Đại Hội 2009     trang đầu * LVChâu   lời mở đầu * CVThành   những hổ cáp 2 lìa đàn * NXDục   họp mặt hổ cáp * GĐNội   40 năm đệ nhị hổ cáp * NĐHoàng   hội ngộ lần đầu * LVLai   dư âm đại hội * NÁnh   người phụ nữ với chiếc quần 200 năm đi mượn * NĐHoàng   cảm nghĩ về đại hội 2009 * 20
Đặc San 2009     trang bìa * TTĐức   nội dung * BBT   tâm thư * BBT   lời nói đầu * BBT   điệp khúc tình yêu * NaNa & TigônHồng   những chuyện kể năm xưa *20   thơ quân trường *NTTánh   mỹ quốc định cư, hành trình kí sự *NĐHoàng   hổ cáp tự truyện *HKC   cho anh cung đàn đã lỡ *NTTánh   miếng cơm thừa *NVChín   xuân trên phố *NTTánh   hq615 *PNLong   tù không án *VHLý   tù quản chế *VHLý   chuyến tàu định mệnh *HKChiến   quả mơ *TKen   em về với mộng đêm nay *ThưKhanh   lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQ/VNCH*HKChiến   di tản bất như ý *VHLý   những đoạn thơ rời *CVThành   mãng đời tỵ nạn *NHHãi   thơ quân trường *NTTánh   hải hành *CVThành   những người bạn VTT và một thời để nhớ *NXDục   bài hát tình tang *ĐNViêm   bạn tôi *NVChín   một thoáng quê nhà gợi nhớ *CVThành   bóng rợp sân trường cánh hải âu *NĐHoàng   một linh hồn giữa biển khơi *NTTánh   tàn thu *NÁnh   buổi lễ vượt xích đạo *DTTùng   một chuyến hải hành đêm *NTTánh   mười hai con giáp, mười hai chòm sao *LVChâu   chén canh rau muống *NVChín   ngày xuân năm ấy *HKChiến   ý thiếp cùng tình chàng hổ cáp *ChịNVThước   tâm tình *ĐDVy   những ngày tháng không quên *NÁnh   tiếng gọi từ vũng lầy * NXDục   lời tạm biệt *NVĐệ   trang cuối * TTĐức



những chuyện kể năm xưa




Các bạn,
Trong lần gặp gỡ năm 2006 để kỷ niệm 36 năm ra khơi của Khóa 20 Sinh Viên Sĩ Quan/ Hải Quân/Việt Nam Cộng Hòa, gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp, chúng ta đã được đọc, được nghe 26 bạn và 2 chị kể chuyện về những chuyện năm xưa của chúng ta. Năm nay, năm 2009, chúng ta lại gặp nhau tại Florida để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm thời trai trẻ, một thời chúng ta cùng nhau nhập cuộc, đi làm người lính chiến.
Xin các bạn, cùng chúng tôi nghe kể tiếp những chuyện kể năm xưa của gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp.
Nguyễn Văn Đệ

( Bấm vào những hình phía dưới để xem rỏ hơn )

Chương 1: Nhập Ngũ

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
(Chinh Phụ Ngâm Khúc- bà Đoàn Thị Điểm)

1. Huỳnh Hữu Lành:
Sự xâm nhập người và vũ khí của CS Bắc Việt vào miền Nam Việt Nam càng ngày càng gia tăng, và chiến trận bùng phát trên khắp miền Nam với cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968. Việt Nam Cộng Hòa, Miền Nam Việt Nam, một quốc gia tự do dân chủ trong vùng Đông Nam Á, đã phải ra lệnh tổng động viên để có đủ quân số hầu chống lại sự xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Các nam sinh viên đang theo học tại các phân khoa thuộc Đại Học Sài Gòn cũng đã phải tham gia phong trào quân sự học đường, vác súng phòng thủ khu phố để bảo đảm an ninh cho dân chúng.
Đầu năm 1969 lệnh nhập ngũ đã đuổi đến nơi, rồi tôi cũng sẽ phải gia nhập vào hàng ngũ các chiến sĩ Quốc Gia để chống lại sự tấn công của Cộng Sản. Tôi tình nguyện vào quân chủng Hải Quân, được chấp thuận, và tôi trình diện Trung Tâm Nhập Ngũ Hải Quân nằm ở phía sau Bộ Tư Lệnh Hải Quân Sài Gòn.
2. Nguyễn Hữu Bích:
Đậu Tú Tài II sau khi học hết lớp 12 tại trường trung học Hồ Ngọc Cẩn vào năm 1968, sau đó tôi theo học chứng chỉ dự bị MPC (Maths-Physics-Chem.) tại Đại Học Khoa Học, Sài Gòn.
Hồ Ngọc Cẩn là trường nam trung học công lập độc nhất thuộc tỉnh Gia Định, và trường nữ trung học công lập của tỉnh là trường nữ trung học Lê Văn Duyệt. Trường trung học Hồ Ngọc Cẩn, cũng như các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi, và Trưng Vương là những trường trung học đã được di tản theo cuộc di cư vĩ đại từ ngoài Bắc vào Nam năm 1954 khi dòng sông Bến Hải đã được lựa chọn để trở thành làn ranh phân chia Quốc-Cộng. Những người di cư này đã không chấp nhận cuộc sống dưới chế độ chuyên chế của Cộng Sản. Họ đã bỏ lại tài sản, nhà cửa, quê hương để mong tìm được một đất sống tự do trong miền Nam. Những người dân Việt ở miền Nam đã mở rộng vòng tay tiếp đón họ, để cùng chung sức xây đắp một miền Nam tự do và trù phú. Trung học Hồ Ngọc Cẩn tuy là một trường tỉnh lẻ nhưng đã có đầy đủ các lớp học từ đệ thất lên đến đệ nhất, và thật sự cũng không nằm cách xa trung tâm Sài Gòn là mấy. Chúng tôi chỉ cần đạp xe đạp không quá mười phút là đã tới Cầu Bông, và ở phía bên kia cầu là khu Đa-Kao với thạch chè Hiển Khánh, với các rạp chiếu ciné như Đa-Kao và Văn Hoa. Ngoài ra chúng tôi còn có thêm khu “sân sau”, để hò hẹn với những tà áo nữ sinh trung học Lê Văn Duyệt, là khu Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, và chợ Bà Chiểu thì ngay ở kế bên. Những lời thơ cho tuổi học trò đã là một phần nào làm đẹp thêm những mộng mơ trong tuổi mới lớn của chúng tôi:
Có phải em mang trên áo bay,
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo,
Rồi thở, cho làn áo trắng bay?
(Tương Tư - Thơ Nguyên Sa)
Vũ Đức Thiệu, Nguyễn Văn Đệ, Võ Văn Côi, Nguyễn Lập Thành, Nguyễn Duy Hòa, Nguyễn Văn Yên, Dương Thiệu Tùng, Phan Thiết Dũng, và tôi là những người trong khóa 20 được biết đã xuất thân từ trường trung học này.
Chiến cuộc leo thang từ sau cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng Quân. Ở vào cái tuổi của tôi lúc đó nếu không lấy đuợc chứng chỉ đại học như chứng chỉ MPC thì sẽ phải trình diện nhập ngũ Khóa 6/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi thích làm sĩ quan phi hành thuộc Không Quân, hoặc được theo học trường Võ Bị Đà Lạt, nhưng Bố tôi chẳng bằng lòng. Bố tôi lúc này đang làm việc tại Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương, nằm ở số 3 Bạch Đằng, ngay bên cạnh BTL/HQ nên đã biết rõ là Hải Quân đang tuyển sinh viên sĩ quan cho Khóa 20. Ông hối tôi nộp đơn xin gia nhập SVSQHQ.
3. Nguyễn Văn Chừng:
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi,
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi đường đời.
(Ca Dao miền Nam)
Bố tôi mất sớm; Mẹ ở vậy, tần tảo nuôi bốn anh em chúng tôi nên người. Xong trung học, tôi theo học Đại Học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học, chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa). Khoa Học là những môn học cần nhiều đến sự thực nghiệm, và nhất là ở một chứng chỉ dự bị như MPC thì những người sinh viên mới tấp tểnh rời bỏ mái trường trung học rất cần sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các giáo sư. Nhưng những người sinh viên - mới chập chững lên bậc đại học - ở đất nước Việt Nam đang ở trong tình trạng chiến tranh như chúng tôi thì làm gì mà có cái chuyện đó! Giảng đường đông nghẹt, chật cứng, chứa có đến cả hơn ngàn người sinh viên. Thầy cầm micro nói hay đọc huyên thuyên, liên tu bất tận. Sinh viên ghi chép chữ được chữ không! Bài đọc đã được quay ronéo bán sẵn, anh có hiểu chăng? Có đọc hoài chắc cũng chẳng có hiểu nổi nữa! Cách học hoàn toàn mới lạ so với những năm ở dưới trung học! Nào có ai chỉ bảo, hay hướng dẫn chúng tôi? Cách giảng dậy của thầy với trò sao mà xa cách ngàn khơi! Chúng tôi cảm thấy bơ vơ, cảm thấy lạc lõng. Những ly cà phê ở quán chú Huệ, những điếu thuốc lá bập bùng tập hút, những giọng ca nghe nhão ruột, và những lời ca phản chiến đã làm cho chúng tôi có được những mộng tưởng an lành tạm bợ.
..... Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ,
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh
Gió sẽ mừng vì tóc em bay,
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ,
Như cách vạc về chốn xa xôi .......
(Như Cánh Vạc Bay – Trịnh Công Sơn)
Tết Mậu Thân, cuộc tổng công kích của Cộng Sản vào những thành phố ở miền Nam đã làm thay đổi tư duy, cuộc sống của mọi người.
....... Xác người nằm bơ vơ
dưới mái hiên chùa
trong giáo đường thành phố
trên thềm nhà hoang vu .......
(Bài ca dành cho những xác người – Trịnh Công Sơn)
Tôi không được thành công trong môi trường đại học, và có tình huống sẽ trở thành tài khóa của khóa 6/69 SVSQ Trừ Bị Thủ Đức! Hải Quân tuyển sinh viên cho Khóa 20 Sĩ Quan. Tôi gia nhập, được thâu nhận, và trở thành một trong những Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Khóa 20, Đệ Nhị Hổ Cáp.
4. Nguyễn Hữu Hải:
Mẹ sinh tôi ra vào năm Giáp Thân, 1944, nhưng sau này di cư vào miền Nam thì làm lại giấy Thế Vì Khai Sinh, rút xuống hai tuổi, thành sinh năm 1946. Sau khi đỗ Tú Tài hai ban B vào năm 1966, tôi xin được làm cho một “sở Mỹ” nhờ biết tí tiếng Pháp, và tiếng Anh của tôi cũng thuộc vào hạng không đến nỗi tệ. Đồng thời tôi cũng nộp đơn xin theo học tại Đại Học Sài Gòn, phân khoa Văn Khoa, ban Anh Văn. “Sở Mỹ“ tôi làm trực thuộc Tòa Đại Sứ (TĐS) Hoa Kỳ tại Sài Gòn, thực ra nằm trong chương trình Phượng Hoàng, Mỹ họ gọi là “Phoenix Program”. Đến năm 1969, chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh bắt đầu, thì kế hoạch hay chương trình Phượng Hoàng cũng đã được Việt Nam hóa, công việc của tôi đâm ra bấp bênh! Có một hôm xem truyền hình, thấy có một sĩ quan Hải Quân diện đồ trắng lên TV nói chuyện tuyển mộ sinh viên sĩ quan Hải Quân coi bảnh bao quá. Tôi bắt đầu để ý đến quân chủng này, và càng nhìn thấy những bộ đồ trắng lả lướt nơi bến tàu, trên đường phố Sài Gòn tôi càng đâm ra “mơ” làm người sinh viên sĩ quan Hải Quân. Tôi tình nguyện theo học khóa 20 SVSQ/HQ.
5. Nguyễn Văn Huấn:
Trước khi gia nhập Khóa 20 SVSQ/HQ tôi làm việc cho cơ quan USOM (US Operations Mission), và được chỉ định làm thông dịch viên cho Tiểu Đoàn 5 Tâm Lý Chiến – Hoa Kỳ (The 5th psychological Operation Battalion) trực thuộc cơ quan MAC-V (The Military Assistance Command-Việt Nam).
Đa số những phần vụ của Tiểu Đoàn 5 Tâm Lý Chiến là phối hợp chiến tranh tâm lý với những công tác của Bộ Chiêu Hồi VNCH. Nhiệm vụ của Tiểu Đoàn 5 Tâm Lý Chiến là in ấn, và rải truyền đơn, hay phát và phóng thanh những chương trình kêu gọi hồi chánh viên Cộng Sản bỏ ngũ để "Tung cánh chim tìm về tổ ấm...." với chính nghĩa Quốc Gia là những nhiệm vụ thường xuyên. Phỏng vấn, và thẩm định những tin tức tài liệu lấy được từ hồi chánh viên là những chuyện phải làm...
Chương trình chiêu hồi tương đối thành công, và với một kinh phí khổng lồ do cơ quan USOM tài trợ. Những chiến binh Cộng Sản sau khi trở về với hàng ngũ Quốc Gia thường được thưởng một số tiền cho những vũ khí và tin tức mang về, họ được tái huấn luyện để gia nhập đời sống dân sự dễ dàng. Nhưng đa số đã gia nhập vào các đơn vị Nghĩa Quân và Địa Phương Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những hồi chánh viên mà nhiều người biết đến là ca sĩ Đoàn Chỉnh và cả đoàn văn công của anh, trung tá bộ đội Bắc Việt La Thanh Toàn...
6. Phạm Văn Độ:
Xuất thân từ trường trung học Chu Văn An, tôi theo học Đại học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học,chứng chỉ MPC. Học mãi thấy cũng chẳng đi đến đâu, cuộc chiến diễn ra từng giây, từng phút, hàng giờ, hàng ngày trên quê hương tôi, tôi tình nguyện gia nhập Hải Quân, khóa 20 sinh viên sĩ quan mặc dù tôi đang được miễn dịch vì lý do gia cảnh, con một.
7. Trần Duy Tín:
Ba má tôi có một tiệm bán tạp hóa, ngay gần chợ Quảng Ngãi. Tỉnh Quảng Ngãi có bãi biển Mỹ Khê tuyệt đẹp, và dòng sông Trà Khúc lững lờ chảy quanh. Là một trong năm xứ Quảng của Việt Nam (Quảng Tín- Quảng Bình-Quảng Trị-Quảng Nam-Quảng Ngãi), phía bắc Quảng Ngãi giáp Quảng Nam, Đà Nẵng, phía nam giáp ranh Bình Định, phía tây giáp ranh KonTum, và phía đông là biển Đông có hòn đảo Lý Sơn (ĐKB-101) nổi tiếng với tỏi Lý Sơn.
Năm 1954 tôi rời Quảng Ngãi, vào Sài Gòn trọ học với gia đình bên ngoại, gốc người Minh Hương. Năm 1960 tôi trở lại Quảng Ngãi để chuẩn bị thi trung học Đệ Nhất Cấp, và sau đó tôi theo chương trình Việt luôn. Năm 1964 tôi đậu tú tài 2, và theo học Đại Học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học. Năm 1968 sau Tết Mậu Thân, tôi bị rớt chứng chỉ Hóa, bỏ về lại Quảng Ngãi. Tôi xin đi dạy học, môn Lý Hóa đệ nhị cấp, tại các trường trung học Bồ Đề và Kim Thông. Sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân của Cộng sản, chúng tôi-những thanh niên Việt Nam thời đócảm thấy đã bị như một cú đo ván (“knock out”) đánh vào đầu! Mất đi cái mặt đứng dưới chân, sự bình an giả tạo nơi đô thị. Thấy được sự chết chóc do chiến trận, thấy được những sự dã man và khủng khiếp của chiến tranh – nhất là ở Huế – qua những phóng sự truyền hình, những cái hào hùng coi cái chết tựa “lông hồng” của người lính chiến. Đầu năm 1969, tôi nhận được thư của người bạn học là quan Nguyễn Thế Hùng (bạch tượng) nói là Hải Quân đang tuyển lựa sinh viên sĩ quan cho khoá 20, và những người đang có chứng chỉ đại học thì được miễn thi. Vì thuộc tài khóa khóa 3/69 sĩ quan trừ bị, nên tôi vội vã gửi giấy tờ cho Hùng bạch tượng lo điền đơn xin gia nhập Hải Quân, vào Khóa 20 Sinh Viên Sĩ Quan giùm tôi. Việc được gia nhập khóa 20 SVSQ của tôi hoàn toàn là do một tay Hùng bạch tượng lo cho. Xin cám ơn anh bạn bạch tượng, một trong những người hiền lành nhất khóa của tôi.
Imagine there’s no heaven.
It’s easy if you try.
No hell below us, above us only sky…
“You ... you may say that I’m a dreamer,
but I’m not the only one…”
(Imagine – John Lennon)
8. Nguyễn Hữu Nam:
Tôi không muốn đi lính! Năm 1965 sau khi đậu Tú Tài 2 ban B, tôi thi vào lớp Dự Bị Y khoa (APM) không đậu, nhưng đậu được vào chương trình học hai năm tại trường Sư Phạm Sàigòn nhằm đào tạo giám thị và hiệu trưởng tại các trường tiểu học trên toàn quốc với hy vọng là tôi có thể không bị động viên vì nhu cầu giáo dục, hoặc là nếu có bị động viên thì cũng sẽ được biệt phái về lại Bộ Giáo Dục. Đầu năm thứ 2, năm 1967, vì bị thất tình với môt cô giáo sinh tên Mỹ Linh tôi đã bỏ ngang chương trình giáo học, và ghi danh học chứng chỉ dự bị MPC (Toán Lý Hóa) tại Đại Học Khoa Hoc.
Sau Biến Cố Tết Mậu Thân năm 1968, dù cho tôi có được hoãn dịch để tiếp tục học, thì tôi cũng nhận thức được rằng trước saukhông sớm thì muộn, tôi và các thanh niên cùng lứa tuổi đều sẽ bị động viên theo học trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi đã tìm đủ mọi cách để vào được những quân chủng nào có thể tương đối an toàn cho sinh mạng của tôi.
Tôi nghĩ đến Không quân, nhưng nghĩ cho cùng thì cũng không thấy an toàn cho lắm! Tuy họ chỉ đòi hỏi văn hoá có Tú Tài 1 thôi, nhưng cần phải có một chiều cao tối thiểu là 1m60, sức khỏe tốt, và đặc biệt phải có đôi mắt tốt – không bị cận, viễn hay loạn thị. Còn tôi chỉ có chiều cao 1m59 , đôi mắt lại bị cận thị nữa!
Cũng may vào thời điểm này, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đang tổ chức kỳ thi tuyển sinh viên cho Khóa 25 Võ Bị, và Trường Chiến Tranh Chính Trị cũng đang tổ chức kỳ thi tuyển cho Khóa 2 sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị (khoá Nguyễn Trãi-2). Tôi đã được trúng tuyển vào cả hai trường, nhưng theo ngành chiến tranh chính trị thấy có vẻ an toàn và có nhiều niềm vui hơn.
Ngày 01-02- 1969, tôi đã quyết định trình diện Khóa 2 Chiến Tranh Chính Trị (K2/CTCT) tại BTL/ Biệt Khu Thủ Đô-đường Lê Văn Duyệt, và được chuyên chở bằng xe GMC đến Trung Tâm 3 Tuyển Mộ-Nhập Ngũ. Tại Trung Tâm 3, tôi được khám sức khoẻ trong đêm và được cấp phát đầy đủ các quân trang quân dụng, và chụp hình căn cước bộ binh với 1 bông mai vàng trên 2 cổ vai áo. Qua ngày hôm sau, 02- 02-1969, tôi được di chuyển qua Trại Nguyễn Tri Phương trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung với các bạn khác cùng K2/ CTCT, tổng cộng có 300 Sinh Viên Sĩ Quan, và chúng tôi mong được:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường đạo.”
(Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi)
Ngày 10-02-1969, HQ Đại Tá Lâm Nguơn Tánh, Chỉ Huy Trưởng trường Chiến Tranh Chính Trị, đã đích thân đến trại Nguyễn Tri Phương để quan sát viên sĩ quan tùy viên đo chiều cao của từng sinh viên sĩ quan một. Kết quả có 36 sinh viên sĩ quan, đã không đủ tiêu chuẩn chiều cao tối thiểu là 1m60, và sẽ bị loại ra khỏi khóa 2 CTCT. Tôi, Nghiêm Xuân Chương, và Ngô Thanh Hùng (K.21/ HQ) cũng bị loại trong số này. Lợi dụng năm ngày phép, tôi đã đến Nha Động Viên ở đường Gia Long-Saigon, để xin giấy hoãn dịch được thêm 1 năm nữa với lý do có đủ tuổi để theo học năm thứ hai đại học. Ngày 21-02-1969, hết phép năm ngày, tôi về trình diện Ban Chỉ Huy Trại Nguyễn Tri Phương, xuất trình giấy hoãn dịch cho họ xem, làm mọi thủ tục hoàn trả quân trang quân dụng, và thủ tục để được “trả về nguyên quán” vì không đủ điều kiện và có giấy hoãn dịch.
Trở về đời sống dân sự, tôi vẫn thường hay đến Trung Tâm Tuyển Mộ Hải Quân ở đường Thi Sách để theo dõi sự tuyển mộ. Mơ ước của tôi đã trở thành sự thật khi tôi đọc được Thông Cáo Tuyển Mộ Khóa 20 sinh viên sĩ quan Hải Quân (K20/SVSQHQ), với chứng chỉ dự bị Toán Lý Hoá và chiều cao, tôi biết chắc chắn là tôi đã hội đủ điều kiện văn hóa và sức khỏe để gia nhập K20/SVSQ/HQ. Sau các thủ tục khám sức khoẻ xong, tôi đã đến trình diện trại Bạch Đằng 2 để trở thành một sinh viên sĩ quan Hải Quân Khóa 20 với số quân 67A701764 kể từ ngày 15-04- 1969.

