạch phát hiện và cứu vớt chúng tôi. Câu chuyện kế tiếp còn rất dài….tưởng rằng câu chuyện vượt biển của mình đáng được viết ra, sau này càng nghe thấy nhiều câu chuyện khác rất thương tâm và bi thảm gấp trăm ngàn lần nên không muốn nói thêm mà chỉ muốn nói lên lời cảm ơn.
Cảm ơn tất cả do ơn trên sắp đặt thuận chiều, như có từng mắt dây xích móc nối với nhau một cách liên tục, từ lúc trốn đi tù, lúc bị bắt trở lại, gặp NT Trần Vĩnh Trung, được viên sĩ quan đi phiên người Thái Lan thấy chiếc ghe đang bị lâm nguy trong cơn bão, đã báo cáo và xin ông Thuyền Trưởng tàu Đan Mạch cứu vớt sau khi đã bị ông Thuyền Phó người Anh phớt tỉnh Ăng Lê từ chối, đã đưa đến một kết quả thật là may mắn. Tất cả đều là những ân nhân cứu mạng, kể cả tên nón cối nếu không có mi đã quắc mắt nhìn và thốt lời hăm dọa thì ta chưa chắc đã liều mạng tiếp tục trốn chạy để được có cuộc sống tự do như hiện nay.
Sau gần 30 năm mất liên lạc với nhau vì lý do sinh kế, thay đổi địa chỉ v.v. . . tôi và niên trưởng Trần Vĩnh Trung cuối cùng đã tìm gặp được nhau vào năm 2004 tại San Jose, California. Ngày 28 tháng 5 năm 2006 chúng tôi lại có dịp hội ngộ vào đêm đại hội của Đệ Nhị Song Nam 40 năm ra khơi tại nhà hàng Sea Food Paracel (còn được gọi là Câu Lạc Bộ Hoàng Sa) ở thành phố Garden Grove thuộc Orange County miền nam California và đây là hình ảnh chụp chung với gia đình của NT Trung.

68.- Trần Tuấn Đức: Sau khi được tha về và bị quản thúc tại nhà, tôi đã được rất nhiều “móc nối” để đưa tàu vượt biên. Tuy nhiên có rất nhiều tổ chức vượt biên thấy được, nhưng chỉ cho một mình tôi làm tài công lái tàu ra đi mà thôi. Họ đồng ý trả tiền để cho vợ tôi và ba đứa con ở lại Việt Nam. Dĩ nhiên là tôi không nhận những điều kiện này vì một lý do rất đơn giản là tôi rất yêu vợ và thương ba đứa con trai của tôi. Ngoài ra cũng có rất nhiều những tổ chức lường gạt, đa số là do VC đứng ra móc nối. Trong xóm tôi có một tên VC đã rỉ tai với gia đình tôi về tổ chức vượt biên, hắn có quyền có thế, và chương trình tổ chức coi có vẻ hết sức bài bản và chu đáo. Tuy tôi không có ý đi chuyến này vì điều kiện không hợp, nhưng tôi đã tin, và giới thiệu cho chị Nguyễn Hữu Thiện tham gia. Gia đình chị Thiện ở ngay đầu ngõ nhà Mẹ tôi, anh Thiện đã đi được từ năm 1975, chị Thiện và các cháu còn kẹt lại ở nhà. Chị ấy đã tin tôi, và giao vàng cho Mẹ tôi để đóng lệ phí cho hắn. Bất ngờ hắn trở mặt, và lảng tránh chuyện vượt biên! Tôi bị mắc quai, làm sao mà dám đòi lại số vàng từ thằng VC! Rất nhiều trường hợp đã xẩy ra, nhiều người đã trắng tay mà cũng phải ngậm đắng nuốt cay, có khi chúng trở mặt chụp mũ về tội ”vượt biên”, hoặc “ngụy quân phản động”…Tôi thật sự rất áy náy trong lòng với gia đình Nguyễn Hữu Thiện.
Khoảng cuối Thu năm 1978, tôi đã được một thằng em đơn vị cũ là hạ sĩ cơ khí HQ móc nối cho một chuyến vượt biên. Tôi đồng ý đi gặp chủ tàu, và đi xem chiếc ghe dài độ hơn 16 mét (50 feet) với máy GM-671 còn rất tốt ở gần Cồn Phụng, dưới Mỹ Tho. Ông ta có vẻ thành thật, chủ đích muốn đưa cả nhà ông ta gồm trên ba mươi người ra đi, và đồng ý cho tôi đưa gia đình đi theo mà không tốn tiền, tôi cũng không quên xin ông chủ tàu cho tôi thêm một chỗ nữa cho người em trai đang còn trong tuổi nghĩa vụ, và tôi hứa là tôi sẽ nhận trách nhiệm này. Chuyến đi lại thuộc loại bán chính thức nên tương đối dễ thành công tuy giá rất đắt là 10 lạng vàng cho một người Hoa, và 14 lạng cho một người Việt kể cả tiền mua bãi cho VC. Tôi đã yêu cầu chủ tàu cho mướn thêm một trung sĩ cơ khí HQ còn trẻ Hà Kim Khanh, biết rành loại máy GM671 mà tôi quen biết để lo việc máy móc. Vì một lý do nào đó nên anh đã tình nguyện ra đi một mình, để lại vợ và hai con. Chủ tàu đồng ý cho anh ta đi. Sau một tháng thử máy và thực tập vận hành cho ngọt ngào thì tôi bất ngờ gặp được HQ Trung úy CK Đỗ Khắc Mạnh, thủ khoa CK khóa 19 SQHQ. Tôi bèn móc nối, và đồng thời sau khi nghe tôi trình bầy vấn đề máy móc, chủ ghe cũng đồng ý để cho đàn anh K.19 ĐKMạnh đem vợ và ba con đi theo không tốn tiền. Tôi bỏ việc luôn ở sở Thủy Đạo, xuống ở hẳn Mỹ Tho vì công an cứ tiếp tục kêu lên làm việc. Vợ tôi phải khai với công an phường khóm khi bị hỏi, là tôi đã bỏ đi vùng kinh tế mới, và không biết ở đâu! Chúng tôi lo thay thế và nhét nhựa trai vào những chỗ nối bên lườn tàu, chạy thử máy trên sông Tiền Giang, huấn luyện thêm cho con cháu ông chủ tàu và một số các thanh niên trong chuyến đi thành như một thủy thủ đoàn. Được giao cho trách nhiệm mang theo 180 người gồm cả nam nữ, cụ già và trẻ em. Các thợ mộc đã được trưng dụng để biến cải bên trong lòng tàu. Ngoài khoang phòng lái, khoang sau, khoang hầm máy, khoang chứa nước và dầu, chúng tôi biến cải phần còn lại thành hai tầng và trên mui. Các khoang đều có ống thông hơi bằng những ống nhôm đường kính 15 inches. Để giữ sự cân bằng cho ghe, nên trên mui chỉ dành riêng cho thủy thủ đoàn và rất hạn chế cho bà con lên.
