Đại Hội 2009     trang đầu * LVChâu   lời mở đầu * CVThành   những hổ cáp 2 lìa đàn * NXDục   họp mặt hổ cáp * GĐNội   40 năm đệ nhị hổ cáp * NĐHoàng   hội ngộ lần đầu * LVLai   dư âm đại hội * NÁnh   người phụ nữ với chiếc quần 200 năm đi mượn * NĐHoàng   cảm nghĩ về đại hội 2009 * 20
Đặc San 2009     trang bìa * TTĐức   nội dung * BBT   tâm thư * BBT   lời nói đầu * BBT   điệp khúc tình yêu * NaNa & TigônHồng   những chuyện kể năm xưa *20   thơ quân trường *NTTánh   mỹ quốc định cư, hành trình kí sự *NĐHoàng   hổ cáp tự truyện *HKC   cho anh cung đàn đã lỡ *NTTánh   miếng cơm thừa *NVChín   xuân trên phố *NTTánh   hq615 *PNLong   tù không án *VHLý   tù quản chế *VHLý   chuyến tàu định mệnh *HKChiến   quả mơ *TKen   em về với mộng đêm nay *ThưKhanh   lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQ/VNCH*HKChiến   di tản bất như ý *VHLý   những đoạn thơ rời *CVThành   mãng đời tỵ nạn *NHHãi   thơ quân trường *NTTánh   hải hành *CVThành   những người bạn VTT và một thời để nhớ *NXDục   bài hát tình tang *ĐNViêm   bạn tôi *NVChín   một thoáng quê nhà gợi nhớ *CVThành   bóng rợp sân trường cánh hải âu *NĐHoàng   một linh hồn giữa biển khơi *NTTánh   tàn thu *NÁnh   buổi lễ vượt xích đạo *DTTùng   một chuyến hải hành đêm *NTTánh   mười hai con giáp, mười hai chòm sao *LVChâu   chén canh rau muống *NVChín   ngày xuân năm ấy *HKChiến   ý thiếp cùng tình chàng hổ cáp *ChịNVThước   tâm tình *ĐDVy   những ngày tháng không quên *NÁnh   tiếng gọi từ vũng lầy * NXDục   lời tạm biệt *NVĐệ   trang cuối * TTĐức



một thoáng quê nhà gợi nhớ



     H ắn tên là Chí, Đào cơ Chí. Tôi là Thành, Cung Vĩnh Thành. Ngày xưa Đức Khổng Tử dậy rằng: ”Chí Thành Như Thần”, mà tôi hiểu là: cứ dốc hết lòng thành rồi cũng được như Thần. Đức Khổng Tử đã phán, thì có đời nào mà sai, cho nên cứ đàn đúm với nhau mãi, riết rồi chúng tôi cũng thành thần. Nhưng là những thần phá phách, và thần trốn học.
Ngay từ khi mới di cư vào Nam, gia đình tôi và gia đình hắn đã ở cùng một khu xóm. Và cũng ngay từ hồi nhỏ xíu ấy, hắn đã chứng tỏ là hắn có vẻ hơn tôi được nhiều thứ. Này nhé: hắn lùn hơn tôi, hắn đen hơn tôi, và nhà tôi thì ở đầu đường, còn nhà hắn thì phải đi mãi sâu vào trong khu xóm Cầu Mới và phải rẽ vào thêm một con hẻm nữa. Xóm Cầu Mới này nằm ở khu Tân Định-Sài Gòn, không phải là Xóm Cầu Mới, trong một tác phẩm của Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam. Cho nên bây giờ, tôi vẫn không hiểu tại sao khu xóm của chúng tôi lại có tên là xóm Cầu Mới, vì tôi chẳng thấy ở đấy có cây cầu nào, và nếu có, nó cũng không thể nào mới được.
Cùng một lứa tuổi, ở cùng khu xóm, cho nên đến tuổi đi học thì chúng tôi cùng vào trường tiểu học Đa-Kao. Muốn đến trường, phải đi hết con đường Nguyễn Phi Khanh, băng qua đường Đinh Tiên Hoàng, và đi thêm một quãng dài nữa mới đến trường. Cái lộ trình ấy, hai đứa đã đi về suốt năm năm trời thủa học tiểu học. Năm năm con nít ấy chưa có cơ hội để cho chúng tôi phá phách nhiều. Rồi chúng tôi phải khăn gói đi thi vào lớp đệ thất. Đây là một kỳ thi cực kỳ quan trọng cho đời học sinh của chúng tôi vào thời đó. Nếu đỗ thì được vào học trường công, không phải đóng học phí, nhưng quan trọng hơn là trường công có kỷ luật, và có nhiều thầy cô giáo giỏi. Gia đình chọn cho chúng tôi thi vào trường Chu Văn An, ngôi trường nam trung học nổi tiếng thời bấy giờ.
