Đại Hội 2009     trang đầu * LVChâu   lời mở đầu * CVThành   những hổ cáp 2 lìa đàn * NXDục   họp mặt hổ cáp * GĐNội   40 năm đệ nhị hổ cáp * NĐHoàng   hội ngộ lần đầu * LVLai   dư âm đại hội * NÁnh   người phụ nữ với chiếc quần 200 năm đi mượn * NĐHoàng   cảm nghĩ về đại hội 2009 * 20
Đặc San 2009     trang bìa * TTĐức   nội dung * BBT   tâm thư * BBT   lời nói đầu * BBT   điệp khúc tình yêu * NaNa & TigônHồng   những chuyện kể năm xưa *20   thơ quân trường *NTTánh   mỹ quốc định cư, hành trình kí sự *NĐHoàng   hổ cáp tự truyện *HKC   cho anh cung đàn đã lỡ *NTTánh   miếng cơm thừa *NVChín   xuân trên phố *NTTánh   hq615 *PNLong   tù không án *VHLý   tù quản chế *VHLý   chuyến tàu định mệnh *HKChiến   quả mơ *TKen   em về với mộng đêm nay *ThưKhanh   lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQ/VNCH*HKChiến   di tản bất như ý *VHLý   những đoạn thơ rời *CVThành   mãng đời tỵ nạn *NHHãi   thơ quân trường *NTTánh   hải hành *CVThành   những người bạn VTT và một thời để nhớ *NXDục   bài hát tình tang *ĐNViêm   bạn tôi *NVChín   một thoáng quê nhà gợi nhớ *CVThành   bóng rợp sân trường cánh hải âu *NĐHoàng   một linh hồn giữa biển khơi *NTTánh   tàn thu *NÁnh   buổi lễ vượt xích đạo *DTTùng   một chuyến hải hành đêm *NTTánh   mười hai con giáp, mười hai chòm sao *LVChâu   chén canh rau muống *NVChín   ngày xuân năm ấy *HKChiến   ý thiếp cùng tình chàng hổ cáp *ChịNVThước   tâm tình *ĐDVy   những ngày tháng không quên *NÁnh   tiếng gọi từ vũng lầy * NXDục   lời tạm biệt *NVĐệ   trang cuối * TTĐức



những ngày tháng không quên



     N  hững tháng đầu của năm 1975, dân miền Nam Việt Nam đã phải sống trong phập phồng lo sợ vì không tuần nào là không nghe tin việt Cộng pháo kích vào những chỗ này chỗ nọ, và làm người dân chết tức tưởi không toàn thây. Những nơi họ thường hay pháo kích vào là chợ búa và trường học, vì vậy những nạn nhân hầu hết là đàn bà và trẻ con. Lúc đó tôi thường hay thắc mắc là tại sao Việt Cộng lại pháo kích vào chợ búa và trường học như vậy, vì những nơi ấy đâu có lính? Hay có thể tại pháo binh của họ dở qúa nên đã chấm tọa độ sai? Nhưng sau này, từ từ mới nghĩ ra rằng chính vì chợ búa và trường học không có lính, không có sự phòng thủ nên dễ pháo kích vào. Với tâm địa, đường lối, và thủ đoạn Việt Cộng đã không cần biết những nạn nhân của họ là những ai! Đàn bà ư? Con nít ư? Người dân vô tội ư? Mặc kệ, miễn sao những trái đạn pháo của họ có thể làm chết càng nhiều người càng tốt. Mục đích của họ là làm sao cho người dân miền Nam luôn luôn sống trong hãi hùng lo sợ, và như vậy sẽ tạo thành một xã hội lộn xộn mất an ninh. Điều quan trọng là “vừa ăn cướp vừa la làng”, nghĩa là chính bàn tay họ đã nhúng máu anh chị em của mình, nhưng lại “mồm loa mép giải” với quốc tế rằng đó là do “Mỹ-Ngụy” đã làm ra những cảnh tang thương ấy! Chuyện gì chứ cái chiêu bài xử dụng chiến thuật tuyên truyền láo khoét thì Cộng Sản Việt Nam rất hay. Họ có nhổ nước miếng ra rồi sẵn sàng liếm lại là chuyện thường tình mà thôi.
Những ngày tháng ấy, toàn xứ Huế như phủ một màu ảm đạm. Sự sinh hoạt của người dân xứ Huế thật uể oải và đơn điệu, và hầu như nhà nào cũng mở radio để nghe tin tức hàng ngày. Ai cũng muốn theo dõi thật sát tình hình thời cuộc; Sao mà cuộc chiến “nồi da xáo thịt” giữa anh em miền Bắc theo lệnh quan thày Tàu-Nga kéo quân trùng trùng điệp điệp vào đánh chiếm miền Nam với mục đích nhuộm đỏ miền Nam, để làm bàn đạp mà nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á, và với anh em miền Nam cầm súng để bảo vệ thành đồng tổ quốc Việt Nam Cộng Hòa. Cuộc chiến càng ngày càng đến hồi gay gắt, rồi đến một ngày người dân xứ Huế gạt nước mắt mà ra đi. Lòng đau quặn thắt khi phải rời bỏ mồ mả tổ tiên lại phía sau lưng vì ai cũng nghĩ rằng quyết đi không trở lại, đi theo chính nghĩa quốc gia.
Đó là ngày 23 thắng 3 năm 1975. Vì đã là nạn nhân của hai cuộc cưỡng chiếm vùng đất miền Nam với máu sông xương núi của Việt Cộng vào Tết Mậu Thân năm 1968, và mùa Hè đỏ lửa năm 1972, nên lần này dân Huế đều “bỏ của chạy lấy người” vì nghe có tin đồn rằng đèo Hải Vân sẽ được lấy làm ranh giới mới của hai miền Bắc-Nam. Ngày 23 gia đình tôi xuống Thuận An, tạm trú trong trại gia binh Hải Quân, chờ di tản theo tàu của Hải Quân Vùng I. Vài ngày sau, chúng tôi đã có mặt ở Đà Nẵng, rồi từ Đà Nẵng chúng tôi lại theo tàu từ Tiên Sa di tản vào Cam Ranh, rồi từ Cam Ranh ra đảo Phú Quốc, và từ Phú Quốc vào Rạch Giá để lên Sài Gòn. Chúng tôi có mặt tại Sài Gòn vào ngày 10 tháng 4 năm 1975.
Trong hai mươi ngày kế tiếp, chúng tôi ở ru rú trong nhà của Thím Trung ở Bà Chiểu, rồi chuyển tới ở nhờ nhà Bác Phúc ở Cầu Sơn-Hàng Xanh. Những sự lộn xộn, chạy ngược chạy xuôi để tìm phương tiện ra đi của người dân Sài Gòn đã không làm cho chị em chúng tôi chú ý, vì chị em chúng tôi không hề bước chân ra đường. Ngày 26 chồng tôi đã từ Cát Lở vào thăm, và bị kẹt lại không thể trở ra đơn vị vì đoạn đường đi Cát Lở-Vũng Tàu đã bị cắt! Bộ đội chính quy Việt Cộng đã tràn về cố đánh chiếm, và các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cố đánh bật Việt Cộng ra để giữ từng tấc đất ngọn rau. Ngày 28 chồng tôi từ giã chúng tôi trong ngậm ngùi đau khổ để đi đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở bến Bạch Đằng. Chúng tôi đã sống trong sự lo âu, hồi hộp từng giờ từng phút. Việt Cộng đã pháo kích vào Thị Nghè-Hàng Xanh gây cảnh máu đổ thịt rơi, càng làm cho người dân khiếp sợ.
Sáng ngày 29 dân trong vùng chạy tới chạy lui trên con đường Bạch Đằng như một đàn kiến vỡ tổ để khuân vác hàng hóa từ một căn cứ mới bỏ hoang của Mỹ ở ngoài Văn Thánh đem về nhà. Ba tôi cứ đi loanh quanh trong nhà, miệng luôn dặn mấy đứa em tôi: ”Mấy đứa con không được đi lấy đồ nghe không. Nguy hiểm lắm.”
Ngày 30 Tổng Thống hai ngày Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải buông súng đầu hàng vô điều kiện. Bộ đội Việt Cộng tiến vào Sài Gòn trong tiếng hoan hô của bọn “cách mạng trái mùa”, của bọn “trở cờ”, của bọn “ăn cơm quốc gia-thờ ma cộng sản”, trong nỗi lo sợ hoảng loạn của người dân Sài Gòn, và tiếng khóc than não ruột của đồng bào.
Trưa ngày 30 tôi đang ngồi khóc mùi mẫn thì chồng tôi trở về, quần áo xốc xếch, mặt mày buồn thảm làm tôi vừa mừng vừa đau khổ. Ba tôi, chồng tôi, và bác Phúc đem giấy tờ ra đốt, đem quần áo lính ra dìm sâu dưới bờ hồ phía sau nhà bác. Khuya ngày 1, rạng sáng ngày 2 tháng 5, nghĩa là chỉ sau khi Việt Cộng chiếm trọn miền Nam có hơn một ngày thì tôi sanh cháu gái đầu lòng tại một nhà hộ sanh tư ở chợ Bà Chiểu. Khi con tôi đã được hơn một tuần thì Ba tôi quyết định đưa gia đình trở về lại Huế, vì căn nhà của chúng tôi ở Huế đang bị nhiều người muốn chiếm, và công an Việt Cộng đã niêm phong. Tôi ôm đứa con còn đỏ hỏn, bùi ngùi từ giã chồng tôi để theo gia đình về Huế, còn chồng tôi ở lại Sài Gòn để chờ ngày vào tù “cải tạo”.
Về Huế được hơn một tháng, vì không có tin tức gì của người chồng thân yêu nên lòng tôi thật vô cùng lo lắng, rõ ràng anh đã viết thư báo cho tôi là sau mười ngày “học tập” anh sẽ ra Huế sum họp với vợ con. Vậy mà nay đã gần một tháng rưỡi rồi mà vẫn bặt chim tăm cá. Vì quá nóng ruột nên tôi xin giấy phép đi đường, một mình ôm con vào Sài Gòn cố dò la tin tức chồng nhưng không được. Tôi về quê thăm gia đình chồng, ở lại mấy tháng để an ủi mấy đứa vừa mất mẹ. Vì thương mấy đứa em mà tôi cứ dùng dằng mãi chưa nỡ chia tay để trở về Huế, thì nhận được thư của chồng tôi gửi về Huế từ một trại “cải tạo” ở Trảng Bàng. Ba tôi đã gửi gấp vào quê chồng cho tôi, không biết lá thư đã đi qua bao nhiêu bàn tay, và khi đến tay tôi thì không còn nguyên vẹn nữa mà đã bị rách tả tơi, như “áo vũ cơ hàn”! Đồng thời tôi cũng nhận được thư của Ba tôi gọi phải về Huế ngay vì trường đại học Sư Phạm đã gửi giấy về gọi tôi trở lại trường để học tiếp. Vì vậy tôi mới từ giã gia đình nhà chồng để về lại Huế. Từ đó tôi gởi con thơ cho Mẹ và các em săn sóc để trở lại trường, làm cô sinh viên năm cuối. Vì là năm cuối và lại phải học chương trình mới của xã hội mới nên chúng tôi bắt buộc phải học nhiều về môn triết học Mác-Lê, và về môn giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhưng nặng nhất là đi lao động vì “lao động là vinh quang”, và công việc lao động đã chiếm rất nhiều thời giờ của chúng tôi. Chúng tôi thường phải đi đến những vùng ngoại ô, xa thành phố Huế khoảng trên dưới mười lăm cây số, nơi có núi có đồi để trồng thông theo phong trào “trồng cây gây rừng” của nhà nước (nhưng oái oăm thay, trồng vào thi một, nhưng phá ra thì mười nên dân Huế năm nào cũng điêu đứng vì nặn lũ lụt!) Mỗi khi đi lao động trồng cây gây rừng như vậy thì tôi lại nhớ đến chồng nhiều hơn, những lúc ngồi nghỉ giải lao tôi thường tìm một gốc cây nào đó để ngồi một mình, và làm thơ gởi cho chồng. Những lá thư gửi vào trại tù “cải tạo” cho chồng có kèm theo những bài thơ tỏ tình yêu thương, sự nhớ nhung của tôi-một người vợ trẻ đối với chồng, đã làm phiền cho chồng tôi không ít! Bởi vì mỗi lần thơ đến trại, thì chồng tôi bị gọi lên văn phòng gặp tên quản giáo để nhận riêng chứ không đưa chung về trại như những người khác, và vì nhiếu lần quá nên các bạn đồng tù “cải tạo” đã to nhỏ rỉ tai nhau rằng chồng tôi làm ăng ten cho Việt Cộng! Họ có biết đâu mỗi lần lên gặp quản giáo là mỗi lần chồng tôi bị lên lớp:
- Anh phải có bổn phận giáo dục vợ anh, vì vợ anh vẫn còn đầu óc lãng mạn tư sản, sáng tác những bài thơ mang nội dung ủy mị, ảnh hưởng không tốt cho sự “cải tạo” của anh.
Thật là “oan ơi ông Địa” cho chồng tôi. Tôi nhớ hoài, có một lần chúng tôi đi lao động xa và lâu đến khoảng một tháng trời, tiền mang gạo bới đến ở nhờ nhà dân để đào sông. Trên cánh đồng bao la của làng La Xá, cách Huế chừng mười lăm cây số, sinh viên chúng tôi đã phải đào một con sông vừa dài vừa xâu vừa rộng. Không biết cái đầu óc “vĩ đại” nào đã nghĩ ra cái đề án phá hoại này để hành hạ, đày đọa lũ sinh viên chúng tôi! Mỗi ngày phải làm việc lao động từ sáng tới chiều, nam sinh viên thì đào đất, còn nữ sinh viên thì bê đất đi đổ. Những bàn tay chuyên cầm viết, và chưa từng cầm cuốc, cầm xẻng để đào đất, cầm ki để bê đất thì làm sao mà có được kết qủa tốt! Mới ra quân được ít ngày thì tay ai cũng bị trầy trụa rướm máu, thân thể mệt nhoài, hai chân nặng nề như không muốn bước, gót chân phồng lên-rát muốn khóc, thật là bị đày đọa mà! Nhìn những cái băng dài bằng vải trắng, viết những câu:
“Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Hay: “Thằng Trời hạn hán không mưa, để cho người đảng đứng lên làm trời.” treo lùng nhùng trên mấy cành cây chung quanh chu vi lao động mà thấy gai con mắt.
Ban ngày thì làm việc vất vả như thế, đến chiều về thị lại bắt họp tổ kiểm điểm, chấm công. Chỉ có một số nhỏ sinh viên thuộc loại bon chen mới hồ hởi, phấn khởi làm việc hăng say, còn lại hầu hết sinh viên chúng tôi thì chán nản, ưu phiền, làm việc lấy lệ, và chỉ mong ngày về lại Huế. Khi họp tổ thì bị phê bình “ chưa giác ngộ lao động xã hội”, vẫn còn “hình ảnh sinh viên tư sản” cũng mặc kệ, trong đầu chúng tôi vẫn nghĩ đến ngày về! Chúng tôi là lớp sinh viên đàn anh, đàn chị đầu tiên đi đào sông, mấy năm sau thì các sinh viên đàn em lại đi lao động lấp lại mấy con sông đó vì nước sông không có sự luân lưu, ra vào nên nưóc bị ô nhiễm, thật là những đầu óc “ngu xuẩn vĩ đại.” Trong thời gian đi học, tôi đã thường bị mấy đứa bon chen đem ra mổ xẻ phê bình mỗi khi họp tổ vì có cha là sĩ quan truyền tin, và chồng là sĩ quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hiện đang “đền nợ” trong tù “cải tạo”!
Thời gian nặng nề chậm chạp trôi qua, năm 1976 chúng tôi thi ra trường và tôi bị rớt môn “ giáo dục xã hội chủ nghĩa”, phải thi lại! Cái môn quái gở này, tôi đã không muốn học chút nào, nhưng vì muốn ra trường để khỏi bị gán cho là “thành phần cứng đầu” nên tôi đã phải cố gắng nhồi nhét ôn bài để thi lại. Hầu hết các bạn cùng lớp đã có nhiệm sở, và họ lần lượt từ giã bạn bè để đi nhận nhiệm sở ở Huế, Thừa Thiên hay xa hơn nữa thì Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị, Đông Hà, chỉ còn lại vài đứa chưa có nhiệm sở vì lý lịch xấu, trong số đó có tôi. Tôi bị trả về địa phương để phân công tác lao động, nghĩa là lên Bình Điền khai khẩn đất hoang để trồng củ mì củ khoai. Tuy nhiên chưa bị đi “lao động xã hội chủ nghĩa” lần nào thì tôi đã nhận được sự vụ lệnh đi nhận nhiệm sở ở Ty giáo dục Sông Bé. Trong thời gian này thì chồng tôi đang lao động khổ sai ở trại tù “cải tạo” Bù Gia Mập, và trại này nằm ở trong vùng núi Bà Rá thuộc tỉnh Sông Bé; Nếu tôi đi dạy ở bất cứ một trường nào trong tỉnh Sông Bé thì việc đi thăm nuôi cho chồng tôi cũng rất là tiện lợi.
