|| Trang Thơ Văn 20 || Nguyễn Kim Anh || Nguyễn Ánh || Huỳnh Văn Bảnh || Lê Văn Châu || Huỳnh Kim Chiến || Nguyễn Văn Chín || Lê Kim Cúc || Tôn Thất Cường || Hoàng Thế Dân || Nguyễn Xuân Dục || Mai Tất Đắc || Nguyễn Văn Đệ || Nguyễn Ðình Hoàng || Nguyễn Văn Hùng || Lưu Ðức Huyến || Trần Ken || Đặng Ngọc Khảm || Phan Ngọc Long || Vũ Hửu Lý || Ðinh Lê Thu Nguyệt || Ninh Kim Phượng || Trương Đình Quí || Nguyễn Văn Sáng || Ngô Thiện Tánh || Cung Vĩnh Thành || Lê Văn Thạnh || Nguyễn Văn Thước || Minh Trang || Trần Đình Triết || Trang Thanh Trúc || Dương Thiệu Tùng || Ðặng Tuyến || Nguyễn Văn Vang || Nguyễn Phúc Vĩnh Viễn ||


nhớ về khóa 20


       H ơn một năm trời miệt mài dưới mái trường Đại-học Khoa-học chẳng nên cơm cháo gì, nên cuối năm 1968 tôi dự định ghi danh vào các trường Sĩ-quan Võ-bị Đà Lạt, Sĩ-quan Hải-quân, Sĩ-quan Không-quân hoặc Chiến-tranh Chính-trị. Tôi không cho cha mẹ tôi biết ý định này, vì ông bà muốn bỏ tiền để lo cho tôi đi du học. Tôi lại không muốn xa gia đình và nhất là không muốn ba tôi tốn tiền. Chưa kịp thực hiện điều gì thì tháng giêng năm1969 tôi nhận được giấy gọi nhập ngũ khoá 3/69 trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ Đức và phải trình diện ngày 10/2/1969.
Qua một anh bạn tôi được biết trường Sĩ-quan Hải-quân Nha Trang đang tuyển mộ nên tôi nộp đơn xin thi. Không ngờ mấy ngày sau tôi nhận được giấy gọi đi khám sức khoẻ để học khóa 20 Sĩ-quan Hải-quân Nha Trang. Sau này tôi được biết sở dĩ chúng tôi được thu nhận mà không qua kỳ thi tuyển như các khóa trước vì Mỹ sẽ bàn giao tất cả lực lượng hải quân của họ cho hải quân Việt Nam; lúc đó vấn đề bổ sung quân số hải quân thật cấp bách, nhất là cấp sĩ quan. Ngày đi khám sức khoẻ tôi chỉ cân nặng có 44 kg, trong khi tiêu chuẩn tối thiểu được nhận là 45 kg nên tôi hơi lo. Nghe thiên hạ mách nước, sáng sớm hôm đó tôi ăn một cái bánh chưng nhỏ, uống một chai bia và ráng nín “tè”. Đợi mãi tới 11 giờ trưa mới đến phiên tôi được cân đo. Trong khi chờ đợi tôi có cảm giác như muốn nổ tung người ra; tôi phải nghiến răng chịu đựng; dáng đi đứng của tôi có vẻ như “em đây vẫn còn ...trinh”, hai chân cứ khép lại. Khi bước lên bàn cân, kim chỉ đúng 45kg, tôi mừng quýnh nhưng không dám cười, vì sợ “vòi rồng” xịt nước chữa lửa bất tử thì ê mặt. Vừa xuống bàn cân tôi liền chạy như bay ra cầu tiêu, lim dim đôi mắt trút ngay “bầu tâm sự”.
Sáng sớm ngày 12/2/69 tôi đi trình diện tại trại Bạch Đằng II thuộc Trung-tâm Huấn-luyện Hải-quân Sài Gòn. Ngày đầu tiên chỉ có chừng 20 người hiện diện. Trưa hôm ấy tôi được thưởng thức bữa cơm lính đầu tiên; tôi nuốt cơm không trôi, mặc dù phần ăn ở đấy khá tươm tất. Mấy ngày sau tôi mới quen thứ cơm lính và ăn ngon lành. Thế rồi môt tuần lại trôi qua, trại quy tụ được hơn 70 người, đa số anh em là dân thuộc diện bị động viên vào trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ Đức như tôi. Tất cả anh em chúng tôi đều phải qua thủ tục giấy tờ, tóc được “húi cua” và được phát quân trang quân dụng; quân trang thì rộng thùng thình nên chúng tôi phải đem cho thợ may sửa lại. Hằng ngày chúng tôi hầu như chẳng làm gì cả; thỉnh thoảng chúng tôi ra sân tập nghiêm nghỉ, quay phải quay trái. Lúc đó chúng tôi chưa có tin tức gì về khóa học cả. Hai tuần sau nhân số tăng lên khoảng 250 người, lập thành hai đại đội. Trại Bạch Đằng II không chứa hết số người đông như vậy, một số anh em chúng tôi phải dời xuống ở Tạm Trú Nổi HQ 9600, lúc đó đang cặp cầu trước trại Bạch Đằng II.
Chẳng bao lâu sau đó chúng tôi được biết tin rằng: Chúng tôi sẽ được thụ huấn quân sự ở Trung-tâm Huấn-luyện Quang Trung chín tuần lễ trước khi chúng tôi được đưa ra Nha Trang học chuyên môn một năm. Chúng tôi sẽ ra trường với cấp bậc chuẩn úy, năm sau tự động được thăng cấp thiếu úy và năm sau nữa sẽ lên trung úy. So sánh với các khóa sĩ quan hải quân trước đây, khi tốt nghiệp khóa sinh được mang cấp bậc thiếu úy, sau hai năm thụ huấn; chúng tôi thì mất gần một năm rưỡi tính từ ngày nhập trại mà chỉ mang lon chuẩn úy thôi. Tuy vậy anh em chúng tôi chẳng ai phiền hà gì cả, vì nghĩ rằng được vào hải quân coi như là đời tươi lắm rồi!
Trong khi chờ đợi đi Quang Trung, chúng tôi được phép đi bờ cuối tuần. Ngày thường chúng tôi cũng được cho đi dạo phố vào buổi chiều. Lúc đó chúng tôi ăn mặc không giống ai mà cứ nghĩ mình dân hải quân là “ngon lắm” nên mặt cứ vênh lên. Ngày đầu tiên được phép về thăm nhà, em gái tôi thấy tôi mặc bộ quân phục màu vàng, vai không có lon lá gì cả, đầu đội mũ lưỡi trai nên hỏi tôi: “Anh đi lính gì mà áo quần trông lạ thế!” Tôi nói đùa rằng: “Anh đi hải quân, thuộc biệt đội tàu ngầm nên anh mặc quân phục màu vàng để phân biệt với màu nước biển, nếu tàu lặn luôn không trồi lên nổi”. Những ngày đầu tôi hay đi chơi với Nguyễn Chánh Tâm, bạn học thời học lớp đệ nhất ở trường Hưng Đạo. Nhớ lại thuở đó sao chúng tôi hư đốn quá đỗi; thỉnh thoảng tôi rủ Tâm đi thụt “bi da lỗ”; tội lỗi ngập đầu mà Trời cũng cho chúng tôi đậu tú tài kể cũng lạ! Sau này anh em nhập trại mỗi ngày một đông; vì ở cùng phòng, tôi cùng Trần Đông Phước, Lê Trọng Lực, Trịnh Công Đoàn, Bùi Đình Hoan và Nguyễn văn Long họp thành nhóm sáu người đi ăn đi chơi chung với nhau. Một ngày nọ chúng tôi ngồi buồn đọc báo, thấy mục “tìm bạn bốn phương” nên chúng tôi muốn thử cho biết ra sao. Đoàn chọn đối tượng giao duyên là nhóm “Ngũ Long Công Chúa” đăng trên mục đó; anh bàn với chúng tôi và cùng chọn danh xưng cho nhóm là “Lục Mạnh Thần Kiếm” - kiếm đây có nghĩa là kiếm ngắn chứ không phải kiếm dài. Không biết Đoàn gửi thư đi lúc nào mà vài hôm sau đó đã có cuộc hẹn hò tại trại Bạch Đằng II. Một buổi trưa nọ, vào giờ chúng tôi chuẩn bị đi ăn cơm thì Đoàn được gọi vì có người tới thăm; chúng tôi biết đó là giờ trọng đại đã điểm. Đoàn đi ra cổng trước, năm đứa còn lại lẽo đẽo theo sau. Tôi thấy lố nhố ở cổng mấy cô mặc quần áo nữ sinh trắng, dáng chừng 14, 15 tuổi; vừa thấy Đoàn, các nàng cung tay chào như trong chuyện chưởng; chúng tôi bật cười khan. Hoan vừa cười vừa cà lăm: “Coi...coi...” Tôi “nóng gà” hỏi Hoan: “Ông nội muốn coi cái gì?” Vài giây sau Hoan mới nói tiếp được: “Coi chừng ở tù!” Tôi và Phước tiến gần tới cổng tò mò coi dung nhan các nàng ra sao. Gần tới nơi tôi thấy rõ nét mặt cô bé đang nói chuyện với Đoàn, tôi liền ôm bụng cười sặc sụa. Có lẽ lúc nhỏ cô bé bị bệnh kinh phong, về đêm nghiến răng dữ lắm nên mọi cái răng ở hàm trên chỉ còn một nửa. Bọn tôi lủi đi hết để Đoàn ở lại một mình chịu trận. Từ đó chúng tôi dẹp chuyện “tìm bạn bốn phương” luôn.
Trong thời gian tạm tú trên “tạm trú hạm”, tôi hay tập bơi vào buổi chiều. Tôi biết bơi từ bé nhưng không giỏi lắm, chỉ bơi được chừng 10 mét là hết hơi rồi. Lần đầu tiên nhảy xuống sông Sài Gòn bơi tôi không lượng định được sức nước chảy ra sao, nên sau khi bơi theo kiểu tự do ra phao nổi cách tàu khoảng 10 mét, tôi định vịn vào phao nghỉ mệt vài phút. Tuy nhiên, phao không có chỗ nào nắm được, tôi đành phải bơi trở lại tàu; khi tôi bơi đến chỗ cách tàu khoảng 3 mét thì tôi bị vọp bẻ. Lúc đó tôi tưởng tôi sắp chết tới nơi rồi, tôi đâm hoảng; lúc đó tôi không còn tâm trí để bơi kiểu cọ gì cả; chân thì chòi chòi, tay thì quạt tới tấp; kiểu bơi của tôi lúc đó loạn lên, chó không ra chó mà ếch cũng chẳng ra ếch; tôi chỉ biết cố làm sao để tôi với được cái phao cho mau. May thay, cuối cùng tôi nắm được cái phao vừa đúng lúc tôi thấy mệt lả người; tôi bèn ôm cái phao cứng ngắt. Khoảng mười phút sau tôi mới leo được lên tàu; lên được tàu rồi tôi liền nằm thẳng cẳng, mắt tôi nổ đom đóm. Thật hú hồn! Tôi không chết đuối hôm đó có lẽ vì tôi chưa tới số!
