|| Trang Thơ Văn 20 || Nguyễn Kim Anh || Nguyễn Ánh || Huỳnh Văn Bảnh || Lê Văn Châu || Huỳnh Kim Chiến || Nguyễn Văn Chín || Lê Kim Cúc || Tôn Thất Cường || Hoàng Thế Dân || Nguyễn Xuân Dục || Mai Tất Đắc || Nguyễn Văn Đệ || Nguyễn Ðình Hoàng || Nguyễn Văn Hùng || Lưu Ðức Huyến || Trần Ken || Đặng Ngọc Khảm || Phan Ngọc Long || Vũ Hửu Lý || Ðinh Lê Thu Nguyệt || Ninh Kim Phượng || Trương Đình Quí || Nguyễn Văn Sáng || Ngô Thiện Tánh || Cung Vĩnh Thành || Lê Văn Thạnh || Nguyễn Văn Thước || Minh Trang || Trần Đình Triết || Trang Thanh Trúc || Dương Thiệu Tùng || Ðặng Tuyến || Nguyễn Văn Vang || Nguyễn Phúc Vĩnh Viễn ||


Buổi Chiều Nhớ Đêm Ở Quê Hương

Chiều nay nhớ về một thời
và một người
đã đi vắng

Những đứt đoạn hụt hẫng của dĩ vãng
càng kéo lại càng khuất xa
bóng hình
mà ta cố tìm bắt
sự toàn hảo
của tinh nguyên

Kẻ vắng mặt đó
không chỉ ra đi một mình
mà mang theo

cả một thời ngất ngưởng
của tuổi mới lớn

Từng tên bạn lần lượt bị xóa
trong cuộc chiến
mang những nụ cười chìm vào bóng tối
Bá Long, Đổng Lý, Hoàng Đen
Năm Bò, Cu Tân, Tịnh ...

Kẽ sống sót giờ đã đi vắng

Những con người .. đêm nhìn sao trời

phì phèo thuốc lá bàn cải triết lý
Say với lon bia đầu tiên
ngày thi đỗ Tú Tài 2
giữa tiếng rú đạn bom
kiêu hãnh
ở lại với quê hương
chất ngất mê hoặc của lý tưởng

Say không chỉ ở rượu
mà ở một niềm tin
sẽ làm được điều gì đó
cho thế hệ tuổi trẻ

Suy tư
là những cám dỗ nóng bỏng
thôi thúc con tim
bằng lời của Gide, Malreaux, Thâm Tâm, Vạn Giả

Đêm sao
Giờ chỉ còn vất vưởng rải rác
góc trời nào
những Hùng, Quang, Diệu Lý...
và mớ hồi ức
về một thời ngất ngưởng
đã trôi qua

Kẻ sống sót
ra khỏi trại tỵ nạn
lạc về một tinh cầu mới
rất xa

Cát Biển


Ta Vẫn Còn Nhớ

Ta nhớ lắm chiều Ba Mươi năm ấy
Mặt biển đầy thuyền, đạn bắn loạn lung
Ba Mươi Tháng Tư mưa chùng nức nở
Mưa khóc cho mình, hay trời khóc quê hương?

Chiều Ba Mươi tủi hờn giông tố
Cả một dũng đoàn lầm lũi chia ly
Chiến hạm chưa hề về đông như thế
Không đánh quân thù, uất ức ra đi

Một niềm tin yêu, một lòng anh dũng
Tuổi trẻ kiêu hùng dâng hiến quê cha
Nay quê chẳng còn, con buông chí cả
Mai con đi rồi ai giữ quê ta?

Mỗi ngày xa quê là một ngày lạc lõng
Mỗi bóng mặt trời là một kiếp khổ sai
Mỗi tối hoàng hôn là âm tỳ tủi nhục
Mỗi sóng reo đuà là mũi nhọn chởm gai

Ngày Bốn tháng Năm tàu vào Phi phận
Con số chiếc tàu sơn cạo, xoá tên
Bao nhiêu chiến danh nay thành hư ảo
Khối sắt vô hồn, thân xác rỗng tênh

Chiều gió u buồn hàng người im phắc
Đứng thẳng boong tàu cứng ngắt, chào tay
Nhìn lá cờ vàng lòng đau quặng thắt
Còi thổi: 'Hạ kỳ', mọi mắt đều cay

Có kẻ nấc lên người kềm nước mắt
Nhìn lại bạn bè hận uất bủa vây
Mồng Bốn tháng Năm ta mang đời tị nạn
Từ đó sâu hằn dấu tích quê hương


Cát Biển


Những Giọt Nước

Có những giọt nước làm xao xuyến lòng người
lung linh cuộc sống
và những giọt phiền muộn

Chút nước mắt hồng khoé lệ li ti
ửng lên trong ánh sáng
khi em tìm gặp lại anh
nói sẽ chấp nhận bất kỳ những điều gì khác
chỉ xin được yêu nhau

Những giọt nước tươi mát
từ vòi
chảy tràn qua thân thể
cuốn đi những phù sinh một ngày của kiếp người
những hỉ nộ vui buồn hệ lụy

Có giọt nước kỳ quặc
khởi đi từ miệng người say
vung vãi sang người đối diện
khi lý trí không còn hửu dụng

Ôi những giọt lóng lánh
trong ly thuỷ tinh
nồng cay những ân tình sâu đậm
ngày bạn bè xưa gặp lại nhau
câu chuyện liên hồi không bao giờ dứt

Ám ảnh về giọt nước
nơi khoé mắt của con bò
với đám người hoan ca nhảy múa
bập bùng tí tách nhóm lửa
Con vật tế thần tuyệt vọng khi sắp chết

Có những giọt rất khô
của những con người thèm được sống
đau thương héo cằn thành vết sẹo

Một ngày nào đó
anh xếp hành trang giã từ
đắn đo nhiều

về những giọt nước
sẽ mang theo


Cát Biển


Một Nơi Gọi Là Miền Của Hi Vọng

Mảnh đất Hoa Kỳ có phải là một miền đất hứa hẹn cho những người tỵ nạn hay không? Câu hỏi từng đến với tôi năm 1975 vẫn còn vương vấn trong tôi hơn 30 năm qua.
Đất nước Hoa Kỳ đã cho tôi và những người tỵ nạn Việt Nam niềm sung sướng của một mảnh đất tạm dung, tức là một quê hương thứ hai, để khởi đầu từ những mất mát. Có khác chăng là ngày ấy tôi đang mang nỗi buồn trầm kha của 1 người da vàng nhược tiểu. Nỗi buồn bị mất nước còn in hằn trong tâm khảm tôi hình ảnh những xác người tìm tự do chết tức tưởi trên biển đông, thêm vào tâm trạng đắng cay cô độc của 1 con người vừa bị tước hết mọi tình bạn, thân quyến và các liên hệ, các ý nghĩa của cuộc đời, khiến những bước chân đơn điệu của tôi dọc trên con phố chính với nhiều cửa hàng ấy vang lên những âm thanh khô khan lạc lõng như gót chân của kẽ lữ hành trên sa mạc.
Người lữ hành đó đang mò mẫm đi tìm một điểm đến.
Sau hơn 30 năm câu trả lời tôi tìm được cho riêng mình cũng lại là một trong những yếu tố của hành trình đã giúp nước Mỹ tiến vượt lên với sắc thái của một quốc gia đa chủng.
Ngày xưa trước khi vào trường học môn toán Calculus khó ai có thể giải thích cho tôi hiểu rõ môn ấy bao gồm những phạm trù nào. Vì mọi ý niệm đều có vẽ lạ lùng và mới mẻ cả. Nhưng khi học xong rồi mình mới hiểu nhiều hơn phần nào cái hay và cái đẹp của các môn vi tích phân được dùng làm căn bản lượng định các hệ thống giá trị của vật chất. Điều mà tôi học được từ miền đất mới này là gương phấn đấu. Sau này tôi mới hiểu thêm, những di dân khác như Ý, Anh, Ái Nhỉ Lan, Trung Hoa v.v... khi mới đến Hoa Kỳ cũng đều mang 1 tâm trạng tương tự...
Miền đất mới này không bao giờ dâng mâm ngọc chờ sẵn hay hứa hẹn 1 tương lai vàng son nào cho ai cả. Nhưng nước Mỹ sẽ dành sẵn cơ hội cho những người biết vươn lên từ nghịch cảnh, biết phấn đấu để đạt đến thành công. Trong bóng đêm đen tối của quá khứ đau buồn, người tị nạn vẫn luôn tìm thấy lóe lên những tia sáng hi vọng là mầm mống đầy hứa hẹn của một tương lai cho những con người biết nhẫn nại và nuôi dưỡng nghị lực. Chính nghị lực là yếu tố then chốt nhất để đi đến thành công, và cũng có nghĩa là năng lực dẫn ta đến bến bờ hạnh phúc.
Chợt hiện về là hình ảnh của một thanh niên tị nạn trẻ với nhân dáng gầy mái tóc phủ tai, với đôi mắt đăm chiêu, một nụ cười khô khan không trọn vẹn, và một tâm sự ngổn ngang những nỗi niềm, bước những bước chân xa lạ bỡ ngỡ trên con phố Main Street của thành phố Wilkes-Barre, PA với tâm trạng buồn bã. Tuy nhiên, miền đất mới này như trải rộng một lời mời gọi rất chân thành và khoan dung. Nó thúc giục trong tôi một nghị lực phấn đấu để vươn lên mà tôi không tài nào cưỡng lại được. Tôi như lúc nào cũng nghe vang vọng bên tai một lời khuyên nhủ "Cố lên nhé... cố lên nhé... còn bao ước mơ cần phải được thành tựu... còn bao gương sáng mình phải noi theo... còn bao nhục nhã của dân tộc cần phải gột rửa... còn bao giọt nước mắt của dân Việt cần phải đền đáp..."

Tôi cố gìn giữ đóm ánh sáng của một ngọn nến bập bùng, dầu đôi khi có bị nghiêng ngả tròng trành trước những gió mưa giông bão của cuộc đời.
Tôi nhớ lời của vị thầy dạy học tôi thời niên thiếu, người đã mang tôi ra khỏi bóng tối của khờ dại và bước vào vùng ánh sáng của lý tưởng với lời khuyên còn vang vọng từ thuở bình minh của tâm hồn: "Các con hãy sống chân thành, sống đầy nghị lực, hãy đi tìm ý nghĩa của cuộc đời... và rồi hạnh phúc sẽ đến với con, với một niềm mãn nguyện"
Lời khuyên đó không vẽ giùm cho tôi một khái niệm rõ rệt gì trong ý tưởng phôi thai mới lớn của tôi về một phần thưởng quý giá nào đó của cuộc sống đang chờ sẵn. Lời khuyên đó chỉ như một ngón tay vạch cho tôi một hướng đi và nói, con hãy cứ đi tìm. Tuy nhiên, nó đánh thức cả cuộc đời tôi về một chuyến đi tìm. Thật có vẽ ngô nghê khi không thể nào tả được về chính điều mình đang tìm kiếm. Nhưng lời nhắc nhở về "điều gì đó" đang chờ tôi khám phá, chính là tác dụng của lời khuyên của vị thầy từ buổi tâm thức còn non nớt trong tôi.
Chiến tranh dài đăng đẳng bao năm từ những thế hệ trước khi tôi sinh ra đời, đã khiến niềm hi vọng của người Việt chỉ còn thu hẹp lại ở một mục đích nhỏ bé tầm thường là đạt được "sự sống còn" hoặc "làm thế nào để mang đủ miếng ăn về cho gia đình mình". Nhưng hình như xứ sở mới này còn dành sẵn một viễn tượng ấm no hơn, bớt thống khổ hơn, và ít bất công hơn cho mọi công dân dù mới hay cũ, dầu giàu sang hay nghèo tận.
Những khổ đau ban đầu khi được nung nấu bằng niềm căm hờn "phải làm cái gì đó với đời" cuối cùng chỉ còn là những cái đau xót rất nhỏ bé quá tầm thường như bị kiến cắn mà thôi, so với những bất hạnh của những đồng bào tôi, đã phải chết lặng lẽ đầy tức tưởi giữa biển Đông làm mồi cho cá mập, những người con gái mới lớn bị bọn hải tặc hãm hiếp quăng thây, hay những anh hùng vị quốc vong thân đem xác thân bảo vệ từng tấc đất cuối cùng của quê hương trước khi bị Cộng quân phương Bắc hành quyết...trong những trang sử đau thương bi hùng của dân tộc Việt.
Một hình ảnh tuyệt vời nhất của nước Mỹ đã làm tôi nhớ mãi là kỷ niệm về cô giáo dạy Anh ngữ Janet Jones.
Sau khi ra khỏi trại tỵ nạn Indiantown Gap, tiểu bang Pennsylvania, hình ảnh một cô gái mới hơn 20 tuổi đời vui vẻ, lịch sự, tận tâm với dáng thanh lịch, mũi cao, môi mọng xinh, mắt xanh lơ và bờ tóc óng vàng, lúc nào cũng ăn bận trẻ trung tươi mát của cô Janet Jones dạy tiếng Anh cho các người tỵ nạn Việt Nam chúng tôi qua chương trình cứu trợ, là một hình ảnh không thể nào quên. Năm ấy tôi xấp xỉ tuổi cô, chỉ hơn cô vài tuổi. Khi các cô học trò khác trong lớp tò mò hỏi về cô, cô kể về gia đình sung túc của cô một cách bình thản không một ý khoa trương gì cả. Địa vị của gia đình cô làm cho tôi và các học viên khác có phần e dè trọng nể.
Janet kể cho chúng tôi trong lớp biết, cha cô là Giám Đốc một công ty may mặc nên ông phải xuất ngoại thường xuyên. Gia đình cô ngụ tại thành phố Mountain Top cách Wilkes-Barre khoảng 30 phút lái xe trên 1 ngọn đồi, là khu nhà biệt thự của giới thượng lưu. Cô theo học nội trú tại 1 đại học thuộc thành phố Lewisburg. Mùa hè năm đó cô về thăm gia đình, nhân tiện nhận dạy thêm môn Anh ngữ để tìm hiểu thêm về người tị nạn Việt Nam mới sang định cư. Trong cung cách dạy chúng tôi tại lớp, cô Janet luôn luôn nở một nụ cười ân cần và kiên nhẫn cho dù phải lập đi lập lại cách phát âm, vì chúng tôi luôn cứ đánh lưỡi sai bét, nhất là khi gặp những chữ cực kỳ khó khăn đến nỗi làm chính mình phải ngượng nghịu trong lần đầu chúng tôi phải tập đọc như: girl, oil, dirty, beach v.v...
Phong cách của cô giáo trẻ Janet chính là một hình ảnh bao dung, nhưng rất công bằng. Nếu chúng tôi có điều gì chỉ trích gần xa đất nước Hoa Kỳ, do lòng buồn thảm và một tâm lý bị người đồng minh bỏ rơi, Janet luôn luôn dịu dàng phân tích vấn đề và rồi đặt câu hỏi: "Nếu địa vị các bạn, thì các bạn sẽ nghỉ thế nào, các bạn sẽ làm sao..." và rồi chúng tôi tự tìm thấy câu trả lời với sự thông cảm hơn từ quan điểm của quốc gia Mỹ. Nói chung, cô ấy không bao giờ dùng ác cảm hoặc thành kiến để dành lẽ phải về phần cô ấy. Bao dung, nhưng rất công bằng. Và nụ cười vị tha, cùng hình ảnh trong sáng nơi cô đã mang về giữa những tuyệt vọng đau buồn của tâm hồn người tị nạn trong tôi một hình ảnh đẹp của nước Hoa Kỳ.
Thành phố Wilkes-Barre như một thiên đường hạ giới với các đường phố, xa lộ, siêu thị, cảnh sát...rất bình lặng, khang trang và hiền hòa, làm tôi quên hẳn tiếng đạn bom mà tôi từng đã quen tai.
Từ những buổi học Anh ngữ trong chương trình thiện nguyện đó, ước vọng được trở lại đi học Đại Học được manh nha và trở thành ngọn lửa khát vọng to lớn nhất thiêu đốt trong tôi kể cả những khi tôi làm công việc nặng nhọc trong hãng sản xuất đồ chơi nhựa với giá lương $2.15/giờ mà tay tôi cứ bị chai phồng vì tiếp xúc chất nhựa mới ra khuôn còn rất nóng, hoặc khi tôi được sự tiến cử của Mục Sư Phillips dời qua thành phố Allentown làm việc lam lũ trong 1 hãng dệt với số lương khá cao lúc ấy, $3.50/giờ, đủ để có một nếp sống ổn định, trả tiền mướn apartment, ăn uống, và còn cất dư lại ít tiền hằng tháng.
Do lời khuyên của một người bạn, tôi tập trung mọi can đảm đến gặp vị Dean of Admission của trường Đại Học Wilkes. Vị Dean này mới ngoài 40 tuổi, rất cởi mở và tận tâm khi gặp tôi. Ông kể rằng tất cả sinh viên Việt du học tại trường này đều rất giỏi, được bảng Danh Dự (Dean's List) hằng năm cả! Tôi rất ngại ngùng vì ông ta quên rằng tôi là người Việt tị nạn, chứ không thể nào so bì với các học sinh ưu hạng kia được. Nhưng nhờ vào sự tin tưởng ấy của ông mà sau khi tính hết tất cả các khoản học bổng ông có thể xin được cho tôi, cuối cùng ông cho biết khoản học phí rất cao của tôi có cơ hội sẽ được thanh thỏa đầy đủ!
Sau khi rời trường hôm đó, tôi hân hoan bước những bước thật nhanh về nhà lòng tràn trề một niềm hi vọng, rồi hằng ngày cứ mong đợi lá thư nhận học của trường... và ba tuần sau, tôi sung sướng và cảm động biết bao khi nhận được 1 lá thư có in dấu hiệu trường Wilkes lịch sự ngoài phong bì chuyển đến phố Allentown nơi tôi đang làm thơ dệt cực nhọc ca khuya (graveyard shift). Lá thư gọn ghẽ và lịch sự ấy cho biết đơn xin nhập học của tôi đã được Trường chấp thuận.
Tôi đọc lá thư xong, nằm lăn ra giường với những hân hoan mừng tủi và lịm người đi trong giấc mơ... Sáng hôm sau, khi tôi trình bày quyết định sẽ bỏ công việc tại hãng dệt với số lương lúc ấy đã được tăng lên thành $3.75/giờ (khá cao thời 1975, so với các việc làm khác chỉ khoảng chừng $2.75/giờ), thì Mục Sư Phillips có vẽ không đồng ý. Ông ấy cứ khuyên tôi mấy lần "nên suy nghĩ thật kỹ lại... vì chưa chắc học xong là có thể có 1 công việc tốt.. vì việc làm này không dễ kiếm..." Nhưng khát vọng được đi học lại là một cái gì chiếm ngự trọn vẹn tâm hồn tôi mà không một mãnh lực nào có thể cản được. Tôi nói: "Tiền bạc và công việc không còn là những gì quan trọng nhất đối với tôi nữa, chỉ còn sự ham muốn được đi học, và tôi sẽ sẵn sàng làm bất cứ việc làm gì có thể để tự sinh nhai qua 4 năm theo học Đại Học..." Đó là lần đầu tiên tôi có quyết định ngược lại với ý muốn của người ân nhân khả kính, người mà lúc nào cũng biểu lộ sự quan tâm cho đời sống của tôi.
Buổi tối hôm ấy tôi nằm miệt mài trên giường, cứ đọc đi đọc lại lá thư rất ngắn ấy của trường Đại Học Wilkes... tôi mong thời giờ trôi nhanh cho đến tháng 9 để tôi về nhập học... rồi bao nhiêu hình ảnh của các người thân vẫn còn ở lại Việt Nam, bao nhiêu đồng đội và bạn bè giờ đã lạc phương nào biệt vô âm tín, tâm trạng buồn bã tuyệt vọng ngày rời trại Orote Point ở Guam cùng làn sóng người Việt tị nạn chia ra đi về những phương trời vô định...
Nhớ làm sau những nét lo âu phân vân rối bời của những anh em lưỡng lự phút giây đi ở sống còn vì người thân còn kẹt lại ở quê nhà...nước mắt tôi nhòa ra mờ hết mọi cảnh tượng chung quanh... và tôi khóc tức tưởi đến ướt đẫm cả chiếc gối... Bao nhiêu chất chứa giờ đã thành 1 dòng sông thoát đi được phần nào nỗi ưu phiền... tôi không ngờ chính mình mình sung sướng vì đã khóc được! Như vậy tôi không quá khô cằn, tôi vẫn còn tình người, và tôi còn khóc được. Sau này tôi chợt cảm thông làm sao cho những giọt lệ khô cằn thành sẹo của những người bị giam cầm trong các trại cải tạo, nơi mà chính loài người cũng bị cấm không được phép khóc trong đau khổ để thấy mình vẫn còn có cảm xúc của một con người.
Thế rồi ngày tựu trường cũng đến. Bao nhiêu mong đợi, bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu ước mơ cùng thành tựu trong một ngày. Tôi bỏ hết mọi thứ để dọn về lại Wilkes-Barre. Ngày nhập học sinh viên Mỹ nào cũng có gia đình thân nhân đi tham quan từng phòng ốc từng chỗ ăn chỗ ngủ. Ai ai cũng hân hoan phấn khởi trước những bài diễn văn chào đón nồng nàn đầy kỳ vọng cho một thế hệ sinh viên mới đang chuẩn bị dấn thân với sách đèn. Tôi chỉ riêng mình, cô độc. Tự phấn đấu bằng bản thân mình.
Mỗi lục cá nguyệt thông thường các sinh viên ghi danh với 12 credits. Các học sinh chịu khó hơn thì ghi danh khoảng 14 đến 18 credits. Trên 18 credits, sinh viên cần phải xin phép vị Khoa Trưởng ký giầy chấp thuận thì mới được ghi danh.
Khóa học năm đó tôi ghi danh 14 credits. Tôi may mắn đem theo được một quyển tự điển Việt-Anh loại bỏ túi lúc rời Việt Nam. Mỗi tối tôi sử dụng nó đến nhàu nát cả từng trang giấy ngả màu vàng. Lục cá nguyệt sau đó các bạn cùng lớp Kỹ Sư Điện có phần ngạc nhiên khi thấy tôi ghi danh 18 credits.
Đến năm thứ Ba, theo đà bận rộn không ngừng nghỉ, tôi ghi danh 24 credits, vừa dạy kèm Toán bên phân khoa Toán, vừa dạy Toán trong chương trình Upward Bound, vừa tình nguyện hiến giờ kèm thêm cho các học sinh trung học thiếu căn bản tại trung tâm YMCA khiến vị Khoa Trưởng rất ngạc nhiên và lo ngại vì sợ tôi không kham nổi một lịch trình quá nặng. Vậy mà khi lên năm thứ Tư tôi vẫn còn nhận thêm 1 job nữa là làm Teaching Assistant (phụ khảo) trong phòng thí nghiệm phân khoa Điện.
Khi chấm bài các sinh viên lớp dưới tôi nhận xét 1 điều là có một số sinh viên Mỹ rất thông minh và phân tích các kết quả trong phòng thí nghiệm thật mạch lạc và tỉ mỉ. Những sinh viên này trình bày các phúc trình của họ rất gọn gàng với luận cứ bén nhậy và đầy tính thuyết phục. Các sinh viên Việt Nam lớp dưới đa số rất giỏi Toán và học rất xuất sắc vào các năm đầu. Lên năm thứ Tư, các bài vở có phần trừu tượng hơn, đòi hỏi nhiều phân tích, suy diễn và quy nạp. Đấy là những lớp mà chỉ các sinh viên dĩnh ngộ mới có cơ hội chiếu sáng tài năng của họ với các bạn cùng lớp.
Cuối năm đó tôi được 14 hãng mời đi interview. Lịch trình máy bay của tôi đi interview khá bận rộn. May mắn là mọi chi phí ăn ở vé máy bay đều được các hãng đài thọ cả, vì bản thân tôi vẫn không có đến một trăm bạc.
Năm 1980 ngành dầu hỏa có sức mạnh ảnh hưởng kinh tế nhất vì giá dầu bắt đầu tăng cao. Sau những chuyến đi thăm, cuối cùng tôi nhận lời làm việc cho hãng Exxon Production Research tại Houston TX vì họ trả lương hậu hĩnh nhất so với các lương mời của các hãng khác. Và tiếng vọng bên tai vẫn không ngừng nhắc nhở "...hãy đi tìm... hãy cố gắng tìm... và mãn nguyện sẽ đến với con..."
Từ đó tôi theo dòng đời bận rộn miệt mài. Từ khi tốt nghiệp kỹ sư rồi đi nhận việc làm tại Houston TX, rồi di chuyển sang Nam California làm việc với McDonnell Douglas, Boeing, đến nay đã hơn 30 năm, tôi thất lạc không còn tìm được chi tiết về Mục Sư Phillips nữa. Nhưng tôi còn 1 kỷ niệm đáng nhớ nhất về ông. Đó là khi ông hướng dẫn tôi và 3 người Việt tị nạn khác đi thăm New York City với khu Rockefeller Center, Empire State Building, và cho tôi một ánh nhìn đầy ngưỡng mộ trìu mến về tượng Nữ Thần Tự Do hùng vĩ... chuyến đi đó đã ăn sâu vào tâm khảm tôi những giá trị về ý nghĩa của hai chữ Tự Do, bằng những hình ảnh to tát, cao cả và thâm thúy nhất mà chỉ có thể cảm nhận được từ con tim của 1 người tị nạn.
Vị Mục Sư ấy đã giúp tôi có được một đời sống ổn định những ngày bơ vơ ban đầu. Cũng vì lòng khao khát và nghị lực phấn đấu, tôi muốn chứng tỏ một người Việt tị nạn tầm thường như tôi còn có thể làm được 1 điều gì đó không tầm thường cho cuộc đời còn lại của mình, nên tôi bất chấp những gì đang có để dấn thân vào tương lai với ít nhiều liều lĩnh.
Những lời nhắn nhủ của vị thầy vẫn về nhắc nhở trong tôi. Điều gì ở cuộc đời sẽ làm tôi mãn nguyện? Tôi đã từng thành lập một Công ty Computer năm 1987 và đã từng có lần đánh giá thành công qua những mức độ vật chất như nét hào nhoáng của chiếc xe mình lái, tầm lớn của cao ốc mình làm chủ, hay bán kính và độ dầy những viên kim cương... tiếc thay những giá trị vật chất đó đến rồi đi... Còn lại niềm mãn nguyện chăng có lẽ là ý niệm về một sự phấn đầu. Rằng mình đón nhận quả chanh từ số phận và đã vắt chất nước chua ấy tạo nên một ly đá chanh. Rằng mình đã vượt qua được một số thử thách nghiệt ngã của cuộc đời. Rằng mình chấp nhận cuộc đời bất chấp sự kém toàn thiện của nó, để luôn giữ vững niềm tin mà đi tới. Vì ngày mai hiển nhiên mặt trời sẽ vẫn còn ló dạng ở Phương Đông.
Có một câu nói rằng: "How much you get out of life depends on how much you put into it", tạm dịch là "Mức độ bạn nhận được bao nhiêu từ cuộc đời này lệ thuộc vào mức đóng góp của bạn vào nó"... Nước Mỹ không thể xem là hoàn hảo, nhưng nó cho người tị nạn cơ hội để họ có thể phấn đấu và cuối cùng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Tôi bước đi một cách bình thản giữa những ồn ào và náo nhiệt. Tôi học hỏi sự bao dung và công bằng từ cô Janet. Tôi trân quý lòng quan tâm mà Mục Sư Phillips đã dành cho một người tỵ nạn như tôi. Nhưng có lẽ chuyến viếng thăm New York là một kỳ tích đã để lại một ấn tượng sâu đậm nhất cho cả cuộc đời tôi. Nó cho phép tôi bước lại trên những dấu chân của những giống dân tị nạn khác đã từng đến nước Mỹ trước chúng ta. Đó là ý nghĩa về một lý tưởng Tự Do. Ý niệm đó từng làm tôi khóc sau biến cố Sept 11, 2001.
Cũng vì những giá trị khai phóng đó mà tôi luôn theo dõi các phi thuyền Con Thoi của Mỹ khi nó bay ra ngoài khí quyển làm những công tác đặc biệt rồi lại trở về an toàn trên quả đất. Đôi khi những phi thuyền đó và các Phi Hành Đoàn phải trả giá bằng cái chết bi hùng của chính họ. Nhưng nước Mỹ, một quốc gia luôn tự hào về tính chất đa văn hóa, đa chủng tộc, luôn luôn tự chọn cho mình những sứ mang không tầm thường. Và tôi tự hỏi, hay là nước Mỹ cũng đang thực hành lời khuyên của vị thầy xưa của tôi? Có phải chăng nước Mỹ luôn đi tìm điều gì đó để làm cuộc đời này có ý nghĩa?
Ngày mai khi vầng thái dương bắt đầu ló dạng, các bạn hãy làm một điều gì đó cho cuộc đời. Hãy biến mỗi ngày mới của bạn thành một ngày thật đầy ý nghĩa.

CÁT BIỂN


Linh Hồn Của Thép

Người hỏi ta, con tàu khối thép
Đón đưa người, thép có linh hồn?
Xin trả lời: tàu mang sinh mệnh
Mỗi con tàu số phận đặt ban

Người hỏi ta, mây trời bến lạ
Thép với người, bền chặt núi non?
Xin trả lời: trường ca máu lửa
Thép cùng người, chung thuỷ sắt son

Tàu mang anh hoàng hôn hải đảo
Ngọn suối lòng chảy bến tình thương
Tàu ra khơi bạt ngàn sương gió
Trải nhụy vàng ngát thái bình dương

Tàu đưa anh thuỷ cung huyền hoặc
Ướp mây hồng đẹp giấc em mơ
Tàu hiên ngang cờ ngày lộng gió
Mang lửa nồng sưởi tuyết đông sơ

Người hỏi ta, chân mây đầu sóng
Thép với người còn nghĩ đến nhau?
Xin trả lời: nỗi lòng sông biển
Linh hồn kia, người vẫn yêu tàu


vỉnh biệt nguyễn hùng tâm

Từ lớp trẻ khoác chiến y dạo ấy
Bạn bên chúng mình từng bước quân đi
Ngày tinh mơ chập chững mặc kaki
Bạch Ðằng 2 sương khuya xếp hàng hít đất

Quang Trung quân trường biển người mưa phất
Bọn chúng mình giử màu áo Hải Quân
Cổng Nha Trang chùn bước cõng balô
Khổ nghiệp Ðại Dương ngọt bùi cã lủ

Tiểu Ðoàn Sinh Viên kiêu hùng quân chủng
Bạn giử cho đời hoa trắng tinh nguyên
Sắt thép hiên ngang tuổi trẻ vươn lên
Buổi ra trường ghi công đầu gian khổ

Bên anh em bạn làm chim bay trước
Con số cuộc đời danh ước Hai Mươi
Chiếc nhẩn vàng đeo sát ngón tay
Hãnh diện khổ đau mang đầy nghiệp dĩ

Giữa ngày về bạn vĩnh viễn ra đi
Trong uất nghẹn bao bạn bè thương tiếc
Khuya đêm nay trên vòm sao Hổ Cáp
Một ngôi sao chợt tắt giữa đêm đen




những ngày bi thương năm ấy

Hải pháo từ Cát Lỡ bắn liên hồi
Thục vào cầu Cỏ May ầm ì chận giặc
Ngày hăm chín Vũng Tàu sôi máu sắt
Đại bác quân thù ì ỏm bắn ra khơi
Trước mũi tàu đạn giặc rót loạn lung
Các chiến hạm neo xa, lù lù chờ lệnh

Rối loạn, mọi người đổ xô cửa biển
Thuyền bè đáo đôn ngổn ngang đi, ở
Ba Mươi Tháng Tư mưa sầu nức nỡ
Ai khóc cho mình, hay trời khóc quê hương?
Bãi biển tang thương uất hờn héo hắt
Bao nhiêu cảnh người, ruột thắt từng cơn

Trên máy phóng thanh Minh Lớn đầu hàng
Là tiếng dao bầu cứa ngang tấc cổ
Cả trời tin yêu một lòng anh dũng
Tuổi trẻ kiêu hùng dâng hiến quê cha
Nay quê chẳng còn, con buông chí cả
Mai con đi rồi ai giữ quê ta?

Chiều Ba Mươi chìm cơn dông tố
Cả một đoàn tầu vĩnh quyết chia ly
Hạm Đội chưa hề về đông như thế
Không đánh quân thù, lại thãm bại ra đi
Khu Trục dẫn đầu súng cao hiễn hách
Tuần Dương, Hộ Tống, Dương Vận hải uy
Giang Pháo, Trợ Chiến, Tuần Duyên, Tiếp Vận
Cả một dũng đoàn sức mạnh ai bì
Mấy chục con tàu tiến quân đau xót
Quê Mẹ không còn, đuổi kẻ ra đi

Mỗi ngày xa quê là một ngày lạc lỏng
Mỗi bóng mặt trời là một kiếp khổ sai
Mỗi tối hoàng hôn là âm tỳ tủi nhục
Mỗi sóng reo đuà là mũi nhọn chởm gai

Ngày Bảy tháng Năm tàu vào Phi phận
Con số chiếc tàu sơn cạo, xoá tên
Bao nhiêu uy danh nay thành hư ảo
Khối sắt vô hồn, thây xác rỗng tênh
Còi chào sĩ quan nghe cay đắng nhức
Viên chức Hoa Kỳ trình Ủy Nhiệm Thơ
Nhận các con tàu vừa thành vô chủ
Áo biển trẻn trơ ngày mất bến bờ

Chiều gió mơ màng hàng người im phắc
Đứng thẳng boong tàu cứng ngắt, chào tay
Nhìn lá cờ vàng lòng đau quặn thắt
Còi thổi: 'Hạ kỳ', mọi mắt đều cay
Có kẻ nấc lên người kềm nước mắt
Nhìn lại bạn bè hận ức bủa vây

Hăm Chín Tháng Tư khăn tang ban phát
Tàu có hai xuồng chung thủy đón đưa
Lệnh gom quân vĩnh biệt đến giờ
Không kéo thuyền lên, mà đành đoạn cắt
Thủy thủ chặt giây, hồn tim se thắt
Lià bỏ con thuyền dứt bến bờ thương
Mồng Bảy tháng Năm ta mang đời tị nạn
Từ đó sâu hằn dấu tích quê hương




hồi ký - yểm trợ trận chiến hoàng sa

Ngày 17 tháng 4 năm 1974, chiến hạm Vĩnh Long HQ-802 (LST) của chúng tôi bỗng sôi động hẳn lên với lệnh rời vùng trách nhiệm Trường Sa để tiến về quần đảo Hoàng Sa. Có tin đồn Trung Cộng sắp tấn công tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, và Hải Ðội III Ðặc Nhiệm trực thuộc Hạm Ðội chuẩn bị nghênh chiến.
Chiến hạm chúng tôi được điều động đi yểm trợ tiếp vận vì đã được thực tập trong lực lượng đặc nhiệm Hải Ðội III năm 1973, vừa là 1 tàu với nhiều máy móc kỹ thuật. Phản ảnh sự sôi động của tình hình bây giờ, người ta còn nghe mọi thủy thủ trên tàu trong câu chuyện thường nhật lại nói chêm thêm dăm ba câu tiếng tàu vào các câu đùa cợt trong suốt hải trình ra vùng Hoàng Sa. Ðời quân đội là thế, thêm chút khôi hài trong cái cực nhọc để tìm chút vui tươi.
Cá nhân tôi, vừa được đi du tập qua các quốc gia Á Châu trong vùng trách nhiệm của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ về lại Hạm Ðội VN, nhận thấy quá rõ ràng thái độ mới của chính trường Hoa Kỳ và sự bấp bênh của chính quyền Nixon, lòng tôi âu lo về sự xuất hiện của loài cá mập này càng làm gia tăng gánh nặng cho HQVN. Như vậy, thật bất ngờ, trận hải chiến Hoàng Sa sắp thành sự thật.
Nhiệm vụ của Hải Ðội đặc nhiệm được thành lập từ năm 1973 nhằm đối phó với vấn đề đặt quân trú phòng trên lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa, song song với việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên dầu hỏa thuộc về chủ quyền VN.
Hải Ðội đặc nhiệm được chỉ huy bởi HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc (Khóa 5), cũng là Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3(Hải Ðội Tuần Dương), thuộc BTL Hạm Ðộị Thành phần của Hải Ðội đặc nhiệm cùng thao dượt mùa hè 1973 gồm có:
* CXH HQ-802 (Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái hạm.
* CXH HQ-801 (có chở theo các Sinh Viên Sĩ Quan thuộc Trung Tâm Huấn Luyện HQ Nha Trang.
* Khu Trục Hạm HQ-4 (DER) và 3 Tuần Dương Hạm (WHEC).
Ngoài ra còn được tăng phái 1 số hạm trưởng thâm niên để thực tập các công tác tiếp vận quy mô ngoài khơi.
Trước đó khoảng 3 tháng, bỗng dưng Bắc Kinh lên tiếng tuyên bố chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Ngoại trưởng VNCH ông Vũ Văn Bắc liền lên tiếng bác bỏ và cực lực lên án ý đồ xâm lăng này của Trung Cộng.
Ngày 16-1-1974 Trung Cộng mang 2 chiến hạm số 402 và 407 cùng nhiều ngư thuyền vũ trang đổ bộ lên đảo Cam Tuyền, một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 17-1-1974, Khu Trục Hạm HQ-4 đến Hoàng Sa gây áp lực buộc lức lượng Trung Cộng rút khỏi 2 đảo Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Tuy nhiên, chiến hạm của Trung Cộng vẫn lảng vảng trong vùng. Chiều lại, tin báo cáo cho biết có thêm 2 chiến hạm săn tàu ngầm loại Kronstad của Trung Cộng được tăng cường.
Nhận thấy tình hình nghiêm trọng, Bộ Tư Lệnh HQ Vùng 1 Duyên Hải ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng và Vĩnh Lạc. Ðồng thời, tăng cường thêm Tuần Duyên Hạm HQ-5 (Cruiser) và Hộ Tống Hạm HQ-10 (Escort) vào vùng chiến cùng với Khu Trục Hạm HQ-4 (Destroyer) và Tuần Duyên Hạm HQ-16 Cruiser).
Tăng cường thêm có Toán Hải Kích SEAL điều động bởi HQ Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (Khóa 20), và toán Biệt Hải điều động bởi HQ Trung Úy Lê Văn Dũng (Khóa 20), 1 Trung Ðội Ðịa Phương Quân đang trú phòng tại đảo chính, đảo Hoàng Sa, và 1 phái đoàn công binh của Quân Ðoàn 1 (do Thiếu Tá Hồng chỉ huy) tăng viện để xây cất một phi đạo trên đảo Hoàng Sa.
Lực lượng HQ Trung Cộng có 11 chiến hạm và ghe thuyền (gồm các tàu Khinh Tốc Ðỉnh Komar với hỏa tiễn hải-hải, Vớt Mìn, Trục Lôi Hạm và Hộ Tống Hạm), tổng số binh sĩ Trung Cộng hiện diện không rõ.
Chiến hạm chúng tôi, HQ-802, hai máy tiến full vận chuyển với tốc độ nhanh đến vùng 1 Duyên Hải ngày 18-1-1974 để nhận lệnh. Trên đường đi Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công ra lệnh hạm phó, Thiếu Tá Thái, chỉ huy bắn thử các trọng pháo để thao dượt tác xạ. Mỗi phát đại bác bắn đi, tàu chúng tôi rung chuyển khắp thân của khối sắt nỗi, hầu hết thủy thủ đoàn đều lên boong tàu lúc thao dượt tác xạ.
Chúng tôi chỉ biết HQ-5 đã tiến ra Hoàng Sa với toán SEAL, HQ-4 mang theo toán Biệt Hải, và HQ-16 đang có mặt ngoài khơi Hoàng Sa. Dĩ nhiên là mọi thủy thủ đều quan tâm đến những diễn tiến đầy kinh ngạc này. Ðang bận đương đầu với chiến cuộc với CSVN mà HQVN tham dự bằng yểm trợ hỏa pháo từ mặt biển, nay nghe tin HQ Trung Cộng sử dụng chiến hạm với tốc độ nhanh trang bị hỏa tiễn vượt trội hơn hỏa lực HQVN, ai cũng lo ngại về sự bất cân bằng của trận hải chiến.
Trước đó khoảng 1 năm, CXH Vĩnh Long HQ-802 được lệnh đi thao dượt tập đội tại ngoài khơi Trường Sa, theo các tin tức là 2 quần đảo Trường và Hoàng Sa có thể có các mỏ dầu quan trọng. Từ đó chúng tôi rời đất liền với những công tác dài hạn kéo dài vài ba tháng lênh đênh chỉ thấy những nước và sóng biển, thèm khát mặt đất, cây cối, nhà cửa và những tà áo dài. Hải đảo Trường Sa buổi chiều các hải âu bay về hòn đảo nhỏ với số lượng đông đảo làm đen cả bầu trời và tiếng kêu chíu chít nhộn nhịp của bầy chim có thể nói kinh khủng như phim của vua kinh dị Hitchkok. Ai muốn bắt bao nhiêu chim và lấy bao nhiêu trứng chim hải âu này đều được cả. Chỉ cần lấy xoong, giỏ ra mà xúc bắt vì chúng nhiều vô số.
Các sinh vật dưới biển nhiều con thật lạ lùng, các anh Ðịa Phương Quân ăn phải cá biển độc bị sưng phù và nhiễm bệnh nhiều đến nỗi chúng tôi phải chở thêm y sĩ ra trị bệnh. Có buổi chiều tàu bỏ neo, tôi đứng gần anh hạ sĩ Ðương đang thả mồi câu cá. Mồi nhấp nhấp rung dưới nước, hạ sĩ Ðương giật lên 1 con cá khá lớn. Anh vừa kéo cá lên khỏi mặt nước khoảng 1 mét, bỗng từ dưới nước nổi lên 1 con cá mập phóng ngang qua táp mất con cá của hạ sĩ Ðương, cắn đứt luôn cả dây câu, và biến vào lòng biển. Mọi người chúng tôi đều nhìn nhau kêu "Ồ" một tiếng. Từ hôm ấy, chúng tôi không rủ nhau nhảy xuống biển vùng ấy để bơi lội khi trời nóng bức, điều mà chúng tôi vẫn thường làm mấy hôm trước.
Cả hai vùng biển Trường và Hoàng Sa đều nổi tiếng là có nhiều đá ngầm tức là các đỉnh núi của những núi chìm với chân núi sâu một hai ngàn thước, ví như các bãi chông dễ thọc lũng các tàu bè. Các tàu khi mắc đá ngầm bị bể nát cả thân, chỉ nỗi lềnh bềnh phần trên trở thành xác khô phơi thân cùng sương gió.
Ngày còn phục vụ trên HQ-800, tàu chúng tôi cũng đã trợ giúp kéo tàu Trường Xuân của Vishipcoline khi tàu này bị mắc cạn ở Trường Sa. Có trải qua cái khổ tâm đó thì mới hiểu cái kinh dị của hai vùng biển này. Sáng sớm ngày 19-1-74, trong khi tàu chúng tôi được lệnh bỏ neo ngoài khơi, quá Ðà Nẵng ngang hòn Tri Tôn, Hạm trưởng Công ra lệnh 2 toán đặc biệt trang bị vũ khí và áo phao có cả 2 binh sĩ người nhái trực thuộc HQ-802 hạ xuồng chuẩn bị ứng chiến. Tuy nhiên, lệnh từ Bộ Tư Lệnh Vùng 1 vẫn giữ chúng tôi trong tình trạng chờ để yểm trợ.
Cùng lúc ấy, tại quần đảo Hoàng Sa, toán Hải Kích SEAL (Người Nhái) của HQVN được lênh đổ quân lên đảo Quang Hòa do Trung Cộng chiếm cứ. Quân Trung Cộng nổ súng khiến cho 2 người nhái VN chết (Hạ Sĩ Long và HQ Trung Úy Ðơn). Toán Hải Kích rút về chiến hạm HQ-5 lúc 9:30 sáng. Trận hải chiến ngay sau đó bắt đầu lúc 10:00 sáng. Tôi được biết chiến hạm 2 phía dàn hình đối mặt, HQ Việt Nam ở vòng ngoài tiến về hướng Ðông Nam vào, Trung Cộng vây quanh đảo Quang Hòa, hướng về phía Ðông Bắc nghênh chiến. Sĩ quan chỉ huy chiến thuật (HQ Ðại Tá Ngạc) ra lịnh khai hỏa, tác xạ trực tiếp vào tàu địch. HQ Trung Cộng phản công. Trận hải chiến diễn ra với tổn thất hai bên như sau:
VNCH: HQ-10 bị chìm tại trận. HQ-16 bị hư hại nặng, (phòng máy bị trúng đạn nhưng còn hải hành được). HQ-5 và HQ-4 bị hư hại nhẹ. Gần 50 binh sĩ bị tử thương, kể cả hạm trưởng HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà của HQ-10 cùng chết theo tàu.
Trung Cộng: Chiếc Kronstad 271 (soái hạm ) bị chìm. Ba chiến hạm tham chiến còn lại bi hư hại nặng và trung bình. Con số tử vong và bị thương không rõ.
Chúng tôi nóng lòng theo dõi các diễn tiến của trận hải chiến và rất đau lòng trước cái chết của một số đàn anh và các chiến hữu mà chúng tôi đã gặp từ Hải Ðội 3 Duyên Phòng (Vũng Tàu). . Một lần nữa cái đau xót xưa lại trở về, kẻ thù Phương Bắc lại dày xéo mãnh giang sơn mà cha ông chúng ta đã lập nên. .
Sau trận Hoàng Sa, Trung Cộng lập tức huy động một lực lượng hùng hậu kết hợp Hải-Lục-Không Quân với gồm cả 42 chiến hạm và 2 tiềm thủy đĩnh tấn công đổ bộ bao vây tấn chiếm đảo chánh Hoàng Sa và các đảo kế cận, bắt giữ tất cả binh sĩ VN trên các đảo giải về Trung Cộng.
Sáng ngày 20-1-74, hai chiến hạm HQ-4 và HQ-5 về lại Ðà Nẵng cập bến an toàn gặp lại HQ-16 đã về đó trước, tất cả các chiến hạm đều bị trúng đạn. Chiến hạm chúng tôi sau đó được lệnh trở về Vũng Tàu. Sau này khi tàu về đến Vũng Tàu, tôi thấp thỏm mong tin về các bạn SQ cùng khóa tham dự trong trận đánh đó là HQ Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (Người Nhái) và nhất là HQ Trung Úy Lê Văn Dũng ( Biệt Hải) bị HQ Trung Cộng tiến chiếm đảo Hoàng Sa bắt mang về Trung Cộng, cùng với các Ðịa Phương Quân và toán Công Binh. Khi thoáng thấy HQ-471 do HQ Ð/Úy Hoàng Thế Dân ( Khóa 20) làm Hạm Phó lù lù xuất hiện về lại cửa biển Vũng Tàu từ vùng chiến Hoàng Sa, chúng tôi đã lên máy truyền tin và vì quá mong đợi tin an nguy lẫn nhau đã liên lạc trực tiếp bằng bạch văn về tin tức của trận hải chiến, bất chấp các lệnh mã hóa truyền tin.
Trong hải sử cận đại mà các cuộc hải chiến xảy ra rất hiếm hoi, biến cố Hoàng Sa là trận hải chiến đã hâm nóng lại mối thù sâu xa với kẻ thù Phương Bắc, mà liên tục qua nhiều thế kỷ đã tìm cách xâm chiếm và xâm phạm chủ quyền nước Việt Nam, như một anh láng giềng ngoan cố tệ hại nhất. Trận hải chiến Hoàng Sa đã để lại tâm khảm tôi một số ưu tư dằn vặt mà qua thời gian tôi vẫn không thể nào khuây. Chúng ta không thể nào quên được ý đồ xâm chiếm của kẻ thù Phương Bắc. Kém may mắn thay, đi kèm với hành động xâm lăng ấy là một thái độ trở cờ của chính trường HK, hậu quả của lỗi lầm về chánh trị của Tổng Thống Nixon trong vụ Watergate.
Nước VN đã bị cô lập và bị từ khước các chọn lựa bằng giải pháp ngoại giao, để rồi phải chọn hình thức hi sinh, chiến đấu trong vô vọng, liều chết để bảo tồn danh dự trước kẻ thù mạnh hơn mình về quân sự. Tuy nhiên có lẽ niềm đau day dứt nhất vẫn là cái chết đáng thương của các chiến sĩ Hải Kích kiêu hùng mà quân chủng Hải Quân đã phải tốn bao nhiêu công sức để đào tạo. Họ được lệnh đổ bộ lên đảo trước các mũi súng địch đang gờm chờ sẵn trong hàng phòng thủ, mà không hề được hải pháo dọn bãi yểm trợ. Rồi nghĩ lại hoàn cảnh HQ-10 trong tình trạng bán khiển dụng (tàu có 2 máy chánh nhưng một đã bị hư), mà vẫn được lệnh tham chiến để rồi bị trúng đạn chìm vào lòng biển cả. Người lính VN đã phải trực diện với bao phi lý của thời cuộc như thế chỉ để nối tiếp các thế hệ đàn anh viết lên những trang sử đỏ thẳm bằng máu của chính họ.
Xin đốt một nén hương lòng cho các anh hùng Hoàng Sa và mượn lời thơ của Nguyệt Trinh để ghi khắc công trạng ấy và cầu mong cái chết của họ không trở thành vô nghĩa:

Sóng biển chiều nay cuồn cuộn quá
Còn đây uy dũng pháo Hoàng Sa
Vành khăn tang trắng đầu con trẻ
Kinh buồn vĩnh biệt tiếng cười cha ....


giấc mơ biển

Xưa yêu biển, anh mộng mơ hải nghiệp
Dệt hồn mình thẫm nguyện một màu xanh
Áo trắng tinh anh, mủ vành phong nhã
Nếp chỉ vàng may áo dạ hoàng gia

Hoa biển mộng, ẫn đầy gai khổ nhục !
Cánh tay trần luyện hái gió đo mây
Ngày đang quang, quì đưa tay vũ trụ
Đeo nhẩn vàng thách thức ngũ đại dương

Rồi từ đó loài kình như lượn sóng
Mộng thủy cung, huyền thoại mỹ nhân ngư
Ngắm sao trời gió, lủ sóng ba đào
Đi chất ngất chuyến phiêu lưu kỳ ảo

Chiều Trường Sa hải âu bay ngập đảo
Nắng Hà Tiên vịnh đá nhã hương thơ
Tâm sự trăng sao mượn nhờ hơi thuốc
Uống mềm môi tình tự bóng trong mơ
Thủy thủ say tình, biển cả mịt mờ
Biển say sóng bờ, ai say với rượu

Bến ở đi, sương mờ giăng hải lý
Gang thép thề bền bỉ với non cao
Những ca đêm hải hành vào tác xạ
Đại pháo bắn đi run cả thân tàu
Rồi những chiều mưa giông vờn bảo lớn
Tàu nghiên mình răng rắc rợn cả da
Và những chuyến xuôi buồm trong nắng sớm
Thủy thủ hát ca vang vọng cả boong tàu

Phiêu lãng đời trai ngất cao ước vọng
Bỗng một chiều ác mộng Tháng Tư đen
Nhổ neo cất xuồng đắng cay tấc lưỡi
Xếp lá cờ tức tưỡi kiếp tha hương

Nay phố lạ có gươm trao trả mộng
Thoáng rượu nồng hổ nhớ chợt rừng xưa
Ôi hải nghiệp biển yêu còn ấp ủ
Tóc ngã màu chim rũ cánh phiêu du





người qua

Tôi cho người chút hồng sương mai
Người khơi tôi những nhánh sông dài
Tôi cho người quảng dài canh thâu
Người cho men rượu đắng cung sầu

Tôi trao người một vầng trăng yêu
Người mang tôi những áng mây chiều
Người qua chơi xác thân mềm liễu
Cửa ngách hồn linh lộng cánh diều

Còn em gọi nắng vào mưa
Còn anh cuồng dại say sưa gió ngàn
Kiếp mơ thần thoại xin mang
Chim bay còn dấu thiên đàng nhớ nhung

Tôi hong đời cát vàng tinh nguyên
Người rong chơi những gót chân huyền
Người đi qua, cỏ cây hằng nhớ
Những phút thần linh sóng quyện bờ.



passing by

I give some tints of the morning dew,
You spread them into arms of river.
I share with you the long night wake,
You instill the bitter brew of melancholy.

I offer a loving moon
You put in the cloudy sunset.
You pass by with mellowing softness,
Arousing all my soulful slits and crannies.

You call the sun into the rain,
I passionately ride on the wind,
To a dream in fairyland,
Where the vestiges of a heavenly adventure are still.

I lay my sand on a virgin beach
You tread along with magical steps,
Even the plants and trees remember
The precious moments when legendary waves kiss the shore.

Translated by :
Bình Nhung
(03-05-03)




rừng hoang chợt thức

thơ: Cát Biển
nhạc: Vũ Thư Nguyên


Từ giấc bướm cánh rừng hoang chợt thức
Từ giọt em anh hít thở quỳnh lan
Từ đêm dại sương bình minh gọi thức
Từ tơ ai mật nhớ quyện không gian

Là hơi thở len đi tìm giọt máu
Là tâm linh dạo mấy cõi thiên can
Là đôi cánh quí trân từng đỉnh núi
Là tinh nguyên chiếu vọng chốn thiên đàng

Em trút suối mưa nguồn anh khao khát
Em hồng hoa nồng bước lối anh qua
Em dại cỏ chơi đùa anh gió mát
Em ngọc ngà xâu chuỗi kéo tình ta

Trong cây lá nghe mùa đông chợt thức
Từ ven đồi nắng hạ chiếu hoa đăng
Anh vượt tuyết qua trầm kha lưu vực
Tạ ơn ai lay thức giấc nhọc nhằn.


thuở vào đời

Người vào hồn ta tan trường chung lối
Bao buổi học về còn say gió hôm nao
Vẫn hương cỏ thơm chiều nghiêng nghiêng nắng
Vắng bước chân nàng, lối rẽ xót xa đau

Chiều nào kề vai nghe lòng dậy sóng
Bia đắng đầu đời mềm môi chất thương đau
Rồi sông chảy tuôn trào con nước lắng
Nước mằt đưa người ly biệt kiếp binh đao

Anh ra đi gói theo hành trang nhỏ
Ấm quê hương thương mấy giọt lệ chào
Cửa xe cuối đời học sinh áo trắng
Khép kín khung trời thơ mộng xuyến xao

Từ vùng hồn nhiên, cuồng điên giông bảo
Mê tỉnh cuộc đời tìm bao mãnh hư hao
Bỡi hôm tuổi mơ người cho men đắng
Gió buốt bao mùa nhớ tưỡng giấc chiêm bao






vào thu

Nắng Hạ vô tình buông phố thôn
Biết chăng Thu lá nhuốm phai hồn
Chân Hè hoang vắng tay người tiễn
Bóng dáng Thu về sương cỏ non

Hạ nắng chan hòa tim chứa chan
Thu đau trần thế lá rơi vàng
Nghe reo phượng vỹ đùa trong nắng
Sao ẫn mây sầu hoang nghĩa trang

Thu, từ đôi mắt ngẩn ngơ nai
Ta, kẻ rong chơi quãng ngắn dài
Giam giữ đã đầy cơn bão tố
Sóng cồn vô thức khoảng riêng ai

Có biết hồn kia đang kéo tơ
Hạ ơi chào nhé những mong chờ
Cho ta vào trú khu rừng nhớ
Nhặt đóa thu sầu giăng kết hoa




mùa phượng vỹ

Thơ: Cát Biển
Nhạc: Mai Ðức Vinh

Người giẫm sỏi buồn ghé bước chân
Ngôi trường hoen nắng chiếu qua sân
Hoang vu trống vắng buồn đơn lẻ
Gió táp hồn nghe buốt chạnh ngần

Thương lối đi về, tuổi ngóng trông
Con đường đến lớp ngát bông vông
Phượng rơi thềm lối mùa hoa thắm
Áo trắng bay lơ, chạm cõi lòng

Thuở đó lòng đan những hạt châu
Thoáng nhìn khoé mắt ngút xanh dâu
Bao nhiêu mong nhớ lời câm nín
Ai gửi thầm ai vạn nỗi sầu

Ta vẫn mang đầy nặng trĩu thương
Những ngày phượng nở ngát vầng dương
Rưng rưng giã biệt hè chan chứa
Ði gởi niềm thương trước cổng trường


lời tiễn muộn

Tập vở trao đề tên chử Vương

Trao chi mộng mị giữa đêm trường

Vầng trăng kiều diễm trang đài quá

Cánh hạc sương mờ ngây ngất hương

Núi nhớ mây còn rung gió đông

Trăng quên đi vội, nước trơ giòng

Người đi vào cỏi hồng miên viễn

Bỏ lại xuân nồng ai ước mong ?






cảnh xa


Nét bút tơ trời đan thiết tha

Chim thon từng bước dấu chân ngà

Lòng ai tựa sóng cuồng tuôn chảy

Ngút giải thiên hà hoan cảnh xa

Bỗng nhói tin buồn đau tháng Tư

Nghe câm lặng đắng chết ngôn từ

Còn ai về lại ngồi chung lớp

Trãi luyến lưu về khuôn tiểu thư







mưa đêm

Thơ: Cát Biển
Nhạc: Mai Ðức Vinh


Ðêm nghe tiếng bụi ngàn
Ðêm hoang gió luồng ngang
Ðêm bão nổi cung đàn
...bão nổi cung đàn
...như tiếng thở than

Nghe thiên khúc nghê thường
Nghe chân bước bờ thương
Nghe nhung nhớ sông Mường
...nhung nhớ sông Mường
...thanh thoát trầm hương

Tóc dù điểm sương trời
Mai trôi gió ngàn khơi
Mai rũ rượi góc đời
...yên giấc cuộc chơi

Xin hương ngát rộn ràng
Trong hơi ấm mộng đan
Tay vin dấu địa đàng
...vin dấu địa đàng
...cho thỏa trần gian...



em, biển cả và anh

Em, biển cả
Hai nguồn mơ tuyệt vợi
Quyện hút hồn anh huyền ảo đam mê
Ta giữa biển một đêm trăng thần thoại
Cuộc nhân gian
Cùng lạc mất nẽo về

Anh và biển
Hai vệt dài khoảng cách
Biển ngàn năm vần vũ cuộc triều lưu
Anh hiện hữu, một que diêm tí tách
Loé sáng trong đêm
Rồi tắt lịm nghìn thu

Em ghé biển
Sông trời sáng bừng tinh tú
Thoáng ngọc ngà
Mang ước lệ nghìn thu
Biển vẫn biển
Ðầy phong ba bão táp
Anh vẫy vùng
Man dại giữa sương mù

Anh bỏ biển
Vùi sâu bao ước nguyện
Em ra đi trần thế đẫm cô miên
Ta ghé biển một phút giây phàm tục
Trãi dư âm
Thấu tận cõi hư huyền ........





vĩnh biệt một loài hoa

Cho Ngọc Lan



Từ lúc chim bay rũ bụi trần

Bên bờ sông vọng tiếng tơ ngân

Người chơi vui chút nơi trần thế

Cánh dỏi xa bay cảnh nhược bần

Có phải tay vươn thầm níu gọi

Hay là khoé lệ ứa trào dâng

Rừng hương hoa thắm xưa ngồi hát

Giờ ngủ thiên thu dưới mộ phần



nguyễn văn sáng


( Trở về đầu trang )