Chương 2: Bạch Đằng II

“Trận Bạch Đằng đánh vào tháng Ba năm Mậu Tí (1288)lấy được chiến thuyền của quân Nguyên hơn 400 chiếc,và bắt được quân Tàu rất nhiều.”
(Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim)
1. Huỳnh Hữu Lành:
Tại trại Bạch Đằng II các anh em khoá sinh chúng tôi đã được tạm trú, để chờ ngày nhập khoá. Chúng tôi đi chơi chung với nhau, thành từng nhóm. Nhóm “tài tử hào hoa” của chúng tôi gồm: Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Xuân Dục, Ngô Nguyên Trực, Lưu An Huê, Lưu Ngọc Quang, Phan Ngọc Long, Tôn Long Thạnh, Nguyễn Văn Đệ,và tôi – Huỳnh Hữu Lành. Trong nhóm của chúng tôi thì Nguyễn Hữu Hải có vẻ là rành chuyện ăn chơi nhất, anh đã hướng dẫn và tập luyện cho anh em biết cách nhảy đầm để chuẩn bị cho các “quan Hải Quân” trong tương lai phải trở thành lả lướt, đào hoa.
Trong thời gian nầy mới thấy đời sống SVSQ/HQ thật vui sướng, không lo tập dợt quân sự hoặc nhồi luyện văn hoá như sau này khi đã vào trung tâm huấn luyện. Chúng tôi đã có nhiều thì giờ la cà nơi các quán kem rạp hát, hoặc tán dóc với đào, và hẹn hò nhảy nhót. Các tân sinh viên sĩ quan với bộ kaki vàng đồng phục le lói, lạng xe trên các nẻo đuờng Sài Gòn như Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ, Tự Do, Công Lý...với bao ước vọng tươi đẹp trong tương lai.
2. Nguyễn Hữu Bích:
Được gọi cho nhập khóa 20 SVSQ/ HQ, tại trại Bạch Đằng II, vì thời gian đã quá lâu nên tôi quên mất là mình đã trực thuộc vào trung đội nào, hay tiểu đội nào, và chỉ còn nhớ là mình đã nằm ở gần chỗ với Phan Thiệu Đường và Nguyễn Hữu Hải trong mấy ngày mới nhập trại. Nhưng tôi nhớ rất rõ ngày tôi nhập ngũ là ngày 9 tháng 3 năm 1969, và mang số quân là 69A701-353.
3. Nguyễn Hữu Hải:
Tôi được nhận, trình diện, và được lãnh đồ quân trang quân dụng. Tôi đã chính thức trở thành SVSQ/HQ/K20 với cấp bậc đầu tiên là “tân binh” Nguyễn Hữu Hải, số quân 66A702-430. Tôi gặp và chơi thân ngay với các bạn cùng khoá như Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Xuân Dục, Phan Ngọc Long, Tôn Long Thạnh, Ngô Nguyên Trực, Huỳnh Hữu Lành… Mặc dầu tạm trú tại trại Bạch Đằng Hai, nhưng tôi ra vào cổng HQ như đi chợ vì còn giữ giấy tờ làm việc tại Tòa Đại Sứ Mỹ. Ngày ngày chúng tôi la cà lả lướt phố phường, và lo tán gái.
4. Nguyễn Đình Hoàng:
Này bèo dạt,
Này hoa trôi,
Con nước ròng cạn kiệt,
Con nước lớn mông mênh,
Cũng có lúc bến tình mong ghé lại
(Phong Vận Kỳ Duyên– Nguyễn Đình Hoàng)
5. Phạm Văn Độ:
Tôi thuộc trung đội 1 đại đội 2 do quan Vũ lùn làm trung đội trưởng. Bị đời nó hành quá, nên quên khuấy mất chuyện hồi mới đi lính!
6. Trần Duy Tín:
Ngày 8 tháng 3 năm 1969 là hạn chót cho chúng tôi phải trình diện Trung Tâm 3 Nhập Ngũ cho khóa 3/69 Sĩ Quan Trừ Bị. Ngày 5 tháng 3, chúng tôi trình diện phòng tuyển mộ Hải Quân, và được cho nhập trại Bạch Đằng II. Chúng tôi gồm có Nguyễn Hải (ngựa), Nguyễn Thế Hùng (bạch tượng), Phan Xuân Sơn (đen), Đoàn Hữu Trí (già), Nguyễn Hữu Thiện, Trần Duy Tín, và không nhớ còn có những ai nữa hay chăng? Chúng tôi được cấp giấy phép đi bờ dài dài, chờ khoá khai giảng.
Mấy tuần lễ sau, các bạn cùng khoá đã ùn ùn kéo vào nhập chung bọn với tụi tôi. Thấy mấy bạn trẻ, mặt mày “búng ra sữa”, đùa cợt chí choé như “con nít” làm cho tôi thấy mà thương hại. Nhưng sau này, thì các bạn ấy cùng với chúng tôi thành “cá mè một lưá.” Trong thời gian tạm trú trại Bạch Đằng II, tôi thấy vấn đề ăn uống quá ư là “hổ lốn” và dơ dáy, nên thường hay có ý kiến với ông Quản Nội Trưởng – thượng sĩ Thinh, để cải thiện vấn đề bếp núc và cách nấu nướng cho sinh viên tạm trú. Điều này đã nẩy sinh trong tôi, việc tranh cử chức vụ sinh viên ẩm thực sau này.
“Imagine no possessions, I wonder if you can
No need for greed or hunger a brotherhood of man.
Imagine all the people sharing all the world...”
. (Imagine – John Lennon)

Chương 3: Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung

“Chúng nó sang phen này là mua lấy cái chết đó thôi.Ta ra chuyến này, thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi,đuổi quân Tàu về chẳng quá mười ngày là xong việc”
(Vua Quang Trung,
Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim)
1. Huỳnh Hữu Lành:
Thời gian cứ trôi nhanh, chúng tôi có ba tháng huấn luyện căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung với những ngày đi bãi tập trận, đi di hành, bò hoả lực, đánh cận chiến, ném lựu đạn...Trong thời gian này, tôi đã tổ chức lễ hỏi với bà xã tương lai. Có lẽ mình đã lo xa, một khi ra ngoài ấy, sẽ có người thư từ lo lắng cho bớt cô đơn. Trong ngày vui nầy, nhóm tài tử và các bạn đồng khoá 20 như các quan Nguyễn Xuân Dục, Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Văn Đệ... đã tham dự thật đông, như một đám cưới nhà binh thật nhộn nhịp.
2. Nguyễn Hữu Bích:
Tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tôi chỉ còn nhớ là mình thuộc tiểu đoàn Trần Bình Trọng, và thuộc đại đội hay trung đội nào thì không còn nhớ nữa! Tại nơi đây, có lẽ vui nhất là những lần được trực đêm tại đài phát tuyến. Đêm nghe tiếng mưa rơi, lộp độp trên mái poncho. Đang buồn tình, đói, lạnh mà được ăn vài trái hột vịt lộn nóng hổi của mấy cô bé bán rong thì quên hết mọi chuyện, kể cả những bài học đề cao cảnh giác về địch vận. Đa số chúng tôi đều là những anh “cu” mới lớn, nên chỉ dám đùa cợt với những cô bé này vài câu vớ vẩn, và đã lấy làm “thú” lắm rồi, còn những tay ăn chơi “lệch trời lệch đất” nổi tiềng trong khoá thì “phải biết”!
Tôi không biết rằng lạ hay quen,
Chỉ biết em mang theo Nghê Thường,
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo,
Cả bốn chân trời, chỉ có em.
(Tương Tư - Thơ Nguyên Sa)
Các bạn nào mà đã lỡ mê cái món binh xập xám rồi, thì đều phải rất ư là bực mình vì cái tiếng cười sảng khoái của Nguyễn Văn Nhất Lãng mỗi khi hắn “gôm” sòng. Mắt hắn cười “tít” lại nhưng mà hắn còn “ti hí” chút đỉnh để theo dõi mọi cử chỉ của các con bài khác một cách cẩn thận, và đừng hòng qua mắt hắn với những trò tiểu xảo, miệng hắn thêm bớt đùa cợt vài câu an ủi kèm theo những tiếng cười hềnh hệch giòn giã, đôi tay “xào” bài nhanh chóng. Coi thật “đáng” bực mình, nhưng chẳng ai “ghét” hắn! Có đêm tôi nướng sạch cả quỹ của trung đội, sau khi đã “cúng” hết tiền túi của mình cho hai “ông thần” Nhất Lãng và Hoàng Ngọc Khang. Hoàng Ngọc Khang chỉ tủm tỉm cuời ruồi, thêm thắt đùa cợt vài câu vô thưởng vô phạt, nhưng còn cái “tên” Nguyễn Văn Nhất Lãng thì hắn có một giọng cười hết sức là “đáng để trùm mền, đánh cho một trận cho nó hả tức!”
Còn tiền đánh tới, nhà cái cũng hay,
Hết tiền đi ngủ lại hay giật mình,
Tưởng rằng sự tình bạc này hai sấp,
Chẳng ngờ nó lại ra tới sấp ba,
Bây giờ quan tướng nhà ta thua sạch,
Áo quần cởi hết đi ra về trần,
(Tưởng như Ca Dao Việt Nam)
3. Nguyễn Hữu Hải:
Chúng tôi lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để được huấn luyện căn bản quân sự tối thiểu của một người lính chiến. Chúng tôi tập bắn súng dài, súng ngắn, tập đi đều bước, tập leo, tập trèo, tập chà láng, tập đi bãi, tập chạy, tập ứng chiến, tập dạ hành.
Tôi thuộc đại đội 2, tiểu đoàn Trần Bình Trọng. Tiểu đoàn Trần Bình Trọng là tiểu đoàn của SVSQ Hải Quân. Hình như tiểu đoàn Nguyễn Huệ là của các SVSQ trừ bị Thủ Đức, và họ có một nhân vật nổi tiếng là nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Mỗi tối thứ Sáu hay thứ Bẩy thì họ đều có một chương trình văn nghệ giúp vui. Lê Hựu Hà đã chinh phục đám đông với những bản nhạc giựt gân, và ngón đàn hừng hực nóng bỏng của anh, nhất là khi anh “sàng” hai đầu gối xuống sàn, quay lật ngược thùng đàn ra phía đàng sau đầu, và vẫn đánh réo rắt những điệu nhạc rock. Ban nhạc khóa 20 SVSQ/HQ đã được thành hình trong giai đoạn này, và có lên trình diễn một vài lần trên sân khấu câu lạc bộ Nguyễn Huệ để chung vui nếu tôi không lầm. Ban nhạc khóa 20 SVSQ/HQ gồm có các bạn Lưu An Huê năng động với những bản nhạc ngoại quốc giựt gân, Trần Kim Hoàng với giọng truyền cảm qua những bản nhạc tình cảm như Mộng Dưới Hoa, Ngậm Ngùi ... Đỗ Thế Trác với một giọng ca “vàng” qua những bản tình ca của Vũ Thành An, của Từ Công Phụng, và Đỗ Thanh Vẽ có tiếng ca mạnh mẽ, cuồn cuộn như nước sông trong mùa nước đổ với những bản tình ca…Những tay đàn như Huỳnh Minh Quang (Quang con) và Hùng Fox ... Và tay trống Phan Thiết Dũng (Dũng rùa). Cuối tuần, chúng tôi “đi bờ”, và dzọt về Sài Gòn để ăn chơi tiếp tục.

Chương 4: Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang

Ba thước gươm, một cỗ nhung an,
Xông pha gió bãi trăng ngàn.
(Chinh phụ ngâm khúc – bà Đoàn Thị Điễm)
1. Huỳnh Hữu Lành:
Sau khi hoàn tất huấn luyện quân sự tại TTHL Quang Trung, các khoá sinh chúng tôi đã được tàu hải quân đưa đến Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Chúng tôi được khoá đàn anh, các sinh viên sĩ quan Khoá 19, chào đón thật tận tình, nhất là trong những ngày huấn nhục; chúng tôi được nhảy cóc, nhảy nhái, thăng thiên độn thổ, bò lê lết đến phạn xá, đi tắm suối tiên. Sau thời gian nầy sư phụ nhẩy đầm Nguyễn Hữu Hải đã không còn mê màu áo trắng hoa biển nữa, mà chuyển sang ngành cảnh sát Quốc Gia, làm bạn với dân. Nhưng dù sư phụ đi tu luyện thêm bí kiếp, các đệ tử cũng không quên những chiêu thức của sư phụ đã dạy; chúng tôi áp dụng ngay cho những buổi tiệc (party) có khiêu vũ như ngày đàn anh ra trường hoặc ngày mãn khóa mang lon.
2. Nguyễn Hữu Bích:
Tháng 7 năm 1970, chúng tôi rời Sài Gòn lên tàu ra Nha Trang thụ huấn. Tôi thuộc đại đội 1, trung đội 1. Trung đội trưởng lúc đầu là Đặng Công Thành, sau Nguyễn Minh Cảnh lên thay. Đặng Công Thành đã được Đào Cơ Chí đặt cho cái tên là “Cóc Maru”, còn Nguyễn Minh Cảnh là “Cảnh nhè”. Những cái tên đuợc đặt này thường bị mang “cứng ngắc” cho đến ngày nay! Huỳnh Hữu Khương thành Khương khờ nấu đậu, Cai Thế Hùng thành Cai Dù, Ngô Hữu Đoàn thành Đoàn Ó Đâm, Hồ Văn Xách thành Cóc MaRắc, còn Trần Thanh Danh thành Danh đé ra máu v.v. Buồn thay, bạn Huỳnh Hữu Khương đã hy sinh và ra đi vĩnh viễn tại mặt trận Năm Căn vào năm 1972.
Tôi thuộc loại rất tà, nên thời kỳ làm đàn em đã không bị khoá đàn anh 19 săn sóc kỹ. Khi lên đàn anh thì cũng ít đi quay đàn em, lại không nắm chức sắc gì nên bạn bè ít biết đến tôi. Tôi tốt nghiệp với thứ hạng 49, và có tên trong danh sách sẽ lựa 100 người được chọn để đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ.
3. Nguyễn Hữu Hải:
Ra Nha Trang, trong thời gian bị huấn nhục, chúng tôi rất mệt mỏi vì những buổi phạt hành xác. Để tránh bị “quay” tôi cứ theo anh em lẩn vào trong đám đông, “ai sao mình vậy” và đừng có “ý kiến ý cò gì hết” là thoát được cái nạn bị quay riêng mà một số bạn đã bị gặp phải. “Trước mặt các anh là biển cả, và sau lưng các anh là bệnh xá…” đàn anh 19 đã hù dọa chúng tôi như thế. Một số bạn phải lên bệnh xá thật và được đeo bảng “đồ dễ bể” như Đỗ Ngọc Viêm hay Viêm “Tango”, Trần Ken...
Thế rồi thời gian bị huấn nhục cũng qua đi, sau lễ gắn Alpha, và chúng tôi đuợc “đi bờ“. Sau khi đi ăn uống cho thoả thích sau những ngày thèm khát, tôi mua một vài thứ lặt vặt cần thiết cá nhân… tôi ghé nhà một nguời quen ở gần nhà ga xe lửa. Tôi nhận đuợc một mảnh giấy, nhắn tin là có nguời quen trong Tòa Lãnh Sự Mỹ thuộc Vùng II muốn gặp. Lần đi bờ kế tiếp, tôi ghé Tòa Lãnh Sự Mỹ, và nguời quen muốn gặp tôi chính là ông “boss” cũ của tôi, ông Philip C. Ross, mang cấp bậc Đại Tá Green Beret, nói tiếng Việt và rành tập tục người Việt nhiều khi còn hơn cả người Việt. Ông Philip muốn tôi trở lại làm việc với ông ta, và muốn tôi theo ông ta về Sài Gòn ngay trong ngày. Ông ta sẽ cho người lo liệu mọi thứ giấy tờ cần thiết và hợp thức hoá thủ tục xuất ngũ với bên phía Việt Nam cho tôi. Ngay buổi trưa hôm ấy, chúng tôi theo Air America của CIA về thẳng Sài Gòn. Tôi bỏ lại trong quân trường mọi thứ và chẳng kịp báo tin cho ai hết, kể cả những người bạn thân! Nhưng chắc các bạn đó cũng sẽ đoán ra được, vì tôi đã có tiết lộ mấp mé với họ là có người ở TĐS Mỹ đang có ý tìm gặp tôi như trong tờ giấy nhắn tin. Cũng vì như vậy mà muôn đời tôi vẫn chỉ là một Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Khóa 20, chứ chưa được làm “quan”, một sĩ quan Hải Quân “ngon lành” như các bạn cùng khóa khác!
4. Trần Duy Tín:
Tôi thuộc đại đội 2 do quan Nguyễn Văn Xê làm Đại Diện khi ra Nha Trang. Có lẽ vì cái giọng xứ Quảng và hơi ngọng nghịu của tôi nên đã được nhiều đàn anh K.19 có cảm tình như Nguyễn Nguyên Long và Trần Văn Khánh mong muốn làm “bố” tôi. Nhưng Hoàng Công Dược (ẩm thực) đã bắt trúng tên để làm “bố” tôi. Tôi ra ứng cử làm sinh viên ẩm thực cho Đại đội II Sinh Viên Sĩ Quan/ Khóa 20, và không có đối thủ. Đến khi tranh cử chức vụ sinh viên ẩm thực của Khóa 20, một tay mơ-học sinh mới lớn – Nguyễn Văn Đệ – đã không thể nào là đối thủ của tôi được! Tôi đã được bầu làm sinh viên trưởng ban ẩm thực cho cả Khoá 20, và sinh viên ẩm thực của Đại đội I; bạn Nguyễn Văn Đệ, trở thành làm phó. Chúng tôi làm việc với nhau hết sức là mật thiết. Có máu buôn bán trong người, nên tôi điều hành chuyện ăn uống cho sinh viên, và chợ búa cho phạn xá dễ như trở bàn tay. Tôi tổ chức các buổi lễ gắn Alpha, lên đàn anh, và tốt nghiệp rất thành công. Ngoài ra tôi còn tổ chức được một hay hai buổi tắm biển và cắm trại ngoài đảo chung với các em gái Nha Thành với những kỷ niệm không quên được. Các nhân viên phạn xá được tuyển chọn trên tiêu chuẩn xinh đẹp, ngực tròn rung rinh – qua làn áo lụa – và dễ thương nổi tiếng như em Phượng, em Tám…- ngoại trừ chị Lệ - đã làm nhiều anh sinh viên điêu đứng. Tôi vì làm “sếp”, và đã có người yêu “bé bỏng,” nên không để ý đến những vấn đề đó. Người yêu “bé bỏng” của tôi ở cùng quê Quảng Ngãi, và hai gia đình đã quen biết nhau từ trước. Nhà của chúng tôi không cách nhau bằng một cái giậu mùng tơi, nhưng ở vào một dạng “nhà em đầu xóm, nhà anh cuối thôn”.
Tôi cám ơn em, và cảm tạ cuộc đời,
đã đưa tôi về cặp mắt đen to.
(Cảm Tạ - Nguyên Sa)
Tôi đã liên lạc và thường tiếp xúc thẳng với các sĩ quan cao cấp của trường Sĩ Quan Hải Quân, nên các sĩ quan ẩm thực quân trường như thiếu úy Bốn hay chuẩn úy Mầu cũng rất “nể” sinh viên, và chẳng dám “hoạnh họe” gì. Trong khi làm sinh viên ẩm thực, một hôm tôi đã có ra một thực đơn nấu món chè đậu cho sinh viên ăn tráng miệng. Nhưng nhà bếp không thi hành đúng chỉ thị khi nấu, nên một số anh em yếu bụng đã phải chạy nhanh đến “lăng Bác Hồ” khi ăn xong. Tôi – phạn xá trưởng – và Nguyễn Văn Đệ – phạn xá phó – xin có lời xin lỗi các quan dù đã sau ba mươi tám năm.
Khi sắp phải thi mãn khoá, tôi trình bày với thiếu tá Tâm, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Sinh Viên Sĩ Quan, là tôi phải học để thi tốt nghiệp, không thể lo cho vấn đề ẩm thực nữa! Ông ấy cắt ngang: “Ai sẽ cho anh rớt! Chỉ không biết là đậu cao hay thấp thôi.” Tôi ra trường với thứ hạng 27 ngon lành.