Vậy là tôi quyết định ra đi nhận nhiệm sở, gởi con gái đầu lòng cho ba mẹ và các em săn sóc, còn tôi thì một thân một mình sách va-li Nam tiến. Vào tới Sài Gòn, tôi ghé nhà anh Hùng, là anh con cô cậu ruột của tôi ở tạm mấy ngày. Lúc này anh Hùng cũng đang bị đi “cải tạo” tận ngoài miền Bắc, chỉ còn chị dâu và các cháu ở nhà. Khi đi lên Bình Dương để trình diện với trưởng ty, tôi đã phải nhờ đứa cháu trai đưa đi vì lạ nước lạ cái, không dám đi một mình. Vào gặp ông trưởng ty phòng tổ chức với sự e dè vì đây là lần đầu tiên tôi đến trình diện xếp để được phân công tác ở một vùng trời xa xăm như vậy, đó là một người đàn ông trung niên, da ngăm ngăm đen có dáng nông dân vai u thịt bắp hơn là người trí thức của ngành giáo dục. Coi giấy tờ sự vụ lệnh xong, ông ta nhìn tôi như dò xét rồi nói giọng miền Nam:
-Tôi phân công cho cô về dạy trường cấp 3 Bù Đăng Bù Đốp.
Tuy không biết đây là nơi nào, nhưng nghe cái tên như vậy làm tôi hoảng hồn, tôi nói trong nước mắt:
-Xin chú cho cháu dạy trường nào gần Sài Gòn để cuối tuần cháu có thể về nhà bà con, vì đây là lần đầu tiên cháu đi xa nhà một mình nên cháu sợ lắm.
Ông ta nhìn tôi một hồi rồi gắn giọng nói:
-Cô phải biết thân phận của mình chứ, lý lịch của cô rất xấu, cha và chồng cô có “nợ máu với nhân dân” nhưng vì “cách mạng” rộng lượng khoan hồng nên mới xử dụng cô, cho nên cô không được có yêu cầu gì cả.
Rồi ông ta lại nhìn tôi, lúc này tôi đã khóc thật sự vì tâm trạng ngổn ngang, nhớ cha mẹ chị em, nhớ chồng con, lo sợ buồn tủi. Tôi đã đứng yên để mặc cho những giọt nước mắt rơi lả chả, và chắc cũng nhờ những giọt nước mắt này đã làm cho ông ta dịu giọng:
-Thôi, đừng khóc nữa, tôi cho cô về trường cấp 2, 3 ở Đồng Phú.
Tôi vội hỏi:
-Thưa chú nơi này cách Sài Gòn bao xa? Có xe chạy Sài Gòn mỗi ngày không?
Ông ta trả lời:
-Trường cấp 2, 3 Đồng Phú (Đồng Xoài và Phú Giáo) nhưng nằm tại Phú Giáo. Đây là một thị trấn sầm uất, có chợ có bến xe, chỉ cách sài Gòn chừng 70 cây số, mỗi cuối tuần cô về Sài Gòn rất tiện.
Vậy là tôi nhận nhiệm sở trường cấp 2, 3 Đồng Phú. Ông ta cho tôi về thu xếp đồ đạc, tuần sau phải lên trường nhận lớp. Tôi đâu có chi để mà thu xếp, chỉ vỏn vẻn có vài bộ đồ ngắn, vài cái áo dài, vài cái quần tây, áo thun trước kia còn sót lại. Chut ít đồ dùng cá nhân, vài ba cuốn sách đựng trong chiếc va-ly nhỏ từ Huế mang vào. Đúng ngày hẹn, tôi từ gĩa chị Hùng và các cháu, một mình sách va-ly đón xe buýt đi Bình Triệu. Từ Bình Triệu đón xe đi Bình Dương. Lên bến xe Bình Dương, tôi tìm xe đi Phú Giáo (theo sự chỉ dẫn của ông trưởng phòng tổ chức). Chiếc xe tôi leo lên thuộc loại xe nhỏ, phía trước có hai băng ghế ngang, phía sau kê hai băng ghế dọc, chứa được khoảng ba mươi hành khách, nhưng giao thông xã hội chủ nghĩa thì không như vậy! Không muốn cho hành khách ngồi ung dung, thoải mái mà họ cố nhồi nhét thêm hành khách để cho phù hợp với câu châm ngôn mà đảng đã đề ra:” Tài xế phải coi một giọt xăng như một giọt máu.” Vì vậy xe nào cũng giống xe nào, số hành khách thặng dư muốn gấp hai bằng với số ghế ngồi, cho nên kẻ ngồi người đứng chen nhau chật như nêm cối, muốn nhúc nhích cũng không được. Tôi chọn góc ngoài gần cửa sổ cái băng sau để ngồi. Trong khi chờ xe chạy, tôi nhìn cảnh đông đúc, lộn xộn của bến xe mà đầu óc nghĩ miên man về thân phận cô độc của tôi hiện giờ. Tôi một mình dấn thân vào trường đời đầy chông gai, cạm bẫy, lòng buồn chi lạ.
Bỗng nghe một giọng con trai Huế hỏi tôi:
-Nè, mi có phải là con của cậu mợ Phong ở An Cựu không?
Nghe có người gọi đích danh ba mẹ tôi, tôi giựt mình nhìn người đã hỏi, gã con trai ngồi trên cái băng ghế đối diện, tôi nhận ra được gương mặt quen thuộc của cậu Vụ. Cậu là lính trong đồn vận tải Lê Lợi, thường hay qua cửa hàng của mẹ tôi chơi, năm này qua năm khác, biết chị em chúng tôi từ lúc còn nhỏ cho đến khi đi học tiểu học, trung học, rồi đại học nên trở thành thân tình như thân bằng quyến thuộc. Gã con trai này cỡ tuổi với tôi, giống cậu Vụ y khuông.
Tôi hỏi lại:
-Rứa mi có phải con cậu Vụ không?
Gã vội trả lời:
-Đúng rồi, tau là Vinh đây nè.
Thật sự tôi không biết tên của hắn là Vinh, nhưng đứng bên cửa hàng của mẹ tôi nhìn qua phía cổng đồn, thỉnh thoảng tôi có thấy người con trai này đưa bà mẹ bệnh hoạn từ quê lên, đứng ngoài cổng đồn chờ cậu Vụ. Tôi chỉ biết mặt chứ không biết tên vì người này ở cùng với bà mẹ nơi vùng quê, lâu lâu mới đưa mẹ lên Huế đến đồn vận tải để khiếu nại tiền bạc cấp dưỡng của người cha là cậu Vụ cho người mẹ là bà bệnh hoạn đi cùng với hắn. Tôi chỉ quen biết với người anh của gã này tên Vững, ở cùng với cậu Vụ trong trại gia binh phía sau đồn để đi học, rồi sau đi sĩ quan Thủ Đức rồi bị chết trận. Không đợi tôi nói gì thêm, gã hỏi dồn dập:
-Mi lên Phú Giáo làm chi rứa? Cậu mợ Phong hình như còn ở Huế mà.
-Ờ, tau ra trường bị chuyển vô ty giáo dục Sông Bé vì lý lịch xấu. Nay tau đi Phú Giáo để nhận nhiệm sở, dạy trường cấp 2, 3 Đồng Phú.
-Mi có quen với ai trên đó không? Đã có chỗ ở chưa?
Với giọng buồn buồn, tôi trả lời:
-Tau mô có quen ai trên đó! Chắc tau ở tập thể thôi.
Gã ta nhanh nhẩu đưa ra ý kiến:
-Nhà tau nằm ngay trước mặt trường mi sắp đến dạy. Nhà rộng lắm mà chỉ có ba tau với tau ở thôi. Rứa mi vô nhà tau ở cho vui. Đi dạy gần xịt hà, vài bước là qua tới trường rồi.
Tôi thấy có lý quá, đang buồn vì xa nhà lạ nước, nay gặp được cậu Vụ với thằng Vinh này trôi dạt lên đây lập nghiệp, coi như tôi có bà con quen biết nơi xứ lạ quê người rồi. Trong lòng mừng qúa, thật là “buồn ngủ mà gặp chiếu manh.”
Xe lăn bánh khi không còn chỗ để mà nêm vào nữa! Tôi nhìn cảnh vật bên đường xe chạy qua mà nghĩ ngợi mông lung. Xe chạy qua Bố Lá, tôi biết địa danh này vì ở đây có một trại tù “cải tạo”, rồi Phước Hòa nơi có đồn điền cao su Phước Hòa lớn lắm, rồi qua cầu Sông Bé đến Phước Vĩnh là xe quẹo vào thị trấn Phú Giáo. Bến xe nhỏ chỉ có vài ba chiếc xe đò đang chờ khách, qua dãy phố ngắn, đến chợ, quẹo vào đường lộ nhựa bên tay phải, cũng một dãy nhà hơn chục cái thì đến nhà cậu Vụ. Đây là một căn nhà gạch khá rộng trong một dãy nhà có năm căn xây sát vào nhau theo kiểu chung cư, phía sau căn nào cũng có vườn, có giếng nước. Riêng căn nhà của cậu Vụ vì nằm ở phía ngoài cùng nên phía bên hông phải có thêm một miếng đất khá rộng, trồng nhiều cây ổi, cây đu đủ, và một vài loại rau, nhiều nhất là rau lang. Cậu Vụ rất mừng khi gặp lại tôi bởi lẽ vì thời cuộc nhiễu nhương mà cậu đã bỏ Huế, nơi chôn nhau cắt rốn trôi dạt đến phương trời xa xăm này tìm kế sinh nhai. Không bà con, không bạn bè, và nay có thêm một người quen cùng xứ sở mà ngày trước cậu đã coi như là con cháu đến đây công tác. Cũng như Vinh, cậu Vụ bảo tôi ở nhà cậu để đi dạy cho gần. Mấy đứa con nhỏ của cậu thì theo người chú về tận vùng Cai Lậy để sinh sống, ở đây chỉ có cậu với Vinh ở mà thôi. Câu dành cho tôi căn phòng độc nhất trong nhà, ngồi trong nhà nhìn ra cũng thấy cái bảng “Trường cấp II, III Đồng Phú”.
Ngày hôm sau tôi qua trường trình diện, người đầu tiên tôi gặp là thầy Phan Thanh Tám từ miền Bắc vào dậy môn chính trị, và là người số một của trường vì có bằng cấp “đảng”. Đó là một thanh niên trên dưới ba chục tuổi, từ tóc tai, quần áo, cho đến đôi giày đều toát ra mẫu người “xã hội chủ nghĩa”. Tóc thì cắt thật ngắn chỉ còn lại ba phân, quân màu xanh ô-liu và áo sơ mi màu trắng đều may bằng vải nội hóa, và vì không được ủi nên nhăn nheo nhìn vào là biết ngay nhãn hiệu “Bắc kỳ”, khác hẳn với cách ăn mặc của thanh niên miền Nam. Sau khi xem xong giấy sự vụ lệnh, anh ta nhìn tôi và nói:
-Chúc mừng “đồng chí” đã đến hợp tác, tôi sẽ đưa đồng chí về cư xá giáo viên.
Nghe gọi tôi bằng hai chữ “đồng chí”, tôi lấy làm khó chịu vô cùng, nên tôi nhăn mặt lại!
-Thưa thầy (tôi thường gọi những nam đồng nghiệp lớn tuổi bằng anh, còn những nam đồng nghiệp hơn vài tuổi hay bằng tuổi thì tôi gọi bằng thầy), tôi xin không ở tập thể, tôi sẽ ở trọ nhà ông cậu của tôi, nhà nằm ngay trước mặt trường nên rất tiện cho tôi.
Từ đó tôi là giáo viên của xã hội chủ nghĩa Việt Nam! thật là trớ trêu, tôi sinh ra tại Huế, ăn cơm Quốc Gia để mà lớn, rôi đi học tiểu học, trung học, đại học với chương trình của Quốc Gia, có cha là sĩ quan ngành truyền tin Việt Nam Cộng Hòa, có chồng là sĩ quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, nghĩa là từ đầu đến chân, từ trong ra đến ngoài thì tôi hoàn toàn là người Việt Quốc Gia, vậy mà nay vì thời cuộc đổi thay “thương hải biến vi tang điền”, tôi phải hợp tác vói người Việt Cộng Sản trong mặt trận văn hóa. Lòng tôi không muốn nhưng phải làm, đó chính là sự dằn vặt trong tâm hồn và nỗi buồn man mác của tôi!
Đây là ngôi trường chung cho cấp II và III, cũng là ngôi trường duy nhất trong thị trấn Phú Giáo, học sinh không nhiều, mỗi cấp lớp chỉ có một hay hai phòng học. Về bộ môn văn, có tôi và anh Nhàn phụ trách. Hai chúng tôi chia nhau ra dạy nên đã không làm tôi mất nhiều giờ đứng lớp lắm, các môn khác vì dạy ít tiết hơn nên mỗi bộ môn chỉ có một giáo viên phụ trách. Ở nhà cậu Vụ rất tiện lợi cho tôi, cứ mỗi buổi sáng, chờ tiếng trống vào học vang lên hồi thứ nhất là tôi băng qua đường để vào trường vừa đúng lúc học sinh đang sắp hàng vào lớp.
Suốt mấy tháng trời tôi chưa được lãnh lương cũng như chưa được mua gạo theo tiêu chuẩn cán bộ vì công đoàn phòng giáo dục huyện Đồng Phú làm việc theo kiểu “rùa bò”, may nhờ có cậu Vụ và Vinh giúp đỡ. Sáng nào cũng vậy, sau khi ăn chén cơm nguội hay củ khoai, củ mì lót lòng xong thì cậu Vụ vác cái bị lên vai, tay cầm cái móc sắt và ra đi. Cậu đến những vùng ngày trước có quân đội Mỹ đóng đồn để móc lây những bao nylông, bao cát cũ, đầu đạn, hoặc những cái gì của Mỹ còn sót lại có thể bán được rồi mang ra chợ bán cho những người thầu. Có ít tiền cậu vội mua gạo, mắm, ruốc đem về nhà cho Vinh nấu cơm, tôi đi dạy về là có cơm ăn ngay. Nay ngồi viết mấy dòng này, nhớ đến cậu Vụ và Vinh mà lòng đầy thương cảm.
Đời sống của ba chúng tôi lúc đó thật qúa là đơn giản, rất ít khi biết đến mùi cá thịt, ngày nào cũng như ngày nấy, bữa ăn chỉ có diã rau lang luộc chấm với mắm ruốc kho, tô canh đu đủ nấu với bột ngọt. Cậu Vụ trồng nhiều cây đu đủ và mấy luống lang trong mảnh đất nằm bên hông nhà nên chúng tôi có ăn hoài. Vinh có trồng mấy cây ớt hiểm rất cay, mỗi bữa ăn Vinh hái cả một nắm lớn trái chín. Thấy Vinh ăn ớt mà phát khiếp, cứ và một miếng cơm là ăn nguyên một trái ớt, mặt mày tỉnh bơ coi như không có gì là cay cả, thật như con nhồng vậy. Mỗi ngày cậu Vụ rời nhà, tôi đi dạy thì Vinh đi vào rẫy. Hai cha con họ có phá rừng khai khẩn được một miến rẫy nhỏ vừa trồng lúa vừa trồng củ mì. Xế chiều thì Vinh về nhà, thỉnh thoảng đem về một ít củ mì để nấu làm bữa lót lòng cho sáng mai.
Tôi phục Vinh lắm. Vinh là một người con trai đạo đức và thủy chung, lúc đó Vinh đã có vợ và một đứa con trai nhỏ. Khi cậu Vụ đưa gia đình vào Nam tìm kế sinh nhai thì vợ Vinh không chịu đi theo vì không nỡ bỏ nghề y tá và đang làm việc tại bệnh viện Huế. Coi như Vinh và vợ xa nhau vì suốt thời gian ở trọ nhà cậu Vụ, tôi không thấy vợ Vinh liên lạc bằng thư từ gì cả. Trong thị trấn Phú Giáo này có một gia đình khá giả, họ sinh sống ở đây lâu rồi, có mở tiệm bán cà phê và buôn bán phát triển lắm. Nhà này có một cô con gái lớn tên Vân, vì thấy Vinh mặt mày sáng sủa, có đạo đức. So với những chàng trai cùng lứa tuổi trong thị trấn thì Vinh qủa thật là người mẫu mực, nên mẹ của cô Vân cứ ngỏ ý muốn gả cô Vân cho Vinh nhưng lần nào Vinh cũng từ chối vì lòng dạ của Vinh luôn nghĩ đến vợ con ở Huế. Ở chung cùng một mái nhà trong suốt một thời gian mấy tháng, nhưng tôi thấy Vinh rất đứng đắn, đối với tôi như tình thương ruột thịt, chưa hề có một cử chỉ hay lời nói suồng sã cả, bởi vậy tôi rất qúy mến Vinh.
Cư xá của giáo viên nằm cách xa trường khoảng chừng cây số nếu không đi tắt. Đó là một cơ ngơi với nhiều dãy nhà xây sát vào nhau như kiểu cư xá, nằm trên một miếng đất khá rộng, chung quanh có trồng nhiều cây mít, cây điều, cây đu đủ và vài loại cây ăn trái khác.