Lên đến bậc trung học, học trường ở mãi trong Chợ Lớn, đối diện với nhà thờ cha Tam, nên phải đi xe đạp hay “đu” xe buýt. Chúng tôi lại có nhiều buổi rủ nhau đi học cùng. Hai thằng lại còn rủ nhau vào Hướng Đạo, mỗi cuối tuần còn có cớ để đi họp đoàn ở vườn hoa Vạn Xuân trước cổng trường đại học Kiến Trúc. Có hôm thì đi họp thật, có hôm chỉ là một cách ra khỏi nhà để đi lang thang.
Đến ba năm học chót của bậc trung học mới là lắm chuyện! Chúng tôi đã thành hai đứa con trai mới lớn, lòng lúc nào cũng rạo rực mơ tưởng những hình bóng giai nhân. Mà lạ thật, ở vào cái tuổi ấy, nhìn vào đâu cũng thấy có gái đẹp, sao mà lắm con gái đẹp thế!
Năm lớp đệ tam, cả hai đứa xin tiền nhà đi học thêm Anh văn ở trường Ziên Hồng của hai thầy Lê bá Kông, Lê bá Khanh. Ở những lớp Anh văn này thì người đẹp không phải là những hình bóng xa vời nữa. Mà là những cô bé xinh như mộng, có những cái tên diễm kiều như Thúy Loan, Ngọc Hạnh, Giáng Tuyết …Sau mỗi buổi học, hai thằng lại lẽo đẽo đạp xe hộ tống môt cô bé xinh thật là xinh về đến tận nhà nàng. Khi người đẹp đã vào hẳn trong nhà rồi, mà chúng tôi vẫn còn đạp xe tới đạp xe lui qua lại nhiều vòng nữa, và để chỉ ngó cái cổng nhà nàng với giàn hoa giấy mà thôi. Còn nàng thì biệt tăm biệt tích, nào có thấy đâu. Tình cảnh giống hệt như nhà thơ Nguyễn Bính đã viết:
“Nhà ấy hình như có mặt trời
có rừng, có suối, có hoa tươi
bao nhiêu chim lạ, bao nhiêu bướm
không, có gì đâu, có một người.”
Mà chúng tôi chỉ có đi theo vậy thôi, chứ có dám làm gì khác đâu. Cho nên cái lộ trình hộ tống của chúng tôi cũng thay đổi luôn. Khi thì một cô bé xinh như mộng ở Phú Nhuận, khi thì một cô bé đẹp như hoa ở đường Cao Thắng. Cuối cùng thì các nàng cũng vẫn chỉ là những người đi qua đời tôi… và đi luôn chẳng thèm ngó ngàng gì.
Thời gian này tôi và Chí chơi thân với Đinh văn Chinh nữa. Chính có nick name là Chính tóc quăn hay Chinh Kawasaki. Chính cũng thường có mặt trong các buổi lang thang của chúng tôi. Thi đỗ Tú Tài một, chúng tôi được gia đình cho tiền để học thêm Toán, Lý, Hóa. Học đưọc một tháng đầu, tôi chợt khám phá ra một chân lý tuyệt vời và nói với hắn: “Mình là học sinh Chu Văn An, được học với những ông thầy giỏi nhất nước như Đinh Đức Mậu,Trần Bích Lan, tại sao lại còn phải đi học tư làm chi nhỉ?”. Hắn thấy tôi nói có lý, nghe bùi tai nên cũng gật gù:-“Ừ, phải đấy, nhưng chỉ sợ ở nhà không chịu thôi.”(Hắn phá phách chẳng thua ai, nhưng lại rất sợ ông Bố của hắn. Sau này tôi biết thêm là đến khi đã thành Hải Quân Thiếu Úy rồi, mà mỗi lần đi chơi về quá khuya, hắn vẫn phải nhẩy cửa sổ, lén vào nhà vì sợ Bố mắng. Một Hải quân Thiếu Úy mà sợ Bố mắng vì đi chơi về trễ thì lạ thật, dù chuyện này chưa có ghi trong Hải Sử, nhưng là chuyện thực 100%.) Trong khóa 20, nghe nói cũng có một nhân vật như vậy, “anh” Hải ngựa cũng sợ Bố của anh ấy một vành! Tôi phải giải nghĩa thêm cho hắn hiểu: -“Thì mình vẫn cứ nhận tiền đi học chứ, nhưng…” Nói tới đây là hắn hiểu ra liền, và từ đó hàng tháng chúng tôi có món tiền còm và một số thời gian dư để…tiêu món tiền ấy. May là đến cuối năm chúng tôi đều thi đậu. Chính học giỏi nên cả hai bằng tú tài hắn đều đậu hạng Bình.Thế là chúng tôi đã có mảnh bằng tú tài toàn phần có dán hình đàng hoàng trong túi. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, có thủ tục thí sinh dự thi phải nộp ảnh để sẽ dán trên chứng chỉ một khi thi đậu.