Chương 5: Thực Tập Trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ

“Smooth seas do not make skillful sailors.”
Proverb
1. Huỳnh Hữu Lành:
Sau ngày mãn khoá, rời quân trường huấn luyện Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tàu hải quân lại mang trả các tân sĩ quan Khoá 20 – khoá Đệ Nhị Hổ Cáp – về bến Sài Gòn. Sau ngày đi bờ nghỉ phép, các quan 20 tụ họp tại Câu Lạc Bộ nổi HQ trên bến Bạch Đằng; một số các quan tiếp nhận đơn vị, số còn lại được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ.
Tôi, Hà Mạnh Hùng, và Trịnh Văn Thơ được đi thực tập chung trên chiến hạm tiếp liệu USS VEGA F59. Theo lệnh công tác, ba anh em sẽ đáp phi cơ quân sự ra Đà Nẵng để xuống tàu. Thế là ba anh em hẹn nhau ra phố Lê Thánh Tôn gần nhà sách Khai Trí, mua một bức tranh sơn mài để làm quà tặng cho hạm trưởng khi trình diện. Nhưng khi đến phi trường Tân Sơn Nhất chờ Manifest thì được biết chương trình đã thay đổi! Chúng tôi phải trở về Bộ Tư Lệnh, nhận lệnh mới để đáp phi cơ quân sự của Hoa Kỳ đến Phi Luật Tân – căn cứ hải quân Mỹ tại Subic Bay, và xuống trình diện tàu tại nơi đó. Trong thời gian đi bờ nầy, chúng tôi đã làm lễ thành hôn vào ngày 3-8-1970, sau ngày mãn khóa sĩ quan một tuần lễ – trước khi đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Trong ngày cưới, ban nhạc 20 cũng đến giúp vui như các quan 20 Lưu An Huê, Phan Thiết Dũng cùng nhiều quan khác, còn thêm quan 20 Nguyễn Văn Nhẫn làm rể phụ... Xin thành thật cám ơn các quan đã đến chung vui với chúng tôi. Tôi rất thích thú khi được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ, nhưng cũng rất buồn vì phải xa người vợ trẻ vừa mới cưới.
Không có anh, thì ai ve vuốt?
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện Thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa Xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc.
(Cần Thiết – Nguyên Sa)
Khi máy bay đáp xuống phi trường Philippine, ba anh em mang hành lý vừa ra đến cổng đã gặp một tài xế người Phi đón, và đưa về doanh trại tạm trú của sĩ quan độc thân Hải Quân Hoa Kỳ (BOQ) trong căn cứ Hải Quân Mỹ tại Subic Bay. Tới đất Phi, phải xài tiền đô khi vào câu lạc bộ sĩ quan Hải Quân Mỹ để ăn tối. Lần đầu tiên anh em chúng tôi ăn cơm Mỹ. Có lẽ con mắt to hơn cái bụng nên cả ba đã khệ nệ mỗi người bưng một dĩa nào thịt bò, thịt gà, khoai tây, xà-lách, nhưng không đứa nào ăn hết phần ăn của mình! Hôm xuống tàu trình diện Hạm phó, ba anh em đã được xếp đặt mỗi đứa có một sĩ quan Mỹ đi kèm để huấn luyện. Tàu rời bến công tác tiếp vận cho Hạm đội 7, trên lộ trình từ Vịnh Bắc Việt đến Phú Quốc. Những ngày biển động, chúng tôi phải đi phiên tiếp tế thật khổ sở vì say sóng. Tàu cứ đi, rồi lại về bến ở Subic Bay. Đây là dịp được đi phố, vào các hộp đêm để rửa mắt. Nhất là quan Hà Mạnh Hùng mỗi lần đi phố suốt đêm về, và kể lại cho bọn nầy nghe những câu chuyện thật là hấp dẫn (quan Hùng chắc còn nhớ rõ). Tôi và quan Trịnh Văn Thơ cứ “lõ” mắt ra mà nghe, và thèm muốn nhểu nước miếng!
Trong khi công tác, chiến hạm cũng đã cặp bến Taipei – Đài Bắc, Taiwan – Đài Loan. Thế là ba anh em chúng tôi tính chuyện ăn cơm Tàu cho đã thèm. Vào nhà hàng Tàu, ăn cơm chiên lạp xưởng, thịt quay, mì vịt tiềm cho nó chướng to cái bao tử. Ăn xong chúng tôi lại đi dạo phố, và vào bar - club chơi suốt đêm, vì đây là dịp sau cùng còn ở nước ngoài, và biết khi nào mới được dịp ghé lại nữa. Ngày trở về tàu đang công tác ngang Vũng Tàu, nên đã được tàu chiến của Hải Quân Việt Nam đón về căn cứ Cát Lở, Vũng Tàu. Sau đó ba anh em chúng tôi đón xe đò về lại Sài Gòn.
2. Trịnh Văn Thơ:
Đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội với các bạn Huỳnh Hữu Lành và Hà Mạnh Hùng, nhưng tôi là dân cơ khí nên chỉ phải đi ca (quart) dưới hầm máy. Tàu Mỹ có hầm máy sạch “boong”, chẳng phải sửa chữa gì hết cả, và chỉ lo kiểm soát những đồng hồ chỉ mức dầu mức nhớt .. mà thôi. Thủy thủ Mỹ chịu trách nhiệm và tuân hành thủ tục (procedures) thì khỏi phải chê; họ làm chuyện gì cũng phải theo đúng sách vở. Những chuyện vui khác thì bạn Huỳnh Hữu Lành đã ”dành kể” hết rồi! Chúng tôi là “dân cơ khí” vốn ít nói, nhưng làm thì nhiều, thôi cũng được.
3. Nguyễn Hữu Bích:
Tôi tốt nghiệp với thứ hạng 49, và có tên trong danh sách sẽ lựa 100 người được chọn để đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Đợt đầu lấy 80 người, và không có tên tôi. Đợt chót lấy thêm 20 nguời nữa, tôi cũng không có tên, tôi bị loại luôn ở đợt 2 này, và không biết vì lý do gì!
4. Phạm Văn Độ:
Thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ chung với quan Trần Tuấn Đức. Chỉ “rình” mang “hoa biển” về tặng em, nên chẳng còn nhớ cái gì hết cả!
5. Trần Duy Tín:
Tôi không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội, dù đã đậu được thứ hạng cao, nhưng có lẽ vì giọng nói tiếng Anh của tôi có âm hưởng xứ Quảng chăng?
6. Nguyễn Hữu Nam:
Trong danh sách của 88 Hổ Cáp 2 đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, tôi ở vị trí thứ 23. Trong Sự Vụ Lệnh (Mission Order) số 771/QP do Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Hữu Lương ký vào ngày 04 tháng 09 năm 1970, có sao y bản chính do HQ Đại uý Nguyễn Đa Phúc – Trưởng ban Du Học thuộc Khối Quân Huấn, Bộ Tư Lệnh Hải Quân KBC 3317 – ký cùng ngày, cho phép 88 sĩ quan thuộc khóa 20 SQHQ đi từ Sài Gòn đến Nhật Bản, Trung Hoa Quốc Gia, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Hồng Kông, Đại Hàn ...
Tham chiếu theo phiếu đệ trình của Tổng Cục Quân Huấn Bộ Tổng Tham Mưu số 8182/TTM/TCQH/ĐHHL/HQ ngày 26-08-1970 với phương tiện chuyên chở của phi cơ quân sự Hoa Kỳ trong thời gian công tác 12 tuần lễ từ 10-09-1970 – với phí khoản công vụ do MACV đài thọ. Nguyễn Hùng (Hùng đầu bò) và tôi được phân phối đi thực tập trên Khu Trục Hạm USS Goldsborough (DLG-20), và theo lệnh Thuyên Chuyển tất cả 88 sĩ quan Hổ Cáp 2 sẽ thuộc thặng số quân số của Trung Tâm Hành Chánh Hải Quân. Mỗi ngày chúng tôi tập trung tại Câu Lạc Bộ Nổi để điểm danh và nhận những chỉ thị, thông cáo và tin tức từ HQ Đại úy Phúc trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 10 giờ sáng, sau đó mọi người giải tán rồi ai muốn về nhà hay đi chơi với các bạn gái đang chờ ở ngoài sân cỏ. Quan Hùng và tôi lúc nào cũng đi đôi với nhau, như đi chích ngừa, ra Thích Phú (cửa hàng người Tàu ở đường Nguyễn Văn Thinh, nằm giữa 2 đường Hai Bà Trưng và Tự Do, chuyên môn sản xuất các quân trang, cấp bậc của quân chủng Hải Quân) để may bộ quân phục đại lễ demisaison Hải Quân, đi lấy passport, rồi lãnh lương tiền Việt Nam để đổi ra đô la Mỹ. Hùng và tôi khởi hành vào hồi 12 giờ đêm ngày 10-09-1970 từ phi trường Tân Sơn Nhất, sau 4 giờ bay đến phi trường Okinawa vào lúc 7 giờ sáng theo giờ địa phương, lấy nhiên liệu, sau đó bay tiếp đến phi trường Okidata, và được xe bus đón về Căn Cứ Hải Quân Mỹ tại Yokosuka vào lúc 4 giờ chiều ngày 11-09-1970. Chúng tôi được sắp xếp vào tạm trú trong cư xá sĩ quan độc thân, vì khu trục hạm USS Goldsborough (DDG-20) còn đang công tác. Chúng tôi dùng bữa ăn tối ở phòng ăn sĩ quan, sau đó về phòng để nghỉ ngơi, và ngủ bù sau 2 chuyến bay và xe bus đến Yokosuka, Nhật Bản. Phòng US Navy Information chưa cho chúng tôi biết, ngày nào khu trục hạm USS Goldsborough (DDG-20) sẽ về bến Yokosuka, vì bí mật quân sự. Chúng tôi thay đồ xi-vinh (civil), để ra ngoài phố Yokosuka thưởng ngoạn đời sống của dân Nhật. Các quán ăn đều có trưng bày các món ăn mẫu của Nhật cùng với giá biểu ngoài cửa kính. Nhưng nhìn hình các món ăn mẫu thì thấy bắt mắt, nhưng ăn vào thì không thấy hợp với khẩu vị của người Việt. Chúng tôi đi dạo phố Yokosuka đến chiều tối thì về lại các quán bar gần Yokosuka Naval Base. Chúng tôi vào một quán bar, thì đã thấy một băng “Welcome back USS Goldsborough (DDG-20) on Sept. 15, 1970” làm chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên vì chúng tôi không biết tin tức khi nào chiếc DDG-20 sẽ về bến, nhưng quán bar này lại biết rõ ngày về bến là 15-09-1970. Quán bar đang vắng khách; thấy hai chúng tôi vào, ông chủ bar niềm nở tiếp đón chúng tôi; chúng tôi có hỏi: “Làm sao mà ông ta biết chiến hạm DDG-20 chính xác về bến vào ngày 15-09- 1970 ?” Chủ quán chỉ cười và nói: “Wait and see, but for sure one hundred per cent.” Đây là một trong các quán bar nhỏ, với vũ nữ nhảy sexy cởi truồng 100% ở xung quanh Yokosuka Naval Base. Chủ bar cho biết, mỗi người chỉ phải trả 800 Yen cho mộ ly bia – vào thời điểm 1970, một đô la Mỹ đổi được 360 Yen , và có thể xem ba vũ nữ nhảy. Muốn xem lại lần nữa, thì phải trả thêm 800 Yen cho màn (show) kế tiếp. Nhạc bắt đầu trổi lên, một vũ nữ mặc đồ kimono xuất hiện nhảy múa xập xềnh theo tiếng nhạc với những mảnh vải của chiếc kimono được từ từ cởi bỏ theo điệu múa cho đến khi đôi guốc mộc và mảnh vải cuối cùng được cởi ra; nguyên thân hình cô gái lồ lộ, với cặp nhũ hoa nho nhỏ phơi bày. Kế tiếp cô vũ nữ thứ hai xuất hiện theo thể điệu nhạc khác, trong lúc đó có các sĩ quan và thủy thủ Hải Quân Mỹ vào. Đến cô vũ nữ thứ ba sau khi cởi bỏ mảnh vải cuối cùng; cô này đã đến thẳng bàn của chúng tôi, cô múa khiêu khích ngay trước mặt tôi; nàng đã cho tôi “táy máy nghịch ngợm” tí chút rồi tặng tôi một vài kỷ vật “thật đặc thù” trên người nàng; tôi bỏ vào chiếc hộp quẹt để làm kỷ niệm. Ôi những kỷ niệm khó quên trong chiếc hộp quẹt của quán bar ở Yokosuka. Tôi có hỏi Hùng “Sao các cô vũ nữ này, người nào cũng có răng vàng?” Hùng chỉ cười, mà không có ý kiến. Từ đó trở đi, mỗi khi tôi gặp một phụ nữ Nhật nào khi nở nụ cười mà có răng vàng đều khiến tôi phải nghĩ bâng quơ đến cặp nhũ hoa nho nhỏ cùng kỷ vật của người vũ nữ cởi truồng ở Yokosuka.
Biết chắc rằng USS Goldsborough (DDG-20) sẽ về bến Yokosuka vào ngày 15- 09-1970, tôi đề nghị Hùng đi Tokyo chơi tự túc bằng phương tiện xe lửa tốc hành. Chúng tôi lên trạm xe lửa tốc hành ở Yokosuka, qua Yokohama, và đến Tokyo. Từ nhà ga Shinagawa ở Tokyo, chúng tôi đi bộ đến một lâu đài màu trắng gần đó, vì nghĩ là đa số người Nhật có mắt một mí, tôi nói với Hùng “Chúng mình cứ đi bộ tà tà, xem có gặp bất cứ người nào có mắt hai mí, hy vọng chúng mình sẽ gặp được người Việt nào đó đang du học tại Nhật”. Chúng tôi gặp hai thanh niên đang đứng trước lâu đài màu trắng vừa xem một quyển sách nhỏ màu vàng, vừa chỉ trỏ vào lâu đài. Hùng vội hỏi “Are you Vietnamese?” Họ trả lời: “No.” Họ đưa cho chúng tôi xem quyển sách nhỏ màu vàng, và chỉ vào hàng chữ tiếng Nhật – Imperial Palace. Thì ra, đây là quyển sách đàm thoại Nhật – Anh. Tôi nói với họ: “Tôi lầm tưởng các anh là người Việt, nhưng các anh là người Nhật, chúng mình kết bạn với nhau nhé?” Họ gật đầu đồng ý, và chúng tôi tản bộ trong công viên bao bọc quanh Hoàng Thành (Imperial Palace) nơi hoàng gia Nhật sinh sống tại Tokyo, khu các toà nhà chọc trời có bảng quảng cáo chữ “SONY”, và Tháp Tokyo. Chúng tôi mời họ vào một quán nước, và uống nước Coke trong những chai thủy tinh nhỏ. Họ hỏi chúng tôi: “Việt Nam ở đâu?” Hùng vội lấy tờ giấy trắng, vẽ sơ sài ra bản đồ Á Châu, và chỉ cho họ xem đâu là Nhật và nơi nào là Việt Nam. Ngồi trong quán nước thấy đã gần 8 giờ tối rồi, tôi xin phép họ để được viếng thăm gia đình họ để tìm hiểu về cuộc sống của Người Nhật, họ vui cười chấp nhận và mời chúng tôi về nhà của họ ở Shima-machi bằng xe lửa tốc hành.
Đến nơi, chúng tôi dừng lại ở một tiệm tạp hóa nhỏ, mua bốn chai nước Coke, và thịt nướng trước khi về nhà. Họ ở trên một căn gác trọ bằng cây trên tầng lầu. Chúng tôi bày thức ăn và thức uống trên một cái bàn cây nhỏ, ngồi bên nhau dưới sàn, vừa trò chuyện vừa ăn uống. Hùng hỏi: “Có biết gì về Việt Nam không?” Họ chỉ lắc đầu, nhưng lại đưa ra một quyển sách nói về Hồ Chí Minh, và sau đó chúng tôi đã không nói gì thêm nhiều nữa. Sau bữa ăn uống cùng trao đổi chuyện trò văn hoá, dọn dẹp bàn ăn, rồi chúng tôi tìm giấc ngủ ngay trên sàn gỗ đánh bóng. Sáng hôm sau thức dậy, chỉ còn một nguời bạn Nhật ở nhà vì làm ca hai, anh bạn kia đã đi làm từ sáng sớm. Chúng tôi cám ơn người bạn Nhật, và xin phép từ giã, người bạn Nhật tiễn chân đến tận sân ga. Chúng tôi có dừng lại Yokohama, ghé chợ mua ít trái cây.
Khi về đến Yokosuka Naval Base, chiến hạm DDG-20 đã về bến, và đang cập nơi cầu tàu. Chúng tôi chuẩn bị quân phục, xuống chiến hạm để làm thủ tục trình diện Hạm Trưởng (Commander Gilbert E. Schmidt, 1924-2002). Vị Hạm Trưởng mang cấp bậc Hải Quân Trung tá, người nhỏ thó – cao khoảng chừng một thước sáu, dáng vẻ ông tương đối thoải mái. Sau khi trình diện, ông chỉ định cho một Hải Quân Thiếu úy làm sĩ quan hướng dẫn chúng tôi. Hùng và tôi được sắp xếp ở chung một phòng trong khu sĩ quan. Anh bạn sĩ quan Mỹ hướng dẫn có cho chúng tôi biết là sẽ có một tour cho nhân viên chiến hạm đi du lịch Yamanaka Lake, gần chân núi Phú Sĩ (Fuji Mountain). Giá đi tour quá mắc, nên chúng tôi quyết định đi tự túc. Dựa theo bản đồ hướng dẫn, chúng tôi dùng phương tiện xe lửa tốc hành từ Yokosuka, đến Gotemba thì phải xuống để đi xe buýt đến Yamanaka Lake; chúng tôi ngồi gần một cô sinh viên trắng trẻo xinh xắn dễ thương và không có răng vàng, nên tôi đã làm bộ nhờ chỉ đường để làm quen theo đúng “bài bản của một sinh viên sĩ quan Hải Quân”. Cô tên Kumiko Ogawa, đang theo học tại Odawara College và có cho tôi địa chỉ nhà của cô để sau này còn liên lạc được. Sau khi về Việt Nam cô và tôi cũng có liên lạc với nhau qua thư từ một thời gian. Bây giờ thì chắc Kumiko Ogawa cũng đã gần 60 tuổi rồi, và cháu nội, cháu ngoại đầy đàn! Xe buýt chạy trên đường đèo lãng đãng sương mù, khiến tôi liên tưởng đến ngôi nhà nghỉ mát của gia đình tôi trên ĐàLạt ở cuối phố Phan Đình Phùng trước năm 1975. Đến Yamanaka Lake, chúng tôi gặp lại thủy thủ đoàn của chiến hạm DDG-20; anh sĩ quan hướng dẫn Mỹ của chúng tôi đã ngạc nhiên, và vui cười vì không hẹn mà gặp. Trời lành lạnh ở Hồ Yamanaka chỉ có ăn món mì nóng của Nhật là tuyệt cú mèo. Các xe bán mì đậu dọc theo lề đường, che quanh bởi những tấm mành mành, khách hàng đứng khuất sau tấm mành để thưởng thức mì nóng. Chắc bạn Hùng còn nhớ đến bát mì Nhật với nước lèo nóng bốc hơi cùng với hương vị cay cay vì tiêu trong không khí lành lạnh ở chân núi Phú Sĩ vào ngày 20-09-1970.
Sau thời gian về bến mười ngày, chiến hạm DDG-20 bắt đầu ra khơi và tuần dương dọc theo bờ biển Korea. Chúng tôi được tham dự bữa ăn đầu tiên với Hạm Trưởng Schmidt vào lúc 6 giờ chiều. Hải Quân Mỹ cũng quan liêu theo đúng truyền thống của Hải Quân quốc tế, Hạm trưởng ngồi chủ tọa ở đầu bàn, bên phải là Hạm phó, bên trái là sĩ quan Tuyên úy (Chaplain), sau đó là theo thứ tự cấp bậc và chức vụ, và cuối cùng là chúng tôi. Bữa ăn tối của sĩ quan được diễn ra trong ánh đèn cầy candle light, các thủy thủ tiếp vụ phục vụ bàn ăn đều là thủy thủ người Phi luật Tân. Tất cả sĩ quan chỉ được bắt đầu sau khi Hạm Trưởng đã bắt đầu ăn, và nếu có một sĩ quan nào muốn ăn thêm một món nào đó, thì ngay cả Hạm Trưởng cũng lịch sự chờ đến khi người sĩ quan đó ăn xong mới bắt đầu món ăn khác, và món tráng miệng phần nhiều là kem, bánh ngọt và trái cây. Tối khoảng 8 hay 9 giờ có chiếu phim mới nhất trong phòng ăn sĩ quan, kèm theo bữa ăn nhẹ gồm có Campbell noodle soup cùng với cracker. Vào buổi sáng các sĩ quan được đánh thức dậy bởi các thủy thủ tiếp vụ, và cũng chính người thủy thủ này sẽ thâu tóm quân phục cũ của các sĩ quan để mang đi giặt và ủi.
Chúng tôi đã được phân chia cho đi những “ca” riêng biệt với các sĩ quan Mỹ đương phiên trên đài Chỉ Huy, có những đêm chiến hạm nhận được tiếp tế ngoài khơi. Đôi khi cũng nhận được thư từ, bưu kiện, và các phim ảnh mới nhất từ trực thăng đáp xuống chiến hạm trong khi hải hành. USS DLG-10 và USS DLG-20 (guided missile destroyer leader) có trọng tải hơn 5 ngàn tấn, vận tốc tối đa khoảng 33 hải lý một giờ. Loại frigate này là loại chiến hạm có nhiệm vụ tấn công, được trang bị những hỏa tiễn, và những giàn radar mạnh của Hải Quân Hoa Kỳ. Ngoài ra nó còn có trang bị thêm trực thăng để cứu vớt những phi công bị rớt ngoài biển. Hết thời gian 15 ngày tuần dương bờ biển Korea, DDG-20 về nghỉ bến tại Sasebo vào ngày 10-10-1970, chúng tôi được lệnh thuyển chuyển qua Khu Trục Hạm USS Bausell (DD-845) tại Subic Bay bằng phương tiện của Khu Trục Hạm USS King (DLG-10) hiện đang nghỉ bến tại Sasebo. Hai bạn Nguyễn Hùng Tâm và Đỗ Duy Vy đang được thực tập trên chiến hạm DLG-10 này, và bốn đứa chúng tôi đã cùng nhau có dịp dạo phố Sasebo chung. Trên đường hải hành từ Sasebo đến Subic Bay, chiến hạm DLG-10 có ghé bến Kao-Hsiung (Cao Hùng) – một hải cảng nằm ở phía Tây Nam của Đài Loan; tàu neo tại bến cảng ba ngày. Chúng tôi bốn đứa lại có dịp đi bờ chung ở Đài Loan. Đỗ Duy Vy và tôi có chụp hình chung với hai chị em con của chủ một gift shop, và chắc các nường nay cũng trên dưới 60 tuổi hết cả rồi. Sau ba ngày nghỉ bến, chiến hạm DLG-10 trực chỉ Hồng Kông, và thả neo trong Vịnh Hồng Kông ngày 15-10-1970. Khi chiến hạm đã hoàn tất nhiệm sở thả neo, các ghe nhỏ (sampan) của dân bản địa Hồng Kông bắt đầu túa ra, và bu quanh chiến hạm để nhận lãnh làm công sơn phết lại vỏ tàu. Chúng tôi bốn đứa lại rủ nhau đi bờ dạo phố Hồng Kông. Chúng tôi ghé vào các quán bar nơi các thủy thủ Mỹ hay lui tới, Tâm có ngỏ ý rủ cả bọn “khám phá” các em “Hương Cảng” xem như thế nào? Nhưng tôi bị “lạnh cẳng” vì sợ vướng phải bệnh “teo cu” đang thịnh hành thời đó! Tôi rủ Hùng đi dạo phố Hồng Kông để mua sắm quà cáp cho gia đình, nhất là tôi muốn kiếm mua cho Mẹ tôi một ít gấm Thượng Hải, vì bà đã hy sinh cả cuộc đời cho chồng và cho con. Chúng tôi cũng đi đến Victoria Peak, để thăm viếng, chụp hình lưu niệm, và từ khu công viên này nhìn xuống bao quát cả vịnh Hồng Kông lẫn khu Kowloon (Cửu Long). Đến khu Tiger Palm Garden của chủ hãng dầu Cù Là Con Cọp để được “đi lên Thiên Đàng và đi xuống Hoả Ngục”, sau đó xuống phố để đi ăn cơm Tàu Quảng Đông. Tốn tổng cộng chỉ có bốn đô-la Hồng Kông – khoảng 40 cent Mỹ thời bấy giờ; tôi được một bữa cơm thịnh soạn và “hẩu xực” gồm có một tô mì hoành thánh thịt xá xíu, một đĩa to gồm gà xối mỡ, thịt heo quay, nửa con vịt quay, một đĩa cải làn hấp, cùng với một chai bia Hồng Kông.
Qua ngày hôm sau, chúng tôi bốn đứa lại rủ nhau dùng tắc-xi đi tắm biển ở Repulse Bay nơi có một pho tượng Phật Bà Quan Âm rất là lớn, và được dựng ngay sát bãi biển. Đêm đến chúng tôi rủ nhau đi ăn tại khu vực nổi tiếng là Floating Restaurant ở Aberdeen, khách phải dùng ghe tam bản nhỏ (sampan) để đi ra nhà hàng. Chúng tôi ghé đến một nhà hàng nổi có tiếng, nơi đây có khoe một tấm hình ngày xưa của Tổng Thống Nixon ngồi trên chiếc ngai vàng của nhà hàng, và chúng tôi cũng chụp mỗi người một tấm hình đang ngồi trên chiếc ngai vàng này.
Khu trục hạm DLG-10 nhổ neo, rời vịnh Hồng Kông ngày 25-10-1970, và hải hành trực chỉ Subic Bay. Tới nơi Hùng và tôi chia tay hai bạn Tâm và Vy, xuống trình diện Khu trục ham USS Bausell (DD-845). Sau khi trình diện Hạm trưởng, và được nói chuyện rất lâu với Hạm Phó, đã từng phục vụ ở Việt Nam qua vai trò cố vấn, và ông có khoe bằng Tưởng Lục do Đề Đốc Trần Văn Chơn ký. Chúng tôi lại tiếp tục được đi bờ tại Olongapo thuộc Subic Bay, và nếu các bạn đã từng ghé Subic Bay trong khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội đều nhớ đến cây cầu nối ngang từ Subic Bay Naval Base đến thành phố Olongapo chỉ dài khoảng 20m, và lúc nào cũng có một chiếc ghe nhỏ dưới gầm cầu có những trẻ nhỏ xin tiền. Qua khỏi cây cầu là các quán bar cuả các em Phi Luật Tân. Khi tôi vừa mới đến Subic Bay, tôi đã nghe các thủy thủ Việt Nam đồn đãi về huyền thoại ăn chơi của HC2 Nguyễn Văn Như trong những ngày tung hoành ở Olongapo – anh là người bạn rất thân của tôi trong những ngày ở Quang Trung, lúc đó chúng tôi đã từng xưng hô với nhau là “đô đốc” rồi. Vào thời điểm năm 1970, tôi có thể đổi một đô-la Mỹ được bẩy peso ngay tại cổng chính căn-cứ – bây giờ thì được khoảng 50 peso. Vào quán bar chỉ tốn một peso cho một chai bia San Miguel ướp lạnh, và tha hồ ngắm nghía các em Phi bán bar cởi truồng trăm phần trăm. Hoặc ăn một nửa con gà chiên với giá một peso ngay trước một rạp hát ở Olongapo, và vừa xem “phim con heo” vừa nhâm nhi chiếc đùi gà.
Ngày bầu cử Phi Luật Tân vào khoảng tháng 11 năm 1970, căn cứ Hải Quân Mỹ ở Subic Bay bị giới nghiêm, quân nhân Mỹ không được phép ra ngoài thành phố Olongapo, DD-845 vẫn còn nghỉ bến mấy ngày, nên tôi đã bàn với Hùng là “chúng mình là người Việt nom cũng giống như người Phi, chắc chắn là không có vấn đề gì đâu, chúng mình đi Manila chơi”. Chúng tôi ra Olongapo không có gì trở ngại, lên xe “khách” là một loại xe giống như xe Jeep cao, sơn đủ màu sặc sỡ, trang hoàng hoa giả, bóp còi inh ỏi để ra bến xe đò đi Manila. Xe đò đi Manila chạy qua những con đường coi không khác gì đoạn đường đi từ Phú Lâm về Cần Thơ, chúng tôi thấy rất nhiều nhà thờ có một lối kiến trúc rất đẹp. Đến bến xe ở Manila, có ngay những thanh niên nhẩy lên xe, và gạ bán hình 36 kiểu cho chúng tôi. Chúng tôi đi bộ dọc theo phố để kiếm phòng ngủ tạm qua đêm sau một chuyến xe chạy 6 tiếng đồng hồ từ Olongapo đến Manila. Ngày hôm sau chúng tôi dạo phố Manila, vào chợ, và đến công viên Rizal Park có tượng một con trâu, đài kỷ niệm Tổng Thống Ramon Magsaysay của Phi, và tượng này lúc nào cũng có hai quân nhân Phi mặc đại lễ bồng súng garant. Chúng tôi ghé khu Chinese Garden cũng nằm trong Rizal Park, có dịp trò chuyện và chụp hình kỷ niệm với khoảng 20 cô sinh viên trẻ và rất xinh đẹp cuả trường Y Tá Manila. Chúng tôi ngủ lại motel qua một đêm nữa, và sáng sớm ngày hôm sau ghé tiệm mì làm một tô hoành thánh mì lớn và một ly cà phê bít tất sữa nóng trước khi ra bến xe đò về lại Olongapo.
Ngày 05-11-1970 khu trục hạm USSBausell (DD-845) rời Subic Bay và hải hành trực chỉ Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin), chiến hạm có nhiệm vụ hải hành dọc theo bờ biển vùng Hàm Tân, và có nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho các đơn vị bộ binh của VNCH. Ngoài những giờ đi ca trong thời gian hải hành, Hùng và tôi còn được chỉ định thực tập trong Trung Tâm Tác Chiến (CIC) trong những lần yểm trợ hải pháo. Khu trục hạm USS Bausell (DD-845) là loại destroyer, có thiết bị radar tầm xa, hỏa lực mạnh, và trang bị vũ khí chống tàu ngầm (deep charge). Destroyer thường có nhiệm vụ hộ tống hàng không mẫu hạm hay yểm trợ hải pháo, vận tốc nhanh khoảng 35 hải lý một giờ, và có trọng tải khoảng 2500 tấn.
Cũng chính trên chiến hạm này, Hùng và tôi đã có tấm hình kỷ niệm trong Trung Tâm Tác Chiến (CIC) đăng trên tờ tạp chí All Hands của US Navy, được ấn hành vào cuối năm 1970, cùng với tấm hình của các bạn Nguyễn Ngọc Châu (Châu Fit) và Đỗ kim Bảng trong loạt bài nói về Việt Nam hoá đối với Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau một tháng công tác yểm trợ hải pháo tại Việt Nam, khu trục hạm USS Bausell rời vùng công tác và trực chỉ Subic Bay, đây cũng là thời điểm mãn hạn thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ của chúng tôi. Chúng tôi rời chiến hạm và dùng xe buýt để đến Clark Air Field, và bằng phương tiện máy bay của MACV để về lại Sài Gòn. Tôi được lệnh thuyên chuyển về BTL/LLTT; riêng Nguyễn Hùng thuyên chuyển về đâu tôi cũng không rõ; mãi đến tháng 7 năm 2000, Đại Hội 2000 của gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp tại Huntington Beach-California, tôi mới có dịp gặp lại và hàn huyên tâm sự sau gần 30 năm không gặp. Rất tiếc Nguyễn Hùng Tâm đã qua đời, còn Đỗ Duy Vy thì ở mãi tận New Orleans, Louisiana và biết đến bao giờ thì mới gặp lại nhau đây? Chúng tôi đã có những kỷ niệm với nhau trong những ngày tháng khởi đầu hải nghiệp, với những hình ảnh thân thương của các bạn Hổ Cáp 2, Khoá 20 Sĩ Quan Hải Quân.