Trước năm 1975, đây là cư xá dành cho vợ con của nhân viên Cảnh Sát làm trong thị trấn, sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, vợ con nhân viên Cảnh Sát bị đuổi ra, và nhà nước mới này giao cho trường cấp III làm nơi cho giáo viên của trường. Hầu hết các thầy cô trường cấp III đều ở trong cư xá, nên mỗi lần họp hội đồng giáo viên, anh Gìn đều họp ngay trong căn nhà của anh trong cư xá, và thường thì họp vào buổi chiều của những ngày thường vì ngày cuối tuần anh Gìn thích đi vào rừng săn bắn. Vì vậy mỗi lần họp xong thì trời đã tối, phải có vài thầy cô đưa tôi về lại nhà cậu Vụ, tôi không dám đi một mình vì phải đi ngang qua một căn nhà có một cây mít lớn mà cách mấy năm về trước bà chủ nhà đã treo cổ tự tử. Cũng vì bất tiện cho tôi mỗi khi có hội họp, nên các anh chị lớn đả bảo tôi dọn vào cư xá mà ở, tôi cũng không muốn làm phiền hoài đến các anh chị đưa tôi về mỗi khi hội họp nên đã chấp nhận dọn vào cư xá. Câu Vụ đã nuôi tôi mấy tháng trời bằng gạo của cậu kiếm được từ mồ hôi và sức lực già nua của cậu. Còn Vinh đã nấu cơm cho tôi ăn, săn sóc tôi như săn sóc một người em, một người chị. Lòng tôi cảm động và mang ơn lắm, nhưng lúc ấy tôi đã không có gì cả, chỉ hai bàn tay trắng, lương chưa được lãnh, nhu yếu phẩm chưa được mua thì làm sao tôi trả ơn cho cậu, cho Vinh được? Khi rời nhà cậu Vụ tôi chỉ mua gạo theo tiêu chuẩn của ba tháng vừa qua, công đoàn và thương nghiệp huyện làm việc chậm chạp còn hơn rùa bò! Trên nguyên tắc thì mỗi tháng, mỗi giáo viên được mua 13 kí lô gạo, đây là tiêu chuẩn do nhà nước xã hội chủ nghĩa đặt ra đối với những cán bộ, công nhân viên không dùng sức lao động để tạo ra của cải vật chất cụ thể cho nhà nước. Giáo viên chỉ dùng chất xám, kiến thức và tấm lòng của mình để đào tạo lớp trẻ, truyền bá những kiến thức, văn hóa mà mình có được để làm hành trang sau này để họ sẽ mang những kiến thức và văn hóa đó để đóng góp vào việc xây dựng quê hương giàu mạnh. Như vậy, vai trò của người giáo viên đối với nhà nước Cộng Sản không quan trọng gì cả, vì giáo viên không làm ra vật chất, mà vật chất là cụ thể, thấy được, sờ mó được và sử dụng được. Nói lại với tiêu chuẩn mỗi tháng 13 kí lô gại cho mỗi giáo viên, nhưng tại vì trong cái xã hội Cộng Sản thì ưa cho ăn “bánh vẽ,” cấp thượng tầng cơ sở cho cấp hạ tầng cơ sở ăn”bánh vẽ”, và cấp hạ tầng cơ sở khi báo cáo lên cấp thượng tầng cơ sở cũng bằng “bánh vẽ”; Và kẻ bị thiệt hại thê thảm chính là cán bộ công nhân viên và người dân mà thôi.
Trong cái tinh thần “bánh vẽ” ấy, phòng giáo dục Đồng Phú báo cáo lên Ty giáo dục Sông Bé rằng mỗi giáo viên của phòng đã tự sản xuất cho mình mỗi người 5 kí lô gạo mỗi tháng, vậy là phòng nhận được một bằng khen của ty để treo lên vách tường, và tiêu chuẩn của mội giáo viên, cán bộ công nhân viên thuộc huyện Đồng Phú chỉ còn lại là 8 kí lô gạo! Vì mua luôn ba tháng nên được hai mươi bốn kí lô gạo, tôi mang về trao cho cậu Vụ, cám ơn cậu và Vinh đã giúp đỡ cho tôi trong thời gian qua rồi dọn đồ đạc vào cư xá. Cư xá của giáo viên trường cấp III nằm sát một bên nhà thờ Phước Vĩnh, chỉ cách một con đường đất tuy hơi rộng- xe jeep có thể chạy được, nhưng rất gồ ghề, lồi lõm vì nước mưa từ dốc cao chảy xuống xoáy mòn con đường thành chỗ cao chỗ thấp. Mỗi Chủ Nhật, từ lúc mặt trời chưa tỏ hẳn dù trời mưa hay trời nắng, mới khoảng bốn giờ sáng là đã nghe được những tiếng chân đi ngoài con đường đất, tiếng người nói chuyện rầm rì, thức giấc nhìn qua cửa sổ, tôi thấy từng đoàn giáo dân đi nhà thờ dự lễ sáng, tay người nào cũng cầm một cây đèn hột vịt tỏa một vệt sang tù mù.
Những ông già, bà già đến nhà thờ rất sớm, cổng nhà thờ chưa mở, họ ngồi tụm năm tụm ba trước cổng nói chuyện để chờ, họ đi lễ sáng mỗi ngày không quản nắng mưa, tôi thật khâm phục. Cách nơi tôi dạy khoảng bốn hay năm cây số là đồn điền cao su Phước Hoà, ngày xưa chủ là người Pháp, sau này thuộc chính quyền miền Nam khai thác. Từ Sài Gòn đi Phú Giáo thì xe phải chạy ngang qua đồn điền cao su Phước Hoà trước, rồi qua cầu Sông Bé rồi mới tới Phú Giáo. Có một lần cuối tuần tôi đi Sài Gòn thăm các anh chị họ, tình cờ gặp một anh tên Bình, là kỹ sư làm việc trong đồn điền cao su Phước Hòa cũng đón xe đi Sài Gòn như tôi. Qua vài ba câu thăm hỏi, anh ta biết tôi có chồng là sĩ quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đang bị tù “cải tạo”, có một đứa con gái nhỏ gởi ông bà ngoại chăm sóc ở Huế, còn tôi đang dạy tại trường cấp II, III Đồng Phú. Tưởng chỉ làm bạn với nhau, ai dè anh ta lại có tình ý với tôi, đeo đuổi tôi không như một người bạn làm trong lòng tôi lo lắng vô cùng! Với tuổi đời 24, lần đầu tiên sống xa gia đình, chồng đang bị tù đày không biết ngày về, đời sống vật chất thì khó khăn thiếu thốn, đời sống tinh thần thì buồn bã cô đơn, không biết rồi tôi có giữ được tình yêu thương, sự chung thủy với người chồng đang bị đày đọa đau khổ trong tù ngục hay không? Cứ suy nghĩ và lo sợ đã làm tôi không an tâm, một hôm tôi quyết định qua nhà thờ gặp cha Hiến, là cha sở họ đạo Phước Vĩnh để trình bày hoàn cảnh và nỗi lo lắng của tôi:
-Thưa cha,chồng con là người có đạo, còn con thì chưa. Hiện tại trong lòng con chưa có niềm tin gì nơi Chúa, cũng như thời gian qua con không có niềm tin nơi Phật. Con chỉ cố gắng sống theo đạo làm người, làm lành lánh dữ mà ba con thường dạy chị em con, nhưng hoàn cảnh của con hiện nay rất khó khăn, chồng con đang bị tù đày “cải tạo” không biết khi nào về, con thì đang xa nhà, sống tập thể để đi dạy học, gia đình còn ở tận Huế, một anh kỹ sư ở đồn điền Phước Hòa đang đeo đuổi con. Bây giờ thì chưa, nhưng con lo sợ trong tương lai con sẽ bị sa ngã. Vì vậy con đến đây để xin cha hướng dẫn cho con giáo lý công giáo. Tuy con chưa có niềm tin nơi Thiên Chúa, nhưng giáo lý công giáo rất hay, buộc một vợ một chồng, vì “những gì Chúa buộc,loài người không được phân ly”con muốn lấy đó làm kim chỉ nam để sống, để giữ lòng dạ sắt son với chồng.
Vị linh mục khả kính lắng nghe tôi trình bày, rồi ngài vui vẻ bảo tôi:
-Cha rảnh chiều thứ Năm, vậy cứ chiều thứ Năm mỗi tuần con qua nhà xứ, cha sẽ hướng dẫn giáo lý cho con.
Ròng rã một năm trời một cha một con, người nhiệt tình chỉ dạy người nhiệt tình học hỏi. Cha chọn ngày Phục Sinh 1978 sẽ rửa tội và thêm sức cho tôi. Ngày lễ Phục Sinh là lễ lớn của đạo Công Giáo và nếu Chúa Jésu không sống lại sau ba ngày táng xác thì chắc có lẽ đạo Công Giáo đã không ra đời và duy trì cho tới ngày nay. Dạy cùng trường có anh Lâm và anh Nhàn đều là tu sĩ trong các Đại Chủng Viện, sau ngày 30 tháng Tư đen, Việt Cộng chiếm miền Nam, họ ra lệnh đóng cửa hết các Đại, Tiểu Chủng Viện, vì vậy hai anh ra đời, lập gia đình và đi dạy học, ngạch chỉ của họ là giáo viên cấp II. Hai anh rất vui mừng khi biết tôi học giáo lý để trở thành con cái của Chúa, nên ngày Cha rửa tội cho tôi, chỉ một mình tôi, cả hai anh đều có mặt tại nhà thờ rất sớm, đi tới đi lui lăng xăng giúp Cha làm việc này việc nọ rất nhiệt tình. Nhà thờ hôm ấy rất đông, không đủ ghế ngồi nên giáo dân phải tràn ra hai bên hành lang và phía sau của nhà thờ. Thứ nhất vì là ngày lễ phục sinh, bà con giáo dân từ trong rẫy sâu đều về nhà để đi dự lễ. Thứ hai vì phần đông giáo dân ở đây là phụ huynh học sinh của tôi, nên họ muốn có mặt trong ngày Cha rửa tội cho tôi, nhưng có ngờ đâu trong đám người đứng lố nhố phía sau và hai bên hành lang ấy có một số công an huyện, xã và cán bộ công đoàn ty, phòng giáo dục Sông Bé, vì vậy khi buổi lễ chấm dứt là Cha Hiến và tôi bị mời “đi làm việc”, không kịp dự buổi tiệc mừng đãi các cô thầy đồng nghiệp của tôi do bà mẹ đỡ đầu tổ chức. Từ ngày đó, thay vì soạn giáo án để đến lớp dạy cho học sinh thì tôi phải đến văn phòng trường ngồi viết tờ kiểm điểm bản thân, tập kiểm điểm của tôi gửi lên ty giáo dục Sông Bé. Ít hôm sau bị trả về với lời phê “chưa thành thật”, họ ghép cho tôi tội cố tình vào đạo, để tìm đường cho chồng hoạt động phản cách mạng; Họ nói những thành phần phản cách mạng đều nằm trong các nhà thờ.
Qua mấy chục tờ kiểm điểm tôi đều phủ nhận lời buộc tội này, tôi chỉ công nhận động lực làm cho tôi xin vào đạo chỉ hoàn toàn tình cảm, muốn cho chồng tôi yên tâm mà “ cải tạo tốt để được quyền công dân” như những người con dân Việt Nam khác, chỉ có vậy thôi. Do đó mà tôi ngồi viết kiểm điểm suốt gần một tháng trời, trong lúc học sinh của tôi cần ôn bài để chuẩn bị thi tốt nghiệp. Một buổi sang nọ được tin ông phó ty giáo dục Sông Bé, người nổi tiếng là một hung thần là ông Chín Danh đến trường để gặp tôi, lúc ấy tôi đang lang thang ngoài chợ. Vì biết ông Chín Danh là người bảo thủ, hung dữ, còn tôi thì hay cãi lại nếu đối tượng khiển trách tôi không đúng, và để cho hai người gặp nhau thì sẽ sinh ra chuyện mà người lãnh đủ hậu quả tai hại là tôi chứ không ai khác, nên anh Tuyến, người giáo viên chi viện, đã lo sợ cho tôi, anh đi tìm tôi và bảo tôi đến nhà một học sinh nào đó để lánh mặt ông phó ty, khi nào ông ta về thì sẽ tìm cách báo cho tôi biết để về lại cư xá. Vậy là tôi đã từ chợ đi thẳng đến nhà một em học sinh của tôi, ở sâu trong rẫy chơi cho đến xế chiều, mới có tin anh Tuyến gọi đi về. Nghe cô Hạnh kể rằng, ông chín Danh chờ mãi chờ hoài mà không thấy tôi về, ông ta bảo các anh chị trong cư xá đi kiếm nhưng họ trả lời là tôi đi thăm gia đình các em học sinh của tôi ở những địa điểm xa thị trấn làm sao biết mà tìm. Sau đó ông ta vào phòng tôi soát lục chiếc va-ly của tôi, sách vở của tôi lung tung, vừa soát miệng vừa lẩm bẩm “bạn hay địch đây?” Cuối cùng, ông ta tịch thu một tấm hình “Mẹ sầu bi” và cuốn thánh ca mà Cha Hiến đã cho tôi. Trường tôi dạy có tổng cộng khoảng hơn mười giáo viên, trước hết là anh Gìn làm hiệu trưởng, anh là người ở Bố Lá tập kết ra Bắc, và ngoài đó anh dạy trường đại học Việt Trì vì anh đã tốt nghiệp 10 năm ở cấp I, II, III, và hai năm đại học. Trong thời gian ấy ở ngoài Bắc chỉ học hệ 10 năm rồi lên đại học 2 năm, trong khi ở miền Nam thì hệ 12 năm mới lên đại học 2 hoặc 4 năm. Tánh anh bất cần đời, nên tuy ra Bắc đã lâu năm nên vẫn chưa có tuổi đảng nào cả. Tôi rất mến anh, anh ăn uống quá ư là kham khổ, khi vào Nam anh có mang theo vợ và con gái. Vợ anh là chị Hưng, là nhân viên thuộc trường đại học Việt Trì, gặp nhau, thương nhau, và lập gia đình với nhau. Khi tôi về dạy thì anh chị đã có đứa con gái bằng tuổi với con của tôi, chị Hưng thường khoe với tôi rằng khi chị đang mang thai, anh Gìn đã bắt học sinh của anh mang nhiều cóc tới trường để làm thí nghiệm, sau đó đã đem về cho chị nấu nướng để “bồi dưỡng” nên khi sanh ra cháu Uyên thì được mập mạp như vậy. Tôi thật sự thương hại cho đồng bào ngoài Bắc, sống trong xã hội Cộng Sản nên cái gì cũng thiếu, cái gì cũng qúy! Khi theo anh Gìn vào Phú Giáo thì chị làm ở thư viện, tuy chị là nhân viên thư viện của trường nhưng quanh năm suốt tháng chẳng biết thư viện có bao nhiêu cuốn sách, vì chị cứ ở nhà giữ con, anh Gìn nhờ Khanh làm thế, lương thì chị lãnh, tuy vậy chẳng có ai thắc mắc gì cả. Anh Gìn cũng dạy môn hóa cho lớp 12, cuối tuần thì sách cây súng săn đi vào rừng săn bắn, thỉnh thoảng mới mang về cư xá con thỏ con cheo, hay chia với ai đó được miếng thịt nai. Sau khi chị Hưng kho nấu xong, anh Gìn gọi các thầy cô trong cư xá đến mỗi người ăn một miếng cho vui, dù không có nhiều nhưng chúng tôi cũng tụ họp lại tại phòng của anh và ăn vui vẻ. Sự bình dị của anh Gìn đã làm cho chúng tôi rất cảm mến. Còn lại nam giáo viên thì có thầy Phan Thanh Tám, đảng viên ngoài Bắc vào dạy môn chính trị, anh Chiến, anh Tuyến giáo viên chi viện dạy môn văn; anh Nhung, người Bình Dương dạy môn sinh vật, anh cao lêu khêu, thân hình ốm tong teo hai tay thì dài quá khổ, tướng đi cà khêu nên tôi gọi anh là “người vượn”, tính anh vui vẻ, tốt bụng. Thầy Hưng và thầy Cương cũng người Bình Dương, người dạy môn toán, kẻ dạy môn lý. Tôi nhớ mãi chuyện một buổi sáng nọ có phái đoàn ty về thăm, người dẫn đầu là ông Sáu Khá, trưởng ty. Sau khi chào cờ xong, thì ông Sáu chắp hai tay sau lưng và đi từng bước dọc theo hàng giáo viên đang đứng, mặt quay về phía học sinh. Ông ta vừa đi vừa nhìn thẳng vào từng cô, thầy, khi thì gật gật cái đầu, khi thì lắc lắc cái đầu. Lúc đến trước mặt cô Cúc, nhìn cô mặc chiếc quần sa-teng đen và chiếc áo vải bông, ông ta gật gật cái đầu và nói lớn:
-Giỏi, giỏi, cô này mặc toàn đồ nội hóa, các cô kia nên bắt chước. Có như vậy nền kinh tế nước nhà mới lớn mạnh.
Rồi ông ta chỉ tôi với cô Hạnh, đang mặc áo dài bằng vải xoa Pháp:
-Hai cô này vọng ngoại, không tốt.
Khi ông ta đến trước mặt thầy Cương, đứng lại, nhìn thầy ấy một hồi lâu, rồi đưa tay lên vuốt cái tóc mai dài, soăn soăn bộ râu mép của thầy, và nói:
-Đang chiến dịch cho học sinh phải cho học sinh cắt tóc ngắn ca-rê ba phân, mà thầy là giáo viên sao không biết làm gương. Tôi ra lệnh cho thầy ngay ngày hôm nay phải cắt tóc ngắn và cạo hết râu đi.
Thái độ ông ta rất khôi hài, khiến đám học sinh cười rộ. Thầy Cương mặt mày tím lại vì giận, bàn tay thầy nắm lại như muốn đấm vào mặt ông ta.
Đứng sát cạnh bên thầy, tôi nhanh tay nắm tay thầy lại rồi góp ý:
-Thưa chú, anh chị em chúng con đang ráo riết động viên các em nam sinh cắt tóc ngắn để nhìn các em có dáng dấp khỏe mạnh, và sạch sẽ hơn. Phần đông các em đã thi hành rất tốt, còn các thầy thì xin chú cho họ tùy ý vì họ đã để râu để tóc từ một thời gian dài, miễn sao đừng qúa dài là được, như thầy Cương đây lại có thú vui chải chuốt tóc râu, tuy thầy có hơi dài, và thầy để râu mép. Nhưng với vóc dáng cao to của thầy thì với mái tóc ấy, râu mép ấy càng làm cho thầy bệ vệ thêm. Bây giờ chú muốn thầy phải cạo râu, cắt tóc thì cũng phải từ từ, cần lời khuyên nhủ hơn là góp ý sỗ sàng, bởi vì thầy Cương rất coi trọng mái tóc và bộ râu của thầy,không thể một sớm một chiều mà bắt buộc thầy phải cắt tóc cạo râu được. Góp ý cũng phải lựa cách lựa lời mới có kết qủa.
