Đại Hội 2009     trang đầu * LVChâu   lời mở đầu * CVThành   những hổ cáp 2 lìa đàn * NXDục   họp mặt hổ cáp * GĐNội   40 năm đệ nhị hổ cáp * NĐHoàng   hội ngộ lần đầu * LVLai   dư âm đại hội * NÁnh   người phụ nữ với chiếc quần 200 năm đi mượn * NĐHoàng   cảm nghĩ về đại hội 2009 * 20
Đặc San 2009     trang bìa * TTĐức   nội dung * BBT   tâm thư * BBT   lời nói đầu * BBT   điệp khúc tình yêu * NaNa & TigônHồng   những chuyện kể năm xưa *20   thơ quân trường *NTTánh   mỹ quốc định cư, hành trình kí sự *NĐHoàng   hổ cáp tự truyện *HKC   cho anh cung đàn đã lỡ *NTTánh   miếng cơm thừa *NVChín   xuân trên phố *NTTánh   hq615 *PNLong   tù không án *VHLý   tù quản chế *VHLý   chuyến tàu định mệnh *HKChiến   quả mơ *TKen   em về với mộng đêm nay *ThưKhanh   lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQ/VNCH*HKChiến   di tản bất như ý *VHLý   những đoạn thơ rời *CVThành   mãng đời tỵ nạn *NHHãi   thơ quân trường *NTTánh   hải hành *CVThành   những người bạn VTT và một thời để nhớ *NXDục   bài hát tình tang *ĐNViêm   bạn tôi *NVChín   một thoáng quê nhà gợi nhớ *CVThành   bóng rợp sân trường cánh hải âu *NĐHoàng   một linh hồn giữa biển khơi *NTTánh   tàn thu *NÁnh   buổi lễ vượt xích đạo *DTTùng   một chuyến hải hành đêm *NTTánh   mười hai con giáp, mười hai chòm sao *LVChâu   chén canh rau muống *NVChín   ngày xuân năm ấy *HKChiến   ý thiếp cùng tình chàng hổ cáp *ChịNVThước   tâm tình *ĐDVy   những ngày tháng không quên *NÁnh   tiếng gọi từ vũng lầy * NXDục   lời tạm biệt *NVĐệ   trang cuối * TTĐức



miếng cơm thừa



    S au ngày 30 tháng 4 năm 1975 những Sĩ Quan, Công Chức cao cấp VNCH còn ở lại VN nhận sự trả thù của CS. Hàng ngàn trại tù khổ sai được lập ra từ nam tới bắc, được CS gọi bằng danh từ hoa mỹ “TrạiTập Trung Cải Tạo”. Với dã tâm thâm độc của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng C.S., đem tù nhân chính trị ra Bắc không phải để bảo vệ an ninh miền Nam chúng mới chiếm được,hay để cải tạo những người chúng vừa tập trung, mục đích chính là tiêu diệt lớp người này một cách khoa học và không mang tai tiếng là tàn bạo dã man như C.S. Polpot của Kampuchia.
Ở miền Bắc, những trại tù do Đoàn 776 quản lý dọc theo các thung lũng dãy Hoàng Liên Sơn, dù ở vùng rừng sâu nước độc, cũng không đạt được yêu cầu của CS ở Hà Nội. Suốt gần hai năm ở núi rừng H.L.S. với thủ đoạn làm nhiều ăn ít, ốm đau không thuốc men trị liệu, số người tù chết đi không đạt yêu cầu của chúng. Một điều kiện tối quan trọng mà C.S.cần phải có là rừng thật sâu, nước phải thật độc, âm binh, chướng khí ác liệt mới tiêu diệt đám người này nhanh chóng hơn.Thế nên một biện pháp khác được C.S. áp dụng. Đó là thủ đoạn mà cán bộ CS gọi là “Biên Chế”, tức là thay đổi chỗ ở liên tục. Đúng thế, hành trình của người tù là quá trình biên chế, chuyển từ hết trại này tới trại khác. Mỗi lần biên chế là mỗi lần chúng cướp thêm một phần sức khỏe và nghị lực của người tù. Ai đã từng trải qua các trại tù CS, đã thấm thía với hành trình biên chế đó. Kết quả của sự trả giá cuộc sống đọa đày bằng đôi chân và đôi vai.