Chương 6: Những ngày hành quân chiến trận

Hồn tử sĩ gió ù ù thỗi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn,
Dấu binh lửa nước non như cũ
Kẻ hành nhân qua đó, chạnh lòng thương.
(Chinh phụ ngâm khúc – bà Đoàn Thị Điểm)

1. Huỳnh Hữu Lành:
Thời gian thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ chấm dứt, chúng tôi trình diện Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tư Lệnh để nhận đơn vị. Tôi và quan Hà Mạnh Hùng được “tặng thưởng” về đơn vị đặc nhiệm Thuỷ Bộ. Tôi đã được tân đáo về Bộ Chỉ Huy/Liên Đoàn Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211.2, điều động hai giang đoàn 72 Thủy Bộ và 73 Thủy Bộ. Quan Hà Mạnh Hùng về làm sĩ quan giang đĩnh Giang Đoàn 72TB. Sau khi trình diện Bộ Tư Lệnh/Lực Lượng Thuỷ Bộ 211 tại căn cứ Đồng Tâm do HQ Đại Tá Nguyễn Văn Thông làm tư lệnh, và HQ Trung Tá Hoàng Cơ Minh làm tư lệnh phó. BCH/LĐĐN/TB-211.2 đang đảm trách vùng hành quân trên đất Miên, nên tôi đã theo chiến hạm xuống vùng hành quân để trình diện CHT/BCH “Chấm” là HQ Thiếu Tá Nguyễn Văn Tòng Khoá 11, và chỉ huy phó là HQ Đại Uý Đinh Văn Tráng khoá 13. – Sau này, HQ Thiếu tá Tráng đã được thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Phòng Tổng Thanh Tra, và đã bị tử nạn trên đường đi thanh tra, trên một chiếc trực thăng chuyển vận vì đã bị hoả tiễn SA7 của Cộng Sản bắn rớt.
Bộ Chỉ Huy/Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211.2 đang đóng tại Neakluong, nằm giữa đường sông Mekong từ Tân Châu lên đến Nam Vang. Các chiến đĩnh của giang đoàn Thủy Bộ mới được Hoa Kỳ bàn giao lại, là những con cá trận mình bọc luới thép chống B40 & 41, lại thêm những bao cát và các thùng đạn chứa cát đặt quanh chiến đĩnh để chống đạn – nặng chình chịch và chắc nịch, chạy lừ đừ như những con cá sấu bơi trong kinh lạch, mang những tên sặc mùi Mỹ hoá như Alpha, Tango, và Charlie. Alpha (trợ chiến đĩnh-Assault Support Patrol Boat) là thành phần chiến đĩnh xung kích của các giang đoàn Thủy Bộ. Với vận tốc trung bình 6 gút, cùng hỏa lực của cây đại liên 50 ly trước mũi, và giàn phóng lựu MK-20 đã làm Cộng quân khiếp vía. Hai chân vịt, và hai giàn máy đã làm cho loại giang đĩnh này xoay trở dễ dàng. Những ống thoát khói được đặt dưới tầm mặt nuớc để giảm tiếng máy kêu, nên loại chiến đĩnh này rất được trọng dụng trong những công tác kích đêm. Chiều sâu của loại giang đĩnh này tương đối cạn, khoảng chỉ một thước nên chiến đĩnh có thể ủi thẳng vào bờ không khó khăn. Vỏ tàu bằng thép dầy, đáy hình chữ V để tránh ảnh hưởng công phá của mìn, và giàn thượng tầng kiến trúc lại đuợc kiến tạo đặc biệt với những thùng hai lớp đựng cát để chống B-40 và B-41. Alpha là loại chiến đĩnh, với một cấu trúc đặc biệt, đã được hải quân Hoa Kỳ đặt làm để dành cho cuộc chiến trong vùng sông rạch ở Việt Nam với cái tên ASPB (Assault Support Patrol Boat).

Monitor (tiền phong đĩnh) là loại chiến đĩnh đã được biến cải từ họa đồ của chiếc LCM-6 mà ra, nhưng nó lại là linh hồn của các cuộc hành quân thủy bộ. Hoả lực của nó thì thật là khủng khiếp – với một đại bác không giật 105 ly gắn phía trước, đại bác 20 ly hay đại liên 50 ly kép ở hai bên hông, và khẩu BKP 81 ly trực xạ ở sân sau – đã nhiều lần làm vui lòng các chiến sĩ TQLC hay bộ binh bạn khi đi hành quân hỗn hợp, hoặc yểm trợ những đồn bót đóng dọc bên sông lạch. Monitor một đôi khi còn được trang bị bằng một súng phóng hỏa với xăng đặc của bom napalm; ngọn lưả của nó có thể bắn xa đến cả hơn ba chục thước, đốt cháy những công sự cố thủ hay chốt đóng của địch quân. Soái đĩnh Charlie hay CCB (command Communication Boat) là loại chiến đĩnh được dùng để đặt bộ chỉ huy, cũng được biến cải từ họa đồ kiến trúc của chiếc LCM-6. Hoả lực không dữ dội, nhưng rộng rãi – có hình dáng như chiếc Alpha. Tango (quân vận đĩnh tác chiến) hay ATC’s (Armored Troop Carrier Refueler) là loại chiến đĩnh dùng để chở quân, cũng được biến cải từ hoạ đồ kiến trúc của loại LCM-6, có đáy bằng phía truớc mũi và cửa đổ bộ. Hoả lực của nó được trang bị với các giàn 50 ly nằm ở hai bên hông, phía truớc mũi, dùng để dọn bãi khi đổ quân. Nóc loại chiến đĩnh nầy, được biến cải thành một platform cho bãi đáp trực thăng.
Cuộc hành quân qua Cambodia thật sự đã được khởi sự từ ngày 9 tháng 5 năm 1970 phối hợp giữa lực lượng TQLC, HQ Việt Nam và một số đơn vị Hoa Kỳ. Tuy nhiên những cố vấn và lực lượng Hoa Kỳ đã không tiến vượt qua khỏi thành phố NeakLuong do sự phản đối dữ dội của những người chống đối chiến tranh ở bên Mỹ. Đoạn đường từ Neak Luong trở đi đều do những lực lượng của Việt Nam đảm trách hành quân, tiếp tế, bảo vệ an ninh, và cứu trợ nạn nhân chiến tranh. Đây cũng là một cuộc thử thách đầu tiên với cuộc hành quân quy mô rộng lớn cho Hải Quân Việt Nam, trong thời gian Việt Nam Hoá cuộc chiến. Tuy không còn được sự yểm trợ hỏa lực của Không Quân Hoa Kỳ, nhưng lực lượng hành quân của Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó rất đẹp.
Bộ Chỉ Huy 211.2 có nhiệm vụ điều động 2 giang đoàn 72 và 73 Thuỷ Bộ phối hợp vớí một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến tinh nhuệ gồm có các Tiểu-đoàn 3, 6, và 9 TQLC đóng quân tại Neakluong. Vừa đến đơn vị là tôi phải lên đường tham dự hành quân thuộc vùng Kompong Cham để càn quét những trung đoàn Cộng Sản đang dưỡng quân trong vùng, và phá vỡ những căn cứ hậu cần của địch trên vùng biên giới Miên Việt. Tiếp đến, là những cuộc hành quân Trần Hưng Đạo-18 với kế hoạch hộ tống đoàn tàu vận tải tiếp tế cho Nam Vang. Trung Tâm Hành Quân THĐ đặt tại căn cứ Tân Châu với Commander là “cao bồi” Luật. Hành Quân Trần Hưng Đạo-18 phối hợp giữa các Lực Lượng Tuần Thám, các giang pháo hạm LSSI, dương vận hạm LST, Lực Lượng Thủy Bộ và những toán quân xung kích tạo thành những đoàn tàu hộ tống tiếp tế Nam Vang. Trong một lần hành quân càn quét để giữ an ninh hai bên bờ sông Mekong, Bộ Chỉ Huy 211.2 cùng hai giang đoàn 72 và 73 Thủy Bộ chở theo một tiểu đoàn bộ binh Miên. Chúng tôi vừa đổ quân xong, dự trù cho dọn sạch bờ sông, và trấn giữ những nơi eo hẹp của dòng sông. Các chiến đĩnh được lệnh rải đều và quay đầu về hướng Neakluong, ngược dòng để yểm trợ hỏa lực khi cần, thì địch quân bất ngờ đã khai hoả trước. Chúng đã cố gây rối loạn hàng ngũ chúng ta, nên rình bắn vào đoạn giữa của đoàn chiến đĩnh. Tôi đang ngồi trên flatform của soái đĩnh Charlie trực máy truyền tin, thấy chiếc pháo đĩnh Monitor đi phía truớc đã liên tiếp trúng nhiều phát đạn của đại bác 75 ly không giật, phòng lái đã bị trúng đạn, khẩu pháo tháp đại bác 20 ly ở phiá sau cũng bị một phát đạn 75 ly làm sập giàn súng, và pháo thủ đã tử trận tại chỗ. Tần số của máy truyền tin lúc nầy quá náo động, bởi lệnh lạc chỉ huy của các chỉ huy trưởng giang đoàn. Đoàn chiến đĩnh đồng loạt nổ súng vào bờ sông; những họng súng khạc đạn kêu lên như tiếng bò rống. Chiếc Monitor tuy trúng đạn phòng lái, nhưng nhờ vách phòng thủ với bao cát và thùng cát nên không bị loại ra khỏi vòng chiến. Thủy thủ đoàn tiếp tục vận chuyển con tàu, và khẩu trọng pháo 105 ly sân truớc vẫn trực xạ từng phát một vào bờ, tạo nên những cụm khói đen hình cây nấm, bùng lên cùng tiếng đạn nổ ầm vang dữ dội. Các căn nhà dọc bờ sông trúng đạn bốc cháy. Sau đó BCH đã liên lạc được với không lực Mỹ xin yểm trợ, những chiếc phản lực cơ F4 đã gầm vang xé bầu trời, hàng loạt quả bom đã nổ tung vào những vùng địch ẩn núp. Những cuộc hành quân như thế cứ tuần tự luân chuyển; BCH đã có tân chỉ huy trưởng là HQ Trung tá Trần Văn Hãn, và đơn vị sẽ được chuyển vùng hoạt động về vùng U Minh.
Tôi được thuyên chuyển về Giang Đoàn 22 Xung Phong ở Nhà Bè, Đặc Khu Rừng Sác. Tôi và bà xã rất mừng vì đã được thuyên chuyển về gần nhà, và cuộc đời lính tráng bớt hiểm nguy hơn. GĐ22XP trực thuộc BTL/HQ Vùng 3 Sông Ngòi đóng tại căn cứ HQ Long Bình. Chỉ huy trưởng GĐ22XP là HQ Thiếu tá Phan Ngọc Xuân, ngày 30-4-75 ông đã mang lon Trung tá, và làm chỉ huy trưởng HQ/Biệt Khu Thủ Đô tại trại Bạch Đằng II. Tôi đã gặp lại Trung Tá Xuân, trong trại tù Cộng sản sau này.
Ngày trình diện tân đáo đơn vị, tôi vào căn cứ Giang Đoàn 22 Xung Phong tại Nhà Bè, lại gặp ngay quan 20 Nguyyễn Văn Xê – “ĐĐ” Xê đã trở về với biển cả – đang nắm chức vụ sĩ quan nội vụ của giang đoàn. Trong một lần văn nghệ, đơn vị có tổ chức buổi tiệc (̣party) và thuê vũ nữ nhảy xéc-xy (sexy), quan Nguyễn Văn Xê đã lấy xe díp đơn vị đi đón các quan chỉ huy chiến đĩnh đang ở ngoài vùng hoạt động để về tham dự. Chiếc xe bị hư bình điện nên mỗi lần xe bị tắt máy là lại phải hè nhau đẩy cho đến khi xe nổ máy mới được lên ngồi. Xe chạy từ Nhà Bè qua cầu Tân Thuân, cầu Hàng, cầu Chữ Y, vào tới Chợ Lớn bị chết máy không biết bao nhiêu lần, và phải đẩy xe, nhưng rất vui. Tôi về GĐ22XP lại cũng tiếp tục những cuộc hành quân phối hợp với những đơn vị địa phương quân, Tiểu Đoàn 359 ĐPQ. Đêm về đổ quân án ngữ, ban ngày chở quân nhu quân dụng đi tiếp tế cho các đồn bót, và có khi phải đi hộ tống sà-lan đạn. Mỗi khi phải hộ tống sà-lan đạn, chúng tôi chạy dọc theo sông Đồng Nai, vòng qua Cát Lái, lên đến Long Bình. Ghé Bộ Tư Lệnh/ HQ/Vùng III Sông Ngòi gặp quan Phan Ngọc Long tán dóc ít câu, hoặc về Cát Lái cặp bến, vào câu lạc bộ người nhái uống cà-phê với quan 20 Nguyễn Minh Cảnh. Ít lâu sau đơn vị chúng tôi có thêm được HQ Trung uý Phạm Công Hùng thuộc Khoá 21 tân đáo, lại thêm một tay nhậu và nhảy đầm càng vui. Tôi nắm chức vụ sĩ quan trưởng toán giang đĩnh. Giang đĩnh của giang đoàn xung phong gồm toàn những tàu chiến thời Pháp còn để lại, những tên cũ rích như: tiểu giáp đĩnh FOM, tuần giang đĩnh RPC, pháo đĩnh Monitor, trung vận đĩnh LCM-6, và tiểu vận đĩnh LCVP.
Thời gian phục vụ tại GĐ22XP, chúng tôi cũng hành quân liên miên nhưng không đụng lớn, có lần cũng gặp bọn Đoàn 10 đặc công thuỷ đánh mìn nhưng lại thoát hiểm – Sau khi tôi đã chuyển đơn vị về hạm đội thì quan 20 Nguyễn Văn Đệ về Giang Đoàn 22XP.
Vào năm 1974 có tham dự hành quân ở Rừng Sác, đơn vị đã chạm địch, và CHT/HQ Thiếu Tá Nguyễn Bê - đã bị thương cùng với quan 20 Nguyễn Văn Đệ, xin xem Đặc San 2006, bài viết của HC2 Nguyễn Văn Đệ. Thời gian phục vụ giang đoàn tác chiến đã quá lâu, đủ để cho tôi được thuyên chuyển về Hạm Đội. Tôi được lệnh thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, phục vụ trên tuần duyên hạm Kim Quy HQ 605 lần lượt với các hạm truởng HQ Đại uý Võ Văn Tám Khoá 15, HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Anh Khoá 13 và sau cùng là HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Toàn Khoá 17. Xuống chiến hạm lại gặp quan 20 Lâm Quốc Hùng đang làm sĩ quan ẩm thực; mỗi tháng chúng tôi lại góp hụi đi nhậu mỗi khi tàu cặp bến – Quan Lâm Quốc Hùng nay đã ra khơi, không về bến nữa. Khi bò được lên đến chức vụ sĩ quan đệ nhị, hay hạm phó thì có HQ Trung Uý Đỗ Cao Năm Khoá 21, và HQ Thiếu Uý Trần Thiện Khải Khoá 24 về tân đáo chiến hạm – HQ Thiếu Úy Trần Thiện Khải đã hy sinh bên Lào trong cuộc Đông Tiến với ĐĐ Hoàng Cơ Minh.
2. Nguyễn Hữu Nam:
Cùng với quan Nguyễn Hùng (Hùng Đầu Bò) sau thời gian Thực Tập Đệ Thất Hạm Đội từ Clark Air Base ở Phillipine, chúng tôi trở về Sài gòn vào tháng 11 năm 1970; thế rồi tôi được thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám 212 (BTL/LLTT).
Tân đáo đơn vị mới vào đầu tháng 12 năm 1970, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám 212 (BTL/LLTT), tại Bình Thủy gần Cần Thơ. Quan Phạm Ngọc Bích (Bích mập) cũng được thuyên chuyển về BTL/LLTT như tôi. Quan Phạm Ngọc Bích về Giang Đoàn 64 Tuần Thám (GĐ64TT) đồn trú tại Tuyên Nhơn-Mộc Hóa thuộc tỉnh Kiến Phong cùng ráp gianh với tỉnh Long An (Bến Lức), còn tôi thì về Giang Đoàn 63 Tuần Thám (GĐ63TT) đồn trú tại Phước Xuyên trên Kinh Đồng Tiến thuộc vùng Đồng Tháp Mười gần các vùng Cao Lãnh, An Long và Tân Châu gần biên giới Kampuchia.
Trong thời gian chờ đợi phương tiện để về đơn vị, chúng tôi tạm trú trong khu sĩ quan độc thân của cố vấn Mỹ trong Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Bình Thủy (CC/YTTV/ BT). Hôm nào chán ngán đồ ăn Mỹ thì ra Cần Thơ ăn bánh cóng ở bến Ninh Kiều, hoặc ăn mì ở Tuý Quang Lầu ở gần chợ Cần Thơ sau khi đã xem ciné tại rạp Casino, hay vào chợ Bình Thuỷ ăn cơm Việt Nam, và chiều tối thì ăn bún bò Huế tại Ngã Ba Bình Thuỷ; quán có treo bức ảnh nổi tiếng “Tiếc Thương” của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.
Tôi theo Niên trưởng 19 Đinh Như Nhiên và ba chiếc PBR ra đến vùng hành quân của giang đoàn vào lúc 3 giờ chiều ngày 12.12.1970. Giang Đoàn 63 Tuần Thám có nhiệm vụ chính giữ an ninh thủy lộ huyết mạch là con kinh Đồng Tiến. Kinh Đồng Tiến nối liền từ Sông Cửu Long vùng Hồng Ngự chạy qua Đồng Tháp Muời, và ra tận đến Sông Vàm Cỏ Đông thuộc vùng Tân An. Thông thường chúng tôi cũng tuần tiễu và hộ tống ghe thương hồ từ Phước Xuyên thuộc Tỉnh Kiến Tường ra đến tận Ấp Bắc, và Cầu Kinh Mười Hai thuộc Vùng Cai Lậy (quê hương của Cậu Bảnh Quần Đỏ). Đoạn từ Phước Xuyên về Sông Cửu Long thì không bị rừng cây to che khuất nên hay bị đánh mìn, còn đoạn đổ ngược lên sông Vàm Cỏ thì rừng cây rậm rạp nên dễ bị phục kích.
Giang đoàn tuần thám được trang bị các giang tốc đỉnh – PBR (river patrol boat), có vỏ làm bằng sợi thuỷ tinh (fiberglass) nên rất nhẹ và vận chuyển rất nhanh với hai động cơ loại chuyển nước thành lực đẩy (water jet propulsion) nên máy rất êm, rất tốt cho những cuộc kích đêm. Hỏa lực mạnh với giàn 50 ly kép trước mũi, hai đại liên 30 hay 50 ly đơn phía lái, cùng vũ khí cá nhân. Sau khi vào phòng ngủ sĩ quan, sắp xếp hành lý, tôi lên trình diện Chỉ Huy Trưởng (CHT) là HQ Đại úy Nguyễn Thìn (K12 Hải Quân) với quân phục xanh tím Hải Quân chứ không phải trình diện với đồ tiểu hay đại lễ như ở những đơn vị khác. Tôi chào CHT và sĩ quan hành quân là HQ Thiếu úy Trần Phước Vân (K19), vì là một đơn vị tác chiến nên thủ tục trình diện cũng rất là đơn giản, hơn nữa phòng làm việc của CHT ở ngay trong phòng hành quân. CHT cho biết mỗi đêm có 3 sĩ quan hướng dẫn ba toán giang đĩnh, mỗi toán gồm năm chiếc PBR, và một cố vấn Mỹ cho mỗi toán. Các điểm kích sẽ nằm dọc theo Kinh Đồng Tiến, và phối hợp yểm trợ cho các đơn vị Địa Phương Quân. Mỗi đêm đều có một trực thăng chiến đấu của Mỹ bay từ Bình Thủy đến và túc trực tại căn cứ. Theo sự phân phối của sĩ quan hành quân, tôi được ở lại căn cứ đêm hôm đó và ngày hôm sau sẽ bắt đầu đi kích trục phía Nam của căn cứ.
Giang Đoàn 63 Tuần Thám (GĐ63TT) là một giang đoàn tân lập, các chiến đĩnh PBR đã được bàn giao cho Hải Quân Viêt Nam từ Hải Quân Mỹ trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh nên vẫn còn một số cố vấn Mỹ. Đêm đi kích đầu tiên, tôi họp với các thuyền trưởng PBR để thông suốt những điểm kích, và nếu cần để yểm trợ các đơn vị bạn ở trên bờ dọc theo con kinh Đồng Tiến. Tôi mặc bộ đồ bộ binh tác chiến áo dài tay để tránh muỗi, bôi thuốc ngừa muỗi, với áo giáp và nón sắt tôi xuống chiếc PBR thứ ba trong năm chiếc, và viên sĩ quan cố vấn Mỹ đi chung với tôi trên cùng một chiếc. Đêm đầu tiên trên kinh Đồng Tiến, tôi biết thế nào là muỗi Đồng Tháp; muỗi nhiều vô kể, nó bay từng đoàn dày đặc. Chiếc PBR phóng nhanh trên con kinh Đồng Tiến để lại những đường vệt bọt trắng xóa trên dòng nước kinh đen trong đêm tối; từng đàn muỗi đập vào mặt vào mũi tôi! Khi gần đến điểm kích, các PBR tắt máy, và từ từ thả trôi đến các vị trí đã được ấn định. Thuyền trưởng PBR báo cáo vị trí về phòng Hành Quân, và phân chia ca canh gác cho thủy thủ đoàn. Tôi thử sử dụng máy hồng ngoại tuyến để quan sát trên bờ xem tình hình chung quanh nơi kích đêm nay ra sao. Sau đó tôi ngồi nói chuyện nho nhỏ với viên cố vấn Mỹ trên hầm máy phía sau chiến đĩnh đến khuya, và chúng tôi trùm poncho ngủ ngồi cùng dựa lưng vào nhau. Đến 6 giờ sáng thì chúng tôi rời điểm kích để về lại căn cứ trong làn sương mù dày đặc của vùng Đồng Tháp Mười.
CHT/GĐ63TT là HQ Đại úy Nguyễn Thìn (K12), vào thời điểm của năm 1970, đồng thời ông cũng là một nhạc sĩ tài hoa Trường Sa, đã có những bản nhạc hay để đời như “Rồi Mai Tôi Đưa Em“, “Chiều Nay Không Có Em”… Ông kể lại với chúng tôi là ngày ông mới ra trường, và khi còn là một Thiếu úy, ông đã được phục vụ trên chiếc Tuần Duyên Hạm (PGM) Trường Sa HQ-611, nên đã lấy tên Trường Sa để làm tên tác giả cho các bản nhạc của ông. Sau này ông lên Thiếu tá, và làm Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Đặc Nhiệm Tuần Thám 212.3. Ông mới tái hôn vào năm 2007 sau 11 năm ôm nỗi sầu lẻ bóng từ khi người vợ yêu quý của ông qua đời sau một tai nạn thảm khốc ở Việt Nam. Bốn nguời con trưởng thành đã rất vui mừng với duyên mới của ông. Xin có lời chúc mừng, đến vị cựu Chỉ Huy Trưởng của tôi.
Xin chép vào đây hai bản nhạc nổi tiếng của nhạc sĩ Trường Sa:
RỒI MAI TÔI ĐƯA EM
(Nhạc và Lời: Trường Sa)
Rồi mai tôi đưa em xa kỷ niệm
Xin lời cuối không dối gian trong mắt em
Tình yêu cho thương đau nghe buồn thêm
Gác vắng mưa gợi niềm chăn chiếu
Còn đây không gian xưa quen gót lầy
Bên hè phố cây lá thưa chim đã bay
Ngồi nghe yêu thương đi xa tầm tay
Giữa tiếng ru trầm vào cơn mê này
Chiều xưa em qua đây ru hồn nắng ngủ say
Lời yêu trót đong đầy
Đón em thu mây bay, tiễn em xuân chưa phai
Xót ngày vàng còn gì
Đành đoạn rồi những lần chiều hẹn ước
Rồi mai chân hoang vu lên phố gầy
Tôi về nhớ trong mắt môi đã đắng cay
Còn ai mơ trên tay khi hoàng hôn
Vỗ giấc xuân muộn về trên môi hồng
Và một bài khó quên khác: CHIỀU MƯA KHÔNG CÓ EM
(Nhạc và Lời Trường Sa)
Chiều mưa không có em,
Bờ đá công viên âm thầm.
Chiều mưa không có em,
Giăng mắc mây không buồn trôi.
Gọi mùa thu lãng quên,
Vào tiếng mưa rơi êm đềm.
Trời còn mưa ướt thêm,
Cho dài ngày tháng không tên.
Chiều mưa không có em,
Ðường phố quên chưa lên đèn.
Chiều mưa không có em,
Biết lấy ai chia hờn tủi.
Trời mùa Thu lắm mây,
Còn bước em đi quên về.
Vòng tay ôm lẻ loi,
Cho mình còn mãi thương nhau.
Trầm lặng ngày đi qua trên đường phố rét mướt,
Dấu chân chưa tìm về, chút kỷ niệm ngày đầu.
Ðể từng mùa Thu đến, ra đi không mang tin
Nỡ quên đi đành sao?
Kể từ em vắng xa,
Ngày tháng bơ vơ tên mình.
Mùa thu mưa vẫn rơi,
Không bước chân em tìm đến.
Chuyện ngày xưa biết sao,
Mỏi cánh chim bay phương nào.
Còn ngày xuân ấm êm,
Cho mình gọi tiếng yêu em .....