Nghe tôi nói, có vài anh nói theo rồi đâu vào đó, những người trên ty thì trở về ty, còn chúng tôi thì tiếp tục dạy, không ai bàn đến mái tóc và bộ râu của thày Cương nữa. Thầy Hoàng, gia đình ở Sài Gòn, dạy môn toán, cuộc sống có vẻ chật vật lắm. Thầy Khanh dạy môn lý hóa, kiêm luôn chức quản thủ thư viện làm việc thay cho chị Hưng, vợ anh Gìn, Khanh cùng tốt nghiệp đại học Sư Phạm Huế một lượt với tôi, cũng có lý lịch xấu như tôi nên không có nhiệm sở gần. Lúc ở Huế thì tôi không biết Khanh, nhưng khi cùng vào Phú Giáo thì chúng tôi rất thân nhau, Khanh coi tôi như một người chị, và tôi coi Khanh như em trai của tôi. Khanh là một thanh niên gương mẫu, tốt bụng. Anh Lâm dạy Pháp văn, anh Nhàn dạy Sử Địa, hai anh không tốt nghiệp đại học Sư Phạm nên ăn lương theo chỉ số cấp II. Trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, hai anh là tu sĩ Công Giáo, đang chuẩn bị chịu chức phó tế thì Việt Cộng chiếm miền Nam. Họ bắt buộc các tiểu, đại chủng viện phải đóng cửa, tu sinh phải trở về với gia đình, vì vậy các anh ra đời lấy vợ. Thầy Thanh người Bình Dương, giáo viên môn toán cấp II. thầy Sơn cũng người Bình Dương, là giáo viên thể dục thể thao của trường cấp I, vì trường cấp II, III chưa có thầy dạy môn này, nên xin phòng giáo dục huyện Đồng Phú cho thầy qua dạy giúp. Thầy Sơn thuộc loại “ngựa non háu đá”; Mỗi lần họp hội đồng giáo viên thầy hay góp ý, phê bình mà chẳng ra đâu vào đâu, ban đầu chúng tôi còn nói lại nhưng lần nào thầy cũng cương gân cương cổ ra cãi cho hơn, cãi với “lý xự cùn” ngang như cua bò nên sau này chẳng ai tranh cãi với thầy nữa. Đúng ra thầy không được họp vì thầy không phải là giáo viên của trường, nhưng vì thầy muốn có mặt trong các buổi họp nên chẳng ai ngăn cản làm chi. Về giáo viên nữ thì có cô Hồng Hạnh, nhà ở Sài gòn, cô dạy môn Anh Văn. Cô Thu Cúc người Bình Dương dạy môn Sử, và tôi. Trường ít giáo viên nên chúng tôi thân nhau lắm, ngoài ra có thêm một thanh niên trẻ làm văn thư, lo giấy tờ, và đi mua hàng nhu yếu phẩm, lương thực. Bấy giờ phong trào dự giờ nổi lên khắp các trường trong tỉnh Sông Bé, phái đoàn của ty giáo dục gồm trưởng ty, phó ty, công đoàn v.v…thường đến trường này trường khác trong tỉnh để để dự giờ rồi phê bình, góp ý. Một hôm phái đoàn đến trường chúng tôi, họ chọn vào dự lớp của anh Nhàn đang dạy giờ địa lý, một số giáo viên trường lúc đó không có giờ lên lớp cũng bị bắt phải vào dự giờ theo họ, trong đó có tôi. Trong lúc giảng, anh Nhàn nói:
-Nước Việt Nam ta có rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú. Vì có biển dọc theo chiều dài của nước ta nên nước ta có nhiều vịnh lớn để làm hải cảng quốc tế, một trong những vịnh lớn đó là vịnh Cam Ranh, có bãi cát dài. Trước năm 1975, ông Nguyễn Văn Thiệu đã ký bán cho Nhật trong thời gian 100 năm để Nhật lấy cát mang về Nhật chế biến thủy tinh. Đó là tài sản chung của toàn dân mà ông Thiệu dám bán cho Nhật, như vậy ông Thiệu đã có tội với nhân dân.
Sau khi tiết học kết thúc thì tất cả mọi người họp để phê bình, ông Sáu Khá, trưởng ty giáo dục Sông Bé đã hùng hổ phê bình:
-Tư tưởng của cô thầy trường này còn lệch lạc quá, chưa phân biệt được ai là bạn, ai là thù nên khi giảng bài cho học sinh các cô các thầy mới gọi ông Nguyễn Văn thiệu, ông Ngô Đình Diệm. Tức là các cô các thầy vẫn còn tôn trọng họ. Từ nay tôi yêu cầu các cô các thầy phải quán triệt tư tưởng, mỗi khi dạy có bài nào liên quan đến hai tên này thì các cô các thầy phải gọi là thằng Thiệu, thằng Diệm.
Nghe ông trưởng ty phát biểu ý kiến như vậy làm ai cũng khó chịu, anh Lâm, anh Nhàn thì cúi đấu im lặng, các thầy các cô kia chỉ nhìn nhau mà không nói gì, bầu không khí thật ngột ngạt;
Tôi đưa tay xin có ý kiến:
-Thưa các chú, thưa các anh chị, cháu không biết cách giáo dục ở ngoài miền Bắc như thế nào, nhưng trong Nam này thì chú trọng “tiên học lễ, hậu học văn”, phải dạy đạo đức cho học sinh trước rồi mới dạy văn hóa sau, bởi vì đạo đức làm người rất quan trọng, một người dù tài ba đến đâu mà không có đạo đức cũng coi như bỏ. Vì vậy chúng cháu là cô là thầy đứng trên bục để dạy học sinh thì chúng cháu phải thể hiện sự đạo đức, lễ nghĩa của mình trước. Chúng cháu không thể gọi ông Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Văn Thiệu bằng thằng được, chúng cháu mà gọi những vị lớn tuổi đáng bậc cha ông bằng thằng, thì học sinh gọi chúng cháu bằng thằng này, con nọ cũng được. Như vậy xã hội này bị đảo lộn tôn ti trật tự hết. Cháu nhớ ngày trước lúc cháu còn học trung học, khi các giáo sư dạy những bài có liên quan đến bác Hồ, đều gọi là cụ Hồ, chứ không ai gọi bằng thằng Hồ cả. Chỉ có hạng vô giáo dục, sống đầu đường xó chợ mới gọi người lớn tuổi bằng thằng, bằng con mà thôi.
Tôi vừa dứt lời thì ông trưởng ty phản ứng lại ngay, một phản ứng vô cùng mạnh mẽ; Ông ta đập bàn một cái rầm và quát:
-Cô nói như vậy tức là cô nói tôi thuộc loại đầu đường xó chợ có phải không?
Mấy người nên biết bác Hồ của chúng ta là một người vĩ đại, không những vĩ đại trong nước mà còn là nhân vật vĩ đại đối với thế giới nữa, vì vậy người trong miền Nam phải gọi bác một cách trân trọng như vậy.
Tôi gân cổ cãi:
-Thưa chú, không phải như vậy, trước năm 1975 người trong miền Nam không hề biết sự vĩ đại của bác Hồ, chỉ vì nhìn trong hình thấy bác Hồ có chòm râu le the thì gọi bằng cụ cho phải đạo làm người thế thôi.
Thấy tình hình coi bộ hơi găng, chú bẩy Thiều, phó ty, trước là hiệu trưởng một trường cấp III ngoài miền Bắc, sau tháng tư đen, Bộ Giáo Dục điều động chú vào làm phó ty giáo dục Sông Bé. Dù là người Bắc chính cống nhưng chú rất tốt, cư xử với chúng tôi một cách hiền hòa, từ tốn chứ không có thái độ hách dịch như những người thắng thế khác. Chú bèn lên tiếng:
-Theo ý của tôi thì không nên gọi là thằng Diệm, thằng Thiệu, cũng không nên gọi là ông Diệm, ông Thiệu. Vậy thì khi giảng dạy nếu có đề cập đến họ thì các cô các thầy chỉ gọi là tên Ngô Đình Diệm, tên Nguyễn Văn Thiệu mà thôi. Tất cả mọi người hiện diện trong phòng đều đồng ý.
Tôi là một cô giáo trẻ, rất nhiệt tình trong việc dìu dắt thế hệ đàn em, đối với học sinh tôi rất hòa đồng, tôi coi các em như những đứa em của tôi, đổi lại thì hầu hết các em rất mến tôi. Trong số học sinh nam có em tên Minh, thuộc loại học sinh cá biệt, gia đình tuy khá giả nhưng không được bà con ở đó kính nể, bởi trước năm 1975 mẹ của em làm cái nghề không được đàng hoàng, và ba của em là ai cũng không ai biết. Em là con của một bà mẹ độc thân nên rất được mẹ em cưng chiều, em lớn lên trong hoàn cảnh đặc biệt không giống như các em khác có cha có mẹ nên tính tình của em ngông nghênh, em có thái độ bất cần đời, coi Trời như ngọn rau má, nên cũng coi cô thầy dạy em không ra gì cả! Nên có một số giáo viên không thích em ra mặt, người có thái độ hằn học với em nhất, đó là thầy Hoàng dạy toán. Lúc đó em học lớp 11, đối với tuổi của em thì đúng ra em phải lên đại học rồi, nam nữ học sinh ở đây lại học trễ đến hai, ba lớp như vậy rất nhiều, có lẽ trong thời ly loạn, các em không có điều kiện để đến trường vì vùng này là chiến khu D của Việt Cộng trước năm 1975! Nói lại, thầy Hoàng ghét em Minh ra mặt nên em Minh đã tỏ ra rất hỗn xược với thầy. Nhiều lần em nói với các bạn cùng lớp rằng:
-Có ngày tao lột da đầu thầy Hoàng làm quai dép.
Câu nói ấy đến tai thầy Hoàng, khiến thầy rất tức giận. Trong một buổi họp giáo viên của trường, thầy đề nghị một cách cương quyết với anh hiệu trưởng là phải kỷ luật, và đuổi em Minh. Vài giáo viên khác cũng đồng ý, còn tôi thì không đồng ý đuổi mà phải huấn nắn em, phải “đắc nhân tâm“ với em. Theo tôi, những con ngựa hay thường có cá biệt, nếu biết nhắm vào “sự cá biệt” ấy để uốn nắn thì sẽ có kết qủa tốt hơn là dùng biện pháp mạnh; Cùng lắm sau một thời gian uốn nắn, nếu thấy không có sự tiến bộ gì thì lúc ấy hãy đổi cũng chưa muộn. Ý kiến của tôi được nhiều người chấp nhận, anh Gìn giao công việc “uốn nắn” ấy cho tôi, và kỳ hạn cho tôi một học kỳ. Với bầu nhiệt huyết của một cô giáo trẻ, tôi nhận công việc khó khăn này. Từ đó tôi để ý đến em Minh hơn, tôi thường dùng lời lẽ nhẹ nhàng, thân mật để giải thích, khuyên nhủ em theo công thức “mật ngọt chết ruồi”. Về môn học do tôi đảm nhiệm, nếu có bài nào, đoạn nào em chưa hiểu thì tôi bảo em ở lại sau giờ tan học để tôi giảng lại cho em. Thấy em có một thân thể cường tráng, khỏe mạnh, tôi động viên em tham gia vào đội bóng chuyền của trường, và nhờ có em mà đội bóng chuyền của trường đã đạt giải ba trong kỳ thi đấu của các trường cấp III toàn tỉnh năm ấy. Đây là một điều đáng mừng, vì từ trước đến nay mỗi lần thi đấu như vậy, thì đội bóng chuyền của trường cứ bị đội sổ hoài. Tôi cũng khuyến khích và hướng dẫn em viết bài cho tờ bích báo của lớp. Nhờ tham gia sinh hoạt như vậy, từ từ tính tình em Minh thuần lại, em chăm học hơn và hoà đồng với các bạn cùng lớp hơn. Các bạn cùng lớp, cùng trường cũng giao thiệp thân mật với em, và nhất là các cô các thầy trong trường đã nhìn em với những cặp mắt khác. Cuối năm ấy, em đủ điểm để lên thẳng lớp 12, khỏi phải thi lại, đây là một việc khích lệ cho em nhiều nhất, như vậy chứng tỏ việc học của em đã có sự tiến bộ rõ rang. Một hôm em Minh nhất định mời tôi về nhà vì mẹ em muốn gặp để cám ơn tôi, không từ chối được nên tôi nhận lời. Nhà em nằm trong dãy phố đối diện với chợ, bán cà phê. Khi tôi ngồi trên chiếc ghế xa-lông nói chuyện với mẹ em thì em đến ngồi ngay trên chiếc tay cầm bên phải ghế của tôi mà mẹ em không la rầy gì cả, em nói cười quá thân mật, tự nhiên và mẹ em như đồng lòng làm cho tôi thấy khó chịu, nên xin phép về lấy cớ phải chấm bài không thể ở lại lâu. Rồi vào một buổi chiều của lễ Giáng Sinh năm 1977, em Minh và bạn em đến cư xá tìm tôi, hai người cỡi riêng hai chiếc xe Honda. Họ ngỏ lời mời tôi đi dự lễ nửa đêm rồi ăn reveillion luôn, tôi từ chối ngay vì thấy không tiện, cho dù tôi là cô giáo nhưng chỉ lớn hơn học sinh hai, ba tuổi mà thôi, với lại hai em này thuộc loại “ăn chơi” nên làm tôi e ngại lắm.
Thấy tôi từ chối, bạn em Minh lên tiếng:
-Tao đã nói với mày là cô mày không chịu đi đâu.
Minh trả lời bạn:
-Tao là học trò “rượu” của cô, năn nỉ một hồi là cô chịu đi với mình liền, mày chờ coi.
Rồi quay qua tôi, em nói tiếp:
-Có phải không cô? Em là học trò rượu của cô mà, cô đi với tụi em cho vui, em đích thân chở cô đi.
Nghe hai người họ đối đáp qua lại, tôi càng từ chối không đi, lấy cớ phải soạn “giáo án” và chấm bài. Tôi nghĩ ngay đến câu chuyện “Vòng Tay học trò” của Nguyễn Thụy Hoàng, và tôi lo sợ không phải đối với tôi mà đối với em Minh. Tình cảm của một học sinh nam đối với một cô giáo nữ sẽ xẩy ra, như vậy không tốt. Tôi quyết liệt từ chối nên cuối cùng em Minh cùng bạn rời cư xá với bộ mặt buồn xo. Từ cái đêm em Minh dẫn bạn đến cư xá mời tôi đi dự lễ nửa đêm ấy, tôi đâm ra ngại ngùng mỗi khi gặp mặt em, không còn thân mật như thời gian trước nữa. Em Minh có lẽ thấy được tôi cố tình giữ một khoảng cách giữa cô và trò nên không đến cư xá tìm tôi hoặc gặp mặt ở trường thì chỉ cúi đầu chào rồi lảng ra xa. Đến năm học 1979-1980, tôi đổi về dạy tại trường cấp III Tân Uyên ở Phước Khánh, và từ đó tôi không còn gặp hay nghe tin tức về em Minh nữa.
Trong xã hội chủ nghĩa, tức là xã hội của các nước Cộng Sản, vì nhà nước quản lý tất cả mọi thứ nên cái gì cũng trở thành hiếm qúi cả, nhất là trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhựng nhu yếu phẩm bình thường cho cuộc sống con người cũng trở thành hiếm qúi, như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã viết:
“ Miếng thịt lợn, chao ôi là vĩ đại, Miếng thịt bò còn vĩ đại gấp hai, Cam, quýt, chanh, xoài, đỗ, lạc, sắn, khoai, Đảng mó tới, chao ôi thành vĩ đại.”