Vào đầu tháng 5 năm 1969, cả khóa chúng tôi trong quân phục xanh rêu được đưa lên Trung-tâm Huấn-luyện Quang Trung để thụ huấn quân sự, mở đầu cho bước đường binh nghiệp. Ngày đầu tiên tới trại Quang Trung, mọi người đều phải đi chích ngừa; tối hôm đó tôi bị lên cơn sốt. Từ thuở bé thơ, mẹ tôi lo từng viên thuốc từng miếng cơm cho tôi, đến lúc đó tôi phải lủi thủi môt mình trong cơn sốt nên tôi cảm thấy tủi thân; tôi lặng thầm nuốt từng giọt lệ trong đêm. Nằm một mình trong mùng, tôi lấy giấy viết thơ cho đào, trút bớt nỗi niềm đơn côi.
Nhớ ai con mắt lim dim,
Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
Nhớ ai hết đứng lại ngồi,
Ngày đêm tơ tưởng một người ở xa.

(Ca dao)
Trong thời gian thụ huấn ở Quang Trung, vào mỗi buổi sáng chúng tôi thường được ăn điểm tâm với món bánh mì kèm theo một quả chuối, và hai bữa trưa và chiều mỗi ngày thường được ăn cơm với món cá mối làm chuẩn; tôi ngán ngược, nuốt không trôi. Vì vậy đa số anh em chúng tôi khi được đi phép cuối tuần phải mua thức ăn khô mang theo như lạp xưởng, mắm thái v.v. Các vị huấn luyện viên cũng như cấp chỉ huy tiểu đoàn của chúng tôi biết rằng tất cả mọi người đều được chấm đậu nên vấn đề tập luyện của chúng tôi tương đối thoải mái. Những buổi thực tập tác chiến, vượt đoạn đường chiến binh, bò hỏa lực, và hành quân đêm v.v. là những dịp cho chúng tôi nếm được mùi gian khổ của lính. Lúc bấy giờ người tôi rất khỏe, cân nặng tăng vọt từ 45 kg lên 54 kg, da dẻ trở nên hồng hào rám nắng. Thế rồi hơn hai tháng huấn luyện tại Quang Trung thấm thoát qua mau, vào ngày thi bắn tôi cảm thấy hồi hộp vô cùng; chiều về sau buổi thi bắn đó anh bạn lấy bia bắn của tôi thắc mắc: “Mầy có chỉnh lỗ chiếu môn, đỉnh đầu ruồi súng mày không mà sao tao chẳng thấy lọt phát nào cả!” Tôi bảo: “Tao chỉnh rồi nhưng tao hơi bị loạn sắc, trời lại nắng đổ lửa, tao thấy bia của tao nhắm hoá thành 2, 3 cái, tao chả biết bắn cái nào!”
Rời Quang Trung, chúng tôi được đi phép vài ngày trước khi tập họp tại Sài gòn lên tàu ra quân trường Nha Trang. Chúng tôi được tự do chọn học ngành Cơ khí hoặc ngành Chỉ huy sau hai tuần lễ huấn nhục. Thuở nhỏ tôi đã giúp bố tôi trong xưởng sản xuất sườn xe đạp nên tôi chọn học ngành cơ khí. Khóa chúng tôi có 200 người xin theo học ngành chỉ huy và 70 người xin theo học ngành cơ khí. Khi còn ở trại Bạch Đằng II chúng tôi đã được khoá 19 đàn anh, hăm he sẽ quay chúng tôi như cái mền rách trong hai tuần lễ huấn nhục. Quả thật đúng như lời hăm he, chúng tôi đã trải qua hai tuần lễ giống như sống trong địa ngục trần gian vậy.
Hơn hai ngày đêm lênh đênh trên biển khơi, tôi cảm thấy mệt mỏi, rã rời vì say sóng. Khi tàu từ từ tiến vào bãi ủi trước quân trường, tôi ra đứng trên sàn tàu, ngắm nhìn bãi cát vàng cong cong xa ngút ngàn cùng hàng cây thông xanh trên bờ như đang reo vui lả lơi trong làn gió mát lướt qua. Đây đó lác đác vài mái nhà xây chấm phá đủ màu sắc. Nắng hanh vàng toả sáng trên con đường nhựa như ôm ấp bãi cát dài, vàng óng ánh, dọc theo bãi biển trước mắt. Cảnh vật chung quanh hầu như vắng ngắt, ngoài tiếng sóng vỗ rì rào. Phía bên kia đường là tòa nhà uy nghi hai tầng màu vàng nhạt, sừng sững trên khu đất rộng, có con đường trải nhựa khá rộng dẫn từ cổng vào bên trong. Có khá nhiều cây khuynh diệp với cành lá rũ. Không gian nơi đó có vẻ tĩnh mịch, trầm lặng. Tất cả cảnh trí chung quanh kết hợp hài hoà tạo nên một bức tranh đẹp tuyệt vời. Đó là trường Sĩ-quan Hải-quân Nha Trang mà chúng tôi sắp sửa bước vào buổi chiều hôm ấy. Đang thả hồn theo mây gió thì tôi nghe lệnh: “Tất cả hãy lên bờ, tàu đã ủi bãi xong!”
Khi rời tàu lên bãi thì tôi thấy đã có cán bộ đàn anh chờ sẵn trên bãi. Chúng tôi được hướng dẫn vào quân trường; sắp hàng ngay ngắn xong xuôi thì đã hơn 6 giờ chiều. Liền sau đó đàn anh bắt đầu túa ra, bao vây chúng tôi, la hét vang trời; họ thốt ra những lời mắng chửi truyền thống làm chúng tôi giận tím gan – đó là những câu được truyền lại từ khóa trước trong chương trình huấn nhục mà tôi được biết sau này. Bầu không khí lúc đó thật căng thẳng khiến chúng tôi hoang mang lo sợ; tôi bắt đầu tỉnh hẳn. Chỉ mới nửa tiếng đồng hồ trôi qua trong vòng người bát nháo đó tôi tưởng chừng như đã trải qua cơn ác mộng dài hàng thế kỷ. Thế rồi chúng tôi được lệnh vác ba lô chạy 20 vòng, nhưng sự thật chúng tôi chỉ chạy một vòng quân trường, khoảng hơn 2 cây số. Có khá nhiều người hoảng quá, “nín tè’ không nổi nên chơi đại trong quần. Khi chạy qua dãy cầu tiểu có một đàn anh chờ sẵn ở đó chận tôi lại; anh chỉ vào cầu tiểu hỏi rằng thơm hay thúi. Tôi trả lời rằng thơm. Anh bảo rằng thơm thì liếm đi. Tôi đang khát nước nên liền chu mỏ hút một cái chụt ngay chỗ ống nước chảy xuống bồn rồi chạy tiếp; tôi cảm thấy cổ họng tôi có vị ngòn...ngọt. Tối hôm đó chúng tôi được phân bố vào các dãy nhà tiền chế cạnh phạn xá – nhà ăn, để nghỉ ngơi.
Hai tuần lễ đầu tại quân trường Nha trang là giai đoạn huấn nhục; trong suốt hai tuần lễ đó, chúng tôi bị hành hạ ngày đêm, vì xưa kia chương trình huấn nhục kéo dài một tháng. Khi đến lượt khóa 19, khóa chúng tôi và ba khóa kế nữa thì chương trình đó được rút ngắn, chỉ kéo dài hai tuần lễ thôi, nhưng cũng phải đủ lễ bộ như trước. Trong thời gian huấn nhục đó chúng tôi không được tắm, đánh răng, súc miệng, kể cả nước cũng không được uống; chúng tôi chỉ được uống trong bữa ăn thôi. Mỗi sáng sớm khi còi hụ vang lên, chúng tôi ngồi chờ đi ăn sáng rồi về phòng lo đánh giày cho bóng.
Chúng tôi mặc áo thun trắng, quần đùi xanh dương đậm, ngồi làm việc đánh giày trong thế canh chừng đàn anh đến; khi thấy đàn anh vào phòng thì người thấy trước phải hô nghiêm rồi tất cả đứng nghiêm, nếu không hô và đứng nghiêm chào kịp thời thì bị phạt; vào buổi sáng như vậy thì chỉ bị phạt hít đất hay “thăng thiên độn thổ” - hai tay để sau đầu trong khi hai chân nhảy lên, gót chân phải đụng vào mông, vì không phải là giờ “quay chính thức”. Có lần tôi bị phạt “phơi khô mực” – hai chân gác lên thành giường, đầu chúc xuống đất. Thi hành hình phạt đó được khoảng 15 phút tôi cảm thấy mát ở háng, mặt mày xây xẩm; tôi nghĩ chắc tôi bị trúng gió. Liếc qua liếc lại không thấy bóng dáng đàn anh, tôi bèn thả thân người cái “bịch” xuống sàn nhà nằm thẳng cẳng; thế là tôi khám phá ra mình không bị trúng gió mà bị “lái gió”, vì buổi sáng hôm ấy tôi quên mặc quần lót. Mỗi ngày vào buổi trưa sau giờ cơm mới là giờ đàn anh quay đàn em thật sự; trưa nào không có đàn em nào vào bệnh xá thì đàn anh chưa chịu tha. Phải nói đó là giờ cực hình – kéo dài khoảng hai tiếng đồng hồ; đôi lúc có lẽ quá “hăng máu”, đàn anh chúng ta “quay” quá tàn bạo! Trước khi bước vào phòng ăn, chúng tôi được thông báo bằng cái bảng để ngoài cửa cho biết chúng tôi sẽ được đàn anh cho chơi trò gì trong bữa cơm hôm đó. Có bữa nọ chúng tôi phải sắp hàng đi vào phòng ăn bằng đầu gối; lối vào nhà bếp toàn là đá sạn li ti nên ai cũng bị rướm máu. Khi đi vào bên trong phòng ăn tôi đã thấy đàn anh đang chễm chệ ngồi trên ghế và bắt chúng tôi đấm bóp. Tôi đứng sau lưng một “quan” đàn anh để sẵn sàng phục vụ; vô tình chúng tôi nhận diện nhau; chúng tôi đã biết nhau khi còn học dưới mái trường đại học. Trong lúc lòng còn đang sôi sục vì căm hờn trò huấn nhục của “quý quan”, sẵn dịp tôi cứ nhắm chỗ nào xương nhiều hơn thịt đấm lia lịa. Quan nhà ta cảm thấy tôi đánh chẳng êm ái gì cả nên quan quay lại hỏi tôi có biết đấm bóp không. Vì nghĩ rằng chúng tôi đã quen biết nhau từ trước nên tôi vui vẻ trả lời tếu rằng: “Thưa niên trưởng, tôi nhỏ con nên chưa biết “đấm” ai bao giờ, còn “bóp” thì bảo đảm nhuyễn...nhừ lắm đấy!” Thế là “quan” phán ngay: “Anh làm 20 cái thăng thiên độn thổ ngay cho tôi coi!” Sau màn đấm bóp tới phiên chúng tôi ăn cơm; quan đàn anh đổ tất cả các thức ăn và canh vào chậu cơm rồi để dưới gầm bàn; bốn người ăn chung một chậu; “quan” đàn anh bắt chúng tôi phải quỳ theo kiểu chó, dùng muỗng múc, phải vừa ăn vừa sủa. Ai cũng phải ăn cho nhanh để lấy sức vì thời gian ăn có hạn định giờ. Phùng Ngọc Dồi là một trong ba người cùng ăn chung chậu cơm với tôi; thấy đàn anh đứng sau lưng ra lệnh, anh ngửa cổ sủa hăng quá nên quên ăn, tới lúc Dồi nhìn lại thau cơm thì cơm và thức ăn đã gần cạn. Trưa hôm đó vì không có đủ lượng cơm trong bụng mà lại phải chịu đựng hai giờ huấn nhục tiếp theo nên anh lả người; khi về tới phòng anh chửi um sùm.
Trò chơi chúng tôi sợ nhất là trò “phơi thây chiến địa”. Mới thấy bốn chữ này ở bảng thông báo tại phòng ăn thì ai cũng cảm thấy tâm thần thất điên bát đảo rồi. Với trò chơi đó, đàn anh bắt chúng tôi mặc ba lớp quần áo, giày mang ngược và phải mang theo “ba-lô” và mùng mền chạy ra thao diễn trường trải nhựa đường đang nóng cháy vì nắng gắt. Chúng tôi phải nằm xuống sân, lấy ba-lô làm gối, đắp mền, hai chân và hai tay làm bốn cọc giăng mùng lên, nằm như đang ngủ vậy. Trong khi thi hành trò chơi đó, chúng tôi cảm thấy vừa nóng vừa ngộp thở, mồ hôi tuôn ra như tắm. Đã chịu đựng cái nóng bức như vậy, tôi còn phải chịu hít thêm mùi “hương đồng cỏ nội” của anh bạn nằm kế bên nữa mới khổ! Không biết anh ăn cái giống gì mà anh cứ chột bụng luôn trong suốt thời gian chúng tôi diễn trò đó, thỉnh thoảng tôi cứ nghe tiếng “bọp bọp...rẹt rẹt....rè rè”. Đàn anh thấy cái mùng nào xẹp xuống thì cho người khiêng đi bệnh xá ngay, vì đương sự đã bị ngất xỉu do sốt nắng.
Nhiều người vì quá mệt mỏi, không thể tiếp tục thi hành lệnh phạt thì bị ghép tội chống đối; đàn anh bắt anh đó phải cởi áo ra, nằm ngửa xuống sàn xi măng hoặc vỉ sắt lật ngửa lên đầy góc cạnh rồi ra lệnh cho hai người trong bọn chúng tôi kéo anh đi. Bị kéo như vậy, lưng nạn nhân bị tróc da, trầy trụa rướm máu. Nguời bị nặng nhất là Trần Ken. Có lẽ ngày nào anh không bị phạt là ngày đó anh may mắn lắm vì anh bị đàn anh ghìm ngay từ đêm đầu tiên. Cớ sự là anh không chịu đựng được cơn đau buốt ở đầu gối vì đàn anh bắt chúng tôi quỳ gối trên nền đất quá lâu mà anh lại quỳ tại chỗ có nền sỏi li ti – đó là lời tâm sự của anh cho tôi biết sau này. Có lần tôi chứng kiến anh bị kéo trên nền nhà bởi cái tội thi hành lệnh phạt thăng thiên độn thổ không nổi nữa; ba bốn đàn anh bao vây anh hò hét, bắt hai đàn em nắm chân anh và nói: “Tôi đếm 1, 2, 3, nếu hai anh không kéo được tới đầu nhà – hơn 3 mét, thì đến lượt hai anh sẽ bị kéo. Đàn anh đếm tới số 2 thì Ken đã bị kéo thẳng cẳng tới đích rồi. Sau màn bị kéo ngoài bãi cát rồi trên cả vỉ sắt, hết lưng tới bụng đều bị trầy trụa, rướm máu trong một buổi trưa nọ; Ken được một đàn anh tên Nguyễn Cư, cảm thông tính gan lì gồng mình chịu đựng của anh, tìm cách hướng dẫn đưa anh ra khỏi hiện trường, rồi hướng dẫn anh về phòng nằm sau đó. Anh nằm ngủ thiếp trên giường trong cơn mê sảng suốt buổi chiều hôm ấy. Rồi anh được cho đi bệnh xá để được xức thuốc đỏ khắp mình mỗi ngày, cả lưng lẫn bụng; cũng may nhờ Ken thủ sẵn chai thuốc bột penicillin, anh nhờ y tá bệnh xá giúp rắc bột trụ sinh đó lên vết thương trên lưng và anh tự rắc thuốc bột đó trên bụng sau mỗi lần được xức thuốc đỏ ở bệnh xá quân trường, bột trụ sinh màu trắng đó lỗ chỗ khắp người anh, lúc xưa trông từ xa tôi tưởng đó là bông gòn; nhờ vậy vết thương anh mau lành mà không để lại vết sẹo sau này. Tôi biết được chi tiết tên đàn anh giúp anh thoát vòng vây “hăng máu” và việc điều trị vết thương là do Ken kể lại khi chúng tôi ôn chuyện cũ. Sau đó vào một đêm nọ, chúng tôi được lệnh tập họp trên giảng đường. Đang lúc chúng tôi bị bắt ngồi thẳng lưng, hai tay duỗi thẳng để trên bàn chờ lệnh thì Ken được tiểu đoàn trưởng cho bước lên bục giảng phát biểu ý kiến, xác nhận rằng anh có bị đàn anh “hành hạ” tàn bạo hay không – có tin đồn rằng người trong khóa tố cáo qua người thân có địa vị trong quân đội, nhưng Ken không có ý kiến rõ rệt, rồi vừa mỉm cười vừa ngó chúng tôi đi qua đi lại giống như giám khảo trường thi vậy; sau này Ken cho tôi biết anh không nói lên cảm tưởng rõ rệt vì sợ mắc bẫy đàn anh. Ngồi dưới giảng đường, chúng tôi hồi hộp, nghẹt thở “teo chim” hết, vì nghĩ rằng chúng tôi sẽ bị phạt tập thể nếu Ken phát biểu linh tinh, tố cáo đàn anh. May thay, sau đó chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì chúng tôi được đàn anh cho về phòng nghỉ bình yên. Theo tôi nghĩ, sở dĩ Ken cứ bị phạt vì cá tính anh rất nguyên tắc, nghĩ sao nói vậy, không biết huyền biến, uyển chuyển trong lời ăn tiếng nói tùy thời cơ; tôi và Ken từng cùng phục vụ trên HQ 9610 khoảng năm rưỡi sau ngày ra trường.
Trong thời gian huấn nhục, sau buổi cực hình khoảng hai tiếng vào buổi trưa, vào bữa cơm chiều khi về phòng nghỉ đàn anh cũng không tha; chúng tôi vẫn bị “quay” lai rai tới 9 giờ tối, đó là giờ phải tắt đèn đi ngủ. Khi lên giường nằm mỗi đêm tôi lại mơ tưởng tới ly nước đá chanh đường, lon cô-ca, chai li-mô-nát... Lúc bấy giờ chúng tôi khát nước và thèm ngọt kinh khủng. Vào một đêm nọ, lúc quá 10 giờ đêm, tôi quá khát nước; chịu không nổi cơn khát nên tôi định vào bồn chứa nước xả cầu múc một ly uống cho đỡ khát. Vừa ngồi dậy, tôi thấy lờ mờ bóng dáng một đàn anh; anh tiến lại gần, ghé vào tai tôi hỏi nhỏ: “Có muốn uống nước không?” Nghe vậy, tôi mừng như bắt được vàng; tôi nghĩ thầm: sao hôm nay có “quan” nào tốt bụng thế. Sau đó anh ta âm thầm dẫn tôi đi xuống thùng nước trà để sau phạn xá; anh múc một ca đầy đưa cho tôi. Ôi! Sung sướng xiết bao! Tôi chưa bao giờ được uống một ca nước trà nào ngon ngọt như thế này! Uống vừa hết, chưa kịp liếm môi, tôi lại thấy nguyên cái nón sắt chứa đầy nước trà trước mặt; “quan” vừa đưa cái nón sắt đó cho tôi vừa phán rằng: “Hãy uống cho hết, nếu đổ ra ngoài bị phạt đấy nhé!” Tôi cố uống theo lệnh “quan”, nhưng uống hết gần nửa nón thì bụng tôi căng cứng ra, không thể chứa thêm được nữa, nước đổ ra ngoài ướt cả quần áo. Quan nhà ta không phạt tôi nhưng lại hăm he: “Hãy yên lặng từ từ về phòng ngủ; nếu ọc ra anh sẽ bị kéo đấy nhé!” Tôi sợ quá, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó; tôi ráng lết về phòng giống như các bà đang bụng mang dạ chữa ở Việt nam phải chờ vào “xưởng đẻ Từ Dũ” vậy! Đêm hôm đó, tôi hầu như thức suốt đêm để đi tiểu; cổ tôi đắng nghét, bong...bong...bóng tôi như muốn bể; tôi thở phì phò muốn xỉu; tôi tưởng rằng mình sẽ phải hát bài “xuân này con không về”...vĩnh viễn rồi!
Sau đêm thức trắng đó, vào nửa đêm hôm sau, Việt Cộng pháo kích vào phi trường cạnh quân trường chúng tôi đang thụ huấn. Khi tiếng còi báo động hụ vang, cán bộ đàn anh bắt chúng tôi chạy hết ra ngoài sân, bảo chúng tôi muốn núp chỗ nào cũng đuợc vì không có hầm trú ẩn, vì ở trong nhà sợ sập chết nhiều hơn. Tôi chạy thục mạng ra bãi cát trong lúc có lằn chớp sáng loé lên và có tiếng nổ đinh tai nhức óc. Khi băng ngang nhà bếp, tôi thấy đàn anh cũng túa chạy ra; tôi vừa chạy vừa đưa tay chào không bỏ xuống; cho tới khi tôi nghe tiếng la: “Chết tới nơi rồi mà chào cái gì!” Tôi giật mình, ngầm tự trách sao mà mình ngớ ngẩn thế! Lúc đó chào kính đối với chúng tôi là một thứ cử động phản xạ tự nhiên; mỗi ngày chúng tôi không nhớ hết là mình đã chào bao nhiêu cái rồi. Khổ nhất là những anh em sinh năm 1950, tình nguyện gia nhập khoá 20 chúng tôi có lẽ nhằm dệt “mộng hải hồ”! Trước ngực những anh em này lúc nào cũng phải đeo một cái núm vú trẻ con; những anh em này gặp đàn anh thì khỏi chào mà phải đưa cái núm vú lên bú theo lệnh đàn anh đưa ra.
Thế rồi chỉ còn một ngày nữa là giai đoạn hai tuần lễ huấn nhục được kết thúc; chúng tôi thở phào nhẹ nhõm như sắp sửa trút đi gánh nặng ngàn cân. Tối hôm đó là lễ nhận bố con. Khoảng 9 giờ đêm, một đàn anh tên Trọng đến tìm tôi, anh cho biết anh đã nhận tôi làm “con” và bắt tôi ra mắt “bố” bằng mười cái “thăng thiên độn thổ”. Tôi vừa nhảy vừa chửi thầm: “Mẹ, thằng chết toi! ...” Tới giờ này mày vẫn không tha ông sao?” Ngày cuối cùng của giai đoạn huấn nhục, chúng tôi được đưa đi tắm “suối tiên” và suối dầu để chiều đi phép bát phố. “Suối tiên” là một vũng nước rửa chén ở nhà bếp chảy ra, lợn cợn thức ăn thừa. Sau khi dầm mình trong đó, chúng tôi bước lên, tôi ngửi thầy thân người mình có mùi chua...lè. Sau đó chúng tôi lại phải bước vào suối dầu. Đó là cái thùng sắt to trong có chứa nước trộn với dầu nhớt dơ. Sau khi tắm “suối dầu” ra, người chúng tôi dính đầy dầu nhớt. nhưng chúng tôi không được phép tắm bằng xà-bong mà phải ra bãi cát chà cho sạch dầu rồi dùng một “sô” (thùng) nước để chùi cho sạch cát bẩn. Tuy nhiên thân người chúng tôi vẫn còn hôi, bẩn thỉu; dầu vậy, chúng tôi ai cũng tỏ ra hân hoan ra mặt; những nỗi oán thù, giận hờn khóa đàn anh cũng tự nhiên tiêu tan hết; trong lòng chúng tôi lúc đó chỉ còn biết nghĩ đến buổi chiều hôm ấy sẽ được ăn uống no say, đền bù lại suốt hai tuần hỏa ngục, ăn uống lại thiếu thốn. Khi chợt nhớ lại hai tuần lễ qua tôi quên việc đi cầu, vì tôi bị căng thẳng quá mức; tôi liền chậm rãi đi vào nhà cầu, thả hồn theo cái khoái thứ tư của đời người. Khoảng 5 giờ chiều hôm ấy, chúng tôi mặc quân phục tiểu lễ, cùng khoá đàn anh, “bố con” rủ nhau đi bờ. Chưa bao giờ chúng tôi thấy kiêu hùng như lúc bấy giờ. Lúc ra đường thấy thằng nào có hành vi hay lời nói chướng tai gai mắt là chúng tôi có thể ra tay ngay. Đàn anh chúng tôi cho biết ngày đó các chàng hippy, du đãng ở Nha Trang sợ bị đòn nên trốn mất biệt!
Sau khi chè chén tại nhà hàng dọc bờ biển, tôi đi lang thang một mình ra phố định đi xem xi-nê thì gặp Dung, con gái của bạn mẹ tôi. Dung cho tôi biết rằng Dung theo chồng, một người lính quân cảnh đóng tại Nha Trang. Dung ngạc nhiên khi gặp tôi và thăm hỏi tôi đủ điều. Cô thắc mắc tại sao người tôi bẩn thỉu, lại có mùi chua chua khen khét. Tôi nói đùa rằng: “Đó là mùi ‘hoa biển’ đấy! Ai đi tàu cũng có mùi ‘hương thơm’ này! ...” Tôi hỏi cô nhà ở đâu để lần sau tôi tới thăm, nhưng cô bảo tuần sau cô sẽ vào quân trường thăm tôi. Dung chơi thân với em gái tôi nên tôi coi cô như em tôi vậy. Cuộc thăm viếng của Dung tại quân trường làm khổ tôi cả tháng trời. Hôm đó tôi đưa cô vào câu lạc bộ sĩ quan uống nước. Khi chúng tôi vào bên trong câu lạc bộ thì chỗ ngồi dành cho khóa đàn em không còn ghế trống nên tôi đưa cô đến ngồi bàn dành cho khóa đàn anh. Qua hôm sau, tôi bị phạt vì tội “dám ngồi bàn của ‘quan’ đàn anh”. Mỗi ngày ba buổi: sáng, trưa và chiều, sau mỗi bữa ăn tôi phải đeo “ba-lô” chứa đá và xách súng chạy mười vòng sân đại đội, khoảng 2km. Lư Thế Khiêm ở cùng phòng với tôi hỏi: “Mầy có biết con nhỏ mầy dẫn vô câu lạc bộ là ai không?” Tôi bảo cô là bạn của em gái tôi. Tôi chết lặng trong lòng khi Khiêm cho tôi biết cô làm điếm ở 2C Nguyễn Du. Tôi bèn vội biên thơ cho cha mẹ cô biết; ông bà nhờ tôi khuyên cô hãy trở về nhà. Tôi tới tìm cô nhưng cô lánh mặt; từ đó tôi không còn muốn gặp cô nữa. Tôi bị đàn anh phạt ròng rã gần một tháng trời. Tới dịp Tết Trung Thu, tôi được tha với câu nói kèm theo của “quan” đàn anh làm tôi đau lòng: “Hôm nay là ngày Trung Thu, tôi tha anh để anh vui với tết Nhi Đồng!”
Một tháng sau nhận được thơ của bạn gái tôi ở Sài Gòn cho biết cô ấy sẽ ra Nha Trang thăm bà cô và sẽ ở lại đấy hai tuần. Khi cô ghé quân trường đón tôi, cô muốn vào thăm viếng quân trường, nhưng tôi lại e sợ, không dám dẫn cô vào câu lạc bộ. Tôi leo ngay lên xe Honda cô mượn chở thẳng ra phố vì e các “quan” đàn anh thấy được sẽ khốn khổ thêm một tháng nữa thì tàn đời!
Sau giai đoạn huấn nhục, chúng tôi vẫn bị đàn anh phạt lai rai. Chúng tôi không cần học quân sự nữa; chúng tôi chuyên chú học tất cả các môn chuyên ngành như: hải hành, vận chuyển, trọng pháo, cơ khí, điện tử, kỹ nghệ hoạ.v.v. Thời gian học rút ngắn hai năm thành một năm nên bài vở thật nhiều. Ngoài phần chuyên môn, chúng tôi còn được học thêm môn Anh Văn do cố vấn Mỹ dạy, và môn thái cực đạo do trung sĩ Kim, một quân nhân Đại Hàn, võ sĩ tứ đẳng huyền đai dạy. Ai thích học nhảy đầm thì học nhảy với hai bạn đồng khoá: Đặng ngọc Quỳnh và Trần Gia Định.
Các sĩ quan chỉ huy của quân trường ngợi khen thành tích của khoá chúng tôi và luôn dành tình cảm ưu ái dối với anh em khoá 20 chúng tôi, vì khóa chúng tôi “chơi trội” mọi bộ môn, từ thể thao cho đến văn nghệ. Được thương mến nhất có lẽ là ban văn nghệ khoá 20 gồm có: tay trống Phan Thiết Dũng, ngón dàn guitar solo kiêm ca sĩ chuyên ca nhạc tiền chiến Đỗ Thế Trác, tay đờn guitar bass Phạm Văn Hùng, ca sĩ hát nhạc tình tự quê hương Đỗ Thanh Vẽ, và ca sĩ chuyên hát nhạc ngoại quốc Lưu An Huê. Huê nổi tiếng trong quân trường với bản nhạc ‘ruột’ là: “Don’t Let Me Down”.
Ngày khoá đàn anh ra trường, chúng tôi khấp khởi mừng thầm vì mình được đeo “lon” mới, chẳng phải e dè sợ sệt điều gì nữa, nhất là việc được dọn vào khu nhà xây gạch khang trang, mát mẻ. Ở chung phòng với tôi có Nguyễn Hữu Lành, anh đẹp trai trắng như Tây; chúng tôi đặt tên cho anh là Paul Lành, tiếng Việt đọc là “Bôn Lành”. Một hôm anh đi bờ với cô bạn gái Sài Gòn ra thăm; tối hôm đó khi về phòng anh em phát giác Lành mặc quần lót lộn bề trái; chúng tôi, nhất là Phùng ngọc Dồi chọc anh: “Mày đã làm gì khi dẫn em đi chơi? Khai thật đi! Lý do nào khi đi mày mặc bề phải mà về mày lại mặc bề trái.” Lành cực lực gân cổ cải chính. Chúng tôi bèn đòi khám “chim”; chúng tôi rượt anh chạy lòng vòng trong phòng; tức quá anh rơi lệ!
Đàn anh ra trường được một tháng thì khóa 21, đàn em của chúng tôi vào. Những trò chơi cũ mà chúng tôi đã chịu đựng, đã nếm qua lại được đem ra áp dụng cho khóa đàn em. Tôi cũng ra la hét ỏm tỏi, nhằm mục đích đùa chơi cho vui hơn là nhằm mục đích trừng phạt răn đe. Tôi thường hay tìm đến một anh ở cùng xóm với tôi mà anh đã bảo cha mẹ anh biên thơ “gởi gấm” cho tôi. Có lần tôi bắt anh leo lên cây làm trò khỉ. Vừa thấy con chim sẻ vụt bay qua, tôi nảy ra ỷ nghĩ đùa với anh. Mẫu đối thoại tiếu lâm như sau:
Trên cây có mấy con chim?
Thưa niên trưởng, không có con chim nào hết.
Chắc chắn có một tổ chim; “mò” không ra thì hãy nhảy xuống đất cho tôi!
Anh do dự một hồi, và như hiểu ý tôi anh đáp rất hùng hổ:
Dạ có một con chim đang ngủ trong tổ.
Chim lớn hay nhỏ?
Dạ, vừa vừa.
Chim màu gì?
Dạ chỗ nâu, chỗ đen, chỗ hồng.
Chim vừa vừa mà đã mọc lông chưa?
Dạ, tùm lum đầy mình!
Vừa trả lời xong như vậy, anh nhịn không được, bèn bật cười khe khẽ. Tôi vừa cười vang, định hỏi tiếp nữa nhưng vô phúc cho anh là lúc đó Phùng Ngọc Dồi đứng xa xa chứng kiến câu chuyện đối đáp từ đầu; Dồi bèn bước tới kéo anh ra riêng, quay anh tả tơi, thân thể anh mềm như cọng bún thiu! Dù sao, đa số anh em chúng tôi không quay đàn em tàn bạo như chúng tôi đã chịu đựng trong thời gian chúng tôi “được” đàn anh huấn nhục trước đó.
Sau ngày huấn nhục khóa đàn em chấm dứt, chúng tôi bận rộn bài vở, học hành nên chẳng tha thiết gì chuyện “quay” đàn em nữa. Ngoài việc học lý thuyết, chúng tôi được đi xuống Chụt để ra khơi thực tập, nếm mùi gian khổ của công tác hải hành. Vài người trong khoá chúng tôi ghi danh đi học khóa người nhái khi mãn khoá. Trong số các bạn đó có bạn Nguyễn Minh Cảnh rất nổi tiếng trong biệt đội đó. Cảnh là hung thần của các đặc công Việt-cộng. Tôi gặp lại Cảnh năm 1972 khi tôi phục vụ trên HQ 504; tàu chúng tôi chở toán người nhái và địa phương quân ra Trường Sa lập căn cứ tại hòn Nam Yết. Lúc đó tôi trông thấy Cảnh vẫn cục mịch, chậm chạp, lè nhè như xưa nhưng khi anh ra đòn thì thật chính xác lại nhanh nhẹn. Tôi đùa với anh trong phòng ăn sĩ quan của chiếc Dương vận hạm: “Không hiểu sao giới chỉ huy người Nhái lại chọn mày?” Vừa nói xong lời phê phán đó, tôi thấy tay anh đưa ra, anh chộp ngay đôi đũa để trên bàn; trong nháy mắt đầu đũa đã xẹt tới cách mắt tôi độ 5 cm; anh cười nói: “Tao móc mắt mày trong vòng vài giây đồng hồ đấy con ạ! ...”
Lúc gần tới lễ Quốc khánh, chúng tôi được lệnh tập diễn hành khá nhuần nhuyễn. Tập được mấy ngày thì có lệnh bãi bỏ; thế là chúng tôi mất dịp được về Sài Gòn thăm nhà, kể cũng đáng buồn thật; bù lại, chúng tôi được phép mời thân nhân đi tàu ra Hòn Khoai du ngoạn một ngày. Lê Trọng Lực đưa hai cô bạn quen đi theo. Tôi chầu rìa phụ anh lo săn sóc hai cô. Khi ra tới đảo, chúng tôi “lo tắm” chứ không “lo tán”; còn hai cô thì ngồi trong bóng mát, có lẽ hai cô vừa ăn vừa ngắm thân hình nhiều xương ít thịt của chúng tôi. Khoảng 3 giờ chiều tàu rút bãi ra về. Ngồi trên thành tàu hứng gió hiu hiu thổi một lúc, mặt mũi hai cô trông tái xanh, mồ hôi trán rịn ra, nét mặt thì bí xị. Tôi tưởng hai cô trúng gió, bèn tìm người hỏi mượn dầu gió nhưng chẳng ai có sẵn lúc đó. Lực ngồi cạnh hai cô mãi tới khi tàu ủi bãi trước quân trường; hai cô tức tốc đi thẳng vô cầu tiểu ngay sau đó. Tôi đứng chờ; mãi khoảng chừng hai mươi phút sau hai cô khoan thai bước ra; mặt hai cô trở nên tươi như hoa, mỉm cười e thẹn, chừng như chẳng có chuyện gì ầm ỹ xảy ra trước đó. Té ra hai cô đã “nín tè”, gồng mình chịu trận; trong khi chúng tôi cứ đinh ninh là hai cô bị trúng gió!
Tôi có nghe những khóa trước trong chương trình hai năm huấn luyện tại quân trường Nha trang, các khóa sinh được dạy đủ điều, kể cả lễ nghi tiếp tân của Tây phương. Với khóa của chúng tôi vì rút ngắn còn có một năm nên không được học điều đó. Vì thế chúng tôi gặp cảnh dở khóc dở cười khi chúng tôi được đưa đi thăm một đơn vị quân đội Đại Hàn. Buổi trưa hôm đó chúng tôi được họ khoản đãi bữa ăn theo lối “self service” (tự lấy thức ăn). Phần lớn anh em chúng tôi, trong đó có tôi chưa biết nghi thức ăn uống theo kiểu này nên chúng tôi cứ đứng tại bàn bày thứ ăn, dùng nĩa riêng của mình ghim vào thức ăn trong khay. Khi trở về quân trường buổi chiều hôm đó, đại úy Tâm, với biệt danh “Tâm mát”, sĩ quan tiểu đoàn trưởng tập họp chúng tôi lại và chửi chúng tôi ngu như chó. Ông làm như chúng tôi sinh ra trong gia đình quý tộc không bằng.
Qua Tết, chúng tôi khá bận rộn với việc ôn bài vở để chuẩn bị thi ra trường. Một số anh em cũng bỏ thì giờ để hoạch định chương trình lễ mãn khoá. Lần đầu tiên trong lịch sử trường sĩ quan hải quân, khóa 20 chúng tôi thực hiện mỗi người một chiếc nhẫn kỷ niệm ra trường giống như trường sĩ quan Võ-bị Đà Lạt. Lưu Quốc Bảo là người vẽ kiểu, Nguyễn Hùng Tâm là người lo việc đặt làm nhẫn tại Sài Gòn.
Kết quả thi cuối khóa, tôi được xếp hạng 20 trên 70 sinh viên ngành cơ khí và có tên trong danh sách dự khuyết đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Mỹ. Rủi thay, cuối cùng chẳng có ai trong danh sách chính thức bị “đau ốm” hết nên tôi mất dịp được xuất ngoại.
Lễ mãn khóa tổ chức thật long trọng vào ngày 18 tháng 7 năm 1970. Buổi văn nghệ chia tay được diễn ra thật hào hứng, đầy màu sắc. Người tình của lính biển tham dự khá đông trong đêm văn nghệ đó. ”Bố” tôi trước khi ra trường có bàn giao “em gái hậu phương” của anh lại cho tôi, nhờ tôi “chăm sóc” hộ. Cô thuộc loại “lực sĩ cử tạ” nên ít khi tôi dám tâm sự cùng cô; sợ cô nổi trận lôi đình giơ tay bớp cho tôi một phát chắc tôi chẳng còn răng ăn cháo. Đêm hôm đó, cô mặc áo đầm rất tây; trông cô khá mặn mà, sặc sỡ dưới ánh đèn màu. Sau khi chỉ huy trưởng quân trường cùng phu nhân khai mạc buổi dạ vũ, anh em ra sàn nhảy trắng cả sân. Cô tưởng tôi nhảy giỏi lắm, cứ liếc mắt đưa tình ngầm bảo tôi đưa cô ra sàn nhảy. Tôi hồi hộp, cứ ngồi cười cầu tài, chờ bản slow mới dám ra nhảy. Tôi học nhảy do bàn bè trong khoá dạy; tôi chỉ toàn ôm đàn ông tập dợt thôi chứ chưa bao giờ hân hạnh được ôm quý cô cả. Lần này tôi liều mạng, thí cô hồn, chơi bạo lấy tiếng. Chờ 3, 4 bản mới tới điệu “xì-lô”, cô ngầm nắm tay tôi ngụ ý muốn nhảy; tự nhiên tay chân tôi run lập cập; gần hết nửa bài hát tôi mới lấy hết cản đảm đưa cô ra sàn nhảy; mồ hôi tươm ra ướt cả nách áo. Khi tôi vừa đặt tay lên người cô có lẽ cô đoán biết ngay: tôi thuộc loại “gà mờ”, nên cô dìu tôi nhảy. Lúc đó bao nhiêu bước nhảy lả lướt đã học qua tôi hầu như trả lại cho thầy hết trọi! Chân tôi lúng túng đạp lên chân cô lia chia; tôi bực mình phải dạng chân ra ngoài tầm của hai chân cô cho chắc ăn. Thế là từ lúc đó cho đến cuối bài hát tôi cứ chàng hảng nhảy theo kiểu “xì-lô xà bát”. Xong màn nhảy tôi đưa cô trở lại bàn, đôi mắt cô nhìn tôi ướt mượt; có lẽ cô tưởng tôi vẫn còn “gin” nên ngoan ngoãn tán chuyện trên trời dưới đất với tôi. Tôi thầm nghĩ: những người nhảy giỏi như cô mà cứ phải “ngồi đồng” có lẽ ngứa chân lắm nên tôi xin phép cô để tôi qua phía bàn đàn em ngồi. Tôi qua đó tìm “con” tôi để cầu cứu vì bạn bè tôi chẳng ai biết nhảy cả. Khi tôi gặp “con” tôi, lúc đó anh đang nhậu với vài người bạn trẻ, tôi đến rỉ tai nhờ anh cứu bồ, bảo anh đi mời cô ấy nhảy giùm tôi. Anh thì thầm vào tai tôi: “Bố ơi, con không biết nhảy đầm, chỉ biết “nhảy giường” thôi.” Tôi bèn lủi thủi về bàn tiếp tục “xì-lô xà bát”.