Không tránh khỏi quy luật của các trại tù CS, trại tù số 13 của tôi nằm tận cùng của hệ thống trại, trải dài theo các thung lũng dãy H.L.S. của các thôn xóm huyện Văn Bàng. Một buổi sáng mùa hè, khi sương đêm còn động trên những cành lá cây rừng bao quanh trại, khi các dòng suối còn róc rách âm thầm đổ nước như bất tận qua các khe đá; khi đám chim rừng còn tung tiếng hót liếu lo như chào mừng một ngày mới, thì chúng tôi cũng đang bắt đầu một ngày đau khổ mới của những người tù không bản án. Hôm nay khác với mọi hôm, sau khi chia phần ăn sáng, thay vì phải chuẩn bị cuốc sẻng dao rựa đề bắt đầu một ngày lao động, thì lệnh biên chế được ban hành. Như thông lệ, tất cả quần aó, vật dụng phải cho vào bao bị sao cho vừa gọn gàng vừa đầy đủ. Gọn gàng là để mình dễ khuân vác; đầy đủ là không bỏ sót một vật dụng gì,vì khi mình bỏ đi hay để lại, tức là mình không còn cơ hội có nó được nữa. Từ đôi dép râu bằng vỏ ruột xe hơi làm từ các trại miền Nam cho đến các lon Guizgo – đen ngòm vì nhiều lần nấu nướng hay còn trắng tinh – vì đó là dụng cụ đựng nước uống mà người tù coi như bảo vật. Cũng vẫn điệp khúc trước khi lên đường, người tù phải trải qua thủ tục “bán chợ trời”, tức là đồ đạt vật dụng được bày ra trước mặt để những tên cán bộ quản giáo đi kiểm soát coi có những vật dụng gì không được phép mang theo. Những gì người tù cất giữ giấu giếm bấy lâu nay lại được phơi bày. Giây nhợ, thuốc men, muối,dao kéo, và vật dụng bén nhọn, là những món tuyệt đối tù không được cất giữ. Sau màng “bán chợ trời” này, tất cả được điều động lên xe đậu trước cổng trại. Theo kinh nghiệm, lần biên chế này là phải đi xa,vì di chuyển gần phạm vi dưới năm ba chục cây số thì không cần đến xe. Sau khi kiểm soát đầy đủ quân số và chắc chắn không còn để sót một tù nhân nào, đoàn xe bắt đầu di chuyển.
Đoạn đường rừng núi, có đoạn quá quen thuộc dài trên mười cây số vì chúng tôi phải thường xuyên lên Đoàn dể lấy thực phẩm vật dụng. Đoạn đường rừng núi còn lại là từ Đoàn trở ra Yên Bái; lần nầy là lần đầu tiên trở ra, từ ngày ra Bắc. Khi đến Yên Bái, đoàn xe di chuyển trên đường tráng nhựa đi về hướng bắc. Như thế hy vọng được trở về Nam tan theo mây khói.
Với những chiếc xe không được che kín bít bùng như những lần di chuyển trong Nam, người tù cũng không biết mình đi về đâu. Đối với CS điểm tới của tù nhân là điều tối mật. Ngay đến những tên cán bộ quản giáo cũng không biết sẽ chở tù đến đâu. Đoàn xe tiếp tục đi về hướng bắc, hơi thở càng ngày càng khó hơn; điều này chứng tỏ đang trên đường đi về miền thượng du Bắc Việt. Dọc theo đường còn được đám thanh niên đi nghĩa vụ lao động chào đón bằng những viên đá.Đó là kết quả sự tuyên truyền của đảng CS – “Sĩ Quan miền Nam là lính Ngụy” là tay sai của Mỹ, bán nước cầu vinh. Có ai ngờ rằng cũng đám thanh niên này nói riêng, nhân dân miền Bắc nói chung – Không lâu sau đấy, khi thân nhân của họ được vào Nam, được trong thấy tận mắt những gì miền Nam có được; đã thấy tận mắt đời sống của nhân dân miền Nam, những người này là chứng nhân – đã hiểu ra được: Mấy chục năm nay họ đã bị đảng CS lừa bịp, dối gạt họ. Đây là một đòn “gậy ông đập lưng ông”. Chiếm được miền Nam làm hư luôn miền Bắc. Nay nhân dân miền Bắc không còn nghe lời tuyên truyền láo khoét của CS nữa.