Tôi là giáo viên tốt nghiệp bốn năm nên lương được 51 đồng miền Nam, tức là tờ một đồng màu đỏ, khổ nhỏ, không có hình ông Hồ râu lưa thưa như ở Huế. Còn anh Lân, anh Nhàn dù dạy cấp III, nhưng không có bằng cử nhân nên lương chỉ có 40 đồng. Gía sinh hoạt đối với đồng lương của chúng tôi như vậy cũng là khá đắt đỏ; Giá một vé xe mua gía chính thức từ Sài Gòn về Huế là 11 đồng, như vậy đồng lương của chúng tôi qúa ít ỏi. Những cô thầy có gia đình ở gần, mỗi cuối tuần họ về thăm nhà và khi trở lên đều có mang theo ít thức ăn mặn như cá kho, thịt kho, hay các thứ dưa, mắm để ăn thêm trong các bữa ăn hàng ngày. Còn những cô thầy xa gia đình cả trăm ngàn dặm như chúng tôi thì phải chịu thiếu chịu thèm liên miên, do đó chúng tôi rất mong đến ngày người văn thư của trường đi lên Đồng Xoài mua nhu yếu phẩm về cho giáo viên, nhất là tôi, tôi cần hơn ai hết vì mỗi tháng tuy đều được mua đường, mua bột ngọt dù chỉ được mua một số lượng rất nhỏ vài ba trăm gờ ram, nhưng tôi đều để dành từ từ, đến khi đi thăm nuôi chồng ở trại tù “cải tạo” Bù Gia Mập thì cũng có đường có bột ngọt bới xách cho chồng. Tôi cám ơn anh Lâm và Khanh, họ là người anh, người em kết nghĩa của tôi; Ba anh em tôi đã thương nhau như ruột thịt, dù ở chung một căn nhà với cô Hạnh, cô Cúc nhưng hình như suốt ngày tôi chỉ quanh quẩn trong căn nhà của anh Lâm và Khanh. Tôi nấu ăn, giặt giũ, soạn bài, chấm bài tại phòng này; Ba anh em tôi thường làm việc với nhau, tôi giặt quần áo thì Khanh kéo nước từ giếng sâu lên mang đổ đầy thùng phuy, anh Lâm thì phơi áo quần đã giặt xong lên sợi giay giăng sau nhà bếp. Tôi nấu cơm thì Khanh nhặt rau, anh Lâm gọt khoai. Đi chơi nhà ai trong thị trấn thì ba anh em cùng đi. Mỗi tháng khi lãnh lương xong thì anh Lâm đưa cho tôi 18 đồng, Khanh lãnh được 51 đồng đưa hết cho tôi, chỉ giữ lại số tiền dạy phụ đạo để xài vặt. Về nhu yếu phẩm thì cả ba anh em đều đồng ý là cho anh Lâm giữ hết phần của anh để vài tháng anh ra Nha Trang thăm vợ mà mang về cho vợ. Tôi cũng vậy, những thứ giữ được như đường, bột ngọt, đậu phụng… thì tôi để dành để thăm nuôi chồng, phần của Khanh thì tôi quản lý để xài chung cho ba anh em, vài ngày, sau khi tan học, cả ba anh em chúng tôi cùng đi bộ xuống chợ xuống chợ mua thức ăn, thường thì chỉ mua bầu, bí, đậu, lâu lâu có người đi săn được nai, họ xẻ thịt mang ra chợ bán, gía vào thời điểm đó là một đồng mua được 2 lít gạo, thì một ký lô thịt nai là 2 đồng. Chúng tôi mua một ký thịt nai, mang về kho mặn với sả, ớt, để dành ăn được vài ngày, còn cá, thịt bò, thịt heo thì mắc lắm, chúng tôi không dám mó tới. Cư xá của giáo viên cấp III nằm trong một vuông đất rộng có rào bao bọc xung quanh, trước năm 1975 đây là cư xá của vợ con cảnh sát, không biết được xây dựng bao lâu nhưng nay những cây mít, đu đủ, điều đã cao lớn và ra trái xum xuê, nhờ vậy những bữa ăn hàng ngày của chúng tôi luôn có món mít non luộc chấm nước tương, mít non trộn dầu tỏi mè, đu đủ xào tỏi, đu đủ nấu canh với vài con tôm khô và bột ngọt, thỉnh thoảng muốn ngon hơn thì làm nộm đu đủ với đậu phụng rang. Những giáo viên sống xa nhà cả vạn dặm, ngoài ba anh em chúng tôi có thầy Tám là đảng viên, dạy môn chính trị, “đầu não” của trường, anh Tuyến dạy văn, anh Chiến cũng dạy văn, cả hai anh Tuyến và Chiến từ ngoài miền Bắc chuyển vào công tác tận trong Nam, gọi là “giáo viên chi viện”, tôi nghĩ mục đích của nhà nước Cộng Sản Việt Nam là đưa họ vào sống, công tác với giáo viên miền Nam để “theo dõi” rồi “báo cáo” như là thứ “ăng ten chỉ điểm” chứ trong Nam đâu có thiếu giáo viên đâu mà cần miền Bắc chi viện. Tuy là giáo viên “chi viện” nhưng họ không “hách” như một số cán bộ, bộ đội khác mà tôi gặp, có lẽ họ là người có văn hóa, có học thức nên có đầu óc tiến bộ hơn, chưa bao giờ tôi nghe hai anh khen xã hội ngoài Bắc bao giờ chứ đừng nói là khoác lác như “máy điều hoà không khí được gắn trong các vườn hoa cho nhân dân cùng xài” hay “ở ngoài Bắc có cà rem thiếu gì, đem phơi đầy đường” giống như một số cán bộ, bộ đội thường nói khi vào Nam! Theo tâm sự của họ thì tôi biết hoàn cảnh của cả hai cũng khó khăn lắm, vào công tác trong Nam chỉ có một thân một mình, còn vợ con vẫn còn ở ngoài Bắc. Anh Chiến có vợ hai con, anh Tuyến có vợ một con. Trong hai anh thì anh Tuyến ăn nói mềm mỏng hơn, thành thật hơn.
Anh Tuyến thường nhắc đến vợ và đứa con gái nhỏ một cách trìu mến rồi lấy bóp đưa hình cho tôi và Khanh coi. Tháng nào cũng vậy, mỗi khi lãnh lương xong anh Tuyến đi chợ mua khoảng 5 kí lô gạo mới, đem về phòng ngồi bỏ từng nắm gạo vào trong cái miệng nhỏ của cái bình nhựa một cách kiên nhẫn cho đến khi cái bình đầy gạo, rồi anh lấy nhiều giấy báo bao lại chung quanh, nhiều lớp. Phía ngoài anh dùng một tờ giấy ci-măng dày gói lại vuông vức, đề địa chỉ của vợ ngoài Bắc rồi ra bưu điện gởi bưu phẩm về cho vợ. Thời gian ấy là thời gian “đại bao cấp”, không có cái gì mà đảng không dành quản lý, từ sợi chỉ cho đến cây kim, nhất nhất muốn mua phải có giấy giới thiệu của cơ quan mình làm việc, huống hồ là gạo, gạo ở đâu thì nằm ở đấy, không ai có thể mang gạo đi từ chỗ này đến chỗ khác, muốn mang thì phải xin giấy chứng nhận hợp lý và có số lượng hợp lý, nếu không xin được giấy phép mà cứ mang theo, dù chỉ hai, ba ký, khi đến chỗ thuế vụ chận xét là bị tịch thu ngay, không những bị mất của mà còn bị những tên ngưu đầu mã diện kia lên lớp nữa. Anh Tuyến nói với chúng tôi là anh phải “nguỵ trang” để gởi gạo ra Bắc cho vợ cất giữ mà phòng thân vì ngoài ấy thiếu gạo lắm, mấy chục năm nay chưa bao giờ ăn được một bữa cơm không độn, đã không có thức ăn ngon rồi mà cơm phải độn sắn khoai hết một nửa nên con bé lười ăn, vì vậy nó ốm nhom! Trước tình cảm yêu thương và sự lo lắng cho vợ cho con của anh Tuyến, một giáo viên sinh ra và lớn lên trong một xã hội Cộng Sản phi nhân làm chúng tôi cảm động lắm, vì vậy chị em tôi rất thân thiết với anh Tuyến. Nói đến việc bao cấp, chính mắt tôi đã chứng kiến cái hoạt cảnh “cười ra nước mắt” như sau:
Hè niên học 1978-1979 tôi và thằng em trai, là giáo viên môn Anh văn một trường cấp III thuộc ty giáo dục Vĩnh Long, cùng về Huế nghỉ hè, chị em tôi đến ga Bình Triệu thuê một chiếc chiếu ngủ tại sân ga để sắp hàng mua vé tàu, mặc dầu chị em tôi có giấy sự vụ lênh, nghĩa là thuộc diện ưu tiên để mua vé, vậy mà phải ngủ trên manh chiếu ấy đến hai đêm ba ngày mới mua được hai tấm vé. Ai có nhiều tiền thì mua vé chợ đen với giá gấp ba, muốn mua bao nhiêu vé cũng có và muốn đi lúc nào cũng được, còn những ai ít tiền đành sắp hàng, nhân viên bán vé chỉ bán vài ba tấm vé thì tuyên bố “hết vé”, ở lại chờ sang mai, ai có chút tiền thuê manh chiếu thì ngủ trên chiếu, chiếu này trải sát chiếu kia, còn những ai muốn tiết kiệm thì ngồi hay nằm trên nền nhà ga mà ngủ gà ngủ gật; Trời còn dày đặc màn đêm thì thiên hạ đã nhổm dậy sắp hàng, đứng trong hàng từ tờ mờ cho đến sáu giờ sáng, nhân viên nhà ga mới ung dung làm việc, mình gấp chớ họ có gấp đâu, nên mình nóng ruột chớ họ có nóng ruột đâu! Chuông vừa rung, báo hiệu các cửa quầy vé bắt đầu bán thì mấy “thằng” làm việc nhà ga đã đồng loạt nhẩy lên đứng trên thanh sắt được ngăn từng hàng trước mỗi quầy, chúng dạng cả hai chân, bên này một chân bên kia một chân tạo thành cái cổng “tam quan”, hành khách từng người, rồi từng người đều phải chui qua cái cổng “tam quan” kia để lọt vào phía trong mà mua vé; tôi thấy thật chướng mắt, mất thẩm mỹ và chẳng văn minh tí nào, nhưng lúc ấy hành khách thì chẳng ai chú ý đến chướng mắt hay không chướng mắt, văn minh hay không văn minh, hễ cứ chui qua khỏi cửa “tam quan” kia là được coi như có vé, vì vậy ai cũng mong cho đến lượt mình “được” chui qua, và ai đã “chui” qua được thì mặt mày hớn hở là vì, không bị ngủ lại thêm một đêm nữa; Ngày đoàn tụ với gia đình sắp đến! chúng tôi không thể mua vé đi thẳng Huế vì nếu chờ mua cho được vé này chắc phải ở lại đến một tuần mới mong đến phiên mình “được” chui qua “cửa tam quan”! Vì vậy chúng tôi mua vé đi Nha Trang, định đi từng chặng đường, rồi cũng về đến Huế, còn hơn ở lại ga Bình Triệu bát nháo này hết ngày này đến ngày khác mà chưa biết đến khi nào mới mua được vé. Cầm hai vé tàu trên tay, chúng tôi hồi hộp chờ tàu đến để nhẩy lên dành chỗ vì trên một chiếc ghế có đến hai tấm vé. Tàu từ ga Hòa Hưng vừa đến, chưa kịp ngừng thì tôi đã nhẩy lên tàu tìm số ghế của mình, khi tìm ra đã thấy 2 tên bộ đội cụ hồ ngồi lù lù trên hai chiếc ghế ấy rồi, tôi chìa hai tấm vé ra để đòi ghế lại, hai tên kia cũng chìa hai tấm vé của họ ra và khẳng định đây là ghế của họ, quả thật vé của họ cũng cùng số ghế giống của tôi, chỉ khác là một bên có chữ A, một bên không có chữ nào thôi, tôi bảo đây là ghế của tôi, rồi níu tay họ lôi ra khỏi ghế, họ ghì lại, bảo ghế mang số vé của họ thì họ có quyền ngồi. Một bên kéo ra, một bên ghì lại, cứ dằng co như vậy không ai chịu nhường ai, những người lớn tuổi ngồi chung quanh cùng nói:
-Hai cậu là thanh niên, là bộ đội mà đi tranh giành ghế với phụ nữ sao không biết xấu hổ? Hai ghế này đúng là số ghế của 2 vé cô ấy, hai cậu muốn “lấy thịt đè người” à?
Các bác cứ nói ào ào bênh vực tôi, sau cùng hai tên bộ đội kia phải bỏ đi. Vất vả lắm chị em tôi mới mang được đồ đạc lên tàu vì tàu qúa chật. Khi tàu chạy đến ga Diêu Trì thì ngừng lại, đậu song song với một chiếc tàu sắp sửa chạy về Huế, tôi và em tôi vội chuyển đồ đạc qua tàu kia bằng cái cửa sổ. Chúng tôi làm liều vì chưa mua vé mà mang nguyên cả một bao gạo 100 lít nên cũng lo lắm, tuy nhiên đã liều thì “năm bảy cũng liều”, khi tàu Diêu Trì bắt đầu chạy tôi bảo em tôi đi tìm người soát vé đưa cho họ xem hai tờ giấy sự vụ lệnh, giấy phép mang gạo về ăn trong thời gian nghỉ hè, hai tấm vé đi Nha Trang rồi trình bày hoàn cảnh của mình để mua vé phạt trước khi ông ta đến kiểm soát; Cũng nhờ người soát vé dễ chịu và thông cảm, nên chị em tôi chỉ trả đủ số tiền của gía vé chính thức mà thôi, xin cám ơn một người tốt bụng. Chinh trên chuyến tàu này mà chúng tôi tận mắt chứng kiến cái cảnh “cười ra nước mắt” kia! Tôi đang lơ đãng nhìn ra cửa sổ để ngắm cảnh vật thì nghe tiếng quát:
-Bà dám mang gạo trái phép phải không?
Tiếng quát ấy rất lớn nên làm tôi giật mình nhìn lại, một cô gái mập tròn như cái bồ lúa, tay cầm cái roi mây quất mạnh vào mông một bà già nhà quê, tuổi chừng 60, áo quần màu đen lam lũ, mỗi lần bị roi quất trúng vào mông thì bà nhẩy lên như choi choi, hai tay xoa vào mông, vừa khóc vừa nói: -Vì nghèo qúa, tôi chỉ gánh ba kí gạo từ Diêu Trì ra Sa Huỳnh bán mà chị đánh tui, hu…hu…hu…hu…
Cô gái “bao chỉ xanh” kia quất vào mông bà ta thêm vài roi nữa rồi mới chịu ngưng, lấy túm gạo ra bỏ dưới sàn tàu rồi cầm cả quang gánh của bà ném mạnh ra cửa sổ tàu làm bà già la thất thanh:
-Hu…hu…hu…chị đã tịch thu gạo của tôi, rồi còn ném quang gánh của tôi đi, tiền đâu tui mua lại, hu…hu…hu…
Mặc cho bà già khóc lóc, cô gái bao chỉ xanh xách túm gạo đi về phía đầu tàu. Nhìn cảnh này, lòng tôi chùng xuống, buồn chi lạ nhưng biết làm sao đây? Chính bản thân tôi bây giờ cũng đang bầm dập vì chế độ phi nhân này, và cả miền Nam đều bầm dập dưới chế độ này; Tất cả đều thấp cổ bé miệng thì kêu trời sao cho thấu!!!
Nhắc lại anh Tuyến kiên nhẫn làm cái việc mua gạo, bỏ gạo vào cái bình nhựa chừng 5 kí lô, gói nhiều lớp giấy để ngụy trang là gói quà rồi đến bưu điện gửi ra Bắc cho vợ con mà chạnh long, anh nói với chúng tôi:
Gạo ngoài Bắc hiếm lắm, chị là công nhân viên có chế độ lương thực hàng tháng, nhưng phần lớn các cửa hàng lương thực bán khoai thay cho gạo, cứ mười kí khoai tươi thì quy cho một ký lô gạo. Trong mười kí khoai tươi ấy thì vài ba kí còn tốt, vài ba kí còn vạt ra ăn được một nửa, vài ba kí hoàn toàn bị sùng.
Chính chúng tôi đã bị mua như vậy. Trong một thời gian dài huống hồ là ngoài miền Bắc; Khoai thì không để dành được lâu nên mỗi tháng anh Tuyến đều gửi gạo ra cho vợ để dành, lúc bệnh hoạn thì có cái mà nấu cháo bồi dưỡng. Nghe lời giải bày của anh Tuyến, chúng tôi thông cảm và phục anh vô cùng, dù sinh ra và lớn lên ngoài miền Bắc xã hội chủ nghĩa mấy chục năm dài, mà trong anh vẫn còn giữ lại cái trách nhiệm, sự lo lắng lòng thủy chung với vợ với con, nghĩa là vẫn còn giữ lại bản chất của một con người. (Anh tiêu pha tằn tiện lắm, không bao giờ thấy anh ra chợ mua thêm đồ để nấu ăn, ngoài nhu yếu phẩm được mua theo giá phân phối hàng tháng.) Mỗi ngày, sau khi tan trường, chúng tôi cùng nhau về cư xá, cách trường khoảng một cây số, thỉnh thoảng ba anh em chúng tôi, anh Lâm, Khanh và tôi tách riêng để đi ra chợ mua thêm thức ăn, chứ anh Tuyến thì cắm đầu đi một mạch về cư xá. Thay xong quần áo là anh đi ra vườn nhìn lên cây mít, cây đu đủ để xem có trái nào có thể hái xuống hay không, và lúc nào cũng có hoặc to hoặc nhỏ, tìm cây thọc xuống, lượm và mang về phòng loay hoay chế biến thức ăn. Chúng tôi cũng có hái mít non, đu đủ non để biến chế thức ăn nhưng không hái mỗi ngày như anh Tuyến. Ban đầu thì chỉ hái trái của mấy cây được trồng chung quanh dãy nhà cô thầy trường cấp III ở, dần dần mấy cây ở gần cũng hết trái ăn được, trái non thì có nhưng chưa ăn được vì vậy anh Tuyến là người đầu tiên tìm qua mấy cây mít chung quanh của dãy nhà bên kia, cũng nằm trong chu vi đất cư xá trường cấp III nhưng xa xa phía ngoài kia một chút, cách nơi chúng tôi ở vài chục mét, đây cũng thuộc cơ sở trường cấp III nhưng giáo viên trường cấp III không ở trong dãy nhà này vì dãy nhà chúng tôi đang ở cũng đủ phòng cho tất cả các giáo viên trường cấp III rồi. Trường tôi có thầy Sơn, nguyên là giáo viên môn thể dục thể thao cấp 1 và cấp 2, nhưng vì cấp III chưa có gíao viên thể dục và thể thao riêng nên nhờ thầy Sơn dạy luôn trong khi chờ đợi có giáo viên riêng của trường, vợ thầy là cô Âu Muối, người địa phương là cô giáo cấp 1, họ xin một căn của dãy nhà bên kia để ở, vì dãy nhà bên kia còn nhiều phòng trống quá nên một số thầy cấp 1 cũng xin vào ở, đều được anh Gìn chấp thuận. Ngay phía sau căn phòng của vợ chồng thầy Sơn có mấy cây mít khá cao và có rất nhiều trái, từ bấy lâu nay các cô thầy trường cấp III cứ tìm hái trái của những cây gần, nay các cây gần đã hết, để đáp ứng nhu cầu thì các cô các thầy mới dòm ngó tới những cây ở phía bên kia mà anh Tuyến là người ra tay trước. Vợ chồng thầy Sơn ở ngay căn phòng đầu của dãy nhà bên kia nên từ nơi chúng tôi ở. chỉ đi vài chục bước là qua tới, và cây mít phía sau phòng họ thì chi chít trái nên anh Tuyến nhắm làm mục tiêu trước. Vào một ngày cuối tuần, vợ chồng thầy Sơn về thăm nhà ở Bình Dương, anh Tuyến mò qua đó hài một trái mít non khá lớn, khi vợ chồng thầy Sơn trở lại cư xá, phát hiện ra có người vừa hái mít, với bản chất cao ngạo và coi thường người nghèo khó đã khiến thầy Sơn tức giận lẫn khinh khi, thầy leo lên cây mít hái từ trái lớn đến trái bé ném đầy cả gốc cây, không để sót trái nào trên cây cho dù đó là một trái nhỏ, rồi viết giấy gọi những người hái mít là đồ đói ăn rồi cắm mẩu giấy ấy trên thân cây mít. Khi chúng tôi biết được hành vi tàn nhẫn ấy của thầy Sơn ai cũng tỏ ra vừa tức giận vừa xấu hổ, thầy Sơn quả là một con người vừa ích kỷ vừa hồ đồ, thầy phải biết rằng căn phòng thầy đang ở và tất cà những cây mít phía sau căn phòng của thầy, tất cả đều là tài sản của trường cấp III,thầy đang ở nhờ cơ sở của trường cấp III,công nhân viên, giáo viên của trường cấp III có quyền xử dụng những gì thuộc quyền sở hữu của trường cấp III, cớ chi mà thầy có hành động vô giáo dục như vậy?