Năm 1971 GĐ63TT đảm nhận thêm nhiệm vụ hộ tống tàu buôn đi lên Nam Vang, trong cuộc hành quân Trần Hưng Đạo. Sau cuộc hành quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh qua Cambodge, chúng tôi đã hộ tống Dương Vận Hạm HQ-504 từ Tân Châu lên tới Neak- Luong. Nơi đây, HQ-504 đã là sân đáp cho trực thăng của TT Nguyễn Văn Thiệu khi đi ủy lạo, và gắn huy chương cho các chiến sĩ trong cuộc hành quân này tại NeakLuong, Kampuchia.
CHT/GĐ63TT là một cấp chỉ huy rất tốt đối với nhân viên, ông phân phối cho đi phép 1 tuần đều cho mọi người theo luân phiên cứ hai tháng một lần. Tôi chưa hề đụng trận, trong suốt thời gian phục vụ tại GĐ63TT.
Tháng 06 năm 1971, tôi được điều động về Phòng 1 BTL/LLTT và được gửi đi tham dự Khoá sĩ quan Quản Trị Nhân Viên tại trường Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu. Tốt nghiệp Khoá học, tôi về đảm nhiệm chức vụ trưởng ban Nhân Sự Vụ của Phòng 1/BTL/ LLTT phụ trách việc thăng thưởng, quân kỷ cùng các hồ sơ hộ tịch, và tử tuất của BTL/ LLTT.
Tôi vẫn còn nhớ một kỷ niệm với quan Nguyễn Hùng Tâm là vào năm 1972, CHT Tuần Thám 212.2 tại Bến Lức, đã đề nghị tăng thưởng cho HQ Thiếu uý Nguyễn Hùng Tâm một bằng tưởng lục. Lúc đó cả Khóa 20 đã sắp sửa có Nghị Định thăng cấp trung uý vào tháng Bảy năm 1972, nên tôi có nói với Nguyễn Hùng Tâm là tôi sẽ trì hoãn bằng tưởng lục của Tâm cho đến sau khi đã được lên trung uý thì sẽ có lợi cho Tâm hơn khi cần dự tranh cấp bậc đại uý sau này.
Tháng 11 năm 1972 tôi rời BTL/LLTT và được tân đáo Hạm Đội, phục vụ trên giang pháo hạm Lôi Công HQ-330 cùng với bạn Đàm Thanh Tâm, và có quan Nguyễn Thế Hùng (Hùng bạch tượng) làm cơ khí trưởng. Giang pháo hạm tuy có súng lớn nhưng cồng kềnh, xoay chuyển chậm chạp nên dễ trở thành một cái đích ngắm bắn cho Việt Cộng, và khó lái vì thượng tầng kiến trúc cao, to, và bọc gió. Tàu chúng tôi thường hoạt động vùng Năm Căn, Cà Mau và yểm trợ Vùng 4 Sông Ngòi.
Năm 1974 tôi được đi học lớp Tổng Quản Trị tại Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với bạn Bùi Văn Tâm. Tôi đã làm trưởng lớp trong thời gian theo học tại đây. Sau khoá học, tôi được điều về làm Trưởng ban Thuyên Chuyển Hạ Sĩ Quan tại Phòng Tổng Quản Trị BTL/HQ. Làm việc tại Phòng TQT, nhất là Ban Thuyên chuyển Hạ Sĩ Quan rất khó khăn, và có quá nhiều đụng chạm, nên tôi xin đi học lớp Tham Mưu Trung Cấp.
Cuối tháng Tư năm 1975, tôi nhận được lệnh tân đáo Hải Đội 3 Duyên Phòng, làm thuyền trưởng chiếc tuần duyên đĩnh Huỳnh Văn Cự Coast Guard HQ-702. Chưa kịp trình diện đơn vị thì đã bị tan hàng.
3. Nguyễn Văn Chừng:

Đơn vị đầu tiên tôi được phục vụ là Dương Vận Hạm Quy Nhơn HQ-504. HQ-504 nguyên là LST-509 của HQ Hoa Kỳ được hạ thủy từ tháng 11 năm 1943 do hãng đóng tàu Jeffesonville Boat & Machine Co. đóng. HQ- 504 có chiều dài khoảng 130 thước, chiều ngang khoảng 17 thước. Vận tốc trung bình khoảng 10 knotts, và có thể chở khoảng gần 1800 tấn hàng.Chiến hạm được trang bị với hai máy GM 12-567, 900 mã lực. Hai cây 40 ly kép trước mũi, 4 cây 40 ly đơn phía lái, và 12 cây 20 ly đặt chung quanh tàu.
Sau một năm, tôi được kéo về làm sĩ quan công tác tại Hải Quân Công Xưởng. Nguyễn Duy Hòa, Lưu Ngọc Quang, và tôi là những người cùng khóa 20 đầu tiên về HQCX. Sĩ quan công tác có nhiệm vụ thẩm định công tác phải làm cho những chiến hạm hay chiến đĩnh vào sửa chữa hay đại kỳ. Sau đó chúng tôi phải viết lệnh công tác để giao cho HQCX sửa chữa, và giám định công tác sau khi đã được hoàn tất.
Năm 1974, tôi được đi học khoá Tham Mưu Trung Cấp tại Trung Tâm Huấn Luyện/ HQ/Sài Gòn cho đến ngày di tản.
4. Nguyễn Hữu Bích:
Đơn vị đầu tiên tôi phục vụ, là giang pháo hạm Thần Tiễn HQ-328 (LSIL- Large Infantry Landing Ship) dưới quyền hạm trưởng HQ Đại Úy Phạm Văn Hưng (K.11). Giang pháo hạm của HQ Việt Nam là những chiến hạm cũ kỹ, được Hoa Kỳ viện trợ, và thường được mệnh danh là những quan tài nổi. Giang pháo hạm được trang bị, với một cây 40 ly trước mũi. Sân giữa được trang bị với một đại bác 76ly2, hai bích kích pháo 81 ly và hai cây đại liên 50 nằm hai bên tả và hữu hạm, lui về phía sau là hai cây 20ly và hai cây BKP-60 ly. Trên đài chỉ huy có trang bị hai cây đại liên 30. Sau này chiến hạm được gắn thêm súng phóng lựu MK19. Tôi nắm chức vụ nội vụ, văn thư, kiêm sĩ quan vũ khí, và kiêm luôn cả lo phần vỏ tàu… Quan Đoàn Hữu Trí nắm phần sĩ quan ẩm thực, và kiêm luôn phần tiếp liệu.
Mỗi khi công tác tại Năm Căn, nhiệm vụ của chúng tôi là tuần tiễu, hộ tống, và yểm trợ những đơn vị Biệt Động Quân và TQLC trong những cuộc hành quân phối hợp. Trong một lần hành quân, chúng tôi có nhiệm vụ cho đổ bộ một đại đội TQLC gần Ấp Hàm Rồng trên bờ Kinh số 13 thì bị địch quân phục kích, bắn B-40 trúng bên hữu mạn, ngay sân giữa của tàu. Tôi đang làm trưởng khẩu 76ly2, và hai khẩu BKP-81ly nằm ngay bên dưới đài chỉ huy. Chúng tôi nả đạn vào những chỗ nghi ngờ, và TQLC mở cuộc tấn công ngay lập tức một khi bước chân lên bờ. Tuy không một ai bị thương, nhưng lỗ thủng của đạn B-40 nằm cách không xa chỗ chúng tôi là mấy, nên tôi đã được tuyên dương công trạng truớc trung đoàn, huy chương anh dũng bội tinh với ngôi sao đồng. Ngôi sao đồng này đã giúp tôi thăng quan tiến chức, nhanh chóng sau này hơn nhiều bạn đồng khóa.
Trong chuyến công tác thứ hai, chúng tôi phải tuần tiễu ngày đêm trên sông Mékong, đoạn từ NeakLuong lên đến Nam Vang. Trên bờ một lữ đoàn TQLC phối hợp hành quân tuần tiễu, giữ gìn an ninh trục lộ. Mỗi khi có tàu tiếp tế Nam Vang, thì chúng tôi lại cùng phồi hợp với các giang đoàn Thủy Bộ hộ tống đoàn convoy. Mỗi khi ghé Nam Vang, tàu chúng tôi thường cập bến ngay trước Dinh Norodom Sihanouk để nghỉ một ngày trước khi hộ tống đoàn convoy suôi dòng theo con nước ra biển. Đặc biệt, mỗi khi nghỉ bến này thì chỉ có các sĩ quan là được chia nhau đi bờ. Chúng tôi rong chơi thành phố Nam Vang bằng những phương tiện xích lô, xe lôi, tắc xi và cả lội bộ. Thành phố Nam Vang đẹp, và sạch. Tôi theo hạm phó, HQ Trung Úy Nguyễn Văn Đơ, K.14, đi dạo phố Nam Vang. Chúng tôi “la cà” đi uống cà phê, và uống thử món bia Nam Vang xem như thế nào? Phụ nữ Khờ Me có nước da đen dòn, nụ cười tươi mát, nhưng những cô gái có dòng máu lai Tàu, lai Pháp, hay lai Việt thì nước da lại trắng bóc. Đàn ông người Miên rắn rỏi, và có nhiều người nói giỏi tiếng Pháp. Chúng tôi phải dùng tiền Cam Bốt, đồng riel, và mỗi đồng Việt bằng bẩy đồng riel.
Trận mưa dầm,
cơn gió bấc,
bầm dập tả tơi.
Kẻ sĩ xuôi tay
(“thở khì”, muốn xin thêm vào, vì hai chữ này không có trong thơ.)
(Phong Vận Kỳ Oan - Nguyễn Đình Hoàng)
Mỗi chuyến công tác, của loại giang pháo hạm là khoảng ba tháng. Vì tàu thường bị bắn B40 hay B41 liên miên, nên vào những lúc ban đầu khi tiến qua đất Miên, tàu chúng tôi mang lỗ chỗ những vết đạn B41, được tô đâm bởi loại sơn chống sét màu gạch đỏ. Một khi trông thấy như vậy sẽ dễ làm nản lòng những người ở “hậu phương” mỗi khi về bến Sài Gòn, nên sau này chúng tôi được lệnh phải che đậy những “vết thương” như vậy trước khi về đến Sài Gòn. Vào năm 1972, giang pháo hạm HQ-328 bị VC đánh mìn chìm tại Năm Căn, Cà Mau khi tôi đã rời chiến hạm để tân đáo đơn vị mới.
Cuối năm 1971, tôi đã được thuyên chuyển về Căn Cứ HQ/Năm Căn, nắm chức vụ Sĩ Quan Nội Vụ. Chỉ huy trưởng đầu tiên là Thiếu tá CB Nguyễn Văn Mới, xử lý thường vụ chức vụ chỉ huy phó là Thiếu úy CB Nguyễn Văn Điền và sau được thay thế bởi HQ Trung uý Hồng Kim Mến (K.19). Nhiệm vụ của chúng tôi là phòng thủ căn cứ, bảo vệ an ninh và bến đậu cho các đơn vị đồn trú như các Giang Đoàn 45 Ngăn Chận, Hải Đội 5 Duyên Phòng, BCH/Trần Hưng Đạo IV, Tiền Doanh Yểm Trợ/Năm Căn, và phi trường Năm Căn. Chì huy trưởng kế tiếp là HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Thu (K.12). Sau khi niên trưởng Hồng Kim Mến thuyên chuyển đi nơi khác, thì tôi đã được cử lên giữ chức vụ xử lý thường vụ chức vụ chỉ huy phó. Cùng chung đơn vị với tôi có các bạn cùng khoá là Nguyễn Hải (Hải ngựa) làm Sĩ Quan an ninh phòng thủ, và Nguyễn Văn Độ (AET) làm Sĩ Quan kỷ luật với HQ Thiếu úy Kim Ngọc Thành (K-21) làm phụ tá. Chỉ huy trưởng kế tiếp, là HQ Thiếu tá Trần Thanh Phong (K-14). Tôi xin đi học khóa Tổng Quản Trị một tháng tại Cam Ranh, và đã được chấp thuận. Ít lâu sau, lại xin được đi học khoá điều chỉnh pháo binh (sĩ quan đề lô) tại Bình Thủy trong hai tháng. Sau đó, thì tôi thuộc quân số của BTL/Hành Quân Sông.
Cuối năm 1972, tôi đã được lệnh thuyên chuyển về hoả vận hạm (YOG) HQ- 470, dưới quyền hạm trưởng là HQ Thiếu tá Nguyễn Bê (K-14), rồi đến HQ Thiếu tá Nguyễn Thành Danh (K-14). Tôi nắm giữ chức vụ Sĩ Quan Nội Vụ, Trọng Pháo, và Vận Chuyển. Chúng tôi nhận dầu từ các hãng Shell, Mobil, Texaco tại Nhà Bè và mang đi tiếp tế cho các Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Đồng Tâm, Tiền Doanh Yểm Trợ Tiếp Vận Năm Căn, hay Căn Cứ Yểm trợ Tiếp Vận An Thới. Mỗi khi tàu cặp bến Nhà Bè thì chúng tôi thường ăn nhậu tại quán Xanh với những món canh cá bông lau và cá kho tộ nổi tiếng, chưa kể đến cô “Út” con bà chủ coi hết sức mặn mà. Hay chạy về Sài Gòn ăn cơm của má nấu, nhưng cũng không quên ghé ngang Cầu Hàn một tý để tiếp tế cho mấy “em út” chút đỉnh gọi là “của ít lòng nhiều”. Mỗi khi ghé bến An Thới chúng tôi không quên ghé vựa Hồng Đại mua vài chai nước mắm “nhỉ” mang về làm quà cho gia đình. Chúng tôi thích đi tiếp tế An Thới vì thường hay có thêm một chút gì gọi là “bổng lộc.”
Đầu năm 1974, tôi được lệnh thuyên chuyển về Căn Cứ Hải Quân Đồng Tâm dưới quyền Chỉ Huy Trưởng là HQ Thiếu tá Nguyễn Xuân Biên (K-13); tôi nắm giữ chức vụ Xử Lý Thường Vụ Chức Vụ Chỉ Huy Phó. Các đơn vị đồn trú, gồm có SĐ7BB, BTL/ LLTrung Ương 214, CCYT/TV Đồng Tâm, GĐ 82 Phóng Thủy Hỏa, và GĐ21 Xung Phong. Đến tháng Tám thì tôi được đi thụ huấn khoá 3/74 Trung Cấp Chuyên Môn Hải Quân. Cùng khóa với tôi có các bạn Phạm Ngọc Bích (Bích Mập), và Trần Xuân (Xuân tóc đỏ).
5. Trịnh Văn Thơ:
Sau khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội về, tôi được tân đáo Tiền Doanh Yểm Trợ Quy Nhơn vời chức vụ Trưởng phòng Kỹ Thuật; chung một đơn vị với tôi có bạn cùng khoá Vương Thế Phiệt – làm Trưởng phòng Động Cơ (Cơ Khí). Chúng tôi sửa chữa các chiến đỉnh PCF, CoastGuard, và Yabuta thuộc Vùng II Duyên Hải.
Năm 1973, tôi được thuyên chuyển về CC/YTTV/Đồng Tâm, và làm trưởng phòng Công Thự Tiện Ích, rồi trưởng phòng Kế Hoạch Trù Liệu. Cuối tháng Ba năm 1975, tôi đã được chỉ định làm trưởng toán Sửa Chữa Lưu Động, và được biệt phái yểm trợ CC/HQ Tuyên Nhơn, Mộc Hoá trong ba tuần. Căn Cứ Tuyên Nhơn nằm trên sông Vàm Cỏ Tây cách vùng Mỏ Vẹt không xa, nên đã là một cái gai trước mắt mà bọn VC bắt buộc phải nhổ đầu tiên trên bước tiến của chúng! Áp lực của Cộng Quân đè nặng trên căn cứ Tuyên Nhơn trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975 thật là nặng nề. Chúng tôi đã sửa chữa giang đĩnh bị hư hỏng trong tầm đạn đại pháo, và căn cứ nhận lãnh pháo kích hàng giờ của Cộng Sản. Chúng tôi đã giải quyết sửa chữa cho những gì có thể sửa chữa được cho những giang đĩnh của những giang đoàn tại chỗ. Không còn có thể làm được những gì hơn, toán yểm trợ kỹ thuật chúng tôi rời Mộc Hóa vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, tôi được đi phép sau những ngày công tác yểm trợ. Bạn Đinh Văn Chính chỉ vì đi phép sau tôi có ít tiếng đồng hồ thôi, nhưng đã không đi được vì không còn phương tiện. Xe của tôi chỉ vừa đi thoát qua khỏi Long An một hai tiếng đồng hồ là Quốc Lộ số 4 đã bị hai sư đoàn VC đóng chốt, và thế là gián đoạn lưu thông!
6. Nguyễn Văn Huấn:
Đơn vị đầu tiên tôi phục vụ là tuần duyên hạm Định Hải HQ-610 (PGM-69) dưới quyền hạm trưởng của HQ Đại úy Nguyễn Văn Hoà (K-12). Chúng tôi thích được hoạt động tại Vùng IV Duyên Hải, với hai mùa gió rõ rệt, hoặc chúng tôi trú bão tránh sóng tại Hàm Ninh hay bên Dương Động tùy theo mùa.
Tháng Hai năm 1972, tôi đã được thuyên chuyển về Giang Đoàn 61-Tuần Thám đóng tại Rạch Sỏi. Rạch Sỏi nằm trên sông Cái Lớn, và cách thị xã Rạch Gía khoảng 15 cây số về hướng Nam. Chúng tôi hoạt động, chung với các giang đoàn 71/72 Thủy Bộ.
7. Phạm Văn Độ:
Sau khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội về tôi đã làm đám cưới với người bạn gái vào tháng 10 năm 1970 trước khi tân đáo Hạm Đội, hoả vận hạm HQ-472. Chúng tôi quen nhau cũng đã lâu, và hai gia đình cùng tán thành mối tình của hai đứa. Thú thật là hồi đó tôi luôn luôn tâm niệm “đẹp giai không bằng lì đòn“ nên đã làm quen, và được nàng chiếu cố. Sự êm đềm và thành công của gia đình chúng tôi ở Việt Nam cũng như trên đất nước tạm dung này cũng là nhờ sự quán xuyến và chăm lo của bà xã của tôi một phần rất lớn. Người ta vẫn thường nói “sau lưng người đàn ông thành danh, luôn luôn có bóng dáng của một người đàn bà.” Và bà xã của tôi đã luôn luôn sát cánh bên tôi trong mọi trường hợp, những lúc lên voi cũng như xuống chó, và không một lời than van. Xin cám ơn em, người vợ yêu quý của tôi.
Sáng ra nụ cải bông vàng.
Nhớ em thay áo trên giường đầy hoa.
(Thơ Nguyên Sa)
Phục vụ trên hoả vận hạm thì rất nhàn và thường hay có tí bổng lộc, nhưng tôi chưa bao giờ lấy một đồng nào từ những món tiền thặng dư ấy! Đi chung tàu với tôi còn có các bạn Nguyễn Tấn Đực và Lê Quang Khánh. Mọi người, kể cả hạm trưởng, đã cho là tôi thích chống đối. Đúng! Tôi đã không ưa những sự vô lý, “lem nhem”, bất công, và tính tôi thì vẫn bướng bỉnh như thế.
Tháng 9 năm 1971 tôi bị đẩy đi đài kiểm báo ĐKB-102 (Sơn Trà), sau đó lại được thuyên chuyển qua ĐKB-104 (Đức Phổ, Quảng Ngãi) thuộc Vùng I Duyên Hải. Tháng 7 năm 1972 tôi được thuyên chuyển về giang đoàn 24 Xung Phong (Bình Dương) thuộc Vùng III Sông Ngòi cho đến ngày di tản. Tôi nắm chức Trưởng Khối Giang Đĩnh dưới quyền các chỉ huy trưởng như thiếu tá Trần Đức Cử (K.9), thiếu tá Nguyễn Công Hùng voi (K.12), và thiếu tá Tùng (K.13). Tôi không thích, làm việc trên văn phòng. Đi giang đĩnh, tuy có hiểm nguy nhưng thoải mái, vì tôi chia phiên cứ đi công tác một ngày thì nghỉ được ba ngày, ngoại trừ khi có những cuộc hành quân lớn. Chúng tôi hoạt động chung với các giang đoàn 52 Tuần Thám, và 30 Xung Phong trong cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 27. Vùng hoạt động của chúng tôi trên sông Sài Gòn, trong vùng chiến khu D của Việt Cộng với các mật khu Hố Bò, Bời Lời, nên cũng có lắm địa danh như đồi 24, đồi 52, hay “lữ quán đìu hiu” – nơi đóng quân của một đại đội Địa Phương Quân nằm trơ trọi bên sông. Những ngọn đồi 24 hay 52 là tên đặt cho những nơi đã thường bị phục kích, và đã từng có các sĩ quan của các giang đoàn 24 Xung Phong hay 52 Tuần Thám bỏ mạng. Ngoài nhiệm vụ tuần tiễu, hay tiếp tế cho những đơn vị Địa Phương Quân, chúng tôi còn thường hoạt động hành quân lục soát hay kích đêm chung với đại đội Trinh Sát của Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Cùng ở chung giang đoàn 24 Xung Phong với tôi có các bạn Phan Xuân Sơn, Nguyễn Văn Thắng, và Nguyễn Đăng Khúc.
8. Trần Duy Tín:
Đơn vị đầu tiên tôi phục vụ là Hạm Đội, dương vận hạm Thị Nại HQ-502 dưới quyền hạm trưởng Trịnh Tiến Hùng (thủ khoa K.8). Khoá 20 chỉ có tôi là người duy nhất đã phục vụ trên chiến hạm này vào lúc đó, và ngoài ra còn có các đàn anh Nguyễn Văn Toàn, Mai Ngọc Lư (K.19), và Nguyễn Mai (K18). Chúng tôi đi qua Cambodge tổng cộng chín lần để vận chuyển đồ tiếp liệu tiếp tế Nam Vang và Shianoukville – còn được gọi là Kampong Som. Vốn có “máu làm ăn” và con mắt nhìn thấy “cơ hội để hái ra tiền” nên tôi đã tổ chức ngay những chuyến mua hàng có giá từ Cambodge về Việt Nam cho cả tàu chung vốn, và các món như máy phát điện, xe gắn máy Honda ...
Trong một chuyến chở dân tị nạn “cáp duồn” về Việt Nam, tôi làm sĩ quan trưởng khẩu 40 ly kép mạn phải sân mũi. Chúng tôi bị VC phục kích ở chỗ gần NeakLuong. Tàu trúng đạn B-40, tôi lúng túng chẳng biết phải phản ứng ra làm sao! Nhìn vào bên bờ thấy rừng cây rậm rạp! May thay, thượng sĩ nhất trọng pháo Sự, đã quay mũi súng hướng vào những bụi rậm trên bờ và nả đạn liên tục, làm im tiếng súng của địch quân. Năm người dân bị chết và bị thương, sau đó đã được trực thăng di tản khi về gần tới biên giới Việt Nam.
Năm 1971, quan Tôn Thất Thái, tôi và một số bạn lo chạy đôn chạy đáo tổ chức Đại Hội “Trùng Dương Hội Ngộ Khoá 20 Sĩ Quan Hải Quân” lần đầu tiên – kỷ niệm một năm Ra Khơi của khoá 20 – tại Câu Lạc Bộ nỗi HQ, bến Bạch Đằng. Với “bàn đạp” của quan Tôn Thất Thái, tất cả các đơn vị nào có “quan” của Khoá 20 phục vụ, đều đã nhận được công điện “khẩn” từ văn phòng tham mưu trưởng Hải Quân là “dành mọi sự dễ dàng cho đương sự” được về họp Khoá tại Sài Gòn! Chưa có một khoá Hải Quân nào đã có được một buổi Đại Hội họp mặt lẫy lừng, và đông đủ đến như vậy.
Năm 1972, nắm trong tay giấy giới thiệu của hạm trưởng Trịnh Tiến Hùng, tôi được thuyên chuyển về Trung Tâm Hành Quân, Bộ Tư Lệnh HQ/Vùng I Duyên Hải, và làm việc chung với các bạn Nguyễn Đình Hoàng, và Tôn Long Thạnh.
Năm 1973, tôi được biệt phái làm sĩ quan liên lạc yểm trợ hải pháo cho Tiểu Khu Quảng Ngãi cùng với hai hạ sĩ quan và hai đoàn viên. Tôi có dịp “đi bay”, cùng với Tiểu khu trưởng/ kiêm Tỉnh trưởng Quảng Ngãi, là đại tá Lê Bá Khiêu thường xuyên. Tôi được tổng cộng 7 huy chương kể cả anh dũng bội tinh với ngôi sao đồng.
Đầu năm 1975, tôi về Sài Gòn tham dự khoá 2 tham mưu trung cấp và bị kẹt lại Sài Gòn.