Sự thay đổi thái độ của đám thanh niên này chứng tỏ điều ấy. Bây giờ họ nhìn những sĩ quan miền Nam không còn thù địch. Những lời nói và hành động thân thiện chứng minh điều đó. Họ chiến thắng nỗi sợ hãi khi muốn tiếp xúc với tù nhân và thường hay yêu cầu: “Các anh ca nhạc vàng cho chúng em nghe.” – hoặc – “Các anh kể chuyện miền Nam cho chúng em nghe.” Những yêu cầu đó nay trở nên quen thuộc với các người tù CS. Thật tội nghiệp cho tuổi trẻ miền Bắc. Có những cô gái còn thật trẻ, phải ăn ở tạm bợ dọc theo rừng núi như chúng tôi và làm những công việc nặng nhọc – họ phải đi khổ sai lao động. Họ phá núi đấp đường như những lao công không lương, thay vì được đến trường như những thanh niên miền Nam cùng lứa tuổi.
Đoàn xe di chuyển trên những con dốc cao và tiếp tục cao thêm. Con đường ngoằn ngoèo chạy giữa hai rặng núi. Thỉnh thoảng đi qua một nhà ga xe lửa, hay một chiếc cầu gập ghềnh vừa mới được tạm xây cất lại. Những dấu tích đổ nát vẫn còn đẩy vì chúng đã bị tàn phá sau những đợt oanh tạc của phi cơ Mỹ. Đôi khi đoàn xe phải qua những con suối cạn vì nơi đấy CS cũng không có tiền để xây cất cầu. Đoàn xe cũng đạt tới tối đa cao độ; từ đây nhìn xuống thung lũng sâu thâm thẩm chỉ thấy một màu xanh đen – màu của lá tre, trùng trùng điệp điệp kéo dài từ thung lũng này đến thung lũng khác – đám rừng tre như vô tận.Mặt trời đã ngả bóng về tây. Ánh sáng vàng và độ nóng yết ớt còn theo đuổi cho đến lúc đoàn xe ngừng hẳn. Không lâu, mặt trời đã khuất bóng sau những rặng núi bao chung quanh thị xã; những chú mục đồng đang dẫn trâu về hợp tác xã. Thỉnh thoảng vài con chim lạc đàn tìm về tổ ấm, buông lên những tiếng kêu buồn thảm, làm tâm hồn người tù tan tác.
Điểm đỗ quân đã đến, nhưng chắc hẵn nơi đóng trại còn xa. Trại tù của Sĩ Quan Cộng Hòa không phải là thị trấn, nơi mà các bảng trên đường cho biết đây là huyện Dương Quỳ, một huyện hẻo lánh miền thượng du Bắc Việt.Trời đã sụp tối, cơm chắc hẳn là không. Cơm không phải là thực phẩm hàng ngày của tù nhân mà là khoai, sắn ,bắp hột. Bụng người tù trống không vì chén bắp hột được phát buổi sáng hôm nay không còn gì nữa. May mà cũng được vài củ khoai đã được hợp tác xã của thị trấn chuẩn bị cho tù nhân. Mấy củ khoai trong phút chốc đã biến mất vào bụng tù cũng không đủ thoả mãn đuợc cái dạ dầy trống đói triền miên.
Trời đã tối hẳn. Đâu đây các con đơm đớm muốn khoe nét rực rỡ của mình bằng những đớm sáng xanh trong các bụi cây dại gần đấy. Đám côn trùng bắt đầu trổi lên bản nhạc buồn cố hữu. Trời đã trở lạnh,sương núi bao phủ vạn vật. Người tù phải tự tìm cách chống đỡ cơn lạnh giữa không gian giá buốt. Đâu đây một vài cánh sao băng vẽ nên một vệt sáng, cầu nguyện đó không phải là ngôi sao của mình. Có thể, ngôi sao của mình rồi sẽ rơi rụng nay mai, ai biết?
Dù thế nào đi nữa, mọi người phải cố gắng ngủ. Ai cũng phải hiểu rằng sức lực ngày mai là cần thiết cho đọan rừng núi sắp đến.