Chúng tôi ai cũng đều biết rõ con người cao ngạo của thầy Sơn nên chẳng ai thèm nói gì nhưng trong lòng mỗi một người chúng tôi thì buồn lắm, chúng tôi rời bỏ gia đình vào tận nơi đây công tác, với đồng lương chết đói mà phải về thăm gia đình mỗi năm hai kỳ vào Tết và Hè, thử hỏi làm sao chúng tôi có dư tiền để mua thêm thức ăn ngoài chợ để mỗi buổi ăn có thêm thức ăn. Vậy thì những người sống xa nhà như chúng tôi phải tìm cách xoay sở để cải thiện bữa ăn bằng những cây trái có sẵn chung quanh cư xá mà thôi. Hôm nay ngồi viết mấy dòng này tôi vẫn còn nhớ như in cái hình ảnh mít lớn mít bé bị hái ném nằm lan khan trên mặt đất cuống còn chảy máu. Cùng câu mang ý khinh khi người hái mít viết trên miếng giấy ghim trên thân cây mít của thầy Sơn cách đây 31 năm mà trong lòng buồn kinh khủng, buồn cho nhân tình thế thái! Anh Tuyến ở riêng một phòng, không chịu chung đụng với ai, một hôm vào ngày cuối tuần, mặt trời đã lên cao rồi mà vẫn chưa thấy anh ấy ra khỏi phòng như mọi khi, tôi đến đập cửa gọi cũng không nghe tiếng anh trả lời; Tôi biết anh đang gặp chuyện chẳng lành, nên bảo Khanh leo tường phía sau nhà bếp mà vào phòng anh xem thử. Cư xá là một dãy nhà như kiểu chung cư, mỗi căn đều có một phòng phòng phía trước làm phòng khách, phòng kế làm phòng ngủ, và cách nhà bếp một bức vách có cửa sổ và cửa lớn. Nhà bếp có một khoảng trống lộ thiên, vì vậy nhà bếp có khóa cửa bên trong đi chăng nữa thì người ta vẫn có thể leo tường để vào bếp theo khoảng trống này, và khi Khanh leo tường vào được bên trong rồi thì mở cửa bếp cho tôi vào, cũng may anh Tuyến không đóng chốt cửa sổ nên Khanh leo qua cửa sổ để vào phòng ngủ dễ dàng. Nghe tiếng la ơi ới của Khanh,tôi hốt hoảng nhìn vào, nhìn thấy anh Tuyến nằm ngay đơ trên cái sạp gỗ nhỏ, không biết trời trăng gì cả. Tôi chạy vội về phòng lấy chai dầu xanh bác sị Tín và cái đồng xu rồi chạy nhanh qua phòng anh Tuyến, hai chị em kẻ cạo gió người xoa dầu cùng khắp cái lưng nhỏ thó của anh; Cạo đến đâu thì một màu đỏ bầm như ai đánh xuất hiện đến đó; Khanh vẫn tiếp tục vừa cạo gió vừa xoa dầu khắp mình mẩy, chân tay của anh Tuyến; Còn tôi qua nhà bác Tuấn là phụ huynh học sinh của chúng tôi, nhà ở sát cạnh cư xá, xin một nắm lá và củ sả, lá hương nhu, lá ngãi cứu đem về nấu một nồi xông. Sau khi cạo gió, xông hơi xong thì anh tuyến tỉnh lại, uống hai viên thuốc ngoại của Khanh cho, ăn một tô cháo tiêu hành tôi vừa nấu, vậy là từ từ anh lấy lại sức. Thật là hú hồn, nếu tôi không để ý để bảo Khanh leo tường vào thì không biết anh Tuyến sẽ ra sao? Từ sự việc này mà các thầy cô dạy cùng trường đã tỏ lòng cảm mến hai chị em tôi thấy rõ. Anh Nhung thuộc lớp lớn tuổi, dạy môn Sinh (vạn vật), người Bình Dương đã nói với chúng tôi rằng:
-Nói thật với cô và thầy Khanh, trước kia tôi có thành kiến với người Huế lắm, nhưng từ khi cô với thầy Khanh về dạy trường này, tính tình nhu hoà và cách cư xử của hai người đối với mọi người đã làm tôi xóa bỏ cái thành kiến không tốt trước kia đi; Chúng tôi cảm mến hai người lắm.
Ông cha ta có câu: “Đánh đổ một thành trì còn dễ hơn đánh đổ một thành kiến.” Hai chị em tôi là hai nhân vật nhỏ nhoi, bình thường nhưng chúng tôi đã sống rất thật bằng cả tình cảm chân thành của chúng tôi đối với những người chung quanh , nên vì vậy mà anh Nhung đã đánh đổ cái thành kiến đối với người Huế thì tôi rất mừng. Như tôi đã nói ở trên, nhu yếu phẩm đối với chúng tôi là tối quan trọng, giá phân phối rẻ hơn rất nhiều so với bên ngoài thị trường. Mỗi tháng khi lãnh số nhu yếu phẩm của mình về, nếu cô thầy nào cần tiền, chỉ lấy một món gì đó trong số nhu yếu phẩm của mình đem ra chỗ bán là lấy lại đủ tiền đã đóng để mua nhu yếu phẩm. Vì vậy ai cũng mong đến ngày mua nhu yếu phẩm, nhất là những lúc Tết và Hè vì phần nhu yếu phẩm của mỗi người được tăng thêm vài món khác, chỉ cần bán đi ít món là có đủ tiền mua vé xe hay vé tàu về quê xum họp với gia đình, hay mang tất cả số nhu yếu phẩm ấy về làm qùa cho gia đình khỏi tốn tiền mua qùa ngoài chợ với gía cắt cổ. Tết năm 1978 sắp đến, giáo viên, công nhân viên nào cũng vui vẻ chờ đợi ngày cậu văn thư của trường đi mua nhu yếu phẩm về phân phát. Trường cấp III, và II nằm cạnh trường cấp I, các giáo viên của trường này đã nhận hàng nhu yếu phẩm Tết vào tuần trước nên tôi biết được là lần này mỗi người được mua rất nhiều mặt hàng, ngoài đường, bột ngọt, bánh kẹo, thuốc lá, sữa lon như mọi khi còn mua được thêm áo quần, đồ chơi rất đẹp tùy theo giới tính và lứa tuổi của con của giáo viên. Lòng tôi rất phấn khởi, vì như vậy tôi sẽ có quần áo và đồ chơi đẹp để mang về Huế làm quà cho đứa con gái yêu qúy đang ở với ông bà ngoại, tôi hồi hộp chờ đợi. Khi người văn thư mang hàng nhu yếu phẩm về trường phân phối cho giáo viên, tôi không có bởi lý do tôi đã mua phần tôi vào tuần trước rồi! Tôi tức tối đi tìm anh Gìn, là hiệu trưởng để khiếu nại. Lấy cuốn sổ mua hàng của trường ra xem thì qủa thật tên tôi đã có ghi hàng chữ mua rồi! Lúc này mọi người mới vỡ lẽ ra tuần trước, anh Chiến, một giáo viên chi viện đã mượn sổ để đi mua hàng trước vì ngày hôm sau là đi về Bắc thăm vợ con, anh ta đã tự lấy thêm tên tôi để mua luôn phần của tôi, vì trong trường ngoài anh Gìn ra, chỉ có tôi là có con nhỏ mà lần này là vì Tết nên ai có con nhỏ thì phần nhu yếu phẩm được mua thêm rất nhiều, nhất là quần áo và đồ chơi đẹp. Vì do lòng tham, muốn có đồ mang về cho vợ con nên anh Chiến mới lén mua thêm phần của tôi. Sống trong một xã hội bao cấp như xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì nhu yếu phẩm trở thành qúy gía vô cùng, mọi vật chất trong cuộc sống đối với mọi người đều trở thành tối quan trọng, vì vậy khi tự nhiên phần của mình bị mất thì người ta,dễ trở nên một con người hẹp hòi, đúng như câu:
“Miếng ăn là miếng tồi tàn,
Mất đi một miếng, lá gan lộn đầu.”
Bị anh Chiến phổng tay trên như vậy làm tôi vô cùng tức giận, trước mắt Phan Thanh tám, là đảng viên, là bộ não của trường và anh Gìn, là hiệu trưởng của trường, tôi đỏ mặt nói như hét:
-Cán bộ công nhân viên ở ngoài Bắc nhờ bác Hồ quan tâm giáo dục nên mới có hành động ăn cướp như anh Chiến, chớ trong Nam này dù nghèo chết bỏ chứ không ai mà có hành động ăn cướp đó đâu!
Thầy Phan Thanh Tám quay mặt qua phía anh Gìn và nói:
-Ông Chiến làm bậy qúa, để cô ấy chửi luôn cả bọn.
Bây giờ nghĩ lại tôi thấy lúc ấy tôi nói như vậy là quá đáng; Sau này mỗi khi nhớ lại sự việc thì tôi rất thông cảm với anh Chiến, anh đã sống gần nửa cuộc đời ở ngoài Bắc, một xã hội đảng trị, đã chịu nhiều sự thiếu thốn vật chất suốt cả một thời gian dài, đã nhìn thấy gia đình cha mẹ vợ con thiếu cái ăn cái mặc, thèm thuồng đủ thứ, vì vậy nhân dịp về quê ăn Tết, anh mượn sổ mua hàng của trường đến phòng thương nghiệp mua trước phần nhu yếu phẩm của anh, rồi liều mạng mua luôn phần của tôi cho được nhiều đồ để mang về làm quà cho cha mẹ, vợ con. Anh dư biết nếu anh có xin tôi thì chắc chắn tôi không cho vì lúc ấy hàng nhu yếu phẩm là mạch máu của cán bộ công nhân viên mà, ai có điên lấy mạch máu của mình để cho người khác, nhất là đối với ngành giáo dục, một ngành chỉ biết “bán phổi” và “trí óc” để đào tạo ra những lớp trẻ có văn hoá, co kiến thức chứ không tạo ra của cải vật chất cụ thể, vì vậy trong một xã hội Cộng Sản như Trung Cộng, Việt Cộng thì coi ngành này rất rẻ. Mao Trạch Đông đã đánh gía những cán bộ giáo dục “giá trị không bằng một cục phân”, Hồ Chí Minh cũng “theo đóm ăn tàn”, vì vậy đồng lương của giáo viên rẻ hơn bèo, một bậc lương chết đói nhất trong các bậc lương. Vậy hỏi làm sao mà người ta gìn giữ được phẩm chất cao đẹp của một người làm nghề giáo được chứ! Rất khó, bởi “có thực mới vật được đạo”!
Lúc ấy phong trào sinh hoạt đoàn thể rất rầm rộ như “trăm hoa đua nở”. trường nào cũng có Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, trường cấp II, III Đồng Phú cũng có nhưng giáo viên và học sinh cùng sinh hoạt chung, đoàn trưởng là một nam sinh học lớp 12 tên Quang, vì em học trễ hay bị gián đoạn nên chỉ thua chúng tôi vài ba tuổi mà thôi. Đối với tôi thì em rất lễ phép, nhưng mỗi lần đoàn hội họp thì em hách lắm, ngồi ghế chủ tọa để phê bình bất cứ với ai, vì vậy mười lần như một, mỗi lần cô Cúc đi họp đoàn về là hai mắt đỏ hoe vì khóc, tôi dò hỏi thì được biết lý do tại cô Cúc và thấy Thanh đang yêu nhau, họ có những cử chỉ thân mật nên cứ bị đoàn trưởng, đoàn viên phê bình trong các lần hội họp, họ bắt buộc cô Cúc phải dứt khoát tình cảm với thầy Thanh. Tôi lấy làm lạ, cô Cúc là gái chưa chồng, thầy Thanh là trai chưa vợ, họ yêu nhau thì có gì sai trái đâu mà đoàn bắt họ phải chia tay! Tôi mà là cô Cúc thì tôi đã bỏ đoàn liền, nhưng khổ một nỗi là cô Cúc thuộc loại bon chen, vì có vào đoàn rồi thì sau này mới được vào đảng nếu phần đấu tốt, dù đó là đảng cướp. Muốn vào đoàn thì phải có hai đoàn viên trung kiên giới thiệu đỡ đầu, thế nhưng không biết vì lý do gì mà ít nhất là hai lần, thầy Phan Thanh Tám nói với tôi:
-Chị làm đơn xin vào đoàn đi, tôi sẽ đích thân giới thiệu đỡ đầu chị.
Lần nào tôi cũng cười và trả lời:
-Cám ơn thầy đã tín nhiệm tôi, nhưng tôi nhận thấy tôi chưa có đủ tư cách để vào đoàn, chồng tôi đang bị tù “cải tạo”, chưa được quyền công dân. Khi nào chồng tôi “cải tạo” tốt được về sum họp gia đình thì tự tôi nhờ thầy đỡ đầu cho tôi vào đoàn.
Nhìn cái gương cô Cúc sờ sờ ra đó, mỗi lần họp đoàn đều bị quay tơi tả, bị đoàn xen vào đời sống cá nhân, tôi ngu hay sao mà đút đầu vào rọ! Đối với cô Cúc, tôi không thương cũng không ghét, tuy ở chung một căn phòng nhưng không thân nhau vì cô ta có tánh hay ghen tỵ, thấy tôi được nhiều phụ huynh học sinh và học sinh thương mến, cô ta cũng không thích, một hôm tôi dạy cho học sinh lớp 11 tác phẩm “ Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Đình Thi, khi giảng đến đoạn chị Út Tịch, một phụ nữ nghèo ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, lúc còn là một bé gái, khi nghe người ta nói “đàn bà đái không qúa ngọn cỏ” để tỏ ý coi thường đàn bà phụ nữ thì đã leo lên ngọn cây cau đái xuống coi thử đàn bà đái có qua ngọn cỏ được không, để phản bác lại câu nói có ý coi thường đàn bà ấy. Theo sự hướng dẫn soạn giáo án của bộ giáo dục, thì hình ảnh leo lên ngọn cây cau đái xuống của chị Út Tịch phải ca ngợi là một hình ảnh đẹp, một hành động anh hùng của một kẻ anh hùng, bị bắt buộc phải giảng như vậy nhưng tôi rất khó chịu và mắc cười vì thấy một hình ảnh tục tĩu như vậy mà bộ giáo dục bắt buộc phải hết lòng ca ngợi nên dằn lòng không được, tôi cười thành tiếng. Ngày hôm sau, cô Hạnh, cũng ở chung một phòng với tôi và cô Cúc, nói với tôi: -Hôm qua em nghe con Lan Phương nói với cô Cúc về việc chị dạy tác phẩm “Người mẹ cầm súng” mà chị vừa giảng vừa cười, cô Cúc bảo con Lan Phương về viết một tờ báo cáo nói rằng chị là một giáo viên xã hội chủ nghĩa mà khi giảng bài về hình ảnh người mẹ anh hùng của đất nước mà chị cười khinh bỉ rồi gởi lên ty.
Sáng hôm sau, trên đường từ cư xá đến trường, tôi gặp em Lan Phương, tôi đi song song với em và gợi chuyện, tôi hỏi:
-Em có nhớ mấy câu ca dao, tục ngữ mà cô thường nhắc nhở với các em không?
Lan Phương trả lời:
-Em nhớ cô hay nhắc câu: “Không thầy đố mầy làm nên”, hay câu: “Trọng thầy mới được làm thầy.”
Tôi hỏi tiếp:
-Khi em nhìn thấy một người đang làm một việc gì đó rồi tự nhiên cười lên một tiếng, em có khẳng định được họ đang cười về điều gì không?
-Thưa cô làm sao mà biết được người ta đang cười chuyện gì.
Đến đây tôi chận đầu em liền:
-Hôm qua khi cô đang giảng bài cho các em, tự nhiên cô cười lên một tiếng, vậy em có thể khẳng định cô cười vì chợt nhớ đến một chuyện vui nào trong quá khứ hay cô cười vì khinh thường tác phẩm đang dạy không?