Chương 7: 1975

Thế Chiến Quốc thế Xuân Thu,
Gặp thời thế thế thời thời phải thế.
(Ngô Thời Nhiệm)
1. Nguyễn Xuân Dục:
Đầu năm 1975, tôi đang thụ huấn khoá tham mưu trung cấp tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sài Gòn. Tình hình chiến sự sôi động và bi đát từng ngày và từng giờ! Vùng I bị bỏ rơi do di tản chiến thuật, và Vùng II bị sụp đổ cũng do di tản chiến thuật. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang di tản về căn cứ HQ Cát Lái, trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang và với một khóa sinh viên sĩ quan Hải Quân duy nhất còn lại là khóa 26 - Đệ Tam Dương Cưu - về tạm trú hạm HQ-9601 đậu tại cầu B, bến Bạch Đằng, trước cửa Bộ Tư Lệnh HQ. HQ Trung tá Hà Ngọc Lương đã cùng với gia đình tự sát tại thao diễn trường quân trường Hải Quân Nha Trang trong những giờ phút thành phố Nha Trang hấp hối . Ông đã từng là hiệu trưởng trường Sĩ Quan Hải Quân, cũng đồng thời là giáo sư môn lãnh đạo chỉ huy trong thời chúng ta còn là sinh viên sĩ quan tại Nha Trang.
Theo lệnh BTL/HQ các sĩ quan HQ đang tham dự khóa tham mưu trung cấp sẽ được đưa ra những nơi cần bổ sung sĩ quan để yểm trợ và ổn định những đơn vị từ miền Trung di tản về. Trong khóa tham mưu trung cấp này đa số sĩ quan là có cấp bậc trung úy, ngoại trừ niên trưởng Trọng (K-19), Triết và tôi (K-20) là mang cấp bậc đại úy. Ai sẽ người phải đi xa, ai sẽ được ở lại nơi gần Sài Gòn, và làm sao mà giải quyết chuyện này cho thoả đáng đây? Sau một cuộc rút thăm, hơn quá nửa khóa là phải đi ra Phú Quốc, số còn lại sẽ được phân phối đến những đơn vị di tản từ miền Trung về đang thiếu sĩ quan. Tôi làm trưởng toán năm người, được đưa qua điều hành tiểu đoàn Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Khóa 26. Những sĩ quan cơ hữu quân trường Nha Trang, chỉ còn lại đại uý CB Nguyễn Bốn, ông đã từng là sĩ quan ẩm thực trong thời chúng ta mới ra Nha Trang, và HQ chuẩn úy TP Nguyễn Văn Tâm, ông đã từng là thượng sĩ thường vụ tiểu đoàn SVSQ khi chúng ta còn trong quân trường. Ông rất đứng đắn, tư cách, và là một người chúng ta rất cảm mến bên cạnh một “bố” Hải thân tình. Sau khi bàn giao trách nhiệm cho chúng tôi, đại úy Bốn đi phép ra Vũng Tàu để tìm kiếm gia đình bị thất lạc trong lúc di tản. Tiểu đoàn SVSQ được chia ra làm hai phân đội để chia nhau ứng chiến tại hai nơi: Cầu G bên sở Hàng Hà, và trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Các sinh viên sĩ quan được phép chia nhau đi bờ, thăm gia đình hàng ngày. Cùng ứng chiến tại Thảo Cầm Viên có thêm một tiểu đoàn tân lập nhẩy dù, có thiếu tá Khoang (K22A-Võ Bị QG/VN) là tiểu đoàn phó, và đồng thời cũng là bạn học cũ với tôi thời còn là học sinh trung học. Chúng tôi bàn với nhau là nếu có chuyện gì xảy ra thì các SVSQ/HQ sẽ cùng chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ nhẩy dù, và sẽ nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy từng tiểu đội nhẩy dù. HQ Trung uý Nguyễn Thiện Luỹ được phân định chỉ huy phân đội Hải Quân ở Thảo Cầm Viên. Trung úy Luỹ và phân đội sinh viên sĩ quan HQ khóa 26 đã mất liên lạc truyền tin với phòng hành quân BTL/HQ/BKTĐ, và vẫn còn tại hàng ở Thảo Cầm Viên cho đến tận ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trung úy Lủy bị đi tù cải tạo của Cộng Sản mất bảy năm, và hiện đang định cư tại thành phố Fresno, California. Xin ngưỡng mộ sự hiên ngang, tinh thần trách nhiệm của trung uý Luỹ và các sinh viên sĩ quan Khóa 26, Đệ Tam Dương Cưu. Trong buổi họp khẩn tại BTL/HQ/BKTĐ vào ngày 26 tháng Tư năm 1975 dưới sự chủ toạ của HQ Đại tá Bùi Kim Nguyệt Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô Hải Quân, một chương trình di tản đã được phác họa là các đơn vị trực thuộc HQ/BKTĐ và tiểu đoàn SVSQ/HQ sẽ di tản về Long Xuyên nếu Cộng quân lấn chiếm Sài Gòn. Tôi đã yêu cầu BTL/HQ/ BKTĐ yểm trợ và trang bị vũ khí, đạn dược cho tiểu đoàn SVSQ/HQ, và xin được cho biết những đơn vị nào sẽ cần liên lạc để được yểm trợ nhu cầu và phương tiện. Điều yêu cầu này đã làm cho Đại tá Nguyệt và phòng 3/BTL/ HQ/BKTĐ rất bối rối và bực mình không ít! Yêu cầu của tôi được hứa là sẽ cho biết vào buổi họp ngày hôm sau, phần súng đạn sẽ do phòng Tư lo liệu. Vào buổi trưa cùng ngày một chiếc LST của Đại Hàn đã rời Tân Cảng và có chở theo một số rất đông những người dân sự, có lẽ là những nhân viên sở Mỹ và gia đình, họ đứng ngồi lố nhố đầy trên boong. Điều này đã làm cho sinh viên sĩ quan lo lắng, giao động, và bàn ra tán vào vì sợ sẽ bị bỏ rơi như khi còn ở Nha Trang! Tôi vội cho họp khẩn cấp riêng với các sinh viên sĩ quan, và khẳng định là không có chuyện đó đối với tôi, và trong cuộc họp này đã có người đề nghị là nếu có thể thì sẽ dùng M-72 để bắn chìm một chiếc tàu nào đó, để gây cản trở cho việc tháo chạy và mọi người cùng ở lại chiến đấu nếu có chuyện bị bỏ rơi. Có lẽ chuyện họp bàn này đã bị báo cáo lên ty an ninh, và kết quả là sau đó tôi đã nhận được bưu điệp phải bàn giao khẩn tiểu đoàn SVSQ/K26 lại cho một sĩ quan mới từ miền Trung về trong vòng 24 tiếng. Hồi 10 giờ 30 ngày 28 tháng tư năm 1975, tôi bàn giao trách nhiệm điều hành tiểu đoàn SVSQ/K26 cho một sĩ quan từ một đơn vị từ miền Trung về. Tôi có nhắc nhở vị này, các SVSQ khoá 26 đang mang lon alpha chuẩn uý, một cấp bậc sĩ quan và sẽ tốt nghiệp vào tháng 10 sắp tới, nên cần chia sẻ những tin tức cập nhật với họ, nhất là những tin tức về di tản... Nhưng sau đó ông lại nhận chỉ thị từ BTL/HQ/BKTĐ và tiếc thay đã điều động tiểu đoàn SVSQ/K26 ra ngoài sân vận động Hoa Lư, và điều này có lẽ đã khiến cho đa số các sinh viên sĩ quan khóa 26 đã bị kẹt lại khi các chiến hạm Việt Nam rời bến ra khơi. Trước khi trở về trình diện TTHL/HQ/Sài Gòn và không biết sẽ được biệt phái đi đâu , tôi bất ngờ gặp lại người bạn cùng khoá HC2 Nguyễn Văn Mười, và anh đã giới thiệu tôi với HQ Thiếu tá Nguyễn Đa Phúc đang cần thêm sĩ quan bổ sung. Tôi đã từng trình diện Thiếu tá Phúc một lần khi khóa 20 vừa mới ra trường từ Nha Trang về, khi ông từng là chỉ huy phó Liên Đoàn Người Nhái vào năm 1970. Ông rất mừng khi gặp lại tôi, và hỏi tôi là có muốn tình nguyện cùng ông tổ chức tiểu đoàn “án ngữ thủ đô” hay không? Tôi đồng ý liền, và bảo chờ bưu điệp để trình diện ông. Trong lúc chờ đợi, tôi phải trình diện Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sài Gòn. Bạn Đỗ Duy Vy đã hướng dẫn tôi lên trình diện HQ Thiếu tá Lê Công Mừng, và ông bảo tôi hãy trở về trình diện đơn vị cũ, Hải Quân Công Xưởng, trước khi được kêu đi học khoá trung cấp. Trở lại phòng nhân viên HQCX, tôi gặp lại các bạn cùng khóa Lưu Ngọc Quang, Nguyễn Duy Hòa, Nguyễn Văn Chừng, Võ Văn Vân, Võ An Dân, Phan Xuân Sơn, Nguyễn Tấn Đực…, và tôi phải chờ để được trình diện HQ Đại tá Nguyễn Văn Lịch, giám đốc Hải Quân Công Xưởng để được phân bổ nhiệm sở. Chờ hoài, chờ mãi đến chiều mà cũng không thấy phòng nhân viên nói năng gì cả! Hỏi thì chỉ được trả lời là đại tá đang bận, nên tôi đề nghị là hãy trả lại tờ bưu điệp để tôi làm giấy tờ đi đường và ngày mai, 29 tháng 4, sẽ trở lại trình diện tiếp.
Thay bộ đồ dân sự, tôi lấy xe chạy về nhà; trên đường về nhà tôi gặp lại bạn HC2 Phan Xuân Sơn; thế là hai đứa kéo nhau vào một cái quán ven đường, làm một chai bia con cọp và nói chuyện “cà kê dê ngỗng” cho lòng bớt “đánh lô tô” trong lúc Sài Gòn hốt hoảng, Sài Gòn chạy lên Tân Sơn Nhất, Sài Gòn chạy xuống Tân Cảng, và Sài Gòn chạy lòng vòng để tìm đường thoát ra ngoài! Sài Gòn ban đêm giới nghiêm với tiếng súng ì ầm từ xa vọng về, và tôi ngủ lại nhà qua đêm. Sáng sớm ngày hôm sau, 29 tháng Tư, lệnh giới nghiêm 24/24 được ban hành; Ba mẹ tôi lo lắng, hối thúc tôi trở vào trại. Tôi đang chần chờ vì tất cả quân phục tôi đều để trong HQCX, tình cờ thấy bạn HC2 Phạm Công Hoàng chạy xe Honda phóng vội vã qua ngang nhà, tôi vội gọi với theo, nhưng bạn Hoàng vẫn phóng chạy thẳng! Điều này làm cho tôi càng thêm lo lắng, bồn chồn, và không biết là chuyện gì đã xảy ra trong đêm ở BTL/HQ? Tôi bảo nhà tôi là ráng tìm xem trong các tủ quần áo coi có thấy được bộ quân phục nào hay không? Sau cùng thì nhà tôi cũng lôi ra được cái nón đi biển, và một bộ quân phục với cặp lon trung úy cũ. Bộ đồ này có từ hồi tôi còn phục vụ trên chiến hạm, và mặc tuy hơi chật một tý nhưng có vẫn còn hơn không. Trước khi từ giã gia đình, bà xã nhét vội vào túi tôi bốn tờ giấy Trần Hưng Đạo để dằn túi. Khi vào đến HQCX, tôi thay quân phục chỉnh tề và rủ bạn HC2 Võ Văn Tâm đang tạm trú qua câu lạc bộ ăn sáng. Bạn Tâm quê ở Mỹ Tho, mới được thuyên chuyển về để thay thế HC2 Nguyễn Văn Xê trên phòng nhân viên, nên tạm trú tại phòng của tôi. Tâm cạn tiền túi nên làm “chú tiểu giữ chùa,” không về Mỹ Tho. Tôi giúi cho Tâm một tờ Trần Hưng Đạo để dằn túi. Sang đến bên CLB/HQCX, chúng tôi được biết đại tá giám đốc HQCX đã cho mở kho quân tiếp vụ để bán cho nhân viên, tôi mua một thùng mì gói và nói với Tâm mang về để trong phòng mà có cái ăn. Tâm rủ tôi qua bên BTL/HQ để chơi domino giết thì giờ; tôi từ chối vì phải qua phòng nhân viên để làm thủ tục trình diện nhận nhiệm sở.
Tại phòng nhân viên HQCX, tôi lại phải ngồi chờ nên mò sang văn phòng HC2 Lưu Ngọc Quang để tán dóc. Ngoài Quang ra, tại đây còn có các cô Mỹ - phu nhân bạn Võ Văn Vân, và cô Hoa – phu nhân bạn Lê Công Khai. Vẫn chưa được qua thủ tục trình diện, tôi lại thả bộ qua CLB/HQCX ngồi chầu rìa các bạn Nguyễn Duy Hoà và Nguyễn Văn Chừng đang đánh Bi-da lỗ.Chợt đài phát thanh Sài Gòn phát ra lời nói của thủ tướng chính phủ đương thời, ông Vũ Văn Mẫu, kêu gọi Hoa Kỳ phải rút lui khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Tôi chợt nhớ lại lời của ông anh rể của bà xã tôi nói mấy ngày trước:”Một khi họ đuổi Mỹ rồi thì các chú phải tìm cách đi ngay, không chần chờ, vợ con tính sau…” Tôi bỏ ra trước cửa CLB, nhìn lên trời thấy từng đoàn, từng đoàn trực thăng loại lớn bay từ hướng biển vào. Trở vào trong tôi kêu mọi người ra xem, và đề nghị mọi người hãy về nhà và mang gia đình vào bến tàu.
Tôi rủ Phan Xuân Sơn ra về, nhưng ngoài cổng Bạch Đằng trước cửa BTL/HQ, quân cảnh HQ không cho ai rời trại theo lệnh cắm trại 100%. Đang loay hoay, thì thấy Phạm Công Hoàng, Tôi hỏi sáng nay chạy đi đâu mà vội vã thế? Hoàng cười và trả lời là chạy về thăm sấp nhỏ; Tôi và Sơn vội ngỏ ý muốn ra ngoài, nhưng Hoàng trả lời là không có nhiệm vụ ngoài cổng! Nhân lúc hai quân cảnh mới ra thay gác, tôi và Sơn vội phóng lẹ ra ngoài.Thả Phan Xuân Sơn xuống và hẹn sẽ gặp lại, nhưng Sơn cười nói còn cây colt để tự vệ, và cho biết sẽ không đi. Tôi chạy vội về nhà, bà xã tôi đã về thăm mẹ, mẹ tôi thì đang đi gửi thằng em đang học khóa 10 SVSQ/CSQG vì hy vọng sẽ đi được theo đường dây của phái đoàn CIA. Tôi vội bảo mọi người trong nhà phải chuẩn bị để đi di tản ngay rồi vội chạy nhanh qua bên ngoại đón bà xã về, không kịp trả lời những câu hỏi về sự ra đi khẩn cấp này của ông chú mới triệt thoái từ Long Khánh về. Tới nhà cụ thân sinh ra nhà tôi thì được biết là các ông anh vợ đã vào Tân Sơn Nhất, ông anh rể cũng vừa rời khỏi để về nhà! Tôi thu xếp mọi người còn lại lên ba chiếc xe gắn máy để chạy qua nhà tôi rồi cùng đi. Qua nhà thương Từ Dũ, bắt gặp Trần Đức Hợp, Trần Phước Vạn và một số người nữa thuộc K.19 đang đứng nói chuyện. Trần Đức Hợp trách móc: “Cả tháng nay sao không thấy mặt ông?” Trần Đức Hợp và tôi đã có mưu toan lấy một cái phà nằm trước nhà thương Chợ Quán để thoát ra biển một khi có biến; Chúng tôi đã tích trữ lương thực, súng đạn, và cả máy truyền tin nữa. Tôi vội cho biết là bận coi khóa 26 nên không gặp, và cho biết hãy về đưa gia đình ra bến tàu vì hạm đội sẽ tháo dây ra khơi khoảng bảy giờ tối.
Rời các bạn khóa 19, tôi chạy về khi qua cửa trường dạy lái xe của Liên, bà xã HC2 Phan Ngọc Long, bà cụ mẹ của Liên tóm lấy tôi hỏi thăm tin tức. Tôi cho biết là Long vẫn còn bị kẹt lại trong trại, không ra được vì lệnh cấm trại 100%, và cho biết là tôi sẽ đưa gia đình tôi vào bến tàu Hải Quân. Thế là bà cụ mẹ của Liên nắm chặt lấy bà cụ mẹ của bà xã tôi và hai đứa cháu con của bà chị vợ, và bảo ở lại đó chờ tôi quay lại để đi cùng vì trong nhà có nhiều phương tiện chuyên chở như xe hơi (để dạy lái xe); Tôi đồng ý và về đón thêm những người còn lại. Tôi dồn bà chị, ba cháu nhỏ, và em gái tôi bồng con gái tôi lên chiếc xe hơi của gia đình chạy qua nhà mẹ vợ bạn Phan Ngọc Long để cùng đi như đã hứa. Ra đến bến tàu, một cảnh tượng tôi chưa hề thấy lúc ban trưa khi tôi và bạn Sơn ra về, một rừng người đang bu quanh trước hàng rào vào BTL/HQ. Toán quân cảnh của trung úy Bích đang rút lui dần về tượng Trần Hưng Đạo. Tôi đổ toán một và gia đình bạn Phan Ngọc Long xuống, và vội gửi Trung úy Bích cho họ theo vào. Tôi dặn mọi người là ráng leo lên chiếc HQ-2, và tìm gặp Trung úy Nguyễn Văn Tề, K-19. Tôi thật sự hoảng sợ khi thấy người ta đang ùn ùn, chen chúc cố gắng chui vào trong bến tàu. Tôi quay xe về để đón toán thứ hai trong gia đình, và tôi mất bình tĩnh và không còn nhởn nhơ như hồi trưa nay nữa! Khi toán cuối cùng của gia đình tôi ra đến bến tàu thì thật là chật vật, người như nêm cối trước nút chặn tại cổng gác trước cửa BTL/HQ. Vì con gái tôi còn nhỏ, nên hai vợ chồng tôi và năm đứa em đã cố đem theo hai thùng sữa bột Etma và tay xách nách mang những vali quần áo. Không thể nào chen lọt vào được cả đoàn với đồ đạc lỉnh kỉnh như thế này, nên tôi đã cố đẩy nhà tôi và chú em thứ năm chen vào trước, và dặn là cố leo lên chiếc HQ-2 tìm con. Tôi và những đứa em còn lại leo lên chiếc xe gíp (jeep) của CHT/Tạm trú hạm HQ 9601 chờ chạy vào sau vậy. Tôi gặp bạn HC2 Đào Cơ Chí đang đứng lớ ngớ phía ngoài, hỏi: sao bạn không vào đi? Chí trả lời là còn chờ đón ông cụ thân sinh nãy giờ mà sao vẫn chưa thấy tới! Đoàn tàu bắt đầu cho tháo dây, và lần lượt từ từ rời bến làm cho tôi càng thêm nóng lòng! Tôi hối anh tài lái xe tiến tới, nhưng trưởng toán nút chặn không cho mở cổng. Chợt thấy HQ Trung tá Nguyễn Văn Tòng, Tư Lệnh Phó Biệt Khu Thủ Đô Hải Quân đang đứng gần đấy, tôi vội lại chào ông vì có quen biết trong lúc chiến hạm tôi phục vụ hành quân bên NeakLuong. Ông hỏi tôi: sao chưa đi? Tôi trình bày lý do và xin ông cho lệnh mở cổng cho chúng tôi. Ông đã im lặng không nói, và quay lưng đi vào; Tôi nhanh tay kéo hàng rào kẽm gai và ra hiệu cho tài xế xe jeep chạy vào. Trung sĩ Mao, trưởng toán nút chặn giận dữ bắn một tràng M16 chỉ thiên và lớn tiếng:”Đại úy làm như vậy làm sao tôi làm việc được!” Tôi quay lại nói đại là đã xin phép trung tá Tòng rồi, và nhẩy lên xe hối anh tài lái xe trực chỉ cầu B. Xin có lời tạ lỗi với Trung Sĩ HQ Mao và các anh em HQ canh gác tại nút chặn; tôi đã nói dối với anh, và đã gây trở ngại cho anh chút đỉnh. Xin nhận nơi đây lời tạ lỗi này, và lòng biết ơn sâu xa của chúng tôi đến tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh của các anh.
Người ta đứng lố nhố đầy trên cầu tàu, và may mắn cho chúng tôi làm sao khi chỉ còn một hạm kiều phía trước mũi của chiếc HQ-1 là chưa hạ xuống vì hạm trưởng – HQ Trung tá Nguyễn Địch Hùng – chưa lên tàu. Tôi dẫn mấy đứa em leo vội lên tàu. Vừa bước lên boong thì thấy HQ-2 vừa hoàn tất việc tháo dây, và đang từ từ tách ra rời khỏi chiếc HQ-3 nằm kế bên chiếc HQ-1. Tôi thấy nhà tôi và chú em thứ năm đang giơ tay làm hiệu. Tôi rất mừng tưởng là mọi chuyện êm xuôi, nhưng không ngờ đó lại là dấu hiệu cho biết là đã không tìm gặp được mẹ, chị, em, các cháu, và con gái đầu lòng yêu quý của chúng tôi! Họ bị bỏ rơi khi đi cùng với toán đầu tiên vào, và chỉ còn biết đứng chờ tôi trên cầu B! Mãi đến mười lăm năm sau tôi mới đón được mọi người qua đoàn tụ, ngoại trừ bà chị xấu số đã bị mất đi vào năm 1978.
Hạm đội Việt Nam Cộng Hòa được tụ tập tại vị trí điểm hẹn Côn Sơn ngày 30 tháng 4 năm 1975; Sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh yêu cầu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, thì ai muốn quay về thì theo một hai chiếc chiến hạm quay trở lại bờ biển Việt Nam; còn ai không muốn trở về thì theo đoàn chiến hạm còn lại để ra khơi tìm con đường sống. Đoàn chiến hạm rời Côn Sơn có khoảng 32 (?) chiếc mang theo khoảng hơn hai chục ngàn người (20,000) kể cả hai chiếc ghe sơn màu vàng của những người Hoa Chợ Lớn, được chia ra làm hai toán hay hai phân đoàn tả, hữu chạy song song và nối đuôi nhau, và chiếc PCF của bạn HC2 Nguyễn Văn Nhất Lãng làm chiếc taxi đưa tay công điện, mật lệnh, hay tiếp tế giữa các chiến hạm. Dẫn đầu hai phân đoàn là hai chiếc Hộ Tống Hạm HQ- 11 và HQ-12; Chiếc HQ-11 phun khói đen mù mịt, theo sau là chiếc Trợ Chiến Hạm HQ-228 có hạm phó là bạn HC2 Nguyễn Ngọc Châu phít (xin quan Châu phít đính chính nếu có gì không đúng.)
Đoàn tàu chạy không có phương hướng trong mấy ngày đầu vì chưa biết sẽ đi đâu, mặc dù trên soái hạm (?) vẫn còn có sự hiện diện của viên cựu cố vấn Mỹ HQ thiếu tá Richard Armitage. Ông Armitage đã từng làm cố vấn cho HQ Việt Nam, tính tình rất xuề xòa bình dân, còn có tên Việt Nam là Trần Văn Phú, và nghe đâu ông ta còn là một nhân vật “cớm chìm” của cơ quan CIA. Từ trước năm 1975, ông ta là tùy viên quân sự tòa đại sứ Mỹ. Chính ông đã là những móc nối, động lực cho HQVN để tổ chức, và bảo đảm cho các chiến hạm Việt Nam ra khơi rời Việt Nam trong giờ thứ 25 của cuộc chiến. Mặc dù chính phủ Phi Luật Tân phản đối và không chấp nhận hạm đội Việt Nam, nhưng qua một cuộc “đạo diễn” của ông Artmitage này với hai chính phủ Hoa Kỳ và Phi Luật Tân, hạm đội Việt Nam cũng đã được phép vào Subic Bay chỉ sau khi đã đồng ý “hoàn trả lại” cho Hoa Kỳ.
Một buổi lễ hạ kỳ cùng giờ vào sáng ngày 7 tháng 5 năm 1975 trên tất cả các chiến hạm của hạm đội HQVN. Mọi người vừa hát quốc ca vừa khóc khi lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam được từ từ kéo xuống, rồi được thay thế bởi một lá cờ Hoa kỳ. Chúng tôi bàn giao quyền chỉ huy chiến hạm lại cho một vị sĩ quan Hoa Kỳ, tuy nhiên đây chỉ là tượng trưng vì điều hành con tàu vẫn do sĩ quan và thủy thủ đoàn Việt Nam. Chúng tôi lẳng lặng tháo lon, một số người vất xuống biển, còn một số người cất vào túi. Mọi số tàu, tên chiến hạm được sơn lấp mất dấu trước khi chiến hạm tiến vào hải phận Phi Luật Tân, và Subic Bay. Chúng tôi được chuyển qua tàu chở hàng, để được đưa qua trại tỵ nạn bên đảo Guam, hay bên đảo Wake.
2. Huỳnh Hữu Lành:
Trong lúc HQ 605 đang hoạt động vùng Phú Quốc, khi Phước Long thất thủ, rồi đến Ban Mê Thuột thì chiến hạm được lệnh đến Vùng II tăng cường. Đêm về tàu được chỉ thị rót hải pháo vào cửa khẩu Sa Huỳnh. Ngày Huế rút quân, tuớng Ngô Quang Trưởng xuống tàu hải quân với phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, tư lệnh hành quân, chờ lệnh Tổng Thống để tái chiếm. Chiến hạm được chỉ thị vào Qui Nhơn chở gia đình hải quân về Cam Ranh. nhưng sau đó lại được lệnh rời bỏ Cam Ranh để về tuần tiễu vùng biển Nha Trang. Sáng ngày hôm sau Nha Trang đã bỏ ngõ, chiến hạm vào Hòn Tre để quan sát. Khi tàu qua mũi Cầu Đá ngang dinh Bảo Đại thì quân địch đã dùng trọng pháo để bắn chiến hạm. Những tiếng nổ vang dội quanh tàu, những cột nuớc dựng thẳng khi quả đạn chạm nổ. Lúc nầy tôi đang đi ca (quart) trên đài chỉ huy với thiếu uý Khải, Hạm Trưởng và trung uý Năm trong phòng truyền tin liên lạc. Có lẽ nhờ từng trải qua nhiều lần lâm trận nên tôi rất bình tĩnh, ra lệnh cho vận chuyển lái theo đường ngoằn ngoèo, hình chữ chi (zigzag) để tránh đạn pháo của địch, nhưng tàu vẫn còn nằm trong tầm đạn pháo của đich quân. Tôi chợt thấy dãy đảo nhỏ truớc mắt, một ý nghĩ vụt đến với tôi rất nhanh, và tôi cho quyết định lái tàu quay ngang hướng vào cận đảo để khuất tầm nhìn của địch; khi tàu mất dấu, đạn pháo ngưng ngay. Tuy chiến hạm không bị trúng phải đạn pháo, nhưng vì những quả đạn nổ quá gần tàu nên có một số mảnh đạn đã trúng vào dây cáp và mái che phía sau tàu làm đứt và sập một bên mái. Khi trận chiến phải rút về phòng tuyến Phan Rang, chiến hạm được lệnh nả hải pháo vào bờ hằng đêm để yểm trợ tinh thần cho đơn vị bạn đang tử thủ.
Vào khoảng tuần lễ cuối cùng cuả tháng Tư năm 1975, vì tàu chúng tôi đi công tác đã quá lâu nên được triệu hồi về Hải Quân Công Xưởng để sửa chữa. Ngày 29-4-1975, khi đồng bào đang ùn ùn kéo vào các chiến hạm với hy vọng rằng tàu Hải Quân, sẽ đưa họ đi lánh nạn vì Long Khánh đã thất thủ và Sài Gòn đang bị đe dọa. Tôi “dù” về nhà để thu xếp cho gia đình cùng xuống tàu; lúc nầy thằng con trai đầu lòng của chúng tôi mới được 4 tuổi, lại thêm cha mẹ già giằng co trong chuyện đi hay ở, khó đi được nên đến giờ giới nghiêm đành phải ở lại nhà.
Đợi sáng ngày 30 vào BTL/HQ, nhưng khi đến nơi thì quang cảnh đã vắng vẻ thưa thớt, Quân Cảnh 201 Hải Quân vẫn còn giữ cổng, nhưng đoàn tàu đã rời bến đêm qua. Tôi vào BTL, lên lầu hai, chỉ còn rất ít quân nhân ở lại; tôi nắm giữ khẩu súng M16 hướng về phiá Thủ Thiêm; bầu không khí lúc đó rất căng thẳng, tôi chợt nghĩ nếu đoàn chiến xa T54 đến Thủ Thiêm bên kia sông, nả súng vào BTL thì thật bi đát. Giờ nầy ngoài cổng, HQ Trung tá Phan Ngọc Xuân cựu CHT GD22XP nay là CHT biệt khu Thủ Đô đang lái xe gíp tuần tra. Khi nghe đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng vô điều kiện, tôi chợt thấy lạnh nguời, chết lặng – có lẽ lúc đó tôi đã nghĩ đến số phận của mình, nhưng không dám nghĩ xa hơn!
3. Nguyễn Hữu Bích:
Tháng Ba năm 1975, đơn vị cuối cùng của tôi là VP/Tổng Thanh Tra/BTL/HQ dưới quyền HQ Đại tá Nguyễn Viết Tân. CHP/VP/ TTT là Trung tá Võ Sum, và trưởng phòng Thanh tra là HQ Trung tá Hồ Duy Duyên. Tôi nắm chức trưởng ban Văn Thư, Nội Vụ cho đến ngày chót của tháng 4 năm 1975.
Ngày 29 tháng Tư năm 1975, khi các con tàu HQVN rời bến ra khơi thì tôi đã không đi. Bố tôi giùng giằng, không dứt khoát ra đi vì cố chờ ông anh Cả thuộc Liên đoàn 40 Công Binh Chiến Đấu đóng dưới Cần Thơ, và thằng em kế thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh đóng tại Lai Khê chưa về. Kết quả là cả bốn bố con tôi đều phải đi tù cải tạo của Cộng Sản!
4. Nguyễn Hữu Hải:
Ngày 28 tháng Tư năm 1975, phi đạo TSN bị pháo kích và máy bay Mỹ không đáp xuống được nữa! Sáng ngày 29, cuộc di tản kiều dân và những người liên hệ của Mỹ được tiếp tục bằng trực thăng. Tôi không thể nào chen chân cho lọt được vào Tòa Đại Sứ Mỹ dù rằng tôi vẩn còn giữ giấy tờ làm việc cho Mỹ cũ. Người ta bu đông như kiến trước cổng toà đại sứ, tôi không còn mặt mũi nào để mà chen vào, lúc đó tôi không chắc là có thể chen vào được tới nơi! Trước đó mấy ngày, tôi ra vào cổng Phi Long của phi trường Tân Sơn Nhất như đi chợ, và tôi cũng đã đưa được nhiều người bạn vào để được đi di tản, nhưng hôm nay thì không thể nào mà tôi có thể chen chân vào được qua cổng Phi Long nữa! Những anh quân cảnh quen mặt đã được chuyển đi nơi khác, thế là không còn cách nào để tôi chui lọt vào được.
Mãi đến quá trưa ngày 29 tháng Tư, thì tôi đã hết sức hoang mang và quá mệt mỏi, nên về lại nhà ở đường Trương Minh Giảng, tắm rửa và ngủ vùi cho đến đêm. Đêm đến tôi trằn trọc không ngủ được, đâu đó những tiếng súng đì đẹt nổ, tiếng đại bác vẫn nghe thấy từ xa vọng về, và tiếng máy bay trực thăng vẫn tiếp tục bay trên bầu trời.
Sáng sớm ngày 30 tháng 4, tôi lấy xe Honda chạy đảo qua Sài Gòn một vòng: Sài Gòn hốt hoảng, Sài Gòn kinh sợ, Sài Gòn như một con chim bị sập bẫy! Nguời ta hoảng sợ bồng bế nhau chạy lên phi trường hay chạy ra bến tàu, nguời ta hôi của từ những căn nhà Mỹ mướn bỏ hoang. Lác đác trên đường phố, một số lính Dù hay biệt kích vẫn ghìm súng sau những gốc cây, ụ cát ......
Đến gần trưa thì được nghe lời kêu gọi của Tổng Thống Dương Văn Minh, yêu cầu quân cán chính VNCH hãy bỏ súng đầu hàng!
Tối đến tôi lại mò về nhà trên đường Trương Minh Giảng vì hoang mang đến tột cùng; lúc bấy giờ tôi không biết là mình phải làm cái gì nữa!
5. Nguyễn Đình Hoàng:
Từ lũ bất lương đến các quan lớn trong triều
Cùng một duộc
Lẫn vào nhau
Lương tâm tiêu điều u ám
Đen trắng thay hình đổi dạng
Ác nhân chạm áo đầy đường.
(Phong Vận Kỳ Oan - Nguyễn ĐìnhHoàng)
Và sau đó thì:
Đêm và ngày,
Đen và trắng.
Tưởng chẳng bao giờ có thể lẫn vào nhau.
Nếu cuộc sống rạch ròi như thế, thì đời đâu còn nỗi đau.
(Phong Vận Kỳ Oan - Nguyễn Đình Hoàng)

