Đặc San 2006 ( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

 
Đại Hội 2006 :

Tâm tư gửi bạn
    CungVĩnhThành

Những HC2 rời đàn
    NguyễnXuânDục

Hồi ký 36 năm ra khơi
    AnhChịHuỳnhvănBảnh

Thoáng giấc mơ qua
    ChịNguyễnNgọcChâu

Bút ký đh2006
    AnhChịNguyễnPhúcVĩnhViễn

Thuyền lại bến xưa
    TônThấtCường

Cảm nghỉ về đh2006
    20 và thân hữu


Đặc San 2006 :

Trang bìa
    TrầnTuấnĐức
Giới thiệu
    CungVĩnhThành

Những chuyện kể năm xưa
    Gia đình 20

Hiệp định ngưng bắn Paris và ...
    TrầnĐìnhTriết

36 năm ra khơi
    Chị LêvănTài

Nhớ về khóa 20
    ĐặngNgọcKhảm

Hội trùng dương
    CungVĩnhThành

Nẻo đường Thi Sách
    NguyễnvănĐệ

Hội ngộ
    ViễnHuy

Hai chuyến đi
    LêvănChâu

PCE08
    NgôThiệnTánh

Ông thần râu kẽm
    LêvănThạnh

Triệu đóa hồng
    NguyễnÁnh

Vĩnh biệt Nguyễn H. Tâm
    LưuĐứcHuyến

Nhớ anh trong tù
    LêKimCúc

Nhớ em trong tù
    HuỳnhvănBảnh

Một kiếp hải hồ
    LêvănTài

Mây tháng tám
    NgôThiệnTánh

Nam vang đi dể khó về
    HuỳnhKimChiến

Biển chiều
    CungVĩnhThành

Đi tìm mẩu xương xườn thất lạc
    NguyễnvănHùng

Thu, vỏ ốc và chuyến tàu khuya
    ThânHữu

Thầm hỏi? Nổi niềm
    VõKimMai

Lá thư bâng quơ
    VõthịĐồngMinh

Lục bát biển
    NgôThiệnTánh

Kỷ niệm vui buồn trên HQ9610
    ĐặngNgọcKhảm

Tìm tự do
    LêKimCúc

Nổi trôi
    NguyễnvănVang

Bố và con
    QuỳnhChâu

Những mảnh đời cải tạo
    HuỳnhKimChiến

Chuyện đàn bà
    NguyễnvănHùng

Đêm ngồi nghe thác đổ
    NgôThiệnTánh

Trang nhà khóa 20
    LêvănChâu

Bạn tôi
    NguyễnvănChín

Vượt thoát
    NguyễnÁnh

Bàn nhảm về chử Nôm
    NguyễnvănHùng

Chúng tôi muốn sống
    NguyễnvănChín

Trang cuối
    TrầnTuấnĐức


một kiếp hải hồ ( phần I )



Ông cha ta thường nói: “Không ai biết ta bằng ta,” văn thì dốt, võ thì nhác, nên không bao giờ tôi có tham vọng làm “văn sĩ” viết bài đăng báo hay đặc san, cho dù đó là đặc san của khóa. Thế nhưng vừa rồi qua điện thư, được “chủ bút” báo cho biết đặc san được in thành tập đầu tiên của khóa, nó chứa đựng biết bao tâm huyết của mỗi một thành viên trong gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp nên rất quan trọng, có thể những tờ đặc san kế tiếp, nếu có cũng không thể sánh bằng, nên đã kêu gọi tất cả Hổ Cáp 2 và thê nhi nên hưởng ứng, tham gia, đóng góp bài vở để tờ đặc san đầu tiên, “đứa con so” của khóa chúng ta có một nội dung phong phú. Vì vậy khi “hiền nội” khuyến khích, tôi cố gắng viết nhằm mục đích góp mặt với khóa, lưu lại sau này cho con cháu và cũng qua bài viết này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với những người thân yêu trong gia đình, các bạn bè và những người thân quen, nhất là các bạn Hổ Cáp 2 đã giúp đỡ tôi cách này hay cách khác từ trước tới nay.