Nghe tôi hỏi như thế, em Lan Phương cúi mặt xuống và nói với tôi:
-Quả thật chiều hôm qua sau khi tan trường, em có ghé đến phòng cô Cúc và kể cho cô Cúc nghe chuyện cô vừa giảng vừa cười , trong lòng em không có ý gì cả, nhưng cô Cúc nói với em như vậy là cô tỏ ý khinh thường văn học cách mạng, tư tưởng cô lệch lạc. Cô ấy có hướng dẫn em viết một tờ tố cáo nhưng em chưa viết, bây giờ cô giải thích như vậy thì em đã hiểu, em không nghe lời cô Cúc nữa đâu.
Tôi đi dạy học, xa gia đình hàng vạn dặm, sống đời sống tập thể nên tôi rất ý thức được sự phài sống hòa hợp với mọi người, tôi và Khanh sẵn sàng giúp đỡ những ai cần chúng tôi giúp đỡ. Trước dãy nhà chúng tôi ở có một miếng đất trống khá lớn, chẳng có cây gì khác ngoài từng bụi cây trinh nữ choáng hết làm cho cư xá um tùm không được khang trang sạch sẽ. Một hôm vào cuối tuần, các cô các thầy ở Sài Gòn, Bình Dương đều về thăm gia đình, cư xá vắng vẻ, Khanh và tôi qua nhà bác Tuấn mượn cuốc xẻng đem về dãy sạch mấy bụi trinh nữ, xong Khanh nói với tôi:
-Chị đến nhà phụ huynh nào xin hom sắn đi, em ở nhà cuốc xong, mình trồng hết sắn ở miếng đất ni đi.
Tôi đi ngay đến xóm nhà các em học sinh của tôi cách cư xá khoảng một cây số để xin hom sắn hì hà hì hộc vác về, lấy dao chặt ra từng khúc ngắn cho Khanh cắm xuống đất. Chẳng ngờ chúng tôi làm chơi mà ăn thiệt, chỉ ít tháng sau, mảnh đất đầy cây mắc cỡ gai ấy biến thành một đám cây sắn (mì) xanh tươi, củ rất nhiều. Mỗi lần anh Gìn thông báo “chiều nay họp hội đồng giáo viên” thì chúng tôi chỉ cần nhổ lên vài ba gốc đem nhờ chị Hưng, vợ của anh Gìn, nấu một nồi lớn, trong lúc họp mặc cho anh Gìn nói gì thì nói, cô thầy cứ ngồi ăn khoai mì cho đến khi buổi họp kết thúc, và đám mì ấy trở thành của chung, ai muốn ăn cứ tự nhiên ra nhổ gốc lấy củ khỏi cần xin phép ai cả. Anh Gìn đã lấy đám mì ấy làm thành tích để báo cáo lên ty về việc giáo viên trường tăng gia sản xuất hoa màu. Còn một việc vui nữa là tôi đến nhà học sinh chơi, được họ cho một cây mướp ngọt con cao độ chừng một gang tay, mang về bảo Khanh trồng ngay phía sau căn phòng của Khanh và anh Lâm để khi lớn nó bò lên tường cho tiện. Cây mướp phát triển rất nhanh, mấy tháng sau đâm nhánh sum suê trườn dài bò khắp bờ tường của dãy cư xá, và ra trái lủ khủ. Không riêng gì ba anh em tôi, mà tất cả các cô các thầy của trường đều hái vào chế biến thức ăn, lúc đó nhà trường chưa có chế độ cấp dưỡng, nên cô thầy phải tự nấu ăn riêng. Ăn mướp mãi cũng chán, tôi hái mướp đem ra chợ đổi bí, đổi rau về ăn. Chúng tôi chỉ trồng có một cây thôi mà thu hoạch quá chừng, hái trái hoài không hết, ăn hết đợt này thì đợt khác vừa lớn để cho chúng tôi hái. Viết đến đây mà không nhắc đến cha Hiến và bác Tuấn là điều thiếu sót, khi tôi rời nhà cậu Vụ để dọn vào ở trong cư xá, cha Hiếu cho người đem qua cho tôi một cái giường nhỏ, như vậy là quá tốt bởi vì tôi thấy các cô thầy đã ở trong cư xá lâu rồi mà vẫn còn lấy hai cái bàn dài của học sinh kê lại làm chỗ ngủ. Còn bác Tuấn trai thì vài ba tuần lại qua cư xá bằng ngả sau đến gõ cửa bếp của Khanh và anh Lâm để đưa cho tôi một vài lon đậu xanh, đậu phọng và dặn:
-Cô với thầy Khanh ăn đi, đừng để cho các các thầy khác biết.
Vào thời buổi người khôn của khó, một củ khoai lang, một nhúm gạo đều qúy. Bác Tuấn cũng nghèo, từ Bắc di cư vào Nam, gia đình sống bằng nghề rẫy bái, con đông nhưng đều được bác cho đi học, không tốn nhiều thì cũng tốn ít, vì thương cảm chúng tôi nên bác thường lén giúp, sợ các cô thầy khác biết sẽ đem lòng ganh tỵ.
Có một thời gian, phòng lương thực huyện bán cho cán bộ công nhân viên huyện toàn bột mì, khoai lang tươi thay cho gạo, chúng tôi ở xa gia đình không nhận được sự tiếp tế như những cô thầy ở gần, nên tôi cố gắng biến chế bột mì thành món này món khác mà ăn thay đổi cho đỡ ngán. Khi thì nhồi ủ bột mì để nướng làm bánh mì, lúc thì nhồi bột mì cắt thành sợi để nấu bánh canh với chút tôm khô và bột ngọt, khi thì nhồi bột mì, cán mỏng đem hấp làm bánh cuốn. Thế nhưng vẫn không đủ bột mì cho chúng tôi ăn, bởi vì họ bán cho một người chỉ một nửa bột mì, nửa còn lại thì họ bán khoai lang mà khoai thì sùng muốn hết, do đó có mấy tháng trời chúng tôi chỉ ăn cầm chừng, không dám ăn no. Biết được hoàn cảnh ấy, em Điệp, con gái của cậu Vụ, niên học 1978-1979 đã từ Cai Lậy lên ở với cậu để đi học, tôi xin cho em vào lớp 12 dù em không có học bạ cũ, nhưng tôi biết trình độ học vấn của em từ lúc còn ở Huế. Em đã đứng lên quyên góp bạn bè được một số gạo khoảng 20 lít mang đến cho tôi. Em nói: Em biết chị chỉ mua được bột mì với khoai lang từ mấy tháng nay, ăn mãi bột mì thì chịu sao nổi, vì vậy em nói với mấy đứa bạn làm sao giúp cho chị có một ít gạo. Thì đứa nào cũng chịu cả, hôm qua em gom được chừng này gạo nên em mang đến cho chị.
Tôi cảm động muốn khóc vì tình cảm của các em đối với tôi, thật đúng như câu “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Mấy tháng qua, mặc dù chúng tôi chưa đói nhưng ngày nào cũng phải ăn thức ăn chế biến bằng bột mì nên ngán đến cổ, muốn mua gạo ngoài chợ để ăn thì sợ tốn tiền, khi đến hè đến Tết thiếu tiền về Huế. Thèm một chén cơm mà đành phải chịu, may các em gom góp đem cho tôi cả 20 lít gạo, cái tình của các em đối với tôi, làm sao tôi không cảm động được! Ông cha ta thường nói “nước loạn mới biết tôi trung, nhà nghèo mới hay con thảo”, có sống trong giai đoạn khốn cùng này mới cảm nhận, mới thấy được cái tình đáng qúy của học sinh của tôi đối với tôi.
Tôi đến Phú Giáo công tác được khoảng một năm biết được một tin thật khủng khiếp, vì phía ngoài thiếu đất nên dân chúng đi sâu vào rừng phát quang làm rẫy, họ gặp một đống xương và 50 cái sọ người nằm chơ vơ trong một góc rừng, lúc ấy người ta mới hiểu rằng số 50 người công chức, sĩ quan, cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa làm việc tại thị trấn Phú Giáo bị Việt Cộng bắt đi biệt tăm biệt tích vào ngày 30 tháng 4, vợ con không ai biết một chút tin tức gì cả đã bị Việt Cộng địa phương giết chết và vùi thây trong góc rừng này kể từ đó. Trong số những nạn nhân của Việt Cộng này có hơn phân nữa là cha của học sinh của tôi, có người chỉ là một cảnh sát viên, có người chỉ là hạ sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, họ đã làm gì nên tội mà Việt Cộng giết họ? Hỏi vậy thôi chứ làm sao mà trả lời vì trong Tết Mậu Thân ở Huế, Việt Cộng đập đầu chôn tập thể cả năm ngàn người mà hầu hết là người dân vô tội trong những cái hố lớn, họ đâu có tội gì? Vùng Phú Giáo, Đồng Xoài, Nước Vàng trước kia là mật khu D của Việt Cộng, một khu rất nổi tiếng hắc ám của Việt Cộng, cho nên trước năm 1975 dù chỉ là một cảnh sát viên hay là một anh hạ sĩ quan quèn cũng là cái gai trước mắt lũ Việt Cộng nằm vùng nên khi vừa chiếm miền Nam thì Việt Cộng ở chiến khu D này đã vội xử dụng luật rừng thủ tiêu hết những cái gai trước mắt của chúng. Trong số học sinh của tôi có em Thuận, là một học sinh xuất sắc, đạo đức, năm ấy em học lớp 11, tôi dạy thêm lớp 12 vào niên học 1978-1979 rồi tôi bị đổi đi nơi khác, hoàn cảnh của em thật đáng thương, ba em chỉ là một cảnh sát thường thôi, cũng bị Việt Cộng bắt đi mất tích, mẹ em thì bệnh hoạn không đảm đang nổi những công việc ruộng rẫy, em là anh lớn trong nhà, nên em phải vừa lao động vừa đi học rất là vất vả, nhờ học hành chăm chỉ nên em học rất giỏi. Khi tôi mới về dạy, em có tâm sự với tôi về việc ba em bị Việt Cộng bắt đi, không có tin tức, không biết sống chết ra sao, mẹ em vì quá lo lắng và thương nhớ mà sinh ra bệnh, tôi chỉ biết an ủi em tin tưởng và chờ đợi, em Thuận cũng hy vọng một ngày nào đó ba em sẽ trở về, cho đến khi dân chúng gặp đống xương và sọ người ở góc rừng thì niềm hy vọng của em đã bị dập tắt, em rất đau khổ chỉ biết rơi nước mắt khi tôi giải thích cho em biết “đời là cõi tạm”, ai cũng một lần ra đi về nơi vĩnh hằng.
Khoảng đầu năm 1978, tôi được giấy đi thăm nuôi chồng, lần này đi thăm công khai chớ không phải đi thăm “chui” như lần trước. Lòng tôi rộn ràng niềm vui, chờ đợi đến ngày đi từng giây từng phút, tôi cố gắng sắp xếp những thứ khô như đường, bột ngọt mà tôi để dành từ bấy lâu nay vào trong cái xách mây lớn, xem thử nên mua thêm những gì, làm thêm những gì; Thứ gì cũng muốn mua bới xách cho chồng nhưng tiền thì eo hẹp, vì vậy tôi chỉ dám “liệu cơm gắp mắm” thôi, ra chợ mua mấy kí lô đường tán, mấy kí lô đậu phộng, nhờ Khánh leo lên cây chùm ruột phía sau cư xá hái xuống một rổ đầy, tôi làm mứt được một hủ lớn, trong lòng vui lắm, cứ nghĩ đến có cái để chồng ăn thì lòng phấn khởi vô cùng, ai đã sống trong giai đoạn đất nước khốn cùng nhất là năm 1976, 1977, 1978 mà phải thăm nuôi chồng con tù “cải tạo” thì hiểu được sự vui mừng của những người mẹ, những người vợ khi mua sắm được vài ba món để chuẩn bị đi thăm nuôi chồng con từ những đồng tiền ít ỏi mà họ dành dụm! Lần này tôi không phải lội bộ trên con đường đất dài mười mấy cây số từ ngã ba Minh Hương vào trại Bù Gia Mập, vì trại của chồng tôi đã dời ra vườn Ươm; Tôi nhớ mãi tên thượng uý Việt Cộng của trại vườn Ươm đã bắt tất cả chúng tôi, những người mẹ, những người vợ, những người chị, những người em của các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đang bị tù “cải tạo”, ngồi xuống nền nhà để lên lớp trước khi cho gặp người thân:
Tôi biết các chị làm việc rất cực mới có tiền để đi thăm nuôi chồng con, ngoài những thức ăn thức uống các chị bới xách cho chồng, các chị cũng cố gắng dúi cho chồng một ít tiền để chồng hộ thân; Thế mà chồng của các chị đâu biết nghĩ mà thương các chị, vẫn chứng nào tật ấy, có tiền không biết để dành, cứ ra ngã ba Minh Hương mà chơi đĩ, như vậy làm sao mà học tập tiến bộ để đảng cho sớm về sum họp với gia đình được; Vì vậy tôi muốn các chị khi gặp chồng mình thì phải giáo dục cho chồng tiến bộ.
Lão ta nói thật nham nhở nhưng ai cũng ngồi im re, chỉ muốn chóng gặp chồng con mà thôi. Đi thăm nuôi chồng trở về cư xá thì tôi ngã bệnh, khá nặng, suốt tuần lễ tôi không đi dạy được, chỉ nằm ở nhà chờ Khanh đi dạy về nấu cháo cho tôi ăn, đúng là có đồng cảnh ngộ mới thương nhau, tôi không bao giờ quên những tô cháo đánh hột gà, hành tiêu cay xé lưỡi của Khanh, vì không có thuốc tốt để uống, chỉ ra bệnh xá mua được thứ xuyên tâm liên nên bệnh không thấy giảm; Tết lại sắp đến, nếu tôi cứ bệnh như vầy thì làm sao về Huế được, trong lòng buồn lắm. Anh Gìn cho họp hội đồng giáo viên để chọn hai giáo viên trực trường trong ba ngày Tết, vì bệnh nên tôi không đến họp được, sau khi họp xong trở về, Khanh gặp tôi và nói:
-Tết ni chị em mình không được về Huế, phải ở lại trực trường.
Vừa nghe Khanh nói như vậy, tôi nổi giận liền.
-Ai bắt mình trực trường? Rồi em có ý kiến chi không?
-Anh Gìn chứ ai, em không có ý kiến chi cả.
Tôi ngồi dậy và la lớn:
-Em thật là dại, phải phản đối chứ. Em qua gọi anh Gìn qua đây cho chị nói chuyện.
Khanh đi một lát thì trở về với anh Gìn, vừa thấy anh Gìn, tôi nói ngay:
-Tết này anh bắt tôi và thầy Khanh ở lại trực trường hả?
-Phải.
-Anh phải biết “chim có tổ, người có tông”, chị em tôi vào đây công tác xa nhà hàng vạn dặm, chỉ mong đến Tết, đến hè để được về thăm gia đình; Đúng ra anh phải cho chúng tôi về sớm, về ngày 23 tháng chạp ông Táo về trời để mua vé xe cho sớm, đàng này anh lại bắt chúng tôi ở lại trực.
Anh Gìn vừa cười vừa nói:
-Cô thấy Tết nào tôi cũng ở lại trường chớ có đi đâu đâu.
Mặt tôi quau lại, nói hơi lớn tiếng:
-Anh mà cần đi đâu nữa, vợ anh đó, con anh đó, cha mẹ anh đó; tôi mà như anh, có chồng con, cha mẹ một bên như vậy, đến Tết đem nhau vô rừng ăn Tết tôi cũng vui lòng, chứ đừng nói là ở lại cư xá này.
Biết tôi đang nóng giận, nên anh Gìn rất điềm đạm:
-Tại thấy cô đang bịnh nên tôi mới có ý để cô với thầy Khanh ở lại trực trường, sợ cô phải đi đường xa quá vất vả.
Tôi trả lời ngay:
-Nói thật với anh bất cứ gía nào chúng tôi cũng phải về Huế để ăn Tết,bệnh gần chết tôi cũng phải về,nếu trên đường đi có chết thì thầy Khanh đem xác tôi về Huế chôn.
Nghe tôi nói cứng như vậy, anh Gìn đành chịu thua:
-Được rôi, cô muốn về Huế ăn Tết thì về.
Được nước tôi nói theo:
-Vậy thì anh ký sự vụ lệnh cho tôi với thầy Khanh về ngày đưa ông Táo lên trời đi. Mua vé xe khó thấy mồ.
