trang mở đầu || LVChâu lời chào mừng || CVThành lời chúc mừng || NT KHBá những HC2 lìa đàn || HC2 thương tiếc cố HC2 NVĐệ || NĐHoàng hội trùng dương || NTTánh 45 năm ra khơi || Chị NVThước CB tiền ĐH || TDTín du ngoạn hậu ĐH || Chị NVThước gã 20 || NTTánh cảm nghỉ về ĐH2015 || Chị LVTài tình chàng ý thiếp || Chị NVĐệ những ngày tháng không quên || Chị LVTài đông kinh nghĩa thục || NVĐệ nhớ thương || Chị LVTài **


đông kinh nghĩa thục


(Huy hiệu Đông Kinh Nghĩa Thục)

“Một số nhà nho Hành Thiện hưởng ứng lời kêu gọi của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục đã cắt bỏ búi tó và để tóc ngắn như người Pháp từ năm 1908.” (Trang 74) ”...Phải đợi đến khi nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục vào năm 1907 hô hào toàn dân theo tân học, nên đến năm 1908 mới có học sinh Hành Thiện theo học Trường Tiểu Học Xuân Trường”. (Trang 115) “Trong 23 năm đầu của nền bảo hộ Pháp tức từ năm 1884 đến 1907 dân Hành Thiện vẫn theo Hán học. Đời sống tinh thần của dân Hành Thiện trong khoảng thời gian ấy vẫn giữ nếp cũ.
Mãi đến năm 1907 hưởng ứng lời hô hào của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục và chịu ảnh hưởng của hai nhà tư tưởng Trung Hoa là Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, hơn nữa vì Triều đình Huế quyết định từ khóa thi Hương 1909 trở về sau, ngoài các bài thi chữ Hán còn có các bài thi chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ nữa, bấy giờ các nhà nho Hành Thiện mới chịu cho con em theo tân học, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp.” (Trang 681) - Đặng Hữu Thụ, “Làng Hành Thiện thời Tây Học”, 1999, Menlo - France.


  N hư phần trích dẫn bên trên, chúng ta thấy phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã có một tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầng lớp sĩ phu Việt Nam, cũng như những nhà Nho làng Hành Thiện thời đầu Thế Kỷ thứ 20, dưới thời thực dân Pháp. Chúng tôi xin được tóm lược về Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục:
1.- Đông Kinh Nghĩa Thục được lập ra từ tháng 3, và bị đóng cửa vào tháng 11 năm 1907, đã khởi động một phong trào duy tân nhằm thực hiện việc cải cách xã hội Việt Nam vào đầu Thế kỷ 20 trong thời kỳ Pháp thuộc. Mục đích của phong trào là việc khai trí cho dân qua những lớp học, chủ trương quảng bá phong trào dạy chữ Quốc Ngữ, in ấn những tài liệu giáo khoa, dịch thuật những tài liệu duy tân tiến bộ của những tác giả ngoại quốc, tổ chức những cuộc diễn thuyết để trao đổi tư tưởng cùng cổ động tinh thần duy tân trong dân chúng, chủ trương và phát hành Đông Cổ Tùng Báo và Đại Việt Tân Báo, phát huy những cơ sở thương mại, thực nghiệm kinh doanh cũng như để tăng thêm nguồn thu nhập và hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa.
2.- Vào đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp hầu như đã dẹp tan được các cuộc khởi nghĩa của những phong trào Văn Thân và Cần Vương (1885-1895) tại Việt Nam. Cùng với việc củng cố chính sách cai trị thực dân, nền kinh tế thuộc địa cũng bắt đầu được phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các nhóm nhỏ được hưởng những lợi ích về đặc quyền kinh tế như những cộng đồng người Hoa, người Ấn (Chà Và), vân vân… cũng đã dần già du nhập, áp dụng, và phát triển thêm nền kinh doanh thị trường. Song song với sự phát triển về kinh tế, các tư tưởng kinh tế tư bản cũng đuợc xâm nhập vào, và phát triển bên trong Việt Nam.