GIẤC MỘNG HẢI HỒ


       Tôi sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Tây của Nam Việt Nam, cuộc sống êm đềm với những đồng ruộng bao la và những vườn cây xanh thắm, nhưng sau ngày 1 tháng 11 năm 1963, Dương văn Minh cầm đầu một số tướng lãnh phản bội làm cuộc đảo chánh, giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, thì quê hương tôi đã bất hạnh trở thành vùng “xôi đậu”, ban ngày Quốc gia làm chủ tình hình, ban đêm Việt Cộng xuất hiện khủng bố, phá rối. Kể từ khi tôi có trí khôn biết phân biệt được điều tốt điều xấu, nẻo chính đường tà thì tôi đã ít nhiều biết rằng Việt Cộng rất dã man, tàn ác. Trong nhóm bạn bè ở quê ra tỉnh học cùng với tôi, có một số bạn bè đã bị Việt Cộng lợi dụng, tuyên truyền đầu độc, thỉnh thoảng họ được mời vào họp tận trong “bưng”, khi trở lại trường đã rải truyền đơn cho Việt Cộng. Thế nhưng đến tuổi trưởng thành có bạn trong nhóm này lại trở thành nạn nhân của Việt Cộng, nhiều bạn đã tham gia vào hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đã hy sinh vì chính nghĩa. Bản thân tôi rất may mắn vì chưa hề bị Cộng Sản móc nối hay mời gọi, không biết là tôi may mắn vì đã không bị các bạn thân cộng móc nối hay các bạn thân cộng may mắn vì đã không móc nối tôi!
Dù đang lứa tuổi học trung học nhưng tâm tư tôi luôn luôn nghĩ rằng trong tương lai tôi sẽ tham gia vào quân đội, đem thân trai cống hiến cho Tổ quốc; tuy nhiên chưa biết sẽ chọn binh chủng nào vì lúc đó ở tỉnh, vào lứa tuổi chúng tôi chỉ biết về quân chủng lục quân Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Thời gian học lớp cuối bậc trung học, tôi và người bạn thân là Huỳnh Ngọc Ẩn (cựu sĩ quan hải quân và đang định cư ở Úc) có quen biết anh Trần Hữu Phước, là Biên tập viên ngành Cảnh sát quốc gia, anh Phước thường nói với chúng tôi là anh rất “mê” Quân Chủng Hải Quân nên đã định thi vào khóa 15 (hay 16?) sinh viên sĩ quan Hải Quân Nha Trang, nhưng vì anh nhỏ con lại ốm nên không đi được, phải đi Biên tập viên ngành cảnh sát quốc gia. Thời gian sau anh được cải ngạch và mang cấp bậc Thiếu Tá của ngành cảnh sát; sau tháng tư đen, anh bị giam ở Bến giá, tỉnh Trà Vinh, anh trốn trại bị Việt Cộng bắt lại; chúng đánh anh một cách tàn nhẫn khiến anh bị bệnh, bị tàn tật, rồi anh lại trốn trại và lần này được thoát. Anh định cư tại Mỹ khoảng đầu năm 1980, do hậu quả đòn thù dã man của Việt Cộng nên chỉ vài năm sau thì anh lìa đời, tôi không có cơ hội thăm anh để nói lời cám ơn vì nhờ anh mà sau này tôi đã trở thành HC2.
Sau khi đậu tú tài II ban B, tôi ghi danh học chứng chỉ năm thứ nhất toán, lý, hóa tại trường Đại học khoa học Sài Gòn. Do những ý tưởng về lòng ham muốn trở thành sĩ quan Hải Quân của anh Phước ăn sâu vào tiềm thức nên khi biết Quân chủng Hải quân đang tuyển mộ sinh viên sĩ quan, tôi vội bỏ học, cùng vài người bạn tình nguyện xin gia nhập, được chọn vào học khóa 20 SVSQ/HQ/NT, còn các bạn tôi thì phải chờ khóa sau hoặc qua Mỹ học khóa OCS. Vậy là tôi đã đạt thành ý nguyện. Khóa 20 được nhập trại vào tháng 3 năm 1969 và ra trường vào cuối tháng 7 năm 1970, có tên gọi là Đệ Nhị Hổ Cáp. Tôi chọn ngành chỉ huy, nơi phục vụ đầu tiên là Tuần duyên Hạm Kim Quy HQ605 thuộc BTL/HD (Hải đội tuần dương), sau gần 2 năm đi tàu với một thời gian ngắn làm hạm phó thì tôi được đổi lên đơn vị bờ trải qua các đơn vị như Căn cứ hải quân Vũng Tàu, Sở An ninh hải quân, Ty I an ninh hải quân. Năm 1975, tôi đang công tác ở Bộ chỉ huy liên đoàn đặc nhiệm 231.1 đóng tại bãi biển Thuận An, cách thành phố Huế chừng 14 cây số. Thời gian làm việc tại đây tôi quen với một cô sinh viên văn khoa nhân dịp gia đình cô về bãi biển Thuận An cắm trại cuối tuần để trốn cái nắng gay gắt của mùa hè ở Huế. Tình cảm nảy nở theo thời gian, chúng tôi yêu thương nhau và hai bên cha mẹ đã tổ chức đám cưới cho chúng tôi vào năm 1974, có nhiều bạn bè Hải quân tham dự để kết thúc một mối tình hoa mộng, đó là “hiền nội” của tôi bây giờ.