Đêm đã qua đi. Đâu đây tiếng gà gáy báo bình minh trong thôn xóm. Tiếng chim kêu chim chíp trên cành cây. Tiếng trò chuyện xôn xao của dân làng đang di chuyển trên con đường đất. Ánh sáng bình minh đánh thức mọi người. Sương đêm thắm ướt tắm đắp. Ngọn cỏ cành cây còn đọng lại những hạt nước ly ty. Lệnh di chuyển được ban hành. Hành trình tiếp tục bằng đôi chân. Đi bao xa để đến được điểm đóng trại? Không ai biết. Họ chỉ mong mau tới chỗ. Điều đó không dễ dàng; đây là vùng núi non hiểm trở. Đường đi càng lúc càng gập ghềnh nguy hiểm vì phải trèo qua các vách núi. Theo hướng đi, chúng tôi phải vượt qua đỉnh núi trước mặt. Sự thật phải vượt qua chóp núi kia thì than ôi! Còn bao nhiêu hơi sức để sử dụng. Dù muốn dù không cũng phải thi hành. Không còn con đường nào khác.Đường núi càng lúc càng gây go. Mặt trời đã lên cao, tỏa ra những tia sáng mang sức nóng thật oi bức. Bụng tù nhân cồn cào vì mấy củ khoai sáng nay hầu như không còn trong bao tử. Độ dốc càng lúc càng ác nghiệt. Đỉnh núi cao tận trời xanh thế mà phải chinh phục bằng đôi chân. Ai còn sức thì đã đến đỉnh, những người yếu đuối còn lưng chừng núi. Dù mạnh yếu cũng phải vượt qua đỉnh núi này. Đôi chân di chuyển từng bước, mồ hôi nhuể nhại, hơi thở hòng học, thế nhưng không dám ngừng chân ngồi nghỉ, vì biết chắc chắn, khi đã ngồi xuống rồi thì không còn đủ can đảm đứng lên tiếp tục đi.
Cuối cùng tất cả cũng đạt đến đỉnh. Nơi đây bầu trời như thấp xuống. Mây bay lảng vảng quanh đỉnh đầu, ngỡ rằng mình được về cõi thiên thai. Từ đấy nhìn xuống thung lũng, vực sâu hun hút, xanh đen u ám, mường tượng hình như đấy là địa ngục. Dù là thiên đàng hay địa ngục thì không còn quan trọng nữa. Cái quan trọng hiện tại là làm sao bụng đừng bị đói nữa và sức lực còn đủ để vượt qua khỏi địa ngục trần gian nầy.Đường hãy còn xa.Hành trình chưa chấm dứt vì điểm đóng trại là vùng phụ cận biên giới Việt Trung. – Nơi người Kinh không sinh sống. Đấy là quê hương của dân tộc thiểu số. Tầy, Mán, Mường, Lô Lô, nơi mà năm mươi người theo mẹ lập nghiệp theo truyền thuyết. Vì vậy họ theo “mẫu hệ” – người đàn bà là chủ gia đình. Sự sinh sống ruộng nương đều do tập thể dân trong bản thượng cùng làm cùng ăn. Họ là những người hết sức hiền từ, chân thật, rất dễ cảm mến tuy rằng họ còn chút nhút nhát rục rè. Cuộc sống hàng ngày của họ là phát nương trồng tỉa, bắp, khoai, nếp – người thượng ăn nếp không ăn gạo – và chăn nuôi. Sự di chuyển chỉ bằng đôi chân và ngựa thồ. Đêm về có những loài chim rừng kỳ lạ đi ăn đêm, buông tiếng kêu vừa đinh tai xoáy óc, vừa rừng rú hoang dã như ta thán, như ai oán, làm tăng thên nỗi kinh hoàng như những lời đe dọa của tử thần. Ở nơi cao độ như vùng thượng du rừng rú này, tôi cảm thấy hít thở thật khó khăn, dường như lồng ngực chỉ còn một lá phổi.
Trải qua mấy con suối cạn, vượt qua cây cầu treo bắt qua suối, làm bằng ván cây rừng mà trong thời Thế Chiến thứ hai Nhựt đã xây cất để làm tuyến đường thông qua Trung Quốc.
Cuối cùng rồi cũng đến điểm đóng trại. Nhìn lại đoạn đường, người tù nghĩ mình có lẽ đã vượt qua hơn ba mươi cây số từ điểm đỗ quân. Như thông lệ, cây và lá rừng vẫn là phương tiện đầu tiên dùng để che mưa đỡ nắng. Quá trình xây dựng trại là một chuỗi thời gian không ngắn. Mọi người tù tự biết phải chống chọi với thiên nhiên để tồn tại. Một không gian quá mới lạ mà họ chưa được biết khí độc như thế nào, nước độc sẽ tác hại ra sao; duy có điều chắc chắn là: họ biết, khí độc nước độc là hiện hữu. Cơn đói là một thực thể không tách rời người tù. Nó đeo đẳng từng phút từng giây trong cơ thể họ. Nơi đây có cái gì để “cải thiện” – danh từ của CS dùng để chỉ kiếm được cái gì ăn được – không? Không có cái gì cả, ngoài những tai nấm mèo mọc ở các thân cây mục trong rừng, đám rau dại mọc ở bờ suối, và những củ măng tre rừng. Trái rừng thì không biết trái gì ăn đuợc, trái nào là trái độc. Thú rừng hầu như không bao giờ tìm được. Những thứ ăn được có tai hại gì về sau không? Mặc kệ, phú cho số trời, miễn hiện tại nó giúp trám được chỗ trống trong bao tử hôm nay, cho dù ngày mai có tai hại ra sao; đó là điều xảy ra ở tương lai. “Cải thiện” là hành vi thật cẩn thận, kín đáo. Nếu bị cán bộ CS phát giác, cầm chắc được ăn thêm vài cái báng súng hoặc vài cú đấm vào mặt. “Củ riềng” không bỏ sót khỏi danh sách “cải thiện”, vì nó mọc đầy các đồi núi, chỉ cần nướng lên cho nó bớt cay là trám vào bao tử. Cây “Quầu” – một loại cây tre nhưng không dẻo dai bằng tre – là vật liệu chính để dựng nhà. Nứa chỉ mọc ở các thung lũng thật sâu, dùng để lợp nhà. Sau hơn một tháng, cuối cùng nhà ở cũng đã làm xong.
Nhưng than ôi! Tù nhân mới vừa ổn định thì lệnh “biên chế” lại được ban hành. Lần nầy chắc chắn không còn tiến xa hơn được nữa vì biên giới chỉ còn vài chục cây số về hướng bắc. Mọi người vui mừng, không cần biết sẽ đi về đâu, mà chắc chắn phải trở ra. Các trại tù chính trị ở sát biên giới là một điều thất sách khi chiến tranh Việt Trung sắp sửa xảy ra.
Tất cả lại khăn gói lên đường với sức khoẻ càng ngày càng kiệt quệ. Dù thế nào đi nữa, đoạn đường rừng núi dài hơn hai chục cây số trở ra có mệt nhọc nhưng cũng an ủi được người tù, vì điểm đóng trại đã có người Kinh sinh sống. Họ không phải là những người tự nguyện, mà là những người bị “chỉ định” định cư. Họ là cư dân Hà Nội, Hải Phòng hoặc các thị trấn khác, bị CS lưu đày vì bị liệt vào thành phần bất hảo. Nay họ đã có đồng minh, sĩ quan miền Nam bị lưu đày ra Bắc không khác chi họ. Chỉ khác một điểm là họ bị lưu đày trong tự do đi lại, còn sĩ quan miền Nam bị lưu đày có bọn CS canh giữ.Tất cả họ phải là hội viên của “hợp tác xã” (HTX). Như mọi người dân nông thôn miền Bắc, không còn đường nào khác hơn, phải là hội viên HTX mới được mua gạo. Chánh sách của CS là nắm bao tử của người dân. Bị đuổi ra khỏi HTX là một tai họa cho cả gia đình. “Lấy gì mà sống khi không được mua lương thực”. Chánh sách bóp bao tử để trị bao giờ cũng tàn nhẫn và luôn luôn có hiệu quả. Thế mới biết thương cho nhân dân miền Bắc, mấy chục năm sống dưới ách CS. Người lính Cộng Hòa cũng không tránh khỏi thủ đoạn tàn nhẫn này của CS.
Vẫn điệp khúc cũ. Bắt đầu tiến trình xây dựng trại. Vẫn tre nứa, cây rừng. Vẫn con người cũ, nhưng sức lực thân thể đã đi đến độ suy tàn. Bây giờ họ chỉ còn là những bộ xương biết đi. Thử hỏi ròng rã ba năm trời, bụng bao giờ cũng đói, làm việc không kém con trâu, đau ốm không thuốc men, không lao động thì khẩu phần ăn còn phân nửa. Hơn ba năm không một lần được gia đình tiếp tế. Thủ đoạn CS áp dụng rất có hiệu quả. Số bệnh nhân tù càng ngày càng gia tăng. Số người nằm lại miền rừng núi này xảy ra hàng ngày. Bệnh kiết lỵ lan truyền trong trại. Những gương măt lo sợ lưỡi hái tử thần càng ngày càng nhiều trên các giường bệnh. Không thuốc men trị liệu là thủ đoạn của CS. Nỗi sợ hãi của họ là điều hợp lý, vì con bệnh nào được đưa đến bệnh xá thì không còn cơ hội trở về trại nữa, họ đã an nghĩ vĩnh viễn đâu đó trên những ngọn đồi miền thượng du Bắc Việt. Không tránh được hiểm họa kiết lỵ, tôi cũng từng ngã xuống về chứng bệnh nguy hiểm này. Có lẽ phần số tôi chưa đến. Tôi đã vượt qua được nhờ mấy viên thuốc còn giấu được sau những lần “bán chợ trời”.Thuốc tuy cũ, hơn ba năm – từ khi tập trung tôi mang theo, dù có hết hạn nhưng đã giúp tôi không nằm lại đất Bắc. Tuy qua được lưỡi hái tử thần, nhưng sức lực tôi không còn gì nữa. Một hôm tôi được giao cho đi đốn hai cây tre. Tre ở đây chỉ mọc ở thung lũng thật sâu. Muốn lấy được phải leo lên tận đỉnh đồi, sau đấy tuột xuống thung lũng đốn lấy. Làm xong phải dùng sức đưa tre từng mét lênh đỉnh đồi, cuối cùng đổ dốc kéo xuống chân đồi. Trời mưa làm con dốc trơn như thoa mỡ. Cố gắng đừng để trượt chân; nếu tai nạn xảy ra thì không biết thân thể sẽ ra sao. Hôm ấy tôi không thể nào làm đúng giờ qui định được. Trời sắp sửa tối, mà tôi chưa về tới trại. Cán binh CS được lệnh đi tìm.Chúng sợ tôi trốn trại hay tai nạn chết trong rừng. May lúc đó tôi lôi được hai cây tre về tới trại, người ướt sũng nước mưa. Một lần khác, trong đêm ngủ tôi không còn biết gì, sáng ngày tôi phát giác tinh dịch lẫn tinh trùng xuất ướt cả quần. Tôi rất sợ hãi. Tôi trình với viên “quản giáo”.Cũng may, viên cán bộ này người Đà Nẵng – trung úy Hoàng – có lẽ hắn ta người miền Nam, còn chút tình người hay chưa thắm nhuần chính sách CS, nên hắn ta đối xử với chúng tôi còn chút nhân đạo. Tôi được giao cho giữ con trâu hay con ngựa. Trâu hay ngựa này bị gãy chân không còn làm việc được, đồng bào thiểu số bán cho trại để làm thịt vào những dịp lễ lớn. Nhiệm vụ của tôi mỗi ngày dẫn nó đi ăn, chiều ra suối tắm cho nó.Điều đặc biệt cần phải biết khi tắm suối ỡ vùng thượng du này. Dòng nước suối trong vắt, đang an lành chảy róc rách qua các rễ cây khe đá, tạo thành âm thanh êm đềm vô tận. Trời về chiều nước suối mát lạnh, ánh nắng chiếu những tia sáng xuyên qua cành cây kẽ lá như cùng dòng suối phô trương cảnh bình an với vạn vật. Thế đâu có ai ngờ, trong phút chốc, ở đầu nguồn vang vội lại những âm thanh như gầm thét tưởng chừng một trận động đất sắp xảy ra. Thình lình nước đổ ồ ạt dữ dội theo con suối; nước mang theo những thân cây lớn nhỏ ngắn dài ngổn ngang, trôi dạt, va chạm vào bờ suối, ghềnh đá, tạo nên những tiếng động kinh hồn. Cùng lúc, nước dâng cao đột ngột, nước tràn qua hai bên bờ suối một cách bất thường. Trong tích tắcnước đã cao hơn nửa thước dọc hai bờ suối. Đây là kết quả của những trận mưa lớn trên đầu nguồn. Nước mưa quá nhiều tạo nên cơn lũ mà người ở hạ lưu không thể ngờ được. Để nuôi con ngựa hay con trâu, phải tìm nơi có cỏ, những nơi này thường gần khu dân cư. Mình thấy họ sinh hoạt nhưng tuyệt đối không được lại gần hoặc tiếp xúc với họ. Ngược lại người dân cũng không được quan hệ với tù nhân.Có một người đàn bà, quan hệ với tù nhân, đỗi con gà luột, lấy một áo len. – Áo len đối với dân miền Bắc, là một bảo vật để chóng lạnh. Gia đình bà ta chịu kỷ luật, bị trục xuất ra khỏi làng. Như thế mới thấy CS kềm kẹp dân chúng như thế nào.
Một vài kỷ niệm mà tôi không thể quên suốt cuôc đời tôi, đó là nhưng tấm lòng vàng của những người dân bị chỉ định định cư.Một hôm, tôi đang dẫn con ngựa đi ăn, khi đi ngang một người đàn bà, bà ta tiếp tục đi và nói lớn đủ để tôi nghe: “Cậu đi lại bụi cỏ kia, tôi có để gói cơm, cậu lấy mà ăn.” Đây là gói cơm bà ấy ăn còn thừa. Bà muốn cho tôi cơm mà không dám dừng lại chỉ cho tôi chỗ để cơm! Sau khi bà ta đi xa, tôi dẫn ngựa lại gần bụi cây, cột ngựa vào khóm cỏ dại, cẩn thận quan sát trước sau,chung quanh, để chắc chắn là không có cán bộ CS gần đâu đấy. Tôi lại gần và tìm gặp được gói lá chuối nằm trong bụi cây. Tôi vội vã mở ra thì thấy còn hơn nửa chén cơm thừa và vài miếng cá vụn.. Tôi vội vàng đưa vào miệng nhai ngấu nghiến, nuốt nhanh giống như sợ nó biến mất. Trong đời chưa bao giờ tôi được bữa ăn ngon như thế, cho dù đây là miếng cơm thừa, cá cặn. Ăn xong tôi thận trọng thủ tiêu miếng lá chuối, chùi miệng sạch sẽ như không có chuyện gì xãy ra và dẫn con ngựa đi chỗ khác. Cảm giác lẫn lộn, vừa mang ơn ân nhân có đủ can đảm cho tù nhân cơm thừa, vừa tiếc nuối sao cơm ít quá. Mà biết bao nhiêu là đủ khi mà bao tử đã trên ba năm lúc nào cũng thiếu ăn – đói triền miên. Thế mới biết lòng người dân miền Bắc không như những gì CS đe doạ chúng tôi: “Dân chúng căm thù các anh lắm.Các anh không được tiếp xúc với họ để tránh trả thù”.
Tấm lòng vàng, tuy cho vật chất nhỏ nhoi, nhưng điều đó nói lên bao nhiêu tình cảm chân thành của họ. Người đàn bà đó không phải là người duy nhất mà tôi thọ ân. Hôm khác, tôi cũng dẫn ngựa cho ăn, tôi đối diện với người đàn bà khác.Bà biết tôi mỗi chiều dẫn ngựa ra bờ suối tắm. Bà đón tôi và báo cho tôi biết: “ Tôi có giấu miếng bưởi dưới gốc cây cạnh bờ suối, cậu ra đấy lấy ăn.” Một miếng bưởi có lẽ là miếng ăn dễ kiếm, vì nó là cây nhà lá vườn , không phải là những thứ được phân phối bán theo tiêu chuẩn. Nếu ăn thừa có thể vứt bỏ dễ dàng.Thế mà không, bà ta còn nhớ tới tôi, người tù đói rét. Tôi ra bờ suối lấy ăn. Tuy không no, nhưng những gì lúc ấy được đưa vào bao tử đều quý giá. Lòng bùi ngùi cảm động, ân nhân không chờ đợi.
Người đàn bà trên cũng không phải người cuối cùng tôi đã thọ ân lòng bác ái của họ. Người thứ ba có lẽ là người đáng thương hơn dưới chế độ CS, bởi vì cô ta còn quá trẻ để nhận lấy sự đối xử tàn tệ của chế độ. Cô ta là con của những người bị chỉ định nơi cư trú nầy. Cô ta tuổi khoảng chừng mười sáu, tức là lứa tuổi, đáng lý ra với những cô gái đồng trang lứa sinh ở miền Nam, đang được cấp sách đến trường, hoặc nếu sống ở miền quê cũng có đời sống tự do sung túc hơn. Hôm nọ tôi đang dẫn con trâu đi trên đường làng, cô gái cũng dắt con trâu đi sau lưng tôi. Cô cố gắng đi nhanh qua mặt tôi.Khi đi ngang, cô cố tình đi sát bên tôi, cô nhét khúc mía khoảng hai tất vào tay tôi, cô tiếp tục đi nhanh qua mặt tôi rồi vụt biến mất vào xóm nhà dân.Cô rất sợ những đôi mắt xoi mói của công an khu vực. Tôi cầm chặt khúc mía, thật nhanh tay nhét vào lưng quần, giấu mía bên trong áo.Lâu quá không có chất ngọt trong cơ thể, được khúc mía là điều quá may mắn. Tôi vội tìm chỗ vắng vẻ, mắt trước mắt sau quan sát cẩn thận, rồi ăn thật nhanh hết khúc mía. Ăn xong tôi bươi đất chôn xác mía, chùi miệng sạch sẽ và dẫn trâu cho đi ăn cỏ. Hậu quả khi cán bộ CS phát giác ra tù nhân đang ăn mía, ăn cơm, ăn bắp v.v.không? Thứ nhứt, chúng ghép cho tù tội ăn cắp, phá hoại mùa màng của dân chúng. Với tội trên chúng sẽ áp dụng kỷ luật biệt giam, cùm tay chân trong nhà giam,thường được đào trong lòng đất, bỏ đói, lạnh, vài tuần lễ thì tù sẽ mau đến nghĩa địa. Thứ hai, nếu biết người dân nào tiếp tế cho tù thì người đó sẽ bị CS ghép tội quan hệ với tù binh. Với tội này họ sẽ bị đuổi ra khỏi xóm, khỏi HTX. Khi bị đuổi họ sẽ khốn khổ vì không được mua lương thực, không nhà cửa dung thân.
Những kỷ niệm được người dân miền Bắc đối xử ở trại tù này tôi không bao giờ quên. Bây giờ tôi không còn hình dung được những khuôn mặt thân ái đó và không biết được giờ nầy họ đang ở đâu. Theo sự suy nghĩ của tôi, chắc chắn những người dân trên không còn cư trú ở vùng rừng sâu nước độc này. Điều mong ước của tôi là những người này, ngày nay có cuộc sống đỡ vất vả hơn. Họ được trả lại phần nào cuộc đời của họ, chứ không chịu cảnh áp bức bất công phi lý “chỉ định định cư”như thời CS xưa kia Làm sao trả ơn được những ân nhân này. Mà trả bao nhiêu mới xứng đáng. Có lẽ không bao giờ dùng vật chất để trả hết ơn của của những tấm lòng vàng đó. Họ làm phúc không với mục đích để được trả ơn. Họ làm phúc vì lòng thương người, lòng bác ái dành cho đồng bào trong cơn hoạn nạn. Ngày nào còn trong tù, tôi chỉ mong có được một bữa cơm trắng, chỉ mong có một bữa ăn no, xa hơn mơ ước có một ngày tự do. Khi được tự do, tôi mong muốn tránh xa được bọn CS; chúng gần như cướp mất cuộc đời tôi. May mắn tôi đã tránh xa được CS. Từ trong tù, tôi không tưởng tượng rằng tôi còn có ngày hôm nay. Nhà cao cửa rộng, cơm thịt hàng ngày quá dư thừa, đến nỗi không dám ăn nhiều sợ mập phì gây bệnh. Thế mới thấy được một nghịch lý, nghịch lý mà con người không thể nghĩ ra được.Tôi cũng còn một mong muốn, làm sao trả ơn được các ân nhân này –họ đã giúp tôi ở giai đoạn tồi tệ nhất trong cuộc đời tôi. Điều ấy chắc chắn không bao giờ xảy ra và không bao giờ thực hiện được. Sau hơn ba chục năm, mọi người mọi vật đều thay đổi. Trái đất tiếp tục quay, con người tiếp tục sống. Những ân nhân đã ban bố cho tôi miếng cơm thừa hay những thức ăn quý giá trong giai đoạn gian khổ ấy, cũng không còn nhớ có một ngày xa xưa hơn ba chục năm trước, đã giúp cho một người tù miếng ăn tình thương ấy. Bây giờ người được nhận ân huệ, có đời sống vật chất có lẽ nhiều lần hơn họ. Nếu biết thế có lẽ họ cũng không đòi trả ơn.

nguyễn văn chín





( Trở về đầu trang )