6. Phạm Văn Độ:
Tôi đang nằm dưỡng thương ở Sài Gòn thì tháng Tư đen đổ xuống. Tôi và gia đình di tản vào đêm 29 tháng Tư năm 1975 theo hạm đội của Hải Quân Việt Nam.
7. Trần Duy Tín:
Năm 1975, ở ngay tại Sài Gòn nhưng tôi đã không di tản vì không biết là mình sẽ đi đâu (?), và tưởng rằng xong chiến tranh rồi thì tôi sẽ được trở về với nếp sống dân sự, và lo làm ăn. Nhưng có ngờ đâu, chuyện không phải như thế!

Chương 8: Tù Cải Tạo

Một chiếc cùm lim, chân có đế,
Ba vòng xích sắt, bước thì vương.
(Cao Bá Quát)
1. Huỳnh Hữu Lành:
Miền Nam Việt Nam và Sài Gòn đã thất thủ về tay Cộng Sản, tất cả các quân cán chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà là những người tù không bản án của Cộng Sản.
Thời gian ở tù Cộng Sản với đói khát, tật bệnh, lao động quá sức. Có những nguời tù vuợt trại bi bắn chết tại hàng rào kẽm gai, hoặc quá tuyệt vọng đã tự tìm đến cái chết.
Thời gian cứ trôi qua, hết 10 ngày, rồi nhiều tháng, một năm, hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm… Trải qua những trại tù như Thành Ông Năm, Kà Tum, Long Giao, và sau cùng được giao cho công an trại Gia Trung, Pleiku gần biên giới Lào. Trông ngóng ngày trở về thật vô vọng, sáng ngày đi cuốc đất phá rừng, khi đào kinh thuỷ lợi, ngày khác đốn cây, cưa xẻ, khiêng, cất xây nhà. Lên trại Gia Trung. Tôi không may lại thuộc đội có người cướp súng vuợt trại; hai nguời bị bắn chết, và một chạy thoát nhưng rồi cũng bị công an biên phòng bắt về đánh đập, nhốt hầm đá, sau chỉ còn da bọc xương. Những nguời còn lại trong đội lại càng bị chiếu cố một cách hà khắc hơn, gắt gao đến nghẹt thở.
2. Nguyễn Hữu Bích: Sau hơn ba năm trong lao tù của Cộng Sản, bố tôi đã vĩnh viễn nằm xuống trong trại tù Vĩnh Phú. Sau sáu năm lao tù cải tạo, tôi đã được Việt Cộng thả ra năm 1981.
3. Nguyễn Đình Hoàng:
Vết đau dơ,
Thành vết chém ngang người,
Chân bước hụt mất rồi,
Thăm thẳm cuộc đời rơi,
(Phong Vận Kỳ Oan – Nguyễn Đình Hoàng)

4. Trần Duy Tín:
Tôi trình diện đi tù học tập cải tạo tại trường Pétrus Ký, bị nhốt tại các trại tù Tây Ninh, Long Khánh, và sau cùng ở trại Bùi Gia Mập – thuộc tỉnh Bình Dương. Tôi đã được thả ra vào dịp Tết năm 1978, và tính chuyện vượt biên ngay.....