VẬN NƯỚC NỔI TRÔI


       Chiều tối ngày 23 tháng 3 năm 1975, trung tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh tiền phương quân đoàn I ra lệnh cho toàn đơn vị đang đóng tại Thuận An - Huế di tản vào Sơn Chà – Đà Nẵng. Nhờ tôi đã đón vợ và gia đình vợ về căn cứ Thuận An từ lúc trưa nên gia đình vợ và vợ tôi đã theo tàu của đơn vị di tản vào Đà Nẵng luôn. Được bạn Tôn Thất Cường đưa xe ra đón gia đình tôi về nhà người chị họ ở Tam Tòa. Chỉ được ít ngày tôi lại tiễn gia đình gồm bà ngoại già trên 80 tuổi, bà mẹ yếu đuối, đàn em nhỏ dại và vợ đang mang thai ra bãi Tiên Sa để lên tàu xuôi Nam, còn ba vợ và tôi thì ở lại. Tôi di tản theo đơn vị vào Đà Nẵng, tình hình chiến sự càng ngày càng biến động, chúng tôi có hỏi BTL/HQ Vùng I Duyên Hải nhiều lần nhưng cấp trên vẫn không có quyết định gì, mặc dù biết cứ bám theo đơn vị như vậy, đến phút cuối chắc chắn chúng tôi sẽ bị bỏ lại, thế nhưng tôi và tất cả sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc ty I an ninh Hải quân, trong đó có bạn cùng khóa là Tôn Thất Cường, vẫn ở lại đơn vị chờ lệnh di tản. Quả đúng là chúng tôi bị bỏ lại, sang ngày 29, với đầy đủ vũ khí cá nhân mang theo, chúng tôi đã tự túc tìm phương tiện về Sài Gòn, suýt bỏ mạng tại bãi biển Thanh Bình bởi mấy tên du kích Việt Cộng, cuối cùng chúng tôi may mắn lên được một hải vận hạm để về Cam Ranh. Đến Cam Ranh, tôi và ba vợ tôi phải mất mấy ngày đi tìm gia đình trong rừng người trùng trùng điệp điệp ở mấy trại tạm cư, cuối cùng gặp lại nhau tại căn cứ Markettime, ngay đêm hôm đó gia đình chúng tôi lại lên tàu di tản vào Nam cùng với toàn bộ trại gia binh của căn cứ. Chiếc HQ802 đưa chúng tôi và đồng bào di tản đến đảo Phú Quốc, tại đây được bạn Hồ văn Xách cho xe ra đón gia đình tôi vào căn cứ hải quân, ngủ lại một đêm, sáng hôm sau có tàu nhỏ đưa một nhóm vợ con hải quân, trong đó có gia đình tôi qua Rạch giá, có xe GMC chờ sẵn đón tất cả về Sài gòn, chúng tôi có mặt tại Sài gòn ngày 10 tháng 4 năm 1975.
Đơn vị chúng tôi được tái phối trí tại căn cứ Hải Quân Cát Lở - Vũng Tàu, mỗi cuối tuần chúng tôi chia phiên nhau đi phép. Ngày 26 tháng 4, tôi và Tôn Thất Cường, cùng phân đội, đi phép về Sài gòn thăm gia đình vì lúc đó vợ tôi, cùng gia đình tạm trú tại nhà người quen ở Cầu Sơn – Bà Chiểu. Sau mấy ngày thăm gia đình, tôi trở lại đơn vị nhưng đường Sài gòn – Vũng Tàu bị cắt, không lưu thông được vì có những trận chiến ác liệt giữa quân ta và quân địch, đoạn đường “Quán chim” ở Long Thành bị Việt Cộng chiếm nên tôi không thể ra lại Cát Lở được, lòng tôi nóng như lửa đốt nhưng không biết làm sao có phương tiện để đi. Ngày 28 tháng 4, tôi từ giã vợ và gia đình để đến Bộ tư lệnh Hải quân, trước khi ra đi tôi có nói cho vợ tôi biết rằng tôi không thể đưa vợ đi di tản theo tàu ra ngoại quốc được vì vợ tôi sắp sanh đứa con đầu lòng, theo tàu lênh đênh nhiều ngày ngoài đại dương sẽ rất nguy hiểm, vì trước khi rời Cát Lở, có một số tin đồn trong đơn vị là nếu Cộng Sản chiếm miền Nam thì tất cả tàu sẽ di tản ra ngoại quốc.
Tôi vào trình diện Sở An Ninh Hải Quân, chúng tôi được cấp sứ vụ lệnh muốn đi đâu tùy ý vì chúng tôi tạm trú mà khoảng thời gian này thì đang giới nghiêm và cấm trại. Tôi thả bộ ra bến Bạch Đằng, thấy chiếc khu trục hạm DER HQ1 đang đậu ở cầu tàu B, không gặp bạn nào cùng khóa mà chỉ gặp thiếu tá Khiết, khóa 15, có thời gian là chỉ huy phó của tôi khi tôi phục vụ ở CCHQ Vũng Tàu và Đại Úy Quảng, khóa 17, cũng quen với tôi trong thời gian tôi phục vụ ở Thuận An, Huế. Tôi hỏi hai niên trưởng Khiết và Quảng về phương tiện ra lại đơn vị ngoài Cát Lở thì cả hai cho tôi biết tàu sẽ không ghé Vũng Tàu mà đợi lệnh di tản luôn. Không bao giờ tôi quên lời thân tình mà Đại Úy Quãng đã nói với tôi lần gặp ấy là nếu muốn đi thì nên đem vợ vào khu gia binh Hải quân ở, chừng nào có lệnh di tản thì sẽ gọi chúng tôi vào cùng đi, nhưng tôi lo vợ sắp sanh con đầu lòng nên không quyết định dứt khoát, tôi trở về sở An Ninh Hải Quân. HQ1 tách bến khoảng 8 giờ đêm ngày 29 rạng 30 tháng 4 năm 1975 – di tản theo vận nước.