Nhưng cũng từ đây, cuộc đời chúng tôi bước sang một bước ngoặt mới. Sau khi không đậu được vào các Đại Học thi tuyển như Y, Nha, hay Dược, thì tôi ghi tên theo học chứng chỉ Dự Bị Khoa Học (SPCN), còn Chí và Chính thì ghi tên học bên trường Luật. Thời gian này tình hình chiến sự ngày càng sôi động. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân cho thấy là kẻ địch đã mở rộng mặt trận vào tận các tỉnh thành, và tăng cường sự xâm nhập miền Nam bằng một quân số lớn lao. Trong lúc đó ở các thành phố lớn của miền Nam vẫn đầy rẫy những phòng trà ca nhạc, những vũ trường ăn chơi, với những bài ca phản chiến, rên rĩ. Chúng tôi vào trong giảng đường nhưng không còn tâm trí nào để mà học hành. Có buổi ba thằng gặp nhau ở câu lạc bộ sinh viên ở Đại học Khoa học, chúng tôi nói chuyện vu vơ để tránh phải đề cập đến tương lai, một tương lai mù mờ, nhưng trong ánh mắt và giọng nói của thằng nào cũng ủ ê. Sau buổi nói chuyện ấy, tôi về nhà suy nghĩ và thấy là mình cần phải tìm cho ra một lối thoát, chứ không thể kéo dài đời sống vô vị và vô vọng như thế này. Bạn bè cùng lớp có nhiều đứa đã lên đường, có đứa lên Đà Lạt, có đứa vào Thủ Đức .....
Thì cũng ngay vài ngày sau đó, tôi đọc được thông báo tuyển khóa sinh cho khóa 20 Sĩ quan Hải quân. Không hiểu sao tôi thấy ngay đây là cơ hội của mình. Tôi đến trường Luật tìm hắn và Chính. Chúng tôi bàn bạc, và mau chóng đi đến quyết định là sẽ xin phép gia đình để ghi danh vào khóa 20 SQHQ. Hắn còn thận trọng yêu cầu ba đứa cam kết với nhau là nếu một trong ba đứa bỏ cuộc vì bất cứ lý do gì thì hai đứa kia cũng phải theo đuôi bỏ lại giắc mơ làm quan để tiếp tục lại con đường học vấn.
Khi đó chúng tôi còn trẻ lắm,chúng tôi mới gần hai mươi tuổi. Khi vào quân trường còn bị mấy anh lớn chọc là mấy thằng “Tú Tài dán hình, trốn bố mẹ để đi lính.”
Không biết là trong bốn tuần huấn nhục và một năm huấn luyện ở quân trường Nha Trang, có lúc nào mà một trong số ba đứa chúng tôi đã ngã lòng hay nản chí không. Nhưng chỉ biết là chúng tôi đã giữ được lời hứa với nhau, và đã cố gắng để hoàn tất chương trình huấn luyện, trở thành những sĩ quan của quân chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Chúng tôi ra trường. Do nhu cầu của chiến cuộc, mỗi đứa đi một đơn vị khác nhau, ở những địa phương khác nhau.Thỉnh thoảng lắm mới có dịp về phép cùng thời gian, lại tìm nhau để ngất ngưởng bên những chai rượu cho quên sầu.