Vậy là tôi và Khanh rời trường sớm, về đến Sài gòn, hai chị em ghé chợ Bến Thành mua cho mỗi người một kí lô hột dưa, một ký lô kẹo rồi đón xe ra Ngã Bẩy, bến xe nằm trên đường Lê Hồng Phong, nhìn người chờ mua vé xe mà phải chóng mặt, hàng hàng lớp lớp người ngồi, kẻ đứng người nằm chờ đợi đã hai, ba ngày vẫn chưa mua được làm tôi sốt ruột vô cùng. Vì còn bệnh nên toàn thân tôi nóng hổi, nhức đầu chóng mặt tôi không thể đứng trong hàng người nối đuôi nhau dài ngoằn ngoèo suốt cả ngày đêm chờ mua vé được, chỉ ngồi giữ mấy cái túi xách kẻo hơi lơ đễnh một giây cũng bị kẻ gian lấy mất. Đêm về tôi ngồi gập người lại trên mấy cái túi xách mà ngủ mơ mơ màng màng, còn Khanh thì không dám rời cái hàng người rồng rắn kia, rời chút xíu là mất chỗ. Phải tình trạng như vậy đến ba ngày hai đêm mới cầm được hai cái vé trên tay. Đó là chúng tôi đi phép theo diện cán bộ công nhân viên nhà nước được xếp hàng trước quầy vé ưu tiên đấy! Suốt đoạn đường dài từ Sài Gòn về Huế, tôi bị sốt nên đầu óc lúc nào cũng mơ mơ màng màng như người mộng du, chỉ ao ước có một chỗ nằm nhưng làm sao có được, số hành khách trong xe tăng gấp hai số ghế nên chúng tôi phải ngồi ép lại với nhau như cá mòi sắp trong hộp, muốn nhúc nhích cũng không được huống hồ là nằm. Nhờ có Khanh bên cạnh nên tôi cũng chịu đựng được sự khó khăn để về được đến Huế; Xe đỗ bến tại bến xe Nguyễn Hoàng vào lúc trời chập choạng tối. Thấy tôi đi không vững, nên Khanh đưa tôi về tận nhà mới yên tâm, hai chị em thuê một chiếc xe cyclo đạp nhờ họ đưa về An Cựu. Vào nhà gặp lại những người thân mừng mừng tủi tủi chưa được bao lâu thì máu đâu trong người tôi trào ra một đống lai láng trên nền cimăng làm cả nhà lo sợ. Ba tôi vội vàng vào xóm gọi chị Trung, là y tá làm ở bệnh viện Huế lâu năm đến, chị chích thuốc cho tôi, toàn than tôi nóng như cục lửa, nên chị Trung phải ở lại coi chừng. Nhờ sự chăm sóc tận tình của ba mẹ và các em nên sức khỏe tôi phục hồi lại từ từ, Khanh vào Nam trước, còn tôi ở lại thêm một tuần, lần này tôi xin ba mẹ tôi để dẫn con gái yêu qúy của tôi đi theo, hứa đến hè sẽ đem về trả lại. Con gái tôi chưa đầy ba tuổi mà đã thuộc nhiều bài hát và cháu rất dạn dĩ, đi đến đâu hễ các ông bà, cô bác yêu cầu hát là cháu đứng dậy hát ngay, không rụt rè sợ sệt gì cả, nên ai cũng mến. Mãi đến mấy năm sau, lúc tôi trở về ở tại cư xá Thanh Đa, mỗi lần cha Hiến gởi thư thăm đều có nhắc lại, cha bảo cha không bao giờ quên hình ảnh một cô bé con chưa đầy ba tuổi đứng trên chiếc ghế mạnh dạn hát cho nhiều người lớn ngồi chung quanh nghe:
“Trời mưa nhâm dâm,
Ướt dầm lá pí,
Anh nọ tuổi chi,
chị nọ tuổi thân,
Hai đứa bằng cân,
Dắt nhau đăng kí.
Ông huyện không cho,
Hai đứa hô to
Độc lập tự do,
Không cho tôi cũng cưới.”
Giọng cháu chắc chắn dễ thương làm mọi người cười vang, đi đến đâu người lớn cũng yêu cầu cháu hát, cháu mang đến niềm vui cho mọi người. Cư xá cách trường khoảng chừng một cây số, mỗi lần tôi đi dậy thì gửi cháu lại cho cô thầy nào không có giờ đứng lớp, phần lớn cháu ở nhà với cô Hạnh vì thường cô có giờ vào buổi chiều. Một buổi sáng nọ cũng như những buổi sáng khác, tôi đang dạy, đi tới đi lui trong lớp giảng bài cho học sinh thì bỗng nghe tiếng đạn nổ dữ dội, liên hồi, có vài mảnh đạn ghim vào cánh cửa sổ, tôi hốt hoảng kêu gọi tất cả các em dồn hết vào cuối phòng và ngồi thấp xuống, rồi tất tả chạy về cư xá bằng cách lủi vào mấy đám khoai mì của dân theo lối đường tắt cho nhanh, đạn còn nổ, thỉnh thoảng vài mảnh bay vèo trên đầu làm tôi cũng sợ nhưng vẫn cứ vừa lủi vừa chạy không dám chậm trễ một giây nào cả, nghĩ tới con đang còn ngủ trong căn phòng ở cư xá mà lòng nóng như lửa đốt. Qua hết đám rẫy mì thì đến nhà bác Tuấn, băng qua cái sân của bác, phía bên phải có cửa ăn thông qua dãy cư xá, vừa ba chân bốn cẳng, bước vào nhà bếp tôi lên tiếng gọi cô Hạnh, lúc này tiếng đạn nổ đã im, thỉnh thoảng mới nghe một tiếng “bốp” đơn độc. Cô Hạnh từ một góc căn phòng đi ra, mặt mày tái mét; Tôi hỏi:
-Hạnh có đánh thức MiMi dậy và dẫn cháu núp đạn không? MiMi đâu rồi?
Giọng cô Hạnh hốt hoảng:
-Chết cha, khi nghe tiếng đạn nổ em sợ quá, chạy núp nhanh vào góc phòng từ nãy đến giờ, quên cả cháu!
Tôi phóng nhanh ra phòng phía ngoài cùng, vì “cơ ngơi” tôi ở ngoài đó, mùng vẫn còn buông mà không thấy con, nước mắt tôi bắt đầu rớt, tôi gọi to:
-MiMi, MiMi con ở đâu?
Mắt nhìn góc này góc nọ vẫn không thấy! Nhịp tim của tôi đánh nhanh như đánh trống, tôi ngồi thụp xuống, cúi nhìn xuống gầm giường, trời ơi, thương quá là thương, con gái tôi đang nằm bẹp dưới gầm giường và khóc, miệng gọi “mẹ ơi, mẹ ơi”; Kéo con ra khỏi gầm giường, ẳm lên, ôm cứng vào lòng dỗ dành mà nước mắt tôi tuôn trào còn nhiều hơn lúc nãy vì sung sướng. Sau việc này, ai cũng khen con gái tôi khôn, còn nhỏ mà đã biết cách xoay sở khi gặp hiểm nguy. Kho đạn nằm ngay phía sau cư xá, trước năm 1975 đó là căn cứ quân sự của Mỹ, khi Việt Cộng cướp miền Nam, họ dùng làm nơi trú quân cho bộ đội, với kho đạn dược đầy đủ vì trước khi rút quân đi không ai tiêu hủy cả, và không hiểu vì sao mà kho đạn bị nổ như vậy! Với đồng lương ít ỏi của tôi làm sao tôi mua nổi cá thịt ngoài chợ cho con ăn uống cho đầy đủ chất bổ dưỡng, biết vậy nên cứ đến buổi cơn chiều thì cha Hiến sai chị Hiền, người nấu bếp cho cha, qua cư xá đón cháu sang nhà xứ ăn cơm với cha; mỗi buổi sáng cha còn sai chị Hiền mang qua cho cháu một ly sữa nóng. Cái tình cảm của cha Hiến đối với cháu không làm sao tôi quên được. Thỉnh thoảng cô Mận, con gái bác Tuấn đưa MiMi ra chợ giữ hộ vì bác Tuấn gái có cái sạp bán hàng gia vị ngoài chợ; khi đem cháu trả lại cho tôi, lần nào cũng thấy trong túi áo cháu có một nắm tiền lẻ, hỏi thì cô Mận trả lời:
-Mấy chị bán ngoài chợ bảo MiMi hát, cháu hát xong thì mỗi người dúi cho cháu một ít tiền lẻ cho cháu ăn kẹo đó mà.
Còn tôi đi chợ mua đồ ăn thì các chị ấy đều lấy rẻ hơn so với gía họ bán, họ bảo:
-Bán rẻ cho Mi Mi đấy.
Một buổi chiều cuối tuần, sau khi nấu vài món cho anh Lâm đãi bạn để mừng đứa con anh đầy tháng đang ở ngoài Nha Trang với mẹ. Tôi dẫn con gái qua nhà thờ chơi như mọi khi, đang ngồi nói chuyện với cha Hiến nơi phòng khách của nhà xứ thì anh Chiến qua tìm, vừa nhìn thấy tôi, chân anh chưa kịp leo lên tầng cấp nhà xứ thì miệng anh đã la lên:
-Em về cư xá gấp, nhanh lên, chồng em đang đợi em đó.
Trời ơi, thật là một tin vui, trong lòng vừa mừng vừa hồi hộp, tôi vội chào cha rồi dẫn con về ngay. Chồng tôi bằng xương bằng thịt đang ngồi đó, đang nói chuyện với các anh chị em đồng nghiệp của tôi, có cả bác Tuấn, mấy đứa con lớn của bác và anh Gìn nữa. Họ ngồi trên nền cimăng của phòng ngoài, nơi anh Lâm và Khanh dùng làm phòng khách và làm việc, trước mặt họ bầy la liệt chén bát dĩa tô đựng đồ ăn thức uống. Vợ chồng cha con gặp nhau mừng mừng, tủi tủi; Nhìn chồng tuy gầy ốm trong bộ quần áo trâyzi bạc màu nhưng vẫn còn giữ lại nét phong độ của một người sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa làm lòng tôi ấm lại và có chút hãnh diện với các bạn đồng nghiệp, nhất là với anh Chiến, anh Tuyên, là những người trí thức của xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì so sánh họ với chồng tôi lúc đó thì dáng dấp, mặt mày của chồng tôi vẫn sáng sủa hơn dù mới trở về từ chốn đọa đầy. Buổi tiệc đơn giản, đạm bạc này có niềm vui gấp hai vì ai cũng mừng sự trở về của chồng tôi, mọi người chia sẻ nỗi vui mừng ấy với tôi, trong câu chuyện, trong lời hỏi han, tâm sự. Bác Tuấn luôn gọi chồng tôi bằng “thầy” và bắt mấy đứa con của bác cũng gọi như vậy. Sự tôn trọng, lễ phép đó khiến chồng tôi ái ngại, anh luôn miệng đề nghị bác Tuấn đừng gọi như vậy, nhưng bác Tuấn cương quyết giữ lập trường của bác:
-Cô là cô giáo của các con tôi, tôi rất qúy mến và kính trọng cô, thầy là chồng của cô thì ai cũng phải gọi thầy bằng thầy hết.
Anh Gìn cứ dụ khị:
-Chú ở luôn đây đi, anh xin đất của huyện cho chú trồng trọt, đừng về quê nữa.
Chồng tôi trở về với chứng sốt rét trong người, anh ở lại chưa được một tuần lễ mà lên cơn nóng, lạnh nhiều lần. MiMi rất thương bố, ai hỏi:
-MiMi con ai?
Cháu nhanh nhẩu trả lời ngay:
-Con của bố Tài.
Thế nhưng nó không dám đến gần anh, mỗi buổi sang tôi chuẩn bị đến lớp là cháu đòi theo, anh đến ẵm cháu và nói: “Con ở nhà với bố để mẹ đi dạy”, là cháu la như qua qua, tôi phải đưa cháu qua nhà bác Tuấn gởi cho cô Mận. Lạ một cái ai ẵm ai bồng cháu cũng cho, chỉ có một mình bố là cháu không cho, hễ bố đụng vào là cháu khóc!
Ở lại với vợ con được một tuần thì chồng tôi phải về quê để chịu sự quản thúc của Việt Cộng địa phương theo như lệnh trong giấy phóng thích.Mỗi lần nghĩ đến chồng tôi thì lòng tôi ray rứt vì thân phận của anh vẫn chưa tự do gì, anh chỉ rời cái tù nhỏ hẹp để ra cái tù rộng lớn hơn một chút mà thôi! Đến hè tôi đưa con về quê thăm chồng, ở lại với anh vài ngày rôi đem con về Huế trả lại cho ông bà ngoại như lời đã hứa.
Qua thư từ tôi biết tin anh vẫn còn bị bịnh sốt rét hành cách nhật, anh cũng cố lê lết ra bệnh xá huyện khám và mua thuốc để uống nhưng không thấy bệnh thuyên giảm, hỏi thuyên giảm làm sao được khi mà tủ thuốc của huyện toàn “xuyên tâm liên” loại thuốc này họ làm từ những thứ qủi quái gì mà họ bảo là “thần dược”, tất cả bệnh viện, bệnh xá, trạm xá từ Bắc vào Nam lúc ấy chỉ có “thần dược”xuyên tâm liên ngự trị trong các tủ thuốc, chỉ có những tủ thuốc để phục vụ cho giai cấp ăn trên ngồi tróc, tức là cán bộ trung ương đảng, cán bộ cao cấp đảng mới chứa toàn thuốc ngoại! Bác Tuấn thấy tôi hay buồn lo nên thường an ủi, thăm hỏi; Khi biết chồng tôi đang mang trong người bệnh sốt rét mà không có thuốc men, bác liền chỉ cho tôi một loại thuốc nhân gian trị bệnh sốt rét công hiệu vô cùng mà chính bác đã từng dùng qua, chẳng tốn đồng xu cắc bạc nào cả, chỉ tốn công đi tìm, hái, rửa, và phơi, sao và sắc lấy nước uống mà thôi; Mừng qúa là mừng, ngày hôm sau khi dạy xong tiết học cuối cùng, trở về cư xá thay áo quần là đi ngay, nhờ ở vùng rừng núi nên tôi tìm những cây đu đủ đực không mấy khó khăn, hái về mấy túi đầy hoa và làm y như lời bác Tuấn chỉ bày. Đến ngày về thăm chồng tôi mang theo và đã nấu nó như nấu thuốc bắc, để ba chén nước lấy tám phân, cho chồng uống liên tục mấy ngày, kết qủa đúng như lời bác Tuần “quảng cáo”, bệnh sốt rét của chồng tôi chấm dứt từ đó, không bao giờ tái phát nữa. Sau này tôi có bày phương thuốc nhân gian này cho một em học sinh của tôi, trông em xanh sao đến tôi nghiệp, hỏi ra thì em mắc bệnh sốt rét rừng kinh niên, sau khi em làm đúng như tôi chỉ dẫn, bệnh sốt rét của em cũng chấm dứt.
Tuy chồng tôi được trở về từ trại “tù cải tạo” để sum họp với gia đình nhưng nào có sum họp được đâu! Con gái tôi vẫn ở với ông bà ngoại ngoài Huế, tôi vẫn cô đơn trong đời sống tập thể tại Phú Giáo, và chồng tôi vẫn bị quản thúc tại quê nhà, không thể rời xa đám dừa nước hai bên con lạch mà không có giấy phép. trước đây sự chi tiêu của tôi đã hạn chế, thì nay lại càng hạn chế hơn, bởi một năm hai lần phải về Huế trong kỳ Tết và hè, tôi còn phải cố gắng vài lần về quê thăm chồng nữa. Chuyến đi và sự chi tiêu thì tăng mà đồng lương thì không tăng vì vậy tôi rất “keo kiệt” cho chính mình, ngoài những rau quả bòn mót chung quanh cư xá, những thứ đậu bác Tuấn “luồn” cho, một vài món hàng nhu yếu phẩm thì tôi không tốn tiền mua thêm thức ăn ngoài chợ, cũng may là nhờ ăn chung với anh Lâm và Khanh nên tôi mới xoay xở nổi!
Người ta ở “một cảnh hai quê” đã lo, đã nhớ, huống hồ tôi đang ở “một cảnh ba quê” thì sự lo, sự nhớ nhiều đến chừng nào! Vì vậy trong lòng cứ canh cánh không yên, hết nghĩ đến chồng lại nghĩ đến con, sự nhớ thương chồng con cứ làm đầu óc tôi quay như chong chóng. Một lần về quê thăm chồng, anh rủ tôi đi chợ huyện mua một vài món về nấu ăn, chiêu đãi người đến từ phương xa, tận mắt nhìn thấy tay anh bóc mấy lớp giấy mới lấy ra được một tờ bạc năm đồng, tim tôi co thắt lại, có lẽ tờ bạc năm đồng này anh cất giữ từ lâu, không dám lấy ra xài nên mới gói nhiều lớp giấy như vậy! Trở lại trường, tôi xin anh Gìn để dạy thêm ngoài giờ cho các em học sinh yếu, gọi là phụ đạo, như vậy mỗi tháng ngoài số tiền lương, tôi còn lãnh thêm được ít nhiều gọi là tiền phụ trội. Mỗi lần lãnh tiền phụ trội, tôi ra trạm xá xin mua một ít thuốc bổ, dầu gió rồi đóng gói gởi bưu phẩm cho anh, không quên nhét tiền phụ trội vào trong gói thuốc, tôi làm công việc này đều đặn chan chứa một tình cảm yêu thương trừu mến. Cuối năm tôi nộp đơn xin thuyên chuyển về quê anh, để được nhiều hy vọng cấp trên chấp nhận,tôi cố gắng có thêm con nhỏ và con trai tôi đã ra đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1979,thế nhưng tôi đã không được cấp trên chấp thuận, không những họ đã không cho tôi thuyên chuyển về quê chồng mà niên học 1979-1980, họ thuyên chuyển tôi đến một nơi xa lạ khác trong tỉnh Sông Bé, đó là trường cấp III Tân Uyên II nằm trong vùng Tân Phước Khánh.
Ngày tôi rời ngôi trường cũ để đến nhiệm sở mới thật là buồn làm sao, chỉ có hai em học sinh đưa tiễn tôi, đó là em Hà, nữ sinh lớp 10, và em An, nam sinh lớp 12. Hai em là người Nghệ Tĩnh theo gia đình vào Đồng Xoài, Sông Bé trong kê hoạch “kinh tế mới” của nhà nước.
Ba mươi năm hơn đã trôi qua nhưng tôi không bao giờ quên được hình ảnh em Hà ẵm con trai tôi cuốn trong chiếc khăn bông, em An xách chiếc va li của tôi đi theo tôi từ Phú Giáo đến Tân Phước Khánh. Hai em đang làm gì và ở đâu? Cô luôn cầu nguyện ơn trên ban nhiều phước lành cho hai em.

(Còn tiếp sẽ viết vào Đặc San 2012.)
nguyễn ánh





( Trở về đầu trang )