MIỀN NAM BỊ BỨC TỬ


       Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trung tá Chân, phụ tá chánh sở An ninh hải quân cho chúng tôi biết theo lệnh Đại tá Nguyễn văn Tấn, chánh sở thì kể từ bây giờ ai muốn đi đâu thì đi hoặc muốn ở lại chiến đấu thì ở lại. Tôi và Trung sĩ I Hạ, thuộc ty I an ninh hải quân là diện tạm trú, đã tình nguyện ở lại, ra ụ chiến đấu với đơn vị. Khoảng nửa đêm thì mọi người biết được Đại tá Tấn, thuộc hàng cấp bậc lớn và thâm niên của quân chủng hải quân vẫn còn ở lại nên tạm thời Đại tá là tư lệnh hải quân. Chúng tôi ở lại cho đến khoảng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 thì Dương văn Minh, Tổng thống 2 ngày và Nguyễn Hữu Hạnh, chuẩn tướng nội tuyến Việt Cộng ra lệnh toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng vô điều kiện, chờ bàn giao lại cho Cộng sản Việt Nam. Tôi cùng một số sĩ quan, nhân viên của sở và Trung sĩ I Hạ lên một chiếc xe Jeep, lái chạy về Bộ tư lệnh hải quân ở bến Bạch Đằng, thấy rải rác một số sĩ quan hải quân và sĩ quan thuộc Cục An Ninh Quân Đội, các cầu tàu trống trơn, không còn chiếc nào cả.
Mang tâm trạng đau buồn, thất vọng ê chề, tôi cùng trung sĩ I Hạ men theo đường Hai Bà Trưng, về cầu Thị Nghè (nơi Trung sĩ I Hạ ở), rồi tới Cầu Sơn đường Bạch Đằng – Bà Chiểu, nơi gia đình vợ đang tạm trú. Giả như chúng tôi đi ngả Cường Để thì hy vọng chúng tôi sẽ vào Hải quân công xưởng và có thể sẽ di tản luôn bởi vì sau này nghe nói lại đến 12 giờ trưa thì chiếc chiến hạm cuối cùng được sửa xong và rời bến. Âu đó cũng là phần số do ơn trên đã định. Tôi về đến nhà trong lúc vợ tôi đang ngồi khóc thảm thiết vì nghĩ rằng tôi đã ra đi, không biết có ngày gặp lại hay không. Khuya mồng 1 rạng ngày mồng 2 tháng 5 năm 1975 con gái đầu lòng của tôi chào đời bằng tiếng khóc oa … oa … buồn thảm theo vận nước nổi trôi!