Chúng tôi vẫn còn trẻ lắm,nhưng hình như vận nước đã hằn lên những nếp nhăn buồn bã trên gương mặt chúng tôi. Cho đến ngày ba mươi tháng tư gẫy súng.Theo những đoàn tầu di tản, chúng tôi gạt nước mắt bỏ xứ mà đi. Hắn đưa được cả gia đình đi cùng vì thời điểm đó hắn đang theo học lớp kỹ sư quân đội ở Đại học Bách Khoa Phú Thọ. Đinh Văn Chính đi có một mình. Tôi cũng chỉ đi có một mình. Khi sang đến đảo mới biết tin có bà chị và hai đứa em cũng đã theo được với gia đình bên chồng chị tôi đi thoát.
Sau đó là những tháng ngày đầu tắt mặt tối để hội nhập vào cuốc sống mới. Cũng trong những ngày lưu lạc này, mỗi đứa chúng tôi rồi cũng gặp được một nàng. Các nàng này không chỉ đi qua đời chúng tôi, mà các nàng đã hồn nhiên…định cư vĩnh viễn ngay trên cuộc đời chúng tôi, và là Mẹ của những đứa con của chúng tôi bây giờ. Đinh Văn Chính thì đã có gia đình ở Việt Nam rồi, và cũng đã đoàn tụ sau đó.
Sau khi đã tạm ổn định cuộc sống, chúng tôi lập tức tìm mọi cách để liên lạc với nhau. Tôi với hắn biết tin nhau khá sớm. Hắn, đúng như cái tên của hắn, đã rất có “CHÍ” để làm lại cuộc đời, và đã thành công mau chóng. Chúng tôi vẫn ở xa nhau do phương kế sinh nhai, nhưng vẫn liên lạc đều đặn, và không bao giờ vắng mặt trong các buổi Đại hội của các sĩ quan Hải Quân thuộc gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp.
Mùa hè năm 2008, hắn từ bên Texas gọi sang cho vợ chồng tôi, và rủ đi Hawaii chơi. Hắn bảo :-“Chỉ đi để nghỉ ngơi thôi, và chỉ đi có hai cặp tụi mình thôi.” Hawaii là nơi vợ chồng chúng tôi đã đến nhiều lần. Khi thì đi với sở, khi thì với bạn bè, nhưng khi hắn rủ thì chúng tôi OK liền. Và chúng tôi đã có mấy ngày nghỉ thoải mái ở đấy. Chúng tôi chỉ nói chuyện vui, tránh những vấn đề làm nặng tâm nhau. Hàng ngày tắm biển, ăn chơi, và uống rượu.
Buổi chiều cuối cùng, hai bà vợ rủ nhau đi shopping. Chúng tôi ra bãi biển nhưng không tắm mà ngồi trên ban công của một nhà hàng gọi rượu uống. Trời và biển xanh ngắt một mầu. Chúng tôi ngồi đấy ngó mông lung ra ngoài khơi xa.Trời với biển. Đời sống chúng tôi đã gắn liền với biển với trời bao năm. Nhưng mà là trời biển của nơi quê nhà. Hắn xoay xoay ly rượu trên tay và thở dài thật nhẹ.Hình như trong tôi cũng có tiếng thở dài ấy.
Nhưng tôi vẫn hỏi hắn:-“Có điều chi phiền muộn chăng?”
Hắn lắc đầu:-“Không, tất cả mọi chuyện đều OK, nhưng sao vẫn thấy văng vắng một cái gì!” Rồi hắn tiếp:-“Tao đang nhớ tới cái lần tụi mình mới thi đậu tú tài một, được bố mẹ cho ít tiền. Chính, tao với mày rủ nhau ra Vũng Tầu chơi mấy ngày, ở nhờ nhà cái ông gì, anh mày đó.”
Tôi cũng nhớ ngay cái lần đi chơi ấy:
- “Ờ, đó là anh Ninh, ông anh họ của tao.”
Hắn như vẫn miên man trong dòng hồi tưởng:-“Tao còn nhớ rõ căn nhà nhỏ ở ngay giữa phố gần biển, có một mảnh vườn thật xinh, và có một cây nhãn thật là sai trái.”
Tôi không trả lời, vẫn nhìn ra khơi, có bóng một con tầu đang quay hướng vào bờ.
Thì ra dù ở bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào, người ta vẫn còn mang nặng một chút Quê Nhà trong tâm tưởng, và chỉ chờ có cơ hội là lại gợi lên nỗi nhớ trong ta.

cung vĩnh thành





( Trở về đầu trang )