Đại Hội 2009     trang đầu * LVChâu   lời mở đầu * CVThành   những hổ cáp 2 lìa đàn * NXDục   họp mặt hổ cáp * GĐNội   40 năm đệ nhị hổ cáp * NĐHoàng   hội ngộ lần đầu * LVLai   dư âm đại hội * NÁnh   người phụ nữ với chiếc quần 200 năm đi mượn * NĐHoàng   cảm nghĩ về đại hội 2009 * 20
Đặc San 2009     trang bìa * TTĐức   nội dung * BBT   tâm thư * BBT   lời nói đầu * BBT   điệp khúc tình yêu * NaNa & TigônHồng   những chuyện kể năm xưa *20   thơ quân trường *NTTánh   mỹ quốc định cư, hành trình kí sự *NĐHoàng   hổ cáp tự truyện *HKC   cho anh cung đàn đã lỡ *NTTánh   miếng cơm thừa *NVChín   xuân trên phố *NTTánh   hq615 *PNLong   tù không án *VHLý   tù quản chế *VHLý   chuyến tàu định mệnh *HKChiến   quả mơ *TKen   em về với mộng đêm nay *ThưKhanh   lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQ/VNCH*HKChiến   di tản bất như ý *VHLý   những đoạn thơ rời *CVThành   mãng đời tỵ nạn *NHHãi   thơ quân trường *NTTánh   hải hành *CVThành   những người bạn VTT và một thời để nhớ *NXDục   bài hát tình tang *ĐNViêm   bạn tôi *NVChín   một thoáng quê nhà gợi nhớ *CVThành   bóng rợp sân trường cánh hải âu *NĐHoàng   một linh hồn giữa biển khơi *NTTánh   tàn thu *NÁnh   buổi lễ vượt xích đạo *DTTùng   một chuyến hải hành đêm *NTTánh   mười hai con giáp, mười hai chòm sao *LVChâu   chén canh rau muống *NVChín   ngày xuân năm ấy *HKChiến   ý thiếp cùng tình chàng hổ cáp *ChịNVThước   tâm tình *ĐDVy   những ngày tháng không quên *NÁnh   tiếng gọi từ vũng lầy * NXDục   lời tạm biệt *NVĐệ   trang cuối * TTĐức



chén canh rau muống



    T rên thế gian này có nhiều điều gây ngạc nhiên mà tưởng chừng suốt đời ta không bao giờ gặp phải. Sau ngày 30 tháng 4 năm 75, có một điều rất đáng ngạc nhiên đến độ tàn nhẫn, đó là: sau chiến tranh, các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tuy không phải là tù binh mà phải vào tù. Nếu phải vào tù đúng với ý nghĩa của một nggười tù thật sự thì cũng đành phải cam chịu. Tù thật sự thì cũng có cơm ăn ngày hai buổi với thức ăn. Tuy cơm tù không ngon, nhưng cơm tù của chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng còn được no bụng. Cái ngạc nhiên của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà không phải vào tù Cộng Sản mà bị vào “trại tập trung cải tạo của Cộng Sản”. Vì không phải là nhà tù cho nên cách hành sử hay những gì sinh hoạt trong trại tập trung cải tạo đều không theo những quy ước giống như trong nhà tù. Người ở trong trại tập trung cải tạo không phải là tù binh để được hưởng quy chế tù binh theo Công Pháp Quốc Tế, mà được gọi là “trại viên” để chỉ phải bị ràng buộc bởi những quy luật ngoài Công Pháp, và của riêng trại mà thôi. Trại viên không phải bị nhốt vào nhưữ ng nhà “hộp xây kiên cố” nhưng phải bị đày ải vào những khu vực rừng sâu nước độc, làm việc khổ sai, ăn uống thiếu thốn, và được bảo vệ bởi những tên bộ đội có trang bị bằng súng AK