THÂN TÙ “CẢI TẠO”


       M ang theo nổi đau buồn, đen tối của dân tộc Việt Nam, tôi đi tù mà Việt Cộng gọi một cách gian trá là “học tập cải tạo,” mà thực chất là để đày đọa, trả thù một cách hèn hạ số viên chức và sĩ quan miền Nam chứ chẳng có “cải” với “tạo” gì cả. Tôi gặp Nguyễn văn Cấp trong tù, ở cùng đại đội với nhau. Ngoài ra tôi còn gặp người bạn lúc học trung học, Trương Thanh Trai, là hoa tiêu F5, được Việt Cộng cho làm đội trưởng, và Bùi Tiến, khóa 19 SVSQ Hải quân Nha Trang được làm A trưởng. Chúng tôi rất thân nhau, sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi cay đắng với nhau, khi chuyển lên núi Bà Rá, trại Bùi Gia Mập, tỉnh Phước Long, tôi gặp Nguyễn Đình Hoàng ở tiểu đoàn sát bên.
Trong thời gian ở tù Việt Cộng, vì “đồng hội đồng thuyền” nên đa số anh em đối xử với nhau một cách thân tình, đáng nhớ. Có một kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên là khoảng năm 1977, lúc đang ở trại Bù Gia Mập, bất ngờ vợ tôi lên thăm, thăm bất hợp lệ gọi là thăm “chui” vì không có giấy phép thăm nuôi của trại. Đường xá xa xôi, phải đi bộ hơn 20 cây số đường đất đỏ xuyên rừng trong đêm mưa gió nên đến trại đã quá nửa khuya, thật là may mắn vì dù đi thăm bất hợp lệ nhưng gặp quản giáo trại tôi tương đối dễ dãi nên cho phép vợ tôi cùng ba người đi chung gồm một chị trung niên, và hai ông bà già vào ngủ lại trong dãy nhà của Bộ chỉ huy vì đêm đó có một số cán bộ đi vắng nên có nhiều giường trống. Sáng hôm sau, vợ tôi được phép gặp mặt tôi hai tiếng, từ 7 giờ đến 9 giờ, còn 3 người kia chỉ được để đồ thăm nuôi lại sẽ chuyển đến cho chồng con họ chứ không được gặp mặt vì chồng con họ ở tiểu đoàn khác.
Theo lệnh quản giáo thì sau hai tiếng gặp mặt chồng, vợ tôi phải đến trình diện cán bộ trước khi đi về, hôm ấy là ngày cuối tuần không đi lao động nên tôi và Bùi Tiến hẹn vợ tôi đứng chờ ngoài bìa rừng, trên đoạn đường cách trại ít cây số, chúng tôi trốn lên rừng trò chuyện còn Bùi Tiến đứng dưới lộ canh chừng. Ai ngờ một mặt cán bộ vệ binh đi tìm chúng tôi, ngồi trên bìa rừng, chúng tôi nghe tiếng vệ binh hỏi mấy bạn “cải tạo viên” đi trên đường: “có thấy một cô mặc áo màu cam trở ra ngã ba Minh Hương không?” và ai cũng trả lời “có,” thỉnh thoảng tên vệ binh bắn chỉ thiên như để hù dọa chúng tôi, một mặt trại cho tập họp điểm danh bất thường vì lúc đó khoảng hơn 11 giờ sáng. Tiểu đội tôi từ A trưởng trở xuống đều lo cho tôi, lúc điểm danh có một bạn tù ở tiểu đội khác đã trà trộn vào tiểu đội tôi và lên tiếng thay tôi, kết cuộc điểm danh đầy đủ nên tôi đã thoát những hình phạt mà Việt Cộng đã đề ra để phạt những “cải tạo viên” phạm lỗi. Tôi thầm cám ơn người bạn tù quá tốt, đã bất chấp sự hiểm nguy đến với bản thân để che chở cho tôi, mặc dù chúng tôi không có sự thân thiết nào ngoài tình bạn cùng một đội. Cũng nhờ đầu óc Việt cộng hơi kém thông minh, chứ nếu họ thông minh chút xíu họ gọi tôi lên văn phòng trình diện thì sẽ biết ngay chứ cần gì mà phải họp mặt để điểm danh bất thường như vậy!
Trong tù Việt Cộng có nhiều đau buồn, tủi nhục nhưng đổi lại thì được tình bạn thật vô cùng cao đẹp, sẵn sàng giúp đỡ nhau, chia sẻ vui buồn với nhau, thể hiện một tinh thần tương thân tương ái sáng ngời. Sự hy sinh vô bờ bến của gia đình, nhất là “hiền nội,” đã dành dụm từng nhúm đường, nhúm bột ngọt trong phần nhu yếu phẩm được mua hàng tháng, đã chắt chiu từng đồng từng cắt của tiền lương ít ỏi, đã chen lấn, chờ đợi biết bao nhiêu tiếng đồng hồ để mua vé xe, đã giành giựt, xô đẩy để leo được lên xe dù chỉ đứng được một chân trong suốt quãng đường mấy trăm cây số, đã tay xách nách mang lội bộ đường rừng dài đằng đẵng, phải chịu nhiều vất vả, dằn vặt cả thể xác lẫn tinh thần để thăm nuôi tôi tận chốn rừng sâu, khiến lòng tôi luôn ngậm ngùi, cảm xúc!