Vì là một chuyến vượt biên bán chính thức có chung tiền cho công an nên chúng tôi rất an toàn và chỉ ở riêng tại Mỹ Tho và vùng phụ cận mà thôi. Tôi được lệnh bảo mật chuyến đi, và bị cấm chỉ léo hánh về Sài Gòn, hay ra khỏi địa hạt Mỹ Tho. Tôi gặp quan Đỗ văn Đức tại công viên Lạc Hồng, Mỹ Tho. Tuy hai đứa không nói chuyện nhiều hay hỏi han vớ vẩn, nhưng cùng nhận hiểu chuyện gì đang toan tính hay xẩy ra cho bạn mình, chẳng cần phải nói ra, chỉ thầm chúc cho nhau thành công, và như vậy là đủ rồi. Vợ và con tôi tiếp tục bị gây khó khăn và làm phiền bởi công an phường xóm tại nhà ở Sài Gòn, nên ông chủ ghe đã lén đưa xuống Mỹ Tho, và cho tạm ở khách sạn để tôi yên tâm làm việc. Chúng tôi lợi dụng những ngày tháng chờ đợi nên rảnh tay cho công việc tu bổ, huấn luyện, và chuẩn bị cho chuyến hải hành cuối cùng… Những cố gắng và siêng năng, chăm chỉ của T/Sĩ Khanh đã làm cho tôi ngậm ngùi, khi nhìn vợ con anh đã hy sinh để cho Khanh vượt biên một mình. Cuối cùng tôi cũng đã lèo lái, rỉ tai ông chủ ghe nhiều lần, và sau đó ông chủ tàu vì lòng nhân đạo nên cũng đã chấp thuận cho vợ và hai con của Khanh đi cùng. Chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ một chiếc la bàn từ của PCF, ống nhòm, hải đồ của tôi mang theo, 40 can nước ngọt, dầu và nhớt máy. Tôi cũng không quên đem theo một can rượu nếp than cho anh em uống cầm chừng khi làm việc. Tôi cho mua thêm 8 thân nứa lớn, rỗng ruột, dài khoảng từ mười đến mười hai thước, để chia ra cột kèm theo hai bên lườn ghe dùng làm phao nổi phụ cho tàu, và đồng thời có thể dùng làm phao đào thoát khi cần. Tôi không quên lấy sơn vẽ sẵn hai lá cờ November và Charlie, và cho trổ nóc ghe để làm thành một phòng lái có mái che mưa nắng với chiếc ghế ngồi cột dây như chiếc ghế xích đu cho tài công thoải mái, để có thể lái bằng chân, và nóc ghe ngang tầm ngực như chiếc bàn làm point, có gắn chiếc la bàn từ. Chúng tôi lùng mua được ba trái sáng phòng thủ (loại bằng nhôm) của quân đội VNCH ngày xưa dùng để làm một loại vũ khí sử dụng như một loại hoả tiễn khi cần thiết nếu chẳng may gặp phải tàu hải tặc. Những vũ khí thô sơ cầm tay này, được dấu kỹ, và chắc chắn rằng chúng tôi sẽ dùng nó để bắn một cái “phụt”, chính xác vào hầm máy của bọn cướp biển nếu chẳng may tàu chúng tôi bị chúng rà rà cập sát để cướp bóc.
Vào một ngày đầu tháng 5 năm 1979, chúng tôi được lệnh chuẩn bị ra khơi. Xế chiều mọi người được chở bằng ghe nhỏ, điểm danh, và lên tàu chuẩn bị ra khơi. Ghe dự trù và xin phép cho có 180 người, nhưng giờ chót kiểm điểm lại thấy có tới 240 người! Bọn công an đã lén đưa thêm 60 người của chúng nữa, nhưng không thể hủy bỏ hay làm điều gì khác hơn là tiếp tục chuyến đi vậy! Ghe nhỏ của công an dẫn chúng tôi ra đến đồn công an sau cùng ngoài cửa sông Cửa Tiểu, rồi bảo chúng tôi neo lại chờ chúng lên trình giấy. Chừng mười lăm phút sau, hắn ra bờ sông khoát tay ra hiệu cho chúng tôi kéo neo và ra khơi. Cồn phù sa làm neo cắn mạnh, chúng tôi loay hoay mãi mà không làm sao kéo neo lên được, tôi vội ra lệnh chặt dây và bỏ lại neo. Trời đã gần nửa khuya, chúng tôi lần mò ra được đến phao số một, tôi quay tàu và giữ hướng 150 độ chạy thẳng ra hải phận quốc tế. Giữ hướng độ này khoảng được gần một nữa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi phát hiện có một hai chiếc tàu ở hướng ba bốn giờ đang tiến về phía chúng tôi. Tôi suy nghĩ nhanh, và cho đổi hướng tàu cho chạy cùng một hướng với chúng. Tôi cố gắng giữ cho những tàu lạ luôn nằm thẳng hàng ở phía sau đuôi chúng tôi bằng cách nhận diện luôn thấy đèn hiệu tả đỏ hữu xanh của chúng. Biển êm, máy tốt, tàu tôi lướt nhẹ trên làn sóng lăn tăn. Tôi cẩn thận ghi chi tiết thời gian mỗi khi tầu đổi hướng. Sau hai tiếng đồng hồ thì chúng mất hút ở phía sau, không còn thấy tăm hơi đâu nữa. Chúng tôi đoán có lẽ là bọn công an đã báo cho tàu tuần của bọn chúng tính chận chúng tôi lại để ăn lẻ. Tôi ráp nối lại những chi tiết trong nhật ký hải hành, điều chỉnh tay lái, và lấy lại hướng 150 độ để tiếp tục ra phía hải phận quốc tế. Tôi cho đo phỏng định thì vận tốc của chúng tôi khoảng từ 5 đến 6 gút. Tôi đã phân chia cho cho những người được huấn luyện trước đi phiên như một quart hải hành trên chiến hạm khi xưa. Nhân viên cơ khí kiểm soát dầu nhớt, đằng mũi luôn có hai người dùng ống nhòm thường xuyên quan sát, và hai bên mạn tàu là hai nhân viên an ninh giữ trận tự để tránh cảnh nhốn nháo hốt hoảng có thể gây ra tình trạng mất thăng bằng cho tàu ngoài biển. Chúng tôi làm việc rất quy củ và trật tự.