Chương 9: Chuyện Vượt Biên

Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu. đa số không biết gì về đại dương, cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành, cũng như không biết gì về những khó khăn khác đang chờ đợi họ. Ðó là lý do mà có lúc người ta đã nói “nếu có ba người vượt biên thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bão tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù”.
The State of the World’s Refugees 2000: 50 Years of Humanitarian Action
1. Huỳnh Hữu Lành:
Vào tháng 5 năm 1980 tôi được thả ra; về nhà được ba tháng thì phải xuống trình diện công an phuờng, kiểm thảo vì không được ở thành phố. Nhưng ánh sáng tự do đã tiềm ẩn trong tôi bỗng trồi dậy mạnh mẽ – vượt biển tìm Tự Do. Nguời lính hải quân là ân nhân của những chuyến tàu vuợt biển, được lòng tin tưởng của những nguời tổ chức vượt biển, tôi được tìm đến để lèo lái những chuyến vượt biển. Chuyến đầu tiên định khởi hành tại chợ Vĩnh Long nhưng bị bại lộ phải bỏ chạy; đêm hôm đó tôi thật lo lắng cho vợ và con vì không biết có thoát không? Đến lần thứ hai ra xa cảng Phú Lâm chờ hoài tại điểm hẹn mà không thấy bóng nguời liên lạc, tôi vội lên Honda ôm chạy về nhà chủ. Khi vào đến cửa mọi nguời xung quanh đồng hô to bên tai: “chạy đi, chạy đi…” Thế là tôi vội vàng co giò chạy thục mạng. Về sau mới biết là chủ nhà vừa mới bị công an ập vào bắt đi trước đó mấy phút. Lại tiếp chuyến vượt biển, lần nầy tôi chở vợ con ra Bà Rịa Vũng Tàu, và được đưa vào ẩn núp trong xóm chài; sau đó phân tán từng người một xuống ghe nhỏ ra điểm hẹn.
Vào lúc nửa đêm tôi ra đến ghe lớn, khi vào cặp sát ghe lớn, nhìn kỹ lại và chỉ thấy đây là một ghe chở củi có chiều dài khoảng 11 mét, không mui. Không suy nghĩ lâu, một thoáng nhìn với kinh nghiệm từ giang đoàn đến chiến hạm cũng đủ cho tôi làm con tính với phân số 50 trên 50. Thế là OK!! Cả đoàn 48 nguời gồm từ bé nhỏ cho đến cụ già, trai gái ập lên. Thế là ghe vuợt biển khởi hành, 6 giờ sáng đã vuợt ngang cửa biển Vũng Tàu khi đèn hải đăng vẫn chiếu những vệt sáng trên đầu. Tàu cứ nhắm huớng ra khơi nhưng đến khoảng 5 giờ chiều tàu chết máy không chạy. Đêm hôm đó biển hơi động, trời lại mưa; vừa tát nuớc vừa tính chuyện sáng ngày mai tôi sẽ cho tàu tấp vào Gò Công hay lại chạy nữa. Nhưng thật may sáng đến, sau khi thông bét dầu vì bị lộn nuớc, tàu lại khởi động được rồi chạy tiếp. Số luợng dầu không thiếu nhưng nước ngọt thì không đủ uống, nên tôi ra kế hoạch: mỗi người hai nắp vỏ thùng nước trong một ngày để có thể cầm cự được trong 5 ngày. Tôi uớc tính với vận tốc nếu đúng, thì sau bốn ngày sẽ vượt ngang mũi Cà Mau vào Vịnh Thái Lan.
Đúng như dự tính, sáng sớm ngày thứ năm 28-4-1981, trong suốt bốn ngày đêm cầm tay lái không ngủ, cơn buồn ngủ không thể tưởng; bà xã ngồi kế bên đã dùng khăn nhúng nuớc nguội máy để lau mặt cho tôi liên tục vì sợ tôi ngủ gục, tàu sẽ bị lật chìm. Sáng bình minh tuy đôi mắt muốn sụp xuống nhưng nhìn ngang lằn chân trời phía sau lưng có một dẫy đen sáng hiện nổi bật trên bầu trời; ánh sáng nhỏ rồi lớn dần, một chiếc tàu nằm ở hướng 6 giờ. Tôi vẫn tiếp tục chạy băng ngang vào đất Thái Lan vì sợ tàu Liên Xô vào hải cảng Miên gần Hà Tiên sẽ bị bắt lại. Trên ghe tôi vẫn có một ống dòm vì tôi đã yêu cầu chủ ghe cung cấp; khi đặt nó lên điều chỉnh thật rõ; nhìn lên tôi thấy cột cờ chiếc lá quốc kỳ sọc đỏ của Hoa Kỳ đã hiện rõ. Tôi vội hô to: “tàu Mỹ, tàu Mỹ!…” nhiều lần cho mọi người dưới ghe nghe để mừng vì mình đã gặp vị cứu tinh cứu mạng. Tôi cũng phát hiện ra có thêm hai chiếc ghe hướng 2 giờ từ phía đất liền đang huớng mũi chạy về phía chiếc ghe của chúng tôi. Tôi quyết định quay tàu vòng lại đâm thẳng vào hướng chiếc chiến hạm Mỹ; khi đến gần các thuỷ thủ trên tàu đưa tay ra dấu cho ghe ngừng không được tới gần nữa. Tôi nói với mọi người già và em bé nhỏ nên trồi mình lên cao cho trên tàu họ nhìn thấy để kêu gọi lòng nhân đạo.
Một khoảng thời gian thật ngắn – có lẽ hạm trưởng đã chấp thuận cứu vớt chúng tôi, hai chiếc tàu nhỏ đã được hạ xuống cùng với thuỷ thủ chạy lại gần ghe như để kiểm soát, và chiếc lưới đã được bỏ xuống ngang hông tàu. Tất cả mọi người thật mừng rỡ vì đã hiểu rằng chiếc tàu ân nhân đã quyết định cứu chúng tôi – Nữ Thần Tự Do đã đang dang rộng vòng tay tiếp nhận những con người đã vượt cửa tử thần tìm về đất Tự Do. Ngày 28-4-1981 chiến hạm USS Bainbridge DLG(N)-25 vừa rời Bangkok để về Subic Bay. Thủy thủ Mỹ trên chiến hạm cho biết, khi họ thấy một chiếc ghe khả nghi từ phía Việt Nam chạy vào Thái Lan nên theo dõi, rồi họ đã trở thành những vị ân nhân không bao giờ phai mờ trong ký ức chúng tôi. Bốn mươi tám người vượt biển may mắn tìm đến bến bờ tự do. Ngày đó, những dòng nước mắt hạnh phúc, và vui mừng đã lăn dài trên gương mặt hao gầy của người vợ hiền – Người vợ đã nhiều năm tháng lo lắng tảo tần nuôi dưỡng cha mẹ già, con thơ, và luôn cả nguời chồng đói khổ trong ngục tù của Cộng Sản.
Hôm nay niềm ao uớc tự do, và những hy vọng tươi sáng đã trở thành hiện thực, xin nguyện cầu cho mỗi người dân Việt cũng đạt được ước vọng tự do của mình và được ấm no hạnh phúc.
2. Nguyễn Hữu Hải:
Những người bạn Hoa kiều móc nối cho tôi, tổ chức một cuộc vượt biển bán chính thức từ vùng Rạch Giá. Ghe của bọn công an Việt Cộng đã hộ tống ghe của chúng tôi ra đến tận ngoài khơi, và chỉ hướng Thái Lan (?) cho chúng tôi đi. Chúng cũng không quên đổ thêm người của riêng chúng lên ghe của chúng tôi, và “xin” đồng bào tặng lại những tiền Việt Nam vì không còn đất để dùng nữa trước khi từ giã chúng tôi để quay trở lại.
Ghe chúng tôi tiếp tục nhắm hướng Thái Lan đi thêm chừng hơn nửa ngày nữa thì chúng tôi bị hai chiếc ghe mang biển số Thái Lan chận đầu. Chúng tôi đã dại dột nghe lời chúng để quyên tặng cho bọn chúng khoảng 10 ngàn đô, để mong bọn chúng dẫn đường cho chúng tôi đến tận Songkla. Sau hơn một đêm, trời sáng và khi thấy những ngọn núi phía xa xa thì chúng bảo chúng tôi đó là hướng Songkla. Chúng bảo là, chúng không thể dẫn chúng tôi đến tận nơi vì sợ chính quyền. Chúng vẫy tay cho chúng tôi tiếp tục chạy về hướng đó, và chúc chúng tôi may mắn.
Nhưng may mắn đâu không thấy, mà sau đó chúng tôi chỉ thấy toàn là những bất hạnh dồn dập đổ xuống ghe của chúng tôi mà thôi! Thoạt tiên chúng tôi thấy xuất hiện hai chiếc ghe Thái Lan đang xả máy tiến về phía chúng tôi; chúng cập vào hai bên luờn tàu. Một số nhẩy qua ghe chúng tôi, chiếm phòng lái, kê súng vào đầu tài công. Chúng đập phá phòng lái, lấy mất hải đồ và la bàn. Chúng chỉa súng vào đám người tỵ nạn khốn khổ chúng tôi, bắt những nguời đàn ông thanh niên phải buớc qua ghe của chúng ở phía bên tay trái, còn đàn bà con gái thì phải leo qua ghe phía bên tay phải. Chúng lục soát ghe chúng tôi, phá bung những hành lý chúng tôi mang theo để ăn cướp những món đồ có giá trị như vàng hay tiền bạc... Đồng thời chúng cũng khám xét chúng tôi từng nguời một để vơ vét đồng hồ, nữ trang, hay tiền bạc mang giấu trong mình. Chúng cũng không quên làm hỗn những phụ nữ và con gái!
Ghe chúng tôi lênh đênh giữa biển khơi, dập nhấp nhô với sóng nước, và làm mồi cho lũ hải tặc. Cứ như thế, tuần tự có cả thẩy mười hai ghe hải tặc trong ngày đã đến thay nhau cướp phá ghe tỵ nạn của chúng tôi! Có lẽ chúng đã gọi báo cho đồng bọn để thay phiên đến làm thịt chúng tôi cho đến xác xơ, tơi tả!
Ngay sáng ngày hôm sau, một chiếc ghe Thái Lan nữa đang nhắm hướng chúng tôi mà phóng đến. Chúng lượn quanh ghe chúng tôi ba lần. Chúng tôi rã rượi, chúng tôi không còn sức lực để mà có phản ứng, chúng tôi nằm chờ, phó mặc cho định mệnh. Một tên trong bọn chúng xổ ra một tràng tiếng Hoa. Mấy nguời Hoa trên ghe chúng tôi vội vùng ngồi dậy và trả lời bằng tiếng Hoa. Một nguời Hoa, đuợc cho sang bên ghe của chúng để nói chuyện. Họ là nguời Hoa, hiểu rằng chúng tôi đã bị cướp nhiều lần thật sạch nên đã bằng lòng kéo chiếc ghe của chúng tôi vào bờ. Họ còn dặn, nếu vào đuợc đến bờ rồi thì phải đốt ngay con tàu đi, nếu không thì sẽ bị đẩy ra khơi trở lại.
Họ kéo chúng tôi cho đến khi vào tới sát bờ, và để cho ghe chúng tôi đâm thẳng vào bãi. Khi thấy ghe chúng tôi đã bị mắc cạn gần bờ, tôi vội hô to:” mọi người nhẩy xuống, lội vào bờ.” Cũng chẳng cần ai ra lệnh, mấy thanh niên nhẩy xuống truớc, nước chỉ tới ngang lưng. Chúng tôi nhẩy một cái ào xuống biển mà lội vào bờ. Lên đến bờ, quay đầu nhìn lại chiếc ghe đã đưa chúng tôi đến bến bờ tự do đang cháy bốc khói đen ngoài kia, chúng tôi vừa mừng vừa hồi hộp. Con tàu bé cỏn con, nằm nghiêng nghiêng bên triền sóng; chính con tàu thân yêu đó đã đem chúng tôi đến được nơi đây với bao nhiêu sóng gió, nguy nan......
3. Nguyễn Hữu Bích:
Trước ngày trình diện đi tù, bố tôi đã biết chắc là khó thấy được ngày trở về, nên ông đã định tổ chức đám cưới cho chúng tôi. Nhưng bên nhà bà xã tôi đã không chịu, mà chỉ nhận trầu cau, mâm rượu. Trong suốt sáu năm tôi ở tù Cộng Sản, bà vợ chưa kịp cưới của tôi đã không bỏ sót một lần thăm nuôi tôi ngày nào kể từ khi nhận được giấy báo thăm nuôi.
Tháng 9 năm 1981, chúng tôi làm đám cưới. Hai tháng sau ngày cưới, và người vợ tôi vẫn còn như “mới tinh”, vào tháng 11 năm 1981, tôi vượt biên một mình cùng với người em trai kế. Chuyến đi không thành công, chúng tôi bị bắt tại Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà vinh! Tôi bị tù thêm ba năm.
Sau hai lần ngồi tù với Cộng Sản, tôi bị tụi Cộng Sản địa phương, công an khu vực để ý rất kỹ. Tai vách mách rừng, chúng tôi phải hết sức cẩn thận. Chính sách hộ khẩu của Cộng Sản rất độc địa, biết bao nhiêu tù nhân cải tạo Cộng Sản đã bị từ chối phỏng vấn của phái đoàn Mỹ vì khác hộ khẩu. Để tránh khỏi sự chú ý kiểm soát quá kỹ của công an khu vực, tôi tìm việc làm qua quýt, để có lý do sáng đi và tối về.
Sau khi có cháu trai đầu lòng, chúng tôi bỏ hẳn ý định vượt biên, và “xoay” đủ mọi nghề để kiếm sống; khi thì đạp xích lô, khi thì lắp vá bánh xe đạp cho qua ngày đoạn tháng, để bà xã tảo tần lo chuyện sinh sống. Đa số các chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã được thả ra khỏi tù cải tạo, thường phải làm những nghề tận cùng của xã hội như bán vé số, đạp xích lô, hay lắp vá bánh xe đạp như tôi vậy thôi.....
4. Trần Duy Tín:
Ra khỏi trại tù cải tạo được hai hay ba tháng là tôi đã được móc nối lái ghe vượt biển cho những người Việt gốc Hoa ngay lập tức vì đang có tình trạng căng thẳng ở biên giới Việt-Trung.
Tháng 4 năm 1978, chúng tôi rời Quảng Ngãi trên chiếc ghe với máy 4 bloc đầu bạc, có một chiều dài khoảng hai mươi thước, và chiều ngang ba thước. Trên ghe chỉ có 132 người, được phép ra đi bán chính thức vì chế độ bài Hoa của chính quyền Việt Cộng, và đa số là bà con quen biết. Ghe chúng tôi đi ngược lên hướng Bắc; khi ngang qua đảo Hải Nam chúng tôi được tàu Trung Cộng giúp đỡ. Sau năm ngày bốn đêm hải hành, chúng tôi đến Ma Cao. Vì biết HQ Trung Cộng không làm khó dễ chúng tôi, nên tôi đã cho ghe chạy dọc theo bờ biển Trung Hoa, nên chuyến đi không có lắm sóng gió.

Chương 10: Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản

Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm.
(Chinh Phụ Ngâm Khúc bà Đoàn Thị Điểm)

1. Nguyễn Xuân Dục:

Đến trại Orote Point, Guam, tôi tìm lại các bạn cùng khoá, và biết một vài người bạn thân đã không ra đi theo đoàn tàu di tản như bạn Ngô Nguyên Trực, HQ-11, đã ở lại trong lúc toàn gia đã ra đi. Bạn Hồ Ngọc Hoa (K.19) đã nhất định đòi về vì ray rứt nhớ mẹ, và anh đã theo chiếc Việt Nam Thương Tín để về lại Việt Nam. Bà cụ bạn HC2 Nguyễn Hải, mẹ đỡ đầu tôi, đã trách nhẹ nhàng:”thân to như thế này mà không mang được con bé đi!” Tôi chỉ biết cười, và chống chế là tại số trời.
Sau năm ngày đi la cà ở những trại ở Guam, chúng tôi đã gặp lại hầu hết các bạn cùng khóa đã thoát đi ra được. Một số nhỏ dân tỵ nạn bị đưa qua trại tỵ nạn tận bên đảo Wake, trong số đó hình như có Võ Văn Côi, Hoàng Thế Dân .....
Chúng tôi giao ước là khi đến Mỹ sẽ liên lạc, đùm bọc nhau như anh em một nhà. Để tránh sự tụ tập thành lập những phố ghetto như người Tàu, và mong giải tỏa sự ứ đọng người tỵ nạn trong các trại tỵ nạn vì đa số ai cũng muốn chờ đi định cư nơi miền “Cali” nắng ấm, chính phủ Hoa Kỳ thiết lập bốn hay năm trại tỵ nạn rải rác tại các tiểu bang như ở California, Florida, Arkansas, và Pennsylvania.
Đời sống vật chất trong trại tỵ nạn ở Guam thật nhàn rỗi nhưng gò bó nhưng tinh thần bất an, hụt hẫng –“hỏng cẳng”; chúng tôi vừa buồn phiền vì chuyện nước mất nhà tan vừa lo lắng, hoang mang cho tương lai – không biết ngày sau sẽ ra sao đây. Cơm ăn ba bữa đã do lính TQLC Mỹ nấu nướng. Cả ngày xếp hàng rồng rắn đi lấy đồ ăn, và đồ ăn ê hề nhưng toàn là đồ ăn đông lạnh và đồ hộp, ăn ngon miệng được mấy ngày rôì bắt đầu ớn tuy rằng đã có một số người tỵ nạn Việt nam tình nguyện phụ nấu ăn để cho nồi cơm không còn bị bỏ thêm bơ thêm muối như theo đúng thực đơn của Mỹ. Sau một vài tuần thì rất thèm chất tươi như rau cỏ, một số người đã khám phá ra những rừng dừa gần đó; cù hủ dừa là là món ăn giải quyết nhất thời, nhưng điều này cũng đã làm phiền lòng Ban Cấp Hành trại tỵ nạn không ít. Trưa ra bãi biển Gap-Gap, tối đi xem phim Mãnh Long Quá Giang của Lý Tiểu Long. Những lều vải của quân đội được dựng lên thành những doanh trại chứa người tỵ nạn.
Tôi và gia đình được đưa về Pennsylvania, trại tạm trú Indiantown Gap. Đây là một doanh trại của vệ binh quốc gia Hoa Kỳ nằm gần làng AnnView, cách thủ phủ Harrisburg không xa. Doanh trại gồm những dãy nhà tiền chế như trong giai đoạn chúng ta còn làm đàn em ở Nha Trang đã trú ngụ, nhưng có thêm lò sưởi cho mùa đông.
Vì là một trong những nhóm người tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến đấy, nên khi xuống máy bay chúng tôi đã được các em học sinh và phụ huynh đón tiếp. Không khí trong lành, mát mẻ, và nhất là hết sức thanh bình của những tháng vào cuối mùa Hè ở một vùng Bắc Mỹ thì thật tuyệt diệu.
Vì trại tỵ nạn nằm trong một căn cứ quân sự, cách xa những đô thị lớn nên ít xe cộ và dân cư. Những bãi cỏ rộng mênh mông như những sân banh được cắt tỉa cẩn thận, vào những buổi sáng khi sương đêm còn ướt đọng trên những cánh lá, ngọn cỏ, cành cây, và ánh nắng ban mai chiếu nghiêng nghiêng qua những hàng cây bên đường thì thật là cả một bức tranh tuyệt đẹp. Buổi sáng năm giờ, mặt trời đã lên cao khỏi ngọn đồi phía xa, buổi tối chín giờ mặt trời còn nằm ngang tàn cây. Thành ra ngày nó dài lê thê, nhất là khi không có việc gì làm; tối ngày chỉ biết lóng ngóng nằm chờ coi có ai đến kêu đi phỏng vấn để được bảo trợ rời khỏi trại. Nhiều mối tình thơ mộng hay chớp nhoáng đã được nẩy nở nơi đây.
Hàng ngày lại xếp hàng rồng rắn chờ ăn ba bữa, và lên BCH tìm “trẻ lạc”. Sau cùng tôi cũng đã tìm lại được các bạn Thắng, Sơn, Đệ, Khúc, Dũng rùa, Chính, Phan Ngọc Long ở chung một trại. Các bạn tình nguyện qua Canada như Triết, Phan Văn Thì, Hùng đầu bò, Nguyễn Hữu Thiện thì bị dồn vào một chỗ và làm thủ tục qua Canada cho nhanh chóng.
Chúng tôi tham dự đám cưới Nguyễn Văn Sơn tại nhà thờ khu 5, ngay kế bên building 5- 12. Đám cưới cũng có bánh ngọt, và đồ ăn từ phạn xá nhà bàn. Cô dâu cũng áo trắng-voan trắng, chú rể cũng cà vạt - áo veston đàng hoàng, từ hiệu “Mỹ Quang” mà tôi vô tình lãnh được khi vừa mới nhập trại. Bạn Nguyễn Văn Đệ đã phải tự tay may, sửa lấy bộ quần áo trong đống quần áo rộng thùng thình phát không cho tạm vừa vặn coi được để đi ăn cưới bạn bè. Bạn Đinh Đức Thắng đã phải “xì” ra một lượng vàng cho bạn Sơn vay mượn để mua nhẫn cưới em gái mình, sau một hồi bị đám bạn xúm vào hăm dọa. Bạn bè chia nhau làm nhà trai nhà gái. Gia đình bạn Sơn và đám bạn bè chắc sẽ không bao giờ quên được cái đám cưới đạm bạc, giản tiện, nhưng đầy ắp tình thương yêu trong trại tỵ nạn năm 1975 này.
Sau những ngày tháng ăn không ngồi rồi trong trại tỵ nạn, rồi chúng tôi cũng được bảo trợ về Dallas, Texas. Phan Ngọc Long đi New York và gặp “bông so lủng”(sponsor) phải chạy về AllenTown, Pennsylvania. Nguyễn Văn Đệ về Gettysburg, Pennsylvania. Vợ chồng Nguyễn Văn Sơn lên New York… Sau khi có công ăn việc làm, nhu cầu tìm kiếm bạn bè lại càng trổi dậy trong tôi. Tình cờ gặp gia đình bạn HC2 Nguyễn Văn Thước ở cùng một tỉnh, và cuối tuần tôi hay lò mò xuống Durant, Oklahoma thăm các bạn Nguyễn Văn Long, Hồ Văn Xách, Hoàng Thế Dân ...
Sau những ngày xuôi ngược, vất vả của những ngày mới ra khỏi trại tỵ nạn, mọi người rồi cũng tạm yên với nếp sống mới.
Năm 1979, tôi nhận được tin của bạn HC2 Nguyễn Hùng Tâm, con chim đầu đàn của khóa 20 ngày nào. Tâm báo tin là sẽ bay từ Minnesota xuống thăm gia đình tôi; thật là bất ngờ và vui mừng vì sẽ gặp lại được người bạn cùng chung phòng cũ. Tôi ra phi trường đón Tâm mà không nhận ra bạn; Đang loay hoay tìm trong đám hành khách mới đáp, có một gã đàn ông to con, bảnh bao cứ chờn vờn đứng trước mặt làm mất tầm nhìn của tôi, tôi đứng nhích qua một bên, hắn cũng sàng qua che mất lối! Tôi lẩm bẩm, đúng chuyến bay mà mọi người ra sắp hết mà sao chưa thấy Tâm mà lại bị cái thằng cà chớn nào cứ đứng rình rang chờn vờn trước mặt! Sau cùng chính cái tên chờn vờn rình rang ấy lại là Nguyễn Hùng Tâm sau khi “hắn” lên tiếng: “ê, Dục tao nè,” thế là hai đứa ôm chầm lấy nhau vì mừng rỡ. Tâm đen hơn, to lớn giềnh giàng hơn, tóc quăn và để dài nên không giống như hình ảnh khi ở trong quân trường còn đọng lại trong tôi. Chúng tôi tâm sự, kể cho nhau về đời sống gia đình nơi xứ Mỹ này. Chúng tôi bàn cách liên lạc tìm gặp các bạn bè cùng khóa 20, và Tâm bàn và đề nghị với tôi là sẽ chỉ dẫn cho tôi mở trường dạy Thái Cực Đạo tại nơi tôi ở để Tâm sẽ có dịp thường xuyên về chơi. Gia đình Tâm vẫn còn kẹt ở lại Việt Nam, Tâm thấy nhà tôi chạy chiếc xe volkswagon cũ kỹ lọc cọc, nên thương xót và trách móc hỏi sao không mua xe mới cho bà xã chạy? Tôi nói không có tiền, Tâm đã khẳng khái đề nghị cho mượn ngay, và rủ đi coi xe liền.
Đến năm 1980 thì một số các bạn trong khóa 20 đã tụ họp lai rai mỗi khi có dịp, nhưng chưa được rộng rãi có tính cách toàn quốc và toàn cầu. Tại Texas, chúng tôi đã gặp nhau tại nhà bạn Lê Văn Thạnh, Houston, quy tụ được khá đông anh em ở trong vùng như Võ Văn Hai, Nguyễn Văn Chừng, Hồ Văn Xách, Tô Phước Hồng, Nguyễn Công Phương, Phạm Văn Cần, Nguyễn Văn Sáng, Bùi Đình Hoan, Đỗ Minh Hào ...
Thời gian sau, kỹ thuật tăng tiến, bạn HC2 Phạm Đăng Lương đã hình thành được một trang mạng của khóa 20, và nay thì bạn Lê Văn Châu thay thế và đang làm chủ chốt. Nhờ vào trang mạng, và kỹ thuật email trên mạng, chúng ta đã tổ chức được lần đầu tiên năm 2000 tại Westminster-California, một đại hội cho các bạn thuộc khóa 20 SQHQ/Nha Trang. Các bạn từ khắp bốn phương tụ về cho ba ngày Đại Hội thật là vui vẻ và gắn bó. Thế rồi Đại Hội lần thứ hai tại San José năm 2003, và lần thứ Ba tại Washington D.C. năm 2006 đã được hình thành một cách mỹ mãn. Năm nay, năm 2009, chúng ta lại gặp nhau cho ngày Đại Hội lần thứ tư của khoá 20 SQHQ/VNCH tai Orlando- Florida vào tháng Bẩy để kỷ niệm ba mươi chín năm ra khơi của chúng ta.
2. Nguyễn Hữu Bích:
Năm 1989, có chương trình HO, nhiều người rất lo ngại không biết thực hư ra sao vì thiếu thông tin xác thực, mọi chuyện chỉ biết nghe qua những lời đồn đãi. Nếu lần này mà bị tụi Cộng Sản nó lừa cho một chuyến nữa thì chắc chắn sẽ không có ngày về! Chương trình HO, hay Humanitarian Operation, được xét đơn cho:
1. Các cựu tù cải tạo với thời gian ở tù qúa ba năm trở lên do quan hệ với Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975;
2. Hay ở tù cải tạo qúa một năm và đã được chính phủ Hoa Kỳ gởi đi huấn luyện
3. Hoặc ở tù cải tạo qúa một năm và đã từng làm việc với các cơ quan chính phủ hay tư nhân Hoa Kỳ.
4. Các qủa phụ của người tù đã bỏ mình trong trại tù hay bị qua đời trong vòng một năm sau khi được thả.
5. Những người đã làm việc với tổng số thời gian 5 năm trở lên với cơ quan của chính phủ hay tổ chức tư nhân Hoa Kỳ kể từ tháng 1 năm 1963 đến 30 tháng 4 năm 1975.
Tôi nghĩ là mình đã quá khổ rồi nên làm liều mà nộp đơn, nhưng trong lòng lại lo ngại hết sức. Sau năm năm chờ đợi, gia đình chúng tôi gồm có vợ chồng và hai cháu đã được gọi phỏng vấn. Ngày 22 tháng 3 năm 1994, chúng tôi đã đến Hoa Kỳ theo diện HO- 22.
3. Nguyễn Đình Hoàng:
Đến chẳng phải tình cờ,
Đi hẳn có nguyên do,
Phút động lòng bốn phương của kẻ trượng phu
Đâu chỉ mải mê chuyện giang hồ sóng gió
Cũng chẳng vì áo cơm nặng nợ
Mà non sông quang gánh nọ chưa tròn,
Cánh chim bằng mượn cơn gió Lão Trang
Bay tới chín tầng trời cao mút mắt
Cửa đã đóng lại rồi
Then mây cài đã nhặt
Nỗi nhớ nhà vẫn hiu hắt khôn khuây
Nhớ cánh chim hồng vẫn mịt mù bay.
(Phong Vận Kỳ Oan – Nguyễn Đình Hoàng)
4. Phạm Văn Độ:
Năm 1975 gia đình chúng tôi được định cư tại miền Tây-Bắc Hoa Kỳ, tiểu bang Washington. Tôi có ngay công việc trong một xưởng làm ván ép tại tỉnh LongView, lương khá cao so với những công việc lao động chân tay khác. Tuy thu nhập của chúng tôi tương đối bảo đảm cho một cuộc sống trung lưu đầy đủ, nhưng công việc rất nặng nề, mỗi khi đi làm về là chỉ còn có đủ sức để “thở ra khói”; hàng ngày sau khi làm xong một lon bia là lại lăn ra ngủ cho đến khi mở mắt dậy là lại đến giờ đi “cày tiếp”! Lúc bấy giờ tôi không còn thời gian, và sức lực để “yêu vợ, ấu con.”
Năm 1980, các con tôi đã bắt đầu lớn, chúng tôi cần có thời gian để sinh hoạt, và kiểm soát bài vở ở trường cho các cháu, nên quyết định dọn về miền Nam California. Tôi đi học lại, và để một mình bà xã “quán xuyến” mọi chuyện. Tốt nghiệp Cal-Poly Pomona, tôi “bắt” được một việc với hãng General Dynamics. Thế rồi tôi trở thành dân “sáng cắp ô đi chiều cắp ô về” – mỗi buổi tối có thì giờ nhàn nhã vui chơi cùng vợ con. Cuối năm 1985, tôi “nhẩy” qua làm cho hãng Rockwell – rồi thuộc về hãng Douglas – và nay đã trở thành một phần của hãng Boeing, và “cày tiếp” cho đến ngày nay.
5. Trần Duy Tín:
Ngày 2 tháng 11 năm 1978, gia đình chúng tôi qua định cư tại Los Angeles, California cho đến ngày nay. Chúng tôi luôn luôn chân thành biết ơn người dân Mỹ và đất nước Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay giúp đỡ cho gia đình chúng tôi có một cuộc sống thật tốt đẹp, con cái thành đạt, các cháu ngoan hiền. Tôi cũng xin cám ơn Hải Quân Việt Nam đã trui luyện cho tôi trở thành một sĩ quan Hải Quân và là một người lịch lãm, đã tạo cho tôi những cơ hội được đi nơi này nơi kia, và nhất là đã cho tôi có được những kinh nghiệm đi biển để lèo lái được một chiếc ghe vượt biển đến được bến bờ tự do. Điều an ủi, hãnh diện nhất cho tôi là: được làm một thành viên trong gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp – được làm một sĩ quan Hải Quân khoá 20 Nha Trang, có nhiều bạn cùng khoá gắn bó nhau, vui vẻ họp mặt thường xuyên trên đất nước tiên tiến nhất thế giới.

Thay Cho Đoạn Kết
Các bạn thân mến,
Như chúng ta vừa đọc qua những chuyện kể năm xưa, hẳn các bạn đã thấy thấp thoáng đâu đó hình ảnh của chính chúng ta, hiện diện bàng bạc một phần nào trong những câu chuyện chắp nối vừa được nghe kể.
Thân ái

nguyễn văn đệ





( Trở về đầu trang )