BỊ QUẢN THÚC TẠI ĐỊA PHƯƠNG


       S au mấy năm lao động khổ sai trong nhà tù “cải tạo” tận nơi thâm sơn cùng cốc, tôi được ra khỏi tù nhưng bị cưỡng bức về quê quán miền Tây, nơi tôi được sinh ra và sống trong thời niên thiếu để chịu sự quản chế của Việt Cộng địa phương, tức là bị “giam lỏng,” muốn đi đâu ra khỏi làng thì phải có giấy phép của ấp, xã, huyện. Trước năm 1963 quê tôi là một vùng nông thôn trù phú, dân cư đông đúc, người dân quê tánh tình hiền lành, chất phác, hầu hết sống bằng nghề nông, nhưng sau đệ nhất Cộng hòa bị sụp đổ bởi những tướng tá phản loạn ra lệnh dẹp bỏ quốc sách Ấp chiến lược, tôi là người ở nông thôn nên biết rõ ràng đó là 1 quốc sách rất hay - mặc dù lúc đó báo chí và thành phần phản chiến thân cộng cho là gom dân, bắt dân bỏ ruộng vườn để vào khu trù mật, ấp chiến lược để ở, mất tự do v.v.., nhưng nhờ vậy đã cô lập được VC với dân chúng, không còn được nông dân nuôi dưỡng, tiếp tế lương thực hay thu lúa tiền của dân. Nhiều cán bộ VC phải ra chiêu hồi. Dân chúng nhờ được bảo vệ nên chúng không thể cưỡng bách đi đào đường, đắp mô vào ban đêm như trước và nhất là không thể dụ dỗ thanh niên bỏ gia đình theo chúng. Vì vậy dù quân CSBV đã mở chiến dịch phát động xâm chiếm miền Nam từ cuối năm 1960, nhưng quê tôi vẫn yên bình. Cho nên sự dẹp bỏ này đã giúp cho Việt cộng dễ dàng lớn mạnh, nổi lên hoạt động dữ dội. Do đó trước 1975, do bị Việt Cộng tuyên truyền, nên với đầu óc thật thà dân chúng hiểu sai lạc về bản chất của Việt Cộng nên ngả theo Việt Cộng, hoặc phải bám ruộng vườn, vì không thể rời bỏ ruộng vườn đang có để ra vùng đô thị, đành “cố đấm ăn xôi,” theo Việt Cộng, để cho Việt Cộng lợi dụng, sai khiến, chịu nộp thuế cho Việt Cộng để được yên thân mà cày cấy; vì vậy số gia đình có bằng “liệt sĩ” trong ấp, xã khá nhiều. Ngược lại thành phần quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì không có bao nhiêu, mà hầu hết chỉ là hạ sĩ quan, binh sĩ hay cán bộ xây dựng nông thôn còn sĩ quan thì rất hiếm. Chúng tôi bị áp bức đủ điều, hết năm này qua năm khác, cưỡng bức chúng tôi tập trung nhiều lần, cơm đùm gạo bới để đi làm thủy lợi, vác lúa dân đóng thuế, có khi học tập đường lối “cách mạng” nhưng thực chất là để hù dọa chúng tôi mà thôi. Một năm gom lại không biết bao nhiêu lần, và mỗi lần như vậy ở ấp thì vài ba ngày, cấp xã thì một tuần, mười ngày, còn cấp huyện thì kéo dài trên dưới một tháng, vì vậy chúng tôi chẳng làm ăn gì được. Đang mùa gieo mạ, cấy lúa mà có lệnh gom thì chỉ đành để giống hư, mạ héo để cụ bị tiền, gạo mà đi làm không công cho nhà nước; cuộc sống quá bấp bênh, tương lai con cái thì mịt mù, vô vọng vì cái nhản hiệu “con ngụy” của Việt Cộng gán cho!