Đêm ra khơi, trời trong, nhiều sao, và vầng trăng khuyết hạ tuần tháng Tư Âm Lịch nằm chênh chếch trên cao. Biển thật êm như đi trong hồ, gió nhè nhẹ thổi, sóng vỗ nhẹ vào bè nứa hai bên mạn tàu tạo ra những âm thanh êm ấm. Những hạt nước biển bị hất tung lên từ mũi tàu, lấp lánh phản chiếu ánh trăng khuya tạo ra như những hạt lân tinh trong đêm tối trời rồi tan nhanh vào màu biển xậm, và sâu thẳm muôn trùng. Hít một hơi đầy lồng ngực, tôi nghe mùi biển mặn làm tôi tỉnh táo tinh thần hơn, thấy mình kiêu hùng hơn, và cảm thấy mình tự thắng hơn sau 24 giờ trên chuyến hải hành sau cùng này! Ngồi trên mui tàu, tôi tận hưởng cái vị khô và quyến rũ của điếu thuốc trên môi, óc tôi miên man với những kỷ niệm cũ trong đời quân ngũ, những ngày huấn nhục quân trường. Tuổi đời mới 30 đã làm cho tôi rất tự tin trong chuyến đi định mệnh này, và cũng không quên cầu xin Trời, Phật, Thượng Đế ban bình an cho 240 mạng sống trên con tàu mỏng manh đang trên đường vượt biển này.
Đến chiều ngày hôm sau, sau khi đã đi được khoảng gần ba mươi sáu tiếng, chúng tôi đã thấy thấp thoáng những tàu buôn chạy hướng Bắc Nam. Tôi cho kéo cờ N-C lên (S.O.S), và cho ghe hướng thẳng tới những tàu buôn hay tàu đánh cá của các quốc gia bạn, và nhất là của Đài Loan, nhưng đều bị họ đổi hướng và chạy mất! Tôi nhờ một người Hoa ghi chữ “cần cấp cứu” bằng tiếng Hán thật to rồi dương lên cho có thể đọc được qua ống nhòm nhưng không ăn thua! Khoảng xế chiều, chúng tôi thấy một tàu đánh cá mang cờ Đài Loan, chúng tôi lại tiếp tục làm như những lần trước, trương cờ, dương bảng kêu cứu bằng chữ Tàu, và những người không nhiệm vụ phải xuống dưới khoang để tránh nhốn nháo. May thay, lần này chiếc tàu Đài Loan không quay đầu chạy như những chiếc khác. Ban chỉ huy chúng tôi họp khẩn cấp để đưa ra một chương trình hành động. Cơ khí sẽ quay bơm nước biển vào để làm cho giống như nước sắp ngập hầm máy, nhưng sẵn sàng phải bơm nước ra khi không thấy hiệu nghiệm. Một ít nhớt sẽ được đổ vào dầu cho phun khói đen, và cho máy kêu những tiếng lạ. Mọi người sẽ ùa leo lên tàu đánh cá một khi thuyền trưởng bị khuất mắt khi xuống xem xét hầm máy trong ghe để làm chuyện đã rồi.
Khi ghe cập vào tàu đánh cá, tôi và ông chủ ghe nhẩy lên lên tàu đánh cá để gặp thuyền trưởng báo cáo tình trạng “bi đát” của ghe chúng tôi. Trong lúc chủ tàu nói chuyện với thuyền trưởng, tôi liếc mắt vào hải đồ của họ thì thấy chúng tôi đã đi rất đúng hướng và gần tới Nam Dương. Ông thuyền trưởng cho biết là chúng tôi đã gần đến bờ, nên tiếp tục đi, và nếu cần thì ông ấy sẽ cung cấp thêm cho thực phẩm và nước ngọt. Riêng tàu của ông ta đã đánh đủ cá và đang trên đường về Đài Loan. Chúng tôi nằn nì tình trạng sắp ngập nước của ghe chúng tôi, và xin ông hãy qua xem xét coi. Ông đồng ý qua xem. Trong lúc ông ta đang lội lõm bõm dưới hầm máy để thẩm xét tình trạng của ghe chúng tôi, thì bên trên boong mọi người leo ùa qua tàu Đài Loan. Ông leo trở lên thì mọi sự đã rồi đúng như chúng tôi toan tính. Sau cùng ông đành cho chúng tôi chọn một trong hai giải pháp với một điều kiện duy nhất là phải sửa chữa chiếc ghe để có thể sử dụng được. Thứ nhất ông sẽ cho chúng tôi vào gần đến Mã Lai Á thì xuống ghe và tự chạy vào bờ. Thứ hai là theo tàu ông, khi gần đến Hồng Kông thì xuống ghe và cũng tự chạy vào bờ. Tôi nhanh trí chọn giải pháp thứ hai là đi lên hướng Bắc về phía Hồng Kông, vì tin đồn về VN trước đó là Mã Lai đang xua đuổi, không nhận thêm người tỵ nạn. Chiếc ghe được sửa chữa và kéo theo phía sau tàu đánh cá. Ngày hôm sau, có một bà cụ người Hoa khoảng hơn 60 tuổi trong đám tỵ nạn chúng tôi đã bị qua đời vì “trúng gió”. Thuyền trưởng đã yêu cầu chúng tôi mang thân xác bà cụ xuống ghe để tránh điều “súi quẩy” cho tàu. Chúng tôi đành tẩn niệm bà cụ trên ghe, cầu xin linh hồn người qúa cố sớm được siêu thoát, và cho thủy táng xác bà cụ sau đó. Khi đi ngang qua đảo Hải Nam thì một cơn bảo đã nhận chìm chiếc ghe của chúng tôi, chiếc ghe đã được dòng theo con tàu đánh cá! Chúng tôi không còn phương tiện để tự lái vào Hồng Kông, vị thuyền trưởng đầy lòng nhân ái đó đành phải chở chúng tôi về bến Cao Hùng, Đài Loan, dù biết rằng ông sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tới Cao Hùng, chúng tôi được chở đến một trại gia binh dùng làm trại tỵ nạn, và nơi đây đã có khoảng mấy trăm người đã đến trước chúng tôi. Chuyến đi vượt biên của chúng tôi tương đối thành công, và an toàn. Trong trại tỵ nạn, chúng tôi nghe thấy nhiều chuyện vượt biên gặp nạn cướp biển, và đói khát… Chúng tôi chỉ biết khấn cầu, cám ơn Trời Phật đã phò độ cho chúng tôi đi đến nơi, và không phải trải qua những giây phút khủng khiếp hãi hùng như những chuyến tàu vượt biên bất hạnh khác.