Trưa hôm sau hơn 120 anh em ra phi trường để đáp máy bay về Sài Gòn.Từ mấy tuần trước đó, chúng tôi đã đặt bao cả một chuyến máy bay phản lực của hãng Hàng-không Việt Nam mới trang bị. Khi tới giờ bay rồi mà vẫn chưa thấy máy bay đến, ai cũng nóng lòng bực bội. Mãi tới chiều mới được tin máy bay bị kẹt ở Singapore; lúc bấy giờ chỉ có một chiếc DC3 cánh quạt chở gần 40 người thôi. Tôi may mắn có tên trên đầu danh sách nên được bốc đi trước.
Qua khung kính cửa sổ phi cơ, tôi ghé mắt nhìn về hướng thành phố dưới đất, tôi bồi hồi xúc động, nhớ lại bao kỷ niệm bước đầu trên con đường tiến vào hải nghiệp. Nhìn về cuối chân trời, lúc đó ánh tà dường đang chìm dần xuống núi, trả lại khung cảnh tĩnh mịch êm đềm cho quân trường Hải quân Nha Trang mến yêu. ..........


đặng ngọc khảm
kỷ niệm vui buồn trên HQ9610


       S au khi tốt nghiệp khóa 20 Trường Sĩ-quan Hải-quân Nha Trang, tôi chọn nhiệm sở Căn-cứ Yểm-trợ Tiếp-vận Đồng-Tâm. Tháng 8 năm 1970, tôi khăn gói xuống Mỹ Tho trình diện. Căn cứ Đồng Tâm nằm cách Mỹ tho khoảng 5 km cạnh sông Tiền Giang. Căn cứ này rất lớn, trong đó có cả bộ tư lệnh Sư Đoàn 7 bộ binh, các giang đoàn tuần thám, thủy bộ và các cơ quan an-ninh v.v...
Với quân phục chỉnh tề, tôi vào trình diện trung tá Đồng, chỉ huy trưởng căn cứ yểm trợ tiếp vận. Ông rất to con, hòa nhã. Sau vài câu hỏi thăm, ông cho tôi biết: tôi cùng 20 anh em thủy thủ được biệt phái xuống cơ xưởng nổi YRBM 17 của Mỹ thực tập để chuẩn bị tiếp nhận tàu do Mỹ bàn giao lại cho Hải quân Việt Nam. Sau khi sắp xếp đồ đạc tại phòng riêng trong căn cứ, tôi xuống trình diện vị thiếu tá chỉ huy trưởng Mỹ của cơ xưởng nổi đó. Trước khi bước lên tàu, tôi hoang mang, không hiểu tại sao tôi lại được biệt phái, đại diện HQVN xuống thực tập, trong khi tiếng Anh của tôi thuộc loại “tôi nói tôi hiểu, chứ Mỹ họ không hiểu hết”. Khi vào gặp vị chỉ huy trưởng Mỹ, tôi hơi run và ngượng ngùng. Ông bắt tay tôi, nói tràng giang đại hải. Tôi chẳng hiểu gì ráo, chỉ lẳng lặng thưởng thức dung nhan ông, bụng thì cười thầm. Qua ngày hôm sau tôi bắt đầu tìm hiểu cơ cấu tổ chức của tàu, các trang thiết bị, cùng thăm hỏi anh em thủy thủ Việt Nam thực tập tại đó. Một vị trung úy Mỹ theo tôi để hướng dẫn; tôi nghe được tiếng đực tiếng cái, cứ lúi húi ghi chép; anh ta tưởng tôi giỏi tiếng Anh lắm và nghĩ rằng tôi ít nói vì tôi chỉ gật đầu, nói “yes” hoặc lắc đầu, nói “no” thôi. Cái sướng nhất của tôi là được các thủy thủ Mỹ chào tôi bằng “SIR” khi gặp tôi; tôi cứ nghĩ sao mà mình vĩ đại thế!
Tới giờ ăn trưa tôi được thông báo tới phòng bếp để lấy thức ăn. Khi tới nơi tôi đã thấy sĩ quan từ chỉ huy trưởng trở xuống đang đưa khay để bồi gắp thức ăn vào. Hôm đó chúng tôi được ăn gà và khoai tây chiên. Sau khi bưng khay đồ ăn vào phòng ăn sĩ quan, tôi ngồi gần cuối bàn theo thứ tự quân giai. Đây là lần đầu tiên tôi phải dùng dao muỗng nỉa để ăn, tôi thấy thật khổ sở; tôi cứ âm thầm theo dõi họ sử dụng những thứ ấy như thế nào để bắt chước làm theo. Tôi muốn lấy hũ muối và tiêu ở gần đầu bàn mà chẳng biết nói làm sao nên tôi đành phải ăn lạt! Cái khổ nhất của tôi lúc đó là không biết làm sao ăn mấy cái đùi gà. Tôi để ý hầu hết những người khác chỉ ăn ức gà, chỉ có anh sĩ quan tiếp liệu ngồi gần tôi là có cả một cái ức gà lẫn một cái đùi gà. Tôi cứ câu giờ cắt khoai tây ăn trước, chờ xem anh ta “xử lý” cái đùi gà ra sao vì anh ta dùng dao cắt cái ức gà ăn trước. Tới khi ăn cái đùi gà, anh sử dụng bàn tay năm ngón; tôi mừng quýnh, chụp cái đùi gà chơi liền; tôi ở thế phải ăn nhanh vì lúc đó hầu như tất cả mọi người đều sắp ăn xong.
Hôm sau vào giờ ăn sáng các sĩ quan cứ ngồi tại phòng ăn, bồi phát mỗi người một tấm phiếu “order” thức ăn, muốn ăn gì thì điền vào. Tôi tò mò ghi vào hơn sáu món ăn trong đó tôi chỉ biết rõ hai món, đó là trứng và bánh mì. Sau đó, anh bồi bưng vào cho tôi một dĩa to gấp ba dĩa nguời khác, miệng mỉm cười. Khi trông thấy dĩa đồ ăn tôi muốn độn thổ vì trong đó có những thứ trái cây mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi ráng trợn trắng con mắt mà nuốt cho gần hết dĩa! Tuần lễ đầu tiên thật là vất vả; tôi vừa phải học từ ngữ tiếng Anh liên quan đến các cơ phận máy móc, vừa phải theo dõi họ điều hành sửa chữa tàu bè; đầu óc tôi lúc nào cũng muốn vỡ tung. Một hôm tôi chỉ thị cho anh thủy thủ Việt nam hàn lại cái “cylinder head” (đầu máy) bị nứt để ráp vào máy, vì xưa kia tôi vẫn thấy bố tôi làm như vậy. Anh trung sĩ Mỹ phụ trách toán cơ khí quay qua nói với tôi, tôi hiểu lờ mờ là anh muốn tôi cho thay cơ phận mới. Tôi muốn nói với anh ta rằng: hàn lại dùng vẫn được để tiết kiệm ngân quỹ. Tuy nhiên vì không biết diễn đạt ý nghĩ của tôi bằng tiếng Anh, tôi chỉ nói với anh ta một câu gọn bâng: “It’s OK!’’ Nghe xong anh ta liền bưng cái “cylinder head” quăng đùng xuống sông. Tôi giận tím mặt, bèn bỏ đi. Anh ta ngạc nhiên, bèn lẽo đẽo theo sau hỏi tôi: “What’s wrong, sir?” Tôi đứng lại hỏi tại sao anh ta làm như vậy. Anh trả lời: tại tôi nói “OK”. Tôi nói lại với anh ta ý nghĩ của tôi với sự phụ hoạ của đôi bàn tay; anh ta chợt hiểu ý muốn của tôi, cả hai cùng cười xòa. Sau hôm đó, anh cho tôi sách và tình nguyện dạy tôi học tiếng Anh. Vào mỗi tối anh dạy tôi học cách phát âm và tập cho tôi nói đúng chữ và đúng câu. Anh hỏi tôi có muốn nhờ anh mua máy cassette hay máy móc gì khác không, anh sẵn sàng mua giùm cho; tôi nói: tôi không cần. Được hai tuần lễ thì tôi không thấy anh đâu. Tôi hỏi viên sĩ quan cố vấn của tôi mới biết anh ta bị đổi đi đơn vị khác.
Khoảng một tháng sau, Bộ Chỉ-huy Yểm-trợ Tiếp-vận lần lượt bổ sung quân số để chuẩn bị tiếp nhận tàu. Tháng 12 năm 1970 tàu được bàn giao cho Hải quân Việt Nam và được đổi tên là: HQ 9610.
Tàu dài gần 100 thước, trọng tải trên 2,600 tấn; tàu không có máy vận hành và chân vịt nên không thể tự di chuyển được; tàu có máy phát điện, máy lọc nước biển; tàu có các hầm chứa nước và dầu rất lớn. Trên boong có một cần trục để câu giang đĩnh lên một sà lan cặp bên hông tàu, trên đó có gắn một bệ đỡ tuần giang đĩnh PBR. Đơn vị HQ 9610 được trang bị thêm một chiếc xe GMC để đi lãnh hàng tiếp liệu ở trung tâm tiếp liệu trong vòng thành Hải Quân Công Xưởng ở Sài Gòn. Tàu còn được trang bị một giang đĩnh vận chuyển LCM6 được dùng đưa rước thủy thủ và sĩ quan cơ hữu đi bờ và cũng được dùng trong việc chở hàng về tàu. Quân số đơn vị HQ 9610 khoảng 100 nhân viên. Hệ thống tổ chức và danh sách sĩ quan chỉ huy giai đoạn đầu như sau:
• Chỉ huy trưởng: HQ Đại úy CK Trần Minh Tuệ.
• Chỉ huy phó: HQ Trung úy CK Nguyễn văn Phong
• Trưởng ban nội vụ: HQ Chuẩn úy Đỗ Khắc Ân
• Trưởng ban tiếp liệu: HQ Chuẩn úy CK Trần Ken
• Phó ban tiếp liệu: Chuẩn úy Huỳnh Ngọc Ẩn (thuyên chuyển về năm 1971)
• Trưởng ban điều hành cơ xưởng: HQ Chuẩn úy CK Đặng Ngọc Khảm
• Phó Ban điều hành cơ xưởng: HQ Chuẩn úy Nguyễn Thế Vinh (thuyên chuyển về năm 1971)
Ban nội vụ gồm có: quản nội trưởng và toán hành chánh tài chánh và văn thư, toán truyền tin, toán ẩm thực và phòng y tá.
Ban tiếp liệu gồm có: toán nhiên liệu lo kiểm soát đo mức lượng dầu khi tiếp nhận dầu từ hoả-vận-hạm, báo cáo lượng dầu tồn kho hàng tháng và lo việc tiếp tế dầu cho các giang đĩnh hành quân, toán tiếp liệu lo nhận hàng từ trung tâm tiếp liệu Hải Quân và toán thủ kho lo nhập hàng vô kho và cấp phát cơ phận sửa chữa.
Ban điều hành cơ xưởng gồm có: toán vận chuyển, toán điện khí, toán điện tử, toán cơ khí, toán tiện, toán phòng tai và toán trọng pháo.
Sau khi bàn giao, HQ Mỹ lựu lại một sĩ quan cố vấn là Đại úy Bennett; vị cố vấn này xuề xòa, thân thiện, dễ hòa đồng. Sau đó, một vị cố vấn Mỹ khác đến thay thế; vị cố vấn thứ hai này là Thiếu tá Crawford có vẻ tương đối không thân thiện lắm.
HQ 9610 chính thức hoạt động từ tháng 12 năm 1970, phụ trách tiếp tế nhiên liệu, sửa chữa giang đĩnh thuộc các giang đoàn tham gia cuộc hành quân Trần Hưng Đạo với nhiệm vụ bảo đảm an ninh trên vùng thủy lộ sông Tiền-giang. Lực lượng hành quân gồm các giang tốc đĩnh PBR thuộc các giang đoàn 55, 56 tuần thám và các giang đĩnh Alfa, Tango, LCM, v.v.... thuộc các giang đoàn 71, 72 thủy bộ. Thỉnh thoảng đơn vị chúng tôi cũng nhận sửa chữa một vài chiếc PCF. Vào những tháng ngày đầu tiên, anh em thủy thủ luôn bận rộn và làm việc thật vất vả. Tôi ít khi mặc quân phục chỉnh tề, chẳng đeo lon lá gì cả, lăn lưng cùng anh em thủy thủ vật lộn với mấy chiếc giang đĩnh. Tôn chỉ của tôi là không để một giang đĩnh nào nằm ụ quá ba ngày, kể cả trường hợp phải thay máy khác, chỉ trừ tường hợp những chiếc PBR có vỏ bằng “fiberglass (sợi thủy tinh) bị bể phải vá lại. Trong trường hợp đó, tàu phải nằm ụ hơn một tuần vì mỗi ngày chúng tôi chỉ dán được một một lớp mỏng mà thôi, phải chờ keo khô rồi mới đắp lớp kế tiếp. Anh em thủy thủ phòng tai lo công tác vá tàu khi về đêm đều trở thành “nhạc sĩ bất đắc dĩ”, vì vào ban ngày họ phải mài vỏ giang đỉnh bằng máy khi lớp vá khô ráo. Chất bột thủy tinh của vỏ giang đĩnh dính vào da còn sót lại sau khi tắm rửa, khiến họ cảm thấy ngứa ngáy phải gãi giống như nhạc sĩ khảy đờn vậy.
Cơ phận thay thế được chuẩn úy Ken điều hành, cung cấp cho chúng tôi nhanh và đầy đủ nên công việc sửa chữa hoàn tất nhanh gọn và đúng kỹ thuật yêu cầu. Để giải khuây sau giờ làm việc mệt nhọc, tôi thiết kế một bàn ping-pong để anh em vui chơi vào giờ rảnh rỗi mà không được đi bờ. Nhờ vậy anh em trong đơn vị có dịp vui chơi chung, bớt đi cảnh buồn chán, nhất là khi tàu neo lẻ loi giữa giòng sông.
Đầu năm 1971, tàu được lệnh điều động xuống An Long, quận Hồng Ngự gần biên giới Căm-bu-chia tham gia yểm trợ cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 18, có nhiệm vụ giữ gìn an ninh thủy lộ huyết mạch Tiền Giang, hộ tống các đoàn tàu buôn tiếp tế Căm-bu-chia. Tàu dòng kéo tàu chúng tôi đến vị trí neo, phải đợi chúng tôi bỏ neo xong mới quay đi. Chúng tôi toàn là dân cơ khí nên vấn đề bỏ neo chỉ biết phó thác cho Trời. “Ông bỏ thì ông cứ bỏ, neo này cắn thì tốt, không cắn thì ông phải bầm mình”; có lần sau mấy tuần bỏ neo, vào một đêm giông gió, tàu bị tróc neo trôi dạt về phía chợ Đồng Tiến thuộc quận Hồng Ngự, khu vực kém an ninh. May thay, chỉ huy phó Phong lanh trí kịp thời điều động LCM6 cơ hữu đẩy tàu trở lại vị trí cũ và neo cắn đất ngay lần thả neo thứ hai.
Chẳng bao lâu sau đó, bọn Việt Cộng từ phía bên kia bờ sông, miệt Hồng Ngự, nhắm hướng tàu đang neo giữa giòng pháo kích, nhưng tàu ở ngoài tầm pháo kích nên không hề hấn gì. Vì lý do đó, sau hơn hai tháng ở An Long Bộ Chỉ Huy Hành Quân ra lệnh kéo tàu về Tân Châu, một quận trù phú, an ninh của tỉnh Châu Đốc. Tàu chúng tôi neo giữa giòng sông, gần ngang Bộ Chỉ Huy Hành Quân Trần Hưng Đạo 18 trên bờ, cách quận lỵ Tân Châu vài cây số. Gần tàu chúng tôi là cơ xưởng nổi HQ 9611 đã yểm trợ sửa chữa cho cuộc hành quân ở đấy từ đầu, chờ chúng tôi đến thay thế để di chuyển về lại Đồng Tâm, tham gia yểm trợ cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 17. Nếu tôi nhớ không lầm, Bộ Chỉ Huy Hành Quân đó đặt tại Mỹ Tho. HQ 9610 và HQ 9611 cứ khoảng một năm luân phiên thay nhau, được kéo đến yểm trợ hai vùng hành quân vừa nêu.
Nhờ đã quen với công việc trong thời học hỏi qua Hải quân Mỹ trước khi bàn giao, công tác yểm trợ sửa chữa và tiếp tế nhiên liệu của HQ 9610 cho các giang đoàn trong vùng hành quân thật hữu hiệu - nhanh chóng và tốt đẹp. Vì vậy HQ 9610 được Bộ Tư Lệnh Hành Quân khen thưởng xứng đáng. Tư lịnh Lực Lượng Đặc Nhiệm đảm nhận cuộc hành quân lúc đó là đại tá Nghiêm văn Phú. Một hôm có một chiếc giang tốc đĩnh PBR “mới cắt chỉ” cặp tàu chúng tôi xin sửa chữa. Tôi ngạc nhiên vì nó thuộc Hải quân Căm-bu-chia. Thuyền trưởng là một thiếu úy, nói tiếng Pháp trôi chảy. Anh ta không biết tiếng Anh, nên tôi phải bập bẹ tiếng Pháp với anh, nhưng tay tôi lại nói nhiều hơn miệng. Thế rồi mọi chuyện cũng đâu ra đấy, và công việc sửa chữa hoàn tất trong ngày. Anh ta cám ơn tôi rối rít.
Để tưởng thưởng công lao đóng góp của anh em thủy thủ tàu chúng tôi cho cuộc hành quân, vị tư lệnh đã cấp phép cho bốn anh em được tháp tùng theo các giang đĩnh hộ tống tàu buôn qua Nam Vang, thủ đô Cam-bu-chia, chơi mấy ngày. Đó là khích lệ lớn lao cho tinh thần phục vụ đắc lực của anh em. Tiện đây tôi xin có lời tôn vinh, ca ngợi tinh thần dấn thân vì tổ quốc của các bạn trẻ thủy thủ sát cánh làm việc với tôi. Các bạn đã sống lênh đênh trên sông nước tháng này qua tháng nọ, tâm trí bất ổn định, khẩu phần ăn uống thật khiêm nhường, nhưng các bạn làm việc thật cực nhọc; nhiều khi các bạn còn phải làm ban đêm để hoàn tất công tác sửa chữa các giang đĩnh đúng yêu cầu khẩn của vị chỉ huy trưởng giang đoàn. Có lúc phải làm việc giữa đêm, anh em thủy thủ phục vụ các giang đĩnh liên hệ đem khẩu phần lương khô của mình san sẻ với các anh em sửa chữa để làm đỡ đói lòng anh em phải làm việc khuya. Qua đó tôi thấy thấm thía thế nào là “tình huynh đệ chi binh” trong quân đội chúng ta. Tình “huynh đệ chi binh” đó khác hẳn tình “huynh đệ chi binh” của mấy anh bộ đội cộng sản mà ta thường nghe được sau ngày bọn chúng chiếm được miền Nam:
“Huynh đệ chi binh
Để kín mình rình
Để hở mình rinh”
Sở dĩ thủy thủ đoàn có tinh thần cao như vậy là nhờ sự chỉ huy khéo léo, mềm dẻo của sĩ quan điều hành. Từ chỉ huy trưởng trở xuống, chúng tôi coi nhau như anh em một nhà; khi làm việc thì làm việc hết mình, theo đúng nguyên tắc, có tôn ti trật tự rõ rệt. Vào giờ nghỉ thì cùng nhau vui chơi thoải mái, chia sẻ tâm sự buồn vui, tránh được tranh chấp bất đồng rất dễ xảy ra giữa các “ông thần lâu ngày thiếu bóng dáng đàn bà”. Có một điều đặc biệt là đơn vị HQ 9610 vì nhờ xa “mặt trời” nên thoải mái thực hiện một tuần làm việc chỉ có năm ngày, các thành viên trong đơn vị chia ra hai toán đi bờ luân phiên trong hai ngày cuối tuần: thứ bảy và chủ nhật; ngoài ra đơn vị còn chọn những nhân viên xuất sắc trong công việc, những nhân viên xuất sắc luân phiên được đi nghỉ phép đặc biệt vài ngày. Đó cũng là một trong những lý do khiến anh em trong đơn vị làm việc hết mình, đạt năng suất cao.
Ngoài giờ làm việc chúng tôi thường hay câu cá dọc theo sà lan tàu để giải khuây, kiếm thêm đồ nhậu. Dường như tôi không có số “sát cá”; tôi không khi nào câu được con cá nào hết. Một hôm các sĩ quan câu được mười con tôm càng mà không ai biết nhậu nên tôi tình nguyện làm tôm để nấu mì. Tôi rửa sạch râu ria, ngắt đầu để riêng. Tôi chia đều thân tôm cho mỗi tô mì; tôi chia thật nhiều phần đầu tôm cho các tô mì dành cho những ai có công câu được tôm như chỉ huy trưởng, chỉ huy phó, chuẩn uý Ân; những tô dành cho những ai không câu được tôm như tôi thì chỉ có một đầu tôm thôi. Tối hôm đó chúng tôi mỗi người được ăn một tô mì thịnh soạn, tôm nhiều hơn mì; đến nửa đêm ai cũng chột bụng xếp hàng đi cầu; ai ăn nhiều đầu tôm chừng nào đi cầu nhiều chừng nấy. Sáng hôm sau chỉ huy trưởng Tuệ hỏi tôi: lúc làm tôm có lấy con hà - mồi để câu tôm – trong miệng tôm ra không. Tôi trả lời có ý phân bua rằng: “Từ lúc cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi có biết làm bếp gì đâu mà biết cái miệng tôm nó nằm ở chỗ nào; các sĩ quan lâu nay bị táo bón nhờ tôi trị bệnh khỏi phải tốn tiền rồi đấy!”
Ngoài công tác yểm trợ hành quân, chúng tôi cũng tham gia công tác dân vận, cấp thuốc cho dân, nếu cần. Tôi nhớ một buổi trưa nọ có một ghe cào chở ra tàu chúng tôi một người đàn ông miệng đang rỉ máu, vợ anh xin tôi cho chữa giùm; anh bị thương vì đã toan tự hủy mình. Tôi cho đưa anh lên phòng y tá làm thủ tục rửa ruột. Tôi hỏi nguyên do, chị vợ ngập ngừng không nói nên lời. Tôi hỏi nhằm muốn biết lý do để tìm cách khuyên giải anh ta. Hỏi mãi chị vợ mới thì thầm nói với tôi: Trong lúc đang làm rẫy, tự dưng con lợn lòng anh nổi lên, vì hai vợ chồng mới lấy nhau, anh bèn về nhà xin chị vợ “tò te”; chị không chịu; tức mình anh khui chai thuốc rầy “nhậu” cạn chai. May cho anh chồng nhờ chị vợ nhanh trí chở ra tàu chúng tôi ngay nên không sao, chứ chờ đi bệnh viện chắc đời anh “hai năm mươi”rồi! Thật đúng là: “thằng nhỏ” hại “thằng lớn”!
Nhân dịp tôi và Chuẩn uý Ken lên lon, chỉ huy trưởng cho tổ chức buổi lễ rửa lon cho chúng tôi. Riêng tôi vì thường xuyên vui đùa và cùng anh em trên tàu sinh hoạt thân mật, coi nhau như bạn bè. Chính vì vậy anh em thủy thủ, bàn tính với nhau từ trước, dội vào người tôi nguyên một “sô” (thùng) nước đá pha nước mắm ướt từ đầu đến chân vào buổi lễ rửa lon đó; ôi thôi, mùi nước đó hôi không thể chịu được! Buổi chung vui nho nhỏ đó tổ chức vào một buổi cuối tuần. Chỉ huy trưởng Tuệ thông báo cho anh em biết trước; ai có người quen ở Tân Châu cứ việc mời tới dự. Tôi đích thân hướng dẫn giang đĩnh LCM của tàu đi đón khoảng gần 50 người; có rất nhiều bóng hồng trong đám khách tới dự; anh em được dịp “thả dê” thoải mái.
Trong thời gian phục vụ tại HQ 9610, tôi có một kỷ niệm rất đau thương mà tôi không bao giờ quên, đó là trận “cáp duồn” đồng bào Việt nam cư ngụ ở Căm-bu-chia. Một ngày nọ tôi chứng kiến vài xác mất đầu trôi trên sông, nhiều khi vướng vào dây neo tàu, tôi phải cho người đẩy ra. Xác nào vô phước thì trôi ra biển; xác nào may mắn tấp vào cù lao thì được đồng bào đạo Hòa Hảo làm lễ an táng đàng hoàng. Vào thời đầu thâp niên 1970, hải quân Việt Nam đã đem một Dương vận hạm qua Căm-bu-chia để chở đồng bào Việt Nam về lại quê hương định cư ở các vùng gần biên giới; thành phần được chở về quê hương đó mới là những người thực sự may mắn.
Vào đầu năm 1972, sau hơn một năm yểm trợ hành quân, tàu chúng tôi được lệnh kéo về Đồng Tâm; HQ 9611 được kéo ra thay thế trước đó một thời gian. Khi được tin tàu sẽ được kéo về Đồng tâm, anh em thủy thủ trong đơn vị chúng tôi đều khấp khởi vui mừng, vì hầu hết nhà anh em đều ở Sài Gòn, Mỹ Tho hoặc Vĩnh Long; tiện hơn nữa chúng tôi còn được rời tàu dễ dàng, khỏi phải chờ đợi LMC đưa rước. Trên đường tàu được kéo về Đồng Tâm, nhìn cảnh ruộng vuờn xanh mướt, xen lẫn với nhừng hàng dừa sai trái và hàng cao thẳng tắp đẹp mắt hiện ra hai bên bờ sông Tiền, lòng tôi cảm thấy lâng lâng khó tả. Trong khi thả hồn với cảnh sông nước êm đềm đó, tôi ngẫm nghĩ: nếu một mai khi hoà bình trở lại, quê hương mình ắt sẽ được phát triển mạnh nhờ khai thác sâu rộng và đúng mức những vùng đất màu mỡ lúc đó hãy còn bị chiến tranh tàn phá, chắc hẳn người dân miền Nam sẽ hưởng được cuộc sống sung túc yên vui lắm! Nhưng không ngờ rằng sau khi cộng sản xâm chiếm toàn cõi Việt Nam, tình trạng kinh tế miền Nam lại tụt hậu; qua mấy chục năm rồi mà đất nước chúng ta chẳng được phát triển như tôi đã mường tượng thuở đó. Thật đáng tiếc lắm thay!
Khi tàu cặp cầu, bên hông thành tàu bị mỏ neo cày rách một lỗ to cần phải vá lại. Qua ngày hôm sau tôi được đi phép một ngày nên tôi chỉ thị cho thủy thủ Xuân thực hiện công tác này trước khi đi. Anh Xuân nhỏ con, tánh tình hiền lành, lễ độ; lúc nào tôi cũng thấy anh cười; tôi mến anh lắm. Anh là con trai lớn trong một gia đình gồm bảy người con ở tại Sài Gòn: gồm năm gái và hai trai. Ba má anh đặt tên con rất có vần. Em trai út của anh tên là Lòng; tôi hay đùa với anh, nếu má anh sanh thêm đứa nữa thì hãy đặt tên là Thòng cho nó có vần như sau: Hoa, Xuân, Xinh, Thắm, Mảnh, Tơ, Lòng ...Thòng! Anh bảo nếu má anh sanh con gái mà đặt tên Thòng thì nghe kỳ quá! Qua một ngày đi phép, tôi trở lại đơn vị vào lúc sáng sớm thì được hung tin anh Xuân đã tử nạn lúc thi hành nhiệm vụ sửa chữa do tôi giao phó cho anh. Bầu không khí tang tóc bao trùm cả con tàu sáng hôm đó.Chúng tôi đã từng chứng kiến cảnh máu xương chiến sĩ hải quân đổ ra khi giang đĩnh kéo về sửa chữa sau trận chiến đấu để bảo vệ vùng đất tự do, nhưng chúng tôi không thể nén được nỗi xúc động khi chứng kiến chính đồng đội mình đã hy sinh. Tôi liền vào gặp chỉ huy trưởng, xin ông cho tôi được đích thân lo đám táng cho anh Xuân. Chỉ huy trưởng Tuệ cho xuất quĩ của đơn vị, đưa cho tôi một số tiền; tôi cùng sáu thủy thủ đi bằng xe GMC của đơn vị hướng về Sài Gòn lo ma chay cho anh Xuân. Vừa tới nơi, tôi liền liên lạc ngay với Bộ Chỉ Huy Yểm-trợ Tiếp-vận xin cung cấp xe tang, một người lính kèn để thổi những dòng nhạc vĩnh biệt khi hạ huyệt và một nữ quân nhân phụ trách tiếp tân. Tôi dự định tổ chức một đám tang theo nghi lễ quân cách long trọng: lúc nào cũng có hai thủy thủ mặc quân phục tiểu lễ đứng hai bên quan tài. Tôi túc trực tại nhà anh Xuân từ sáng tới tối để lo nhang đèn, tiếp tân và an ủi mọi người trong nhà. Nghe những lời than khóc của mẹ anh Xuân mà tôi cảm thấy như đứt từng khúc ruột. Ba ngày sau, chúng tôi tất cả đều mặc quân phục tiểu lễ khi đưa linh cữu anh Xuân đến nơi an nghĩ cuối cùng với nghi thức chào kính vĩnh biệt của anh em chúng tôi trong tiếng kèn buồn. Sau đám tang, gia đình anh Xuân khẩn khoản mời chúng tôi ở lại dùng cơm. Trong bữa cơm đó, cha của anh Xuân tâm sự với tôi: mặc dù lòng ông buồn vô hạn nhưng đám tang được anh em chúng tôi tổ chức quá trang trọng nên ông cũng như tất cả họ hàng đều rất cảm động và họ cảm thấy được an ủi rất nhiều.
       Khi tàu về Đồng Tâm được vài tháng thì tôi nhận được lệnh thuyên chuyển về HQ 504. Những ngày cuối còn ở trên tàu, lòng tôi cảm thầy thật buồn, đi đâu anh em cũng than: “Ông thầy đi, tụi tui buồn lằm!” Trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, các kỷ niệm vui buồn trên HQ 9610 thật là đậm nét, không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi. Tuy chúng tôi không trực diện chiến đấu với quân địch, nhưng anh em chúng tôi luôn luôn âm thầm tranh đấu với bản thân đem hết khả năng, sức lực để làm việc hầu bảo đảm an toàn cho các giang đĩnh hành quân diệt địch. Trước khi kết thúc bài viết này, tôi xin được ghi thêm hai câu sau đây:

“Vinh danh bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ Việt Nam
Vinh danh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống vì hai chữ tự do.”
..........


đặng ngọc khảm




( Trở về đầu trang )