Dưới sự áp bức nghiệt ngã của Việt Cộng địa phương, tôi thấy không thể nào ở lại được dù đó là quê hương, tổ quốc của mình. Tôi tính đường vượt biên nhưng vì ở nông thôn, dưới những đôi mắt luôn dòm ngó của cán bộ ấp, xã Việt Cộng làm tôi không thể liên lạc được với bạn bè, một số các bạn học ngày xưa cũng muốn tìm tôi để nhờ tôi làm hoa tiêu cho chuyến đi bán chính thức do gia đình họ tổ chức cũng không được; vì vậy tôi bị mất nhiều dịp may đi vượt biên sớm. Vì không liên lạc được với bạn bè nên tôi có một sai lầm lớn, đó là đã tự đứng ra mua ghe với sự giúp vốn của gia đình vợ với ý định tổ chức cho gia đình vượt biên, trong khi với khả năng của một sĩ quan hải quân của mình và cũng đã từng đi tàu biển, thì nhiều tổ chức vượt biên rất cần, họ dành cho nhiều hậu đãi, dành chỗ cho vợ con hay thân nhân đi theo. Họ lại có tiền nên họ có thể hối lộ cho các trạm công an biên phòng hay Việt Cộng địa phương thì xác suất thành công cao hơn là tự tôi đơn thân độc mã tổ chức mà không có tiền hối lộ.
Trong thời gian này tôi phải đi buôn hai chuyến về Cà Mau để dò la đường đi nước bước, một chuyến ra tận xã Đất Mũi có thể nhìn ra tới biển ở mũi Cà Mau. Sau vài chuyến đi Cà Mau và Bình Dương bằng đường sông, tôi thấy cách này quả thật là quá khó khăn nên đành bỏ cuộc. Có một kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên, nhân dịp cậu em vợ nghỉ hè về chơi, tôi rủ thêm thằng bạn “nối khố” Huỳnh Ngọc Ẩn cùng đi buôn chung một chuyến, chúng tôi về tận Cà Mau mua lươn sống đem về bán sỉ cho các bạn hàng tại chợ quận quê tôi, tính ra thì thấy có lời trước mắt, ai ngờ cuối cùng bị lỗ nặng vì vợ tôi vốn rất sợ rắn, sợ lươn nên cứ để mặc cho các bà bạn hàng tự cân lấy, chỉ ngồi đàng xa ghi chép, kết quả bị mất gần cả trăm kí lô. Sau này bạn tôi tâm sự: “dù biết lỗ nhưng tao cũng nói vợ tao bán đi con heo để lấy vốn đi buôn với mày,” chỉ lời tâm sự đơn giản đó thôi cũng quá đủ để nói lên tình bạn thân thiết đến chừng nào. Thật sự tôi đi buôn là để dò đường và nhất là lỡ nhận tiền của ba mẹ vợ để mua ghe, nên “phóng lao phải theo lao” chứ chúng tôi đâu biết buôn bán gì! Một thời gian sau Huỳnh Ngọc Ẩn lái tàu cho một chuyến vượt biên thành công, hiện định cư tại Úc, gần nơi cư ngụ của HC2 Trần Ken, và vì có thời gian cùng đơn vị, nay lại ở gần nhau nên Ẩn và Ken cũng thường liên lạc với nhau.


( Xin xem tiếp phần II )