Một số các nhà nho tuy thuộc thành phần cựu học nhưng đã có những tư tưởng tiến bộ nhận thức được sự yếu kém của nền Hán Học; Cũng như họ đã chứng kiến được một nước Nhật Bản vì duy tân và mở cửa kịp lúc nên đã trở thành hùng mạnh, đã chiếm cứ Mãn Châu, Cao Ly. Và thêm vào đó là sự kiện Hải Quân Nhật đã đánh tan những hạm đội của đế quốc Nga tại cảng Lữ Thuận (1904) và tại eo biển Đối Mã (1905). Họ đã thấy cần, và đã quyết tâm phải thay đổi về tư tưởng, sự suy nghĩ, và cách thức học tập của người dân trong nước để nhằm mục đích nâng cao dân trí trước, và hy vọng đưa đến một cuộc đổi mới, đồng bộ trong phương cách đấu tranh dành lại nền độc lập cho nước nhà từ thực dân Pháp.
Hướng tới Nhật Bản như là một ngọn hải đăng soi đường: các phong trào Đông Du (1904-1908) do cụ Phan Bội Châu khởi xướng nhằm lén lút đưa những người trẻ tuổi sang Nhật du học, và phong trào Duy Tân (1906-1908) do các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúy Cáp lãnh đạo để cổ võ sự canh tân về dân trí. Các cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã kết hợp với các nhà nho đang cùng có chung một chí hướng, và những tư tưởng tiến bộ ở trong nước như các cụ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Hải Thần… đồng ý về địa bàn cơ bản để hoạt động nâng cao dân trí chính là phải từ trong nước. Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục bắt đầu được khai giảng ở căn nhà số 4 của cụ Lương Văn Can tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Về sau đông học sinh qúa, phải mượn thêm chỗ tại căn số 10 để mở thêm các lớp, và thêm nhiều chi nhánh tại các tỉnh lân cận như Hà Đông, Hưng Yên, Hoài Đức, Hải Dương, Thái Bình...
3.- Đông Kinh Nghĩa Thục được mở ra với các tiêu chí:
Loại bỏ tư tưởng hủ cựu Tống Nho, và du nhập những tư tưởng tiến bộ về tự do, về dân chủ của Trung Hoa, Nhật Bản hay Âu Châu như của các ông Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, René Descartes, Jean-Jacques Rousseau, Voltaire, John Locke, Montesquieu…
Mở các lớp dạy, và truyền bá chữ Quốc Ngữ. Ngoài ra còn mở thêm các lớp cao học bằng tiếng Pháp, hay chữ Nho cho những người đã quen thuộc Pháp Văn hay Hán Văn. Thúc đẩy mạnh sự phát triển chữ Quốc Ngữ vì dễ học, học cách đọc và cách viết nhanh, nên sẽ dễ truyền bá được sâu rộng và nhanh chóng trong dân chúng. Mở những lớp học chữ Quốc Ngữ cho cả con trai và con gái. Chữ Quốc Ngữ dùng ký tự Latin-Ai Cập như của những nước Âu Mỹ thật sự đã được các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha sáng tạo qua hình thức dùng mẫu tự Latin-Ai Cập của họ từ thế kỷ thứ 16 để ghi lại những cách phát âm của người Việt và giúp cho chính những người thừa sai Catholic dễ dàng học hỏi ngôn ngữ tiếng Việt trước khi qua đây truyền đạo. Sau này chính quyền thuốc địa Pháp vì rất muốn loại bỏ ảnh hưởng của Trung Hoa trên nền văn hóa Việt Nam với tiêu chuẩn Quân-Sư-Phụ để không còn Văn Thân, không còn Cần Vương nữa nên cũng đã cổ võ và khuyến khích việc học chữ Quốc Ngữ từ lâu. Một số các nhà tân học Việt Nam nhận thấy ưu điểm của cách viết tiếng Việt này nên đã bổ túc và phát triển thêm chữ Quốc Ngữ như của các ông Trương Vĩnh Ký với Gia Định Báo viết bằng chữ Quốc Ngữ, Huỳnh Tịnh Của với Việt Nam Quốc Âm Tự Vị (ấn bản 1885-1886) do người Pháp tài trợ; Và những báo bằng chữ Quốc Ngữ như Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhựt Báo Tỉnh (1905), Đại Việt Tân Báo (1905) đã được tuần tự xuất bản. Những sách như Chuyện Đời Xưa (1876), Chuyện Giải Buồn (1880) cũng đã được xuất bản bằng chữ Quốc Ngữ. Nhưng những cố gắng này đã không đạt được những ủng hộ mong muốn, vì số người biết đọc và biết viết chữ Quốc Ngữ trong giai đoạn này đã không có được nhiều!