69.- Huỳnh văn Bảnh: Sau khi được thả ra khỏi trại tù Cộng Sản, tôi được móc nối làm tài công lái tàu vượt biển đi từ Vũng Tàu. Tàu vượt biển của chúng tôi chỉ là một chiếc ghe đánh cá nhỏ, nhưng khi đi thì chứa cả gần trăm người. Trên đường ra Vũng Tàu, chúng tôi bị tụi công an nó vây bắt, nên phải bỏ hết cả đồ đạc mà chạy lấy thân. Ngoài bộ quần áo trên người, chúng tôi không còn gì, ngoài đứa con gái mới sinh vừa tròn một tháng tuổi. Chúng tôi rời VN vào cuối tháng Mười nên đúng vào mùa biển động! Ra khỏi cửa Vũng Tàu là ghe chúng tôi gặp biển động mạnh. Sau gần bốn ngày chịu trận sóng ngang, chơi vơi vật lộn với tử thần, lênh đênh giữa đại dương bát ngát, mọi người trên ghe mệt lả, rũ rượi như sắp chết, con gái tôi hôn mê trong vòng tay mẹ nó. Đến ngày thứ tư thì biển chợt êm lại, không sợ ghe bị nhận chìm bởi những cơn sóng dữ nữa, tôi cho đổi hướng xuôi Nam, trực chỉ Malaysia. Chúng tôi đi lọt vào tỉnh Kuching thuộc Malaysia. Cảnh sát Malaysia chở chúng tôi về tạm trú qua đêm trong phòng thể thao của một trường trung học địa phương. Chính quyền Malaysia khi đó đã không cho chúng tôi tỵ nạn, nên sáng hôm sau đã cho chở chúng tôi về lại ghe, và chỉ đường bảo tôi lái xuống Nam Dương. Tôi suy nghĩ nhanh là nếu tiếp tục đi nữa thì rất nguy hiểm, và không biết sẽ ra sao? Vội bảo anh thợ máy đâm thủng đáy tàu cho ghe chìm. Nhờ thế nên chúng tôi đã được cho vào trại chuyển tiếp chờ Cao Ủy Tỵ Nạn.

70.- Trần Đức Chấn (San Diego): Ba tôi là một sĩ quan Hải Quân, năm 1958 ông đang là Quận Trưởng Dương Đông ngoài Phú Quốc thì bị ám sát và mất tại đây! Đô Đốc Trần văn Chơn khi đó đang chỉ huy một đơn vị Hải Quân tại Kiên Giang đã cho ghe chở quan tài của Ba tôi từ Phú Quốc về Long An để ma chay và chôn cất. Vào năm 1973, tôi phải vào BTL/HQ để bổ túc hồ sơ hay xin giấy tờ để bổ túc hồ sơ gì đó, tôi đã gặp anh Chấn đang là một sĩ quan làm việc tại Phòng Tổng Quản Trị HQ, và quen biết với ảnh từ dạo đó. Khi Việt Cộng chiếm được miền Nam, anh Chấn đi tù còn tôi thì tìm đủ mọi cách để vượt biên. Tưởng rằng hai cuộc đời chúng tôi mỗi người một ngả, nhưng con tạo xoay vần, và khi anh Chấn ra khỏi tù thì tôi cũng vẫn còn bị ở lại, chưa đi thoát được. Đúng là cái duyên cái số. Các em tôi lần lượt đều đã vượt thoát được khỏi VN và định cư tại Hoa Kỳ. Anh Chấn sau khi ra tù Cải Tạo xong thì có trở lại tìm tôi. Tôi nhất quyết không muốn sống dưới chế độ Cộng Sản, quyết chí tìm đường vượt biên, nên chưa muốn lập gia đình vội. Còn anh Chấn thì lừng khừng chưa muốn chuyện vượt biên. Vào năm 1982, trong một lần vượt biên, một người em bà con của tôi bị chết trên đường vượt biển khi ghe bị lật trong khi chưa ra được đến ngoài biển khơi! Chuyến này đã làm cho tôi chùn chí, và quyết định thành lập gia đình với anh Chấn vì anh ấy chờ tôi cũng đã lâu rồi.
Chúng tôi thành hôn năm 1983, và về sống với bên Nội tại Giồng Trôm, Cát Lái. Tuy đã có đứa con trai đầu lòng nhưng chúng tôi cũng vẫn tìm cách vượt biên mỗi khi có cơ hội. Đã bao nhiêu lần chúng tôi tìm cách vượt biên nhưng đều bị thất bại, khi thì bị “bể”, khi thì bị “động”! Khi tôi sắp sanh cháu thứ hai vào năm 1985 thì anh Đỗ Minh Hào có liên lạc và giới thiệu cho anh Chấn làm tài công lái ghe vượt biên. Đúng hôm tôi sanh, anh Chấn được tin phải xuống ghe để khởi hành đi vượt biên ngay. Năm giờ sáng, tôi sanh cháu gái, anh Chấn ngồi chờ bên ngoài. Anh nắm chặt tay tôi, ôm đứa con gái còn đỏ hỏn vừa mới sanh ra. Chúng tôi không nói nhiều vì cũng tưởng như những lần trước, ra đi rồi lại trở về bến cũ. Bẩy giờ sáng, anh đã cùng chú em trai từ giã ba má và đứa con trai đầu lòng, ra điểm hẹn để xuống ghe. Không ngờ lần này anh lại lái ghe vượt biển đi thoát. Một vài tuần sau, chúng tôi đã được anh Hào đánh điện báo tin là anh Chấn đã đến được bến bờ tự do. Anh Chấn rất chịu khó, vừa đi làm vừa đi học và xong bằng BSEE tại SDSU, lại vừa lo bảo trợ mẹ con tôi. Bẩy năm sau, 1992, mẹ con tôi mới được trùng phùng với anh Chấn theo diện đoàn tụ gia đình. Chúng tôi có thêm hai cháu nữa sau ngày đoàn tụ và lập nghiệp tại San Diego. Tưởng rằng hai đứa chúng tôi sẽ được vui vầy tình nghĩa vợ chồng cho đến ngày răng long đầu bạc, không ngờ anh Chấn bị bạo bệnh khi chưa đến tuổi sáu mươi! Ảnh phải nghỉ làm ở hãng Hughes để ở nhà chữa bệnh. Chúng tôi có nhiều thời gian để sống cho nhau hơn. Anh Chấn rất thương bạn bè, ảnh kể chuyện không biết mệt về những kỷ niệm thời còn ở quân trường Hải Quân và khi còn ở trong quân ngũ. Mỗi khi có bạn cùng khóa đến thăm là ngày hôm đó ảnh rất vui mừng như ngày lễ hội. Ảnh rất cảm động khi thấy mấy anh bạn cùng khóa ở tận trên Los đã chịu khó lặn lội xuống thăm ảnh khi bịnh tình trở nặng.

71.- Ngô Nguyên Trực: Vào tháng 4 năm 1979, tôi được móc nối lái tàu đi từ Trà Vinh-Vĩnh Bình, chủ tàu đã lo xong ghe, dầu nhớt, nước uống, và chiếc la bàn. Tôi lo đường đi nước bước, và ra đi càng sớm càng tốt. Những hải đồ bán rất mắc! Tôi la cà ở mấy chỗ bán hải đồ cũ ở Sài Gòn, làm bộ như muốn mua, đo đường và hướng độ, rồi cố ghi nhớ cho thật rành rọt. Một tuần sau chúng tôi lên đường, tôi cho Trọng đi cùng vì không có đem theo một ai. Ghe chúng tôi thuộc loại nhỏ, chỉ có 30 người, thuộc loại đi chui, và tôi chỉ được biết ghe có mấy tiềng đồng hồ trước khi đi. Chúng tôi rời Trà Vinh khoảng lúc chín hay mười giờ đêm chạy ra cửa Long Toàn. Ra khỏi cửa biển, tôi quay mũi ghe theo hướng 150 độ, chạy thẳng rời xa bờ biển VN cho đến chiều ngày hôm sau thì quay mũi theo hướng 245 độ để xuống Mã Lai. Ba ngày sau, chúng tôi thấy bờ. Chúng tôi kéo tấm khăn trắng lên làm cờ.
Thấy người lố nhố trên bờ. Mọi người trên tàu reo lên mừng rỡ, nhốn nháo lao nhao hướng về phía đảo nhỏ. Chúng tôi đã đến được bến bờ bình yên rồi, không còn phải lo sợ sóng to gió lớn, không còn phải phập phồng với nạn hải tặc trên biển, niềm mơ ước của chúng tôi đã sắp thành hiện thực. Mọi người van vái cám ơn Trời Phật đã cứu độ chúng tôi. Tới gần mới thấy có khoảng một tiểu đội TQLC quần áo rằn ri, đang xếp hàng ngang trên bờ, nhắm súng chĩa vào hướng chúng tôi! Tôi cho tàu giảm tốc độ, và từ từ tiến lại. Họ nhắm bắn dọa một loạt đạn M-16 bay qua đầu chúng tôi. Tôi cứ tiếp tục cho tàu từ từ tiến vào, và đồng thời vẫy cờ trắng lia lịa. Để đáp lại toán TQLC Mã Lai hạ nòng súng và bắn thẳng vào chúng tôi, tôi la to “mọi người nằm xuống, nằm xuống”. Đạn rơi lỗ chỗ trên mặt nước, và một vài viên trúng cả vào ghe. Tôi hoảng hồn quay ghe ra, chúng bắn với theo. Thằng bé bẩy tuổi, con ông chủ ghe bị trúng đạn vào đùi, máu tuôn ra. Tôi cho ghe chạy lòng vòng trên biển, mọi người trên ghe buồn bã nhưng không thất vọng, khoảng đến xế chiều thì gặp một chiếc ghe đánh cá Mã Lai. Họ không biết tiếng Anh, và chúng tôi không biết tiếng Mã, thế là ngôn ngữ quốc tế “khua tay múa chân” đã được đem ra sử dụng. Họ chỉ hướng đi về phía một hòn đảo nhỏ và “xì sồ xí số” một hồi, chúng tôi đoán là ở trên đảo ấy có trạm y tế. Tôi cho ghe chạy về hướng đó, khi đến gần thấy một chiếc tàu cảnh sát Mã Lai chạy ra chận chúng tôi lại, miệng la “GHÔ-GHÔ” và bằng tiếng Việt lơ lớ “Đi, Đi… mao”. Chúng tôi lại bế thằng bé bị thương lên, và chỉ vào cháu, miệng la “HEO…HEO…” rất là thảm thiết. Họ cập tàu lại, cho ông chủ ghe bế đứa con bị thương đi theo lên bờ để băng bó vết thương. Một hai người cảnh sát, súng ống lăm lăm, ở lại với chúng tôi gác thuyền vì sợ chúng tôi làm ẩu ủi đại vào bãi. Sau đó họ chỉ cho chúng tôi hướng đảo Bidong. Tôi cho tàu chạy về hướng đó. Khoảng 10 giờ đêm, khi đến gần đảo chúng tôi thấy có ghe cảnh sát ra đuổi, không cho vào! Tôi cho ghe chạy ra ngoài biển khơi lại, sau cùng đành ghé vào một hoang đảo nhỏ nghỉ tạm qua đêm. Ngày hôm sau tôi lại cho ghe chạy vòng vòng, mon men tìm cách chạy vào bờ đảo Bidong. Một chiếc ghe cảnh sát chận chúng tôi lại, viên thuyền trưởng biết chút ít tiếng Việt, leo qua với giọng lờ lợ hỏi “Aai laái, aai laái?” Mọi người chỉ vào tôi. Hắn lặng lẽ tiến lại phía tôi, móc khẩu P38 đeo xệ ngang hông, lạnh lùng lên đạn và dí sát vào phía sau ót tôi rồi nói “Đii ra ngooài…; Cấm dzôô; Kkông taao baắng.” Mọi người im thin thít, tôi tuy bất mãn với cái thái độ bất nhân của tên cảnh sát, nhưng ngậm tăm, gật đầu “ô kê, ô kê”. Chúng tôi lại mất thêm một ngày chạy vòng vòng ngoài biển khơi. Vì không có tấm hải đồ nên tôi không dám chạy xa bờ sợ bị lạc.
Ghe chúng tôi đã bắt đầu bị vào nước hầm máy, dầu cũng sắp cạn, thì may quá thấy trên một hòn đảo nhỏ cách Bidong khoảng 2 hay 3 chục hải lý thấy có lố nhố người ta. Tôi cho ghe đến gần. Thấy có khoảng gần một trăm người dân đứng xa xa trên bờ đưa tay ngoắc ngoắc, ra hiệu kêu chúng tôi vào, và khoảng chừng một tiểu đội TQLC/Mã Lai súng ống lăm lăm đang xua tay cho chúng tôi không được vào. Tôi giảm tốc độ, nhưng không thấy đám TQLC này có vẻ quyết liệt lắm, và nghe trong đám đông đứng xa chỗ mấy cây dừa có người la “dzô đại đi”, nên tôi đoán họ cũng là những người tỵ nạn, nên quyết định cho ghe ủi đại vào bãi cát. Chúng tôi leo xuống ghe, và chạy ùa cả lên bãi cát. Toán lính Mã Lai chĩa súng vào chúng tôi, bắt ngồi xuống. Tên trưởng toán biết tí tiếng Anh và chút ít tiếng Việt. Hắn hỏi “tài công đâu?” Mọi người lại chỉ về phía tôi. Hắn lẳng lặng đi ra phía sau lưng tôi, và bất ngờ giáng cho tôi một báng súng M-16 vào lưng. Hắn hỏi “mang gì?”, tôi ngớ ra. Hắn dộng cho tôi thêm một hai báng súng vào lưng nữa. Hắn lên đạn. Tôi đoán là hắn đòi vàng, vội nói tôi không có gì nhưng mấy người kia có. Hắn bỏ tôi đi qua mấy người kia lột đồng hồ, nhẫn, dây đeo, và lục lọi moi vàng. Trong lúc hắn đang lúi húi làm hỗn sờ mó mấy cô gái, tiếng lao nhao trong đám đông trên bờ có người nói “đục chìm ghe đi không nó đuổi”. Tôi bị kềm bởi họng súng của người lính Mã Lai nên hối ông chủ ghe xuống ghe giựt “lỗ lù” cho nước vào làm chìm ghe. Thằng trung sĩ trưởng toán sau khi gom góp đồng hồ, cà rá, dây đeo vàng bạc mà nó thấy được, dặn mấy cô bé trên ghe, tắm rửa sạch sẽ rồi lên lều nó trình diện để nó “hỏi cung”! Tôi dặn mấy cô là đừng chống cự, nó giết thiệt thân, ghi nhớ mặt thằng nào làm bậy để khai trình Cao Ủy LHQ.
Chúng tôi được ở lại chung với những người tỵ nạn trước, họ là những người đã vẫy cho chúng tôi vào. Chúng tôi lấy lá dừa làm lều ở tạm như mọi người, một tuần sau có ghe của Cao Ủy qua chở về BiDong. Cậu Bảnh “quần đỏ” và Lưu Ngọc Quang đã lên đó trước từ hồi nào và đang chờ để “đón tiếp” tôi.

Chương 12: Người Tỵ Nạn Việt Nam

Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối,
Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm.
(Chinh Phụ Ngâm Khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
       Vì Cộng Sản chúng ta đã bị bứng bật gốc ra khỏi Việt Nam, đi tỵ nạn tại các quốc gia tự do trên khắp thế giới! Những chính phủ và dân chúng tại những quốc gia cưu mang này đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta, và những người tỵ nạn Việt Nam khác đến đất nước họ. Họ không đòi hỏi chúng ta gì hơn ngoài nhiệm vụ của một người công dân nước họ và một sự cố gắng. Xin trân trọng cám ơn đất nước và dân chúng của những quốc gia đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta. Chúng ta cũng không quên nơi chôn nhau cắt rốn Việt Nam của chúng ta, nơi đồng bào của chúng ta vẫn chưa được biết thế nào là TỰ DO và DÂN CHỦ.


72.- Huỳnh văn Bảnh: Sau khi đục thủng đáy thuyền, không còn cách gì bắt chúng tôi trở lại ra khơi được nữa, nên chính quyền địa phương của tỉnh Kuching, Malaysia đã cho chở chúng tôi về tạm trú trong trại chuyển tiếp. Trại chuyển tiếp này thiếu thốn đủ mọi thứ căn bản tối thiểu như cầu tiêu, nên những người đi trước đã phóng uế bừa bãi. Chung quanh trại đầy phân người, và mùi hôi thối toả ra nồng nặc! Đêm nằm trên sàn xi-măng lạnh trơn, không mền, không một tấm khăn trải, gió rít lên từng cơn ngoài kia, tôi gồng mình chịu lạnh, cởi chiếc áo sơ mi độc nhất đang mặc trên người đắp thêm cho đứa con gái một tháng tuổi đang nằm run trong vòng tay ôm chặt như cố truyền hơi ấm cho con của mẹ nó. Sau ba ngày tạm trú tại trại chuyển tiếp, chúng tôi được chính quyền Malaysia chở sang trại tỵ nạn Paulo Bidong.
Paulo Bidong là một hòn đảo nhỏ của Malaysia, được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ dùng làm trại tỵ nạn cho những thuyền nhân VN. Ba phần tư đảo là núi, và chỉ còn một phần tư là tương đối bằng phẳng như bình nguyên. Vào thời điểm này, trên đảo đã có hơn năm chục ngàn người tỵ nạn. Tàu chở chúng tôi ra đảo, không ai tiếp đón, không người hướng dẫn, không ai tiếp tế. Quá đói và quá lạnh, hai vợ chồng chúng tôi ôm đứa con còn đỏ hỏn, ngồi ở gần trạm cảnh sát Malaysia trên đảo để chịu trận. Nhưng may quá, gặp được Lưu Ngọc Quang, và Quang đã cho chúng tôi một lon cơm ăn đỡ dạ. Quang đi một mình và cũng đang ở nhờ trong một căn chòi nhỏ của một gia đình quen nên không thể nào cho chúng tôi tạm trú qua đêm được! May quá có một anh bạn trẻ tuy không quen biết, nhưng thấy tình cảnh khốn khổ của chúng tôi nên anh đã cho vợ và con tôi vào tạm trú trong căn chòi của anh, còn tôi và anh ấy nằm ngủ ngoài hiên căn chòi.
Sáng hôm sau chúng tôi mới được Cao Ủy Tỵ Nạn cấp phát cho một tấm “tăng” để căng lều, gạo, và cá mòi hộp. Tôi lên núi, chặt cây, tha về cất chòi trên một vũng xình còn xót lại và chưa có người “xí phần”. Cây lớn tôi dùng làm cột, kèo, mái thì bằng tấm tăng được phát cho. Cây nhỏ tôi dùng làm vách và giường ngủ. Tôi lùng kiếm thùng cạc tông rỗng, gỡ ra làm đệm nằm cho đỡ đau lưng. Ngày này qua tháng nọ, chúng tôi chỉ được ăn cơm với cá mòi hộp nên riết rồi cũng ngán quá xá! Bà xã tôi ăn riết cá mòi chịu không nổi, nên chỉ ăn cơm với muối, làm gì có sữa cho con bú! Trên đảo cũng có những nơi bán đồ ăn tươi do tàu đánh cá Malaysia chở sang bán, nhưng chúng tôi chỉ có hai bàn tay trắng nên lấy gì để mua. Chúng tôi đành hy sinh, đau khổ mà bán đi chiếc nhẫn cưới để có ít tiền mua thêm thức ăn tươi, nhất là cho bà xã của tôi cố ăn mà có sữa nuôi con.
Điều kiện sống trên đảo thật là khốn khổ và mất trật tự, không có đến cả cái cầu tiêu công cộng, nên phóng uế bừa bãi và rất tự do! Đàn bà con gái cũng vậy, cứ tụt quần, ngồi ngay ngoài bãi mà tiểu tiện hay đại tiện ngay trước mặt nhiều người, không còn biết e ngại hay mắc cỡ nữa! Nước ngọt không đủ dùng nên tắm rửa hay giặt giũ là đi xuống biển, nhiều khi phải gạt những đống phân người sang một bên để lấy chỗ mà tắm rửa hay giặt giũ một cách tỉnh bơ! Chúng tôi từ chối đi định cư bên đất Úc, nên chắc chắn là sẽ phải nằm trong trại tỵ nạn rất lâu. Tôi định kế lâu dài nên ra sức đào một cái giếng ngay bên trong cái chòi của tôi để có nước tắm rửa và để dùng. Sau này tôi lại chịu khó mỗi ngày vác 30 thùng 25 lít nước từ bãi trước khu nhà tôi, để ra khu bãi sau đổi cho mấy quán café đặng lấy tiền mua thêm thực phẩm tươi cho gia đình. Mỗi thùng 25 lít nước như vậy tôi đổi được 1 đồng tiền Malaysia. Có bạn chọc giỡn là đã mất nước rồi, qua đây còn bán nước nữa hay sao? Tôi đâu có bán nước, tôi chỉ đổi nước lấy tiền nuôi vợ con thôi.
Vài tháng sau có thêm một số bạn thuộc khóa 20 cũng đến được như quan Nhan Thanh Toàn, Đoàn Hữu Lượng, Ngô Nguyên Trực… Các bạn này phải làm chòi trên núi để ở vì hết đất nơi dưới vùng đất bằng. Chiều chiều, các bạn hay xuống dưới chòi tôi để tắm và nói chuyện cho quên sầu đời. Sau này tôi cũng rủ và kéo thêm được Nhan Thanh Toàn cùng vác nước đi đổi lấy tiền làm kế sinh nhai chung với tôi. Sau gần 10 tháng ở trên đảo Bidong, gia đình tôi đã được gọi đi định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi được đưa sang ở thêm một tháng nữa trong khu nhà thờ tạm trú để làm thủ tục khám sức khoẻ và chờ đi đinh cư. Chúng tôi đã được một nhà thờ Tin Lành tại Rochester, New York bảo lãnh, và chúng tôi đã làm cư dân tại đây từ dạo đó cho đến ngày hôm nay.

73.- Phan Ngọc Long: Ngày 29 tháng 04 năm 1975 chúng tôi vẫn bị cấm trại 100%, CHT đi đâu mất tiêu, chẳng lệnh lạc gì cả! Tối đến khoảng 7 hay 8 giờ tối, cúp điện tối om, quân nhân HQ và người ta leo lên các chiến hạm. Bên ngoài cổng BTL/HQ dân chúng còn bu đông nghẹt. Các tàu chiến từ từ tháo dây và rời bến để “tránh pháo kích”, tôi hốt hoảng leo xuống một chiến hạm nằm trong vòng rào BTL, và ra đi theo tàu như trong một giấc mộng. Lên đảo Guam, gặp lại được vợ con do bạn Nguyễn Xuân Dục đem đi theo hộ. Xin cám ơn bạn Dục.
Chúng tôi ở trại tỵ nạn IndianTown Gap, Pensylvania. Nơi đây tôi gặp lại các bạn cùng khóa như Nguyễn Đăng Khúc, Đinh Minh Nhuận, Đinh văn Chính, Nguyễn văn Đệ, Lê Phụng, Đỗ Thanh Vẽ… Gia đình chúng tôi được bảo trợ về “định cư” trong một nông trại nhỏ ở vùng Danien Buffalo tại tiểu bang New York. Hàng ngày bà xã tôi phụ giúp bà chủ nhà lo dọn dẹp, nấu ăn, và làm những việc vặt vãnh trong nhà. Tôi theo ông chủ ra đồng làm việc. Công việc đồng áng, nhất là ở bên Mỹ này tôi không quen nên tối về thì chân tay rã rượi, hai lòng bàn tay sưng rộp lên. Trời vào lúc cuối mùa Hạ, đầu mùa Thu nên dài lê thê. Bốn giờ sáng đã thấy ánh mặt trời lên, đêm đến mười giờ vẫn còn ánh nắng! Nhà nông làm theo ánh nắng mặt trời mà không theo chế độ bấm thẻ. Chúng tôi làm một tuần, rồi hai tuần, rồi ba tuần cũng không thấy chủ nhà gọi lên nói chuyện tiền bạc! Tôi liên lạc được với một người bạn của ông anh rể định cư ở gần trại tỵ nạn IndianTown Gap. Ông ấy rủ tôi bỏ Danien Buffalo để về đó, xin vào một hãng dệt làm “ca” nhì như ông ấy. Tôi nghe bùi tai, bèn gởi vợ con ở lại với gia đình người bảo trợ, và theo xuống chỗ người quen, đi làm ca hai ở một hãng dệt. Ngày đầu tiên đi làm, cái đơn cũng không biết điền, gặp được ông bạn vàng cùng khóa Nguyễn văn Sáng. Tôi mừng quá tưởng vớ được chiếc “phao hướng dẫn” vì dầu sao ông ấy cũng biết rành tiếng anh tiếng u. Nhưng nghe xong những điều ông bạn vàng chỉ bảo, tôi đang hoang mang, và càng nghe những điều chỉ bảo thì càng thêm đâm hoảng hơn! Sợ quá đành phải bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo ấy mà tự lần mò lấy một mình.
Vài tháng sau tôi đã có đủ tiền để mướn được một cái apartment hai phòng trong khu bình dân tại tỉnh AllenTown-Pensylvania để đón vợ con xuống. Trời đã bắt đầu vào mùa Đông, lá trên cây đã rụng sạch, sáng sớm đi làm đã thấy thở ra hơi như khói, ban đêm đã phải mở sưởi. Tôi hàng ngày vẫn đạp chiếc xe đạp cọc cạch mua ở một tiệm bán đồ cũ đi làm. Buổi chiều khi đạp xe đi làm còn thấy đỡ khổ, nhưng khuya về thì thật là tội nghiệp. Trời lạnh căm căm, đường đi vắng ngắt, lâu lâu một chiếc xe hơi chạy vù qua làm giật cả mình. Những khi có sương mù đầy đặc, không thấy đường bị xập hố là đau xoắn đít. Đi qua những chỗ vắng vẻ, chỉ sợ mấy ông Mỹ đen say rượu uà ra làm khó dễ thì phiền, nên thường phải cong đít mà đạp cho lè lẹ. Tưởng đâu đã yên thân, không ngờ hãng dệt hết việc và cho nghỉ.
Để tránh tình trạng không có tiền đóng tiền nhà, tôi xoay ra đi làm liền cho một hãng chuyên môn đi đào đường để đặt ống nước hay làm đường! Tối về thì chân tay rã rượi, nằm trên giường mà không biết chân mình nằm ở nơi đâu, và tay mình nằm ở nơi nao nữa! Tiếng Anh của tôi dạo này đã bập bẹ được đôi chút. Tôi quyết định đi học lại vào ban ngày, và kiếm việc làm ban đêm. Nhờ căn bản ở VN, sau năm năm miệt mài, tôi học thi lại được bằng GED (Trung học tráng niên), và sau đó thì BSEE. Tuy bận rộn nhưng cuối tuần chúng tôi vẫn thường đón tiếp các bạn HC2 từ nơi khác ghé thăm. Khi thì các bạn Đệ, Khúc, Dũng từ Iowa, hay Chính, Lê Phụng ở gần ngay kế bên… Chúng tôi lai rai với những món nhậu tuy đơn sơ nghèo nàn nhưng đầy ắp tình thân.
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1981, tôi được nhận cho phỏng vấn tại một hãng ở vùng gần Los Angeles. Tới phi trường LAX, tôi lật sổ niên giám điện thoại tìm người quen. Bắt liên lạc được với bạn cùng khóa Ngô Bá Nhẫn. Bạn Nhẫn đã chở tôi đi thăm phố Bolsa lần đầu tiên. Hồi đó phố Bolsa cũng chưa được sầm uất cho lắm, nhưng tôi đã rất vui vì mình như một người nhà quê ra tỉnh, và nay vẫn không quên những kỷ niệm này. Tôi đã nhận làm việc với hãng Hughes, sau này đổi lại là Raytheon từ đó đến nay là 24 năm. Trong thời gian làm việc tôi phải di chuyển đi nhiều nơi như Los Angeles, Fresno (CA), Virginia-Washington DC, Dallas-Texas. Nơi đâu tôi cũng gặp lại được các bạn HC2, và tình thân không bao giờ phai mờ. Qua những chương trình hợp tác giữa các hãng xưởng với các đại học, tôi cũng hoàn tất xong được cái bằng MSEE. Tuy thế các con tôi vẫn chê tôi nói tiếng Anh nghe còn quá ngọng nghiụ.
Nhắc đến những khó khăn, bỉ cực, và những thành công thì phải nói đến những sự hy sinh của các bà vợ. Xin cám ơn bà Ngô thị Kim Liên, người vợ quá cố của tôi đã biết lo lắng cho gia đình trong suốt 31 năm, tạo dựng nên một mái gia đình với một nền tảng căn bản vững chắc. Các con gái Vân và Tiên đã tương đối thành công trên đường đời, và cháu trai Bảo đã xong phần trung học. Tôi cũng xin cám ơn bà Trần Thu Thủy, người vợ hiện tại của tôi đã lo lắng nâng đỡ tôi trong lúc tinh thần tôi bị kiệt quệ. Đã vun xới cho gia đình chúng tôi, hiểu biết, cảm thông và vui vẻ với các cháu gái, và đã chăm lo khuyến khích cho cháu Bảo thành công trong lãnh vực học vấn tại Virginia Tech.


Các bạn thân mến,
Qua 12 chương, 73 chuyện kể năm xưa của 23 bạn trong khóa 20, và hai chị Trần Tuấn Đức và Trần Đức Chấn mà các bạn vừa mới đọc qua, hẳn là các bạn đã thấy hình bóng của chính mình thấp thoáng đâu đó trong những câu chuyện. Nhân số của cả khóa 20 chúng ta có đến 267 người mà chỉ mới có 24 bạn và hai chị đóng góp vào những câu chuyện này thì thật có nên cho là quá ít ỏi chăng? Không đâu, đó mới chỉ là khởi đầu những câu chuyện kể của chúng ta. Những chuyện kể này sẽ được cho vào trang nhà của Khóa 20, và chúng ta sẽ tiếp tục viết tiếp theo và đóng góp thêm vào. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ thấy đầy ắp những câu chuyện kỷ niệm của đời làm người đi biển của hầu hết các bạn cùng khóa 20, và những kỷ niệm đầy yêu thương của các chị nữa.

Mong lắm thay.
NguyễnVănĐệ.
(Trách nhiệm góp nhặt)




( Trở về đầu trang )