Hình 01: Ông giáo Nguyễn Hữu Tuynh, làng Hành Thiện (ông nội người viết.) Học sinh có đủ mọi lứa tuổi, từ đứa trẻ còn để chỏm đến anh thanh niên đã có gia đình, và nhiều khi mấy bố con cùng học chung một lớp.
(Bài ca Khuyên Học của Đông Kinh Nghĩa Thục)

Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã từng làm thông ngôn cho Pháp, và có được cơ hội tham dự Hội Chợ Marseilles (1906). Ông may mắn có cơ hội và đã học hỏi được cách thức điều hành, và cách làm việc của một tờ báo địa phương là tờ Le Petit Marseillais. Khi về trở lại Việt Nam, ông đã cố gắng áp dụng những điều học hỏi được vào việc điều hành cho các báo viết bằng chữ Quốc Ngữ. Ông hợp tác chặt chẽ với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục để dạy và phổ biến chữ Quốc Ngữ bằng các bài viết qua chủ trương của các báo như Đại Việt Tân Báo, Đăng Cổ Tùng Báo, và sau này là tờ Đông Dương Tạp Chí.
Đông Kinh Nghĩa Thục phổ biến các tài liệu giáo khoa, dịch thuật những truyện cũ, trước tác và chủ yếu dùng chữ Quốc Ngữ. Tuy nhiên cũng có một số được dùng chữ Hán Nôm, hay Pháp ngữ để dành thêm cho những người cựu học trong chiều hướng chuyển tiếp, hay tân học sau này. Lợi dụng chính sách chủ trương loại bỏ văn hóa Hán Văn tại Việt Nam của chính quyền thuộc địa Pháp, các nhà chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục đã cho xuất bản các báo Đăng Cổ Tùng Báo, và Đại Việt Tân Báo. Dùng chữ Quốc Ngữ để phổ biến những bài thơ, những bài ca văn vần, và có thêm phần chữ Hán Nôm để hấp dẫn cho những người thuộc thế hệ văn hóa chữ Hán. Tổ chức các buổi diễn thuyết, và bình văn về nhiều đề tài đã được trích dẫn trong các báo Đăng Cổ Tùng Văn và Đại Việt Tân Báo. Cổ võ và áp dụng thực nghiệp, mở các tiệm buôn để phát triển công thương, và làm tăng nguồn tài chánh cho phong trào.
Cụ Lương Văn Can được cử làm Thục trưởng (Hiệu trưởng), và cụ Nguyễn Quyền làm giám học. Về tài chánh, khởi sự với các hội viên đã tự ý đóng góp bao nhiêu cũng được, và còn quyên góp thêm trong những chỗ quen biết có lòng hảo tâm.
4.- Tổ chức: Trường được chia làm bốn ban hoạt động:
a.- Ban giáo dục Khai trí: Trường được mở ra theo mẫu mực trường Keio-Gijuku của Fukuzawa Yukichi bên Nhật, chủ trương thực hành và không coi trọng về việc thi cử. Sau này trường chia các lớp thành ba ban: tiểu, trung và đại học. Tuy nhiên, mặc dù trường được chia ra như vậy nhưng trên thực sự thì chương trình học không được phân chia ra rõ ràng. Tiêu chuẩn thì ban tiểu học để dạy những người mới học quốc ngữ, ban trung học và đại học để dạy cho những người lớn đã thông hiểu chữ Hán hoặc muốn học thêm chữ Pháp. Trường chưa có một hệ thống hay chương trình rõ ràng, hay những sách giáo khoa căn bản dùng để giảng dạy. Tùy theo trình độ hiểu biết của học sinh mà sắp thành từng lớp, vì vậy trong một lớp tuổi của các học sinh cũng không đồng đều. Lối dạy của trường là cốt dạy những điều thực dụng cho học sinh để đào tạo họ thành những người có đầu óc thực tiễn ngược hẳn với lối học từ chương và bảo thủ của Nho học. Lối học từ chương cho văn khoa thi cử đã được loại bỏ hẳn. Tứ thư, Ngũ kinh vẫn còn được dùng để giảng dạy, nhưng đã được giảng theo một tinh thần mới. Những sách duy tân của các ông Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu được đem ra bàn thảo nhiều nhất. Phần Việt văn và Pháp văn do các nhà tân học đảm nhận như các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Trần Đình Đức, Bùi Đình Tá, Phạm Đình Đối, Hoàng Trọng Phu…
Phần Hán văn có các cụ Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí... Tài liệu giáo khoa, về Hán học, thì học tân thư của Trung Hoa và của Nhật Bản. Sách học Quốc ngữ được tự soạn bởi các giáo viên về cách thức tập đọc, tập viết chữ Quốc Ngữ, và những kiến thức cơ bản về đất nước, về địa lý, về lịch sử Việt Nam.
b.) Ban tài chính: Phụ trách phần tài chính do cụ Lê Đại đảm nhiệm. Ban đầu, nguồn kinh phí của trường được dựa vào các khoản ủng hộ, đóng góp của các hội viên, và những người hảo tâm yêu nước, cũng như các khoản đóng góp tự nguyện của học sinh. Sau có thêm nguồn tài lực từ các tiệm buôn của phong trào. Mấy tháng đầu tiên, các giáo sư tự nguyện dạy không ăn lương, nhưng mấy tháng sau khi tình hình tài chánh đã tương đối được dồi dào, thì có lương.
c.) Ban cổ động diễn thuyết và bình văn: Ban này chịu trách nhiệm điều hành và nội dung của hai tờ báo Đăng Cổ Tùng Báo, và Đại Việt Tân Báo. Đây là những cơ quan ngôn luận của trường, viết các bài viết tuyên truyền cho các cải cách về xã hội, bài trừ hủ tục, vận động nhớ đến ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 hàng năm, sử dụng chữ Quốc Ngữ làm căn bản.
Ban này cũng thường xuyên tổ chức các buổi diễn thuyết, và bình văn tại trường vào các tối mồng một và ngày rằm Âm Lịch hàng tháng. Trong các buổi diễn thuyết, diễn giả thường bình luận các bài đã được in trên Đăng cổ Tùng báo, và Đại Việt Tân báo; hoặc nói chuyện về các đề tài lịch sử, như về cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, về sự nghiệp của Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ Gearge Washinton v.v...
d.) Ban trước tác: Nhằm mục đích truyền bá tư tưởng mới cho dân chúng, trường đã tự soạn lấy sách giáo khoa bằng chữ Quốc Ngữ, và lập ra ban Tu thư chia làm hai ngành: ngành soạn thảo được giao cho các cụ Phạm Tư Trực (người làng Hành Thiện), Dương Bá Trạc, Lương Trúc Đàm, Phương Sơn; và ngành dịch thuật được giao cho các cụ: Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Hoàng Tích Phùng. Tuy nhiên, chương trình hoạt động và tổ chức phân công chưa được vạch ra rõ ràng. Giáo sư dạy môn nào thì thường phải tự soạn bài giảng dạy cho môn đó, mỗi bài dài khoảng độ vài trang, và thường trình bày về một chủ đề rõ ràng. Nhưng nội dung chung thì bài nào cũng được hô hào về lòng ái quốc, chí tự cường, và tinh thần duy tân, đổi mới tư duy. Ngoài ra các cụ còn dịch những sách báo của ngoại quốc theo chủ trương của trường. Sách giáo khoa sau khi được soạn xong, giao cho một tiểu ban in ấn, và được in ra hằng trăm bản để phát không cho học sinh cùng các trung tâm Đông Kinh Nghĩa Thục ở các nơi khác. Nhưng số sách của trường hiện tại bị thất lạc và không còn nhiều di tích.
5.- Để truyền bá tư tưởng duy tân, nhà trường phát hành nhiều sách giáo khoa như là Luân Lý Giáo Khoa Thư bắt đầu với câu: “Các môn học phổ thông, không môn nào là không cần thiết. Môn lý luận lại càng quan trọng, bởi vì nó là tinh hoa của quốc thể, nguồn gốc của giáo dục. Con em thanh niên ngày sau vào đời, tất đảm đang việc nước, có trách nhiệm về thế cuộc, nếu không trau dồi phẩm hạnh, thì tất cả các loại sách giáo khoa đều trở nên vô dụng hết…”. Sách Văn minh Tân học, Quốc dân độc bản: “… mà làm rõ cái lý tương quan giữa nước với dân, làm sao cho họ biết vị trí của họ trong xã hội ở chỗ nào, chức phận như thế nào và làm như thế nào để gây ý thức ái quốc, ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập…”, Nam quốc địa dư, Cải lương mông học Quốc sử Giáo khoa thư…
Các sách giáo khoa chữ Hán được in bằng bản gỗ, trên giấy lĩnh làng Bưởi như Nam Quốc địa dư, Nam Quốc vĩ nhân truyện, Quốc dân độc bản. Sách Quốc ngữ thì in bằng thạch bản, chủ yếu là những bài ca dễ đọc, dễ nhớ, đại loại như Kêu hồn nước, Á Tế Á, Đề bỉnh quốc dân, Thiết diễn ca...
Tuy số sách của phong trào đã bị thất lạc. Nhưng những bài ca xuất phát từ phong trao đã được nhiều người cùng thời học thuộc lòng và được truyền lại tới ngày nay. Nổi bật là là Hải Ngoại Huyết Thư được cụ Lê Đại dịch ra từ bài của chí sĩ Phan Bội Châu. Nhờ vậy bài thơ này đã được lưu hành rộng rãi và truyền bá khắp nước Việt Nam, và là nguồn cổ vũ cho những phong trào yêu nước vào đầu thế kỷ 20.
Trích Hải Ngoại Huyết Thư, Phan Bội Châu, Lê Đại dịch:
…. Tiện đây thưa cật mấy lời,
Lại xin tỏ giãi cùng người quốc nhân:
May người nước lâu dần hối ngộ,
Đem lời này khuyên nhủ cùng nhau:
Nước ta mất bởi vì đâu?
Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhân:
Một là vua sự dân chẳng biết,
Hai là quan chẳng thiết gì dân,
Ba là dân chỉ biết dân,
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai.
Nghìn, muôn, ức, triệu người chung góp,
Gây dựng nên cơ nghiệp nước nhà,
Người dân ta, của dân ta,
Dân là dân nước, nước là nước dân.
….
Không chỉ dịch thơ, các nhà nho trong phong trào còn sáng tác những bài thơ yêu nước như cụ Nguyễn Quyền có bài Cắt tóc, Chiêu hồn nước, ... Ngoài những bài thơ do các nhà nho sáng tác, những bài thơ khuyết danh cũng là nguồn cảm hứng yêu nước cho nhân dân và cổ vũ duy tân. Ví dụ như Á Tế Á, Vợ khuyên chồng, Khuyên con,…
Tuy nhiên có bài thơ nổi bật nhất, và có tầm mức ảnh hưởng lớn đương thời là bài Thiết tiền ca của cụ Nguyễn Phan Lăng, biệt hiệu là Đoàn Xuyên. Bài này đã được dùng thể song thất lục bát, là một thể thơ rrất đặc thù của người Việt Nam, dễ đọc, dễ nhớ, và nội dung chua xót và đầy phẫn uất nhưng rất thực lòng:
Trời đất hỡi! dân ta khốn khổ,
Đủ trăm đường thuế nọ thuế kia,
Lưới vây chài quét trăm bề
Róc xương, róc thịt còn gì nữa đâu
Chợt lại thấy bắt tiêu tiền sắt
Thoạt tai nghe bần bật khúc lòng!
Trời ơi có khổ hay không?
Khổ gì bằng khổ mắc trong cường quyền
Lấy mẹo lừa giết hết chúng ta
Bạc vào đem sắt đổ ra,
Bạc kia thu hết sắt mà làm chi?:...
Bài thơ được truyền tụng rộng rãi, từ chốn thị thành đến vùng thôn quê, và không ai chịu dùng tiền sắt nữa. Chính phủ Pháp ra lệnh bắt giam một số người vi phạm, nhưng càng đàn áp, dân chúng lại càng nghi kỵ, và có nơi gần như bãi thị. Tiền phát cho quan lại, họ miễn cưỡng nhận, khi mang về giao lại cho vợ con; Vợ con họ đem ra chợ tiêu thì không được, tình hình hết sức nghiêm trọng, và chính quyền thực dân Pháp đã phải chịu thua, chịu thu hồi tiền sắt về.
6.- Qua gần 09 tháng hoạt động, Đông Kinh Nghĩa Thục đã nuôi dưỡng được một phong trào cách mạng công khai, hợp pháp và khá sôi nổi, nhưng quyết liệt trong lĩnh vực đổi thay về văn hoá và tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ và tư bản thực tiễn trong dân chúng. Đó cũng là một cuộc chuẩn bị về tinh thần, về tư duy cho dân tộc, tư tưởng về dân chủ về tự do.
Đông Kinh Nghĩa Thục với các nhà nho có tinh thần duy tân, và các nhà tân học yêu nước đã chủ trương quảng bá chữ Quốc ngữ, sử dụng trong việc giảng dạy, biên soạn, dịch thuật, và sáng tác. Chữ Quốc ngữ đã nhanh chóng được sự chấp nhận và hưởng ứng của quần chúng, và do đó chữ Quốc Ngữ đã được thâm nhập và phổ biến vào nhiều lĩnh vực trong xã hội, và ngày càng được cải tiến để trở thành chữ viết của cả dân tộc Việt Nam ngày hôm nay. Hoạt động chấn hưng thương nghiệp và hành động kinh doanh thực tiễn của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục khởi xướng cũng đã góp một phần nào vào việc thúc đẩy cho một nền kinh tế tư bản cạnh tranh, để bước ra khỏi nền kinh tế “hàng sáo” và ngành nghề “gia truyền” của dân ta ngày nào.
Với phạm vi hoạt động ngày càng lan xa, ảnh hưởng rộng rãi trong dân chúng, Đông Kinh Nghĩa Thục đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, yêu nước, và có thể sẽ trở thành một nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp; Do đó, vào tháng 12 năm 1907 chính quyền thực dân Pháp chính thức thu hồi giấy phép hoạt động, và đóng cửa Trường.
Đông Kinh Nghĩa Thục tuy chỉ hoạt động được có gần 09 tháng (từ tháng 03 đến tháng 12 năm 1907), nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã đóng góp một phần lớn trong việc làm thay đổi tư tưởng từ Nho học qua Tân học để canh tân đất nước của giới sĩ phu trong nước vào đầu thế kỷ thứ 20. Sau vụ bãi công chống thuế tại Trung kỳ (vào tháng 3 năm 1908), và vụ đầu độc lính Pháp tại Hà Nội (vào tháng 6 năm 1908), chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp đã quy trách nhiệm cho những sĩ phu duy tân có liên quan đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Họ đã thẳng tay đàn áp, và bắt bớ hầu hết những người cầm đầu hay giáo sư của Đông Kinh Nghĩa Thục; giải tán các hội buôn, đóng cửa Đăng Cổ Tùng Báo, cấm diễn thuyết, cấm tụ họp nói chuyện với đám đông, cấm lưu hành và tàng trữ các tác phẩm của nhà trường. Nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã gieo được mầm mống duy tân, và ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng, và những ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục không phải bị chấm dứt ở đó mà còn mãi được tiếp tục sau này.
7.- Muốn thay đổi từ hệ tư tưởng thủ cựu sang duy tân, đổi mới là một việc làm rất khó khăn. Những suy nghĩ, những sinh hoạt hàng ngày của từng người, từng gia đình đã trở thành một nếp sống cứng ngắc đầy khuôn phép, cho đến phép vua cũng còn phải thua cả lệ làng! Người ta quen rồi và sợ thay đổi; bứt phá ra khỏi những thói quen, những nề nếp cũ là những điều thật ngại ngùng và rất đáng sợ hãi. Trong quyển Quốc Dân Độc Bản của Đông Kinh Nghĩa Thục cũng đã nêu lên vấn đề này: Phép tắc cũ truyền đời nọ sang đời kia lâu ngày thành nếp. Mặt, mũi, tay, chân đã quen thuộc qúa rồi, nay thay đổi thì mọi cái đều lạ lẫm, tất nhiên không ai muốn như vậy.“
Tóm lại, Đông Kinh Nghĩa Thục tuy không tồn tại được bao lâu, nhưng những người chủ trương đã thành công trong việc thổi một luồng gió mới đến những nhà Nho cựu học ở khắp nơi, cũng như riêng tại làng Hành Thiện. Họ đã đẩy mạnh được con thuyền tư tưởng đổi mới của người Việt cũng như của những thanh niên Hành Thiện và nhất là gia đình của họ thời đó để vững bước tiến lên trên bước đường duy tân của cá nhân và của cả đất nước sau này.
8.- Chữ Quốc Ngữ: Xin trích một đoạn từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký "Đường Xa Nắng Mới" của BS Nguyễn Tường Bách:
“Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng, đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự La Tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự La Tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.
Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp. Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong tháng 12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.
Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).
Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.
Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.
Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.“


Cố HC2 Nguyễn Văn Đệ

Những sách tham khảo:
1.) Làng Hành Thiện thời Tây học, tác gỉa Đặng Hữu Thụ tự xuất bản, 1999 Menlo, France.
2.) Wikipedia mở
3.) Văn Thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội 1997
4.) Đường Xa Nắng Mới, Nguyễn Tường Bách, Hội Nhà Văn VN








( Trở về đầu trang )


[ Trang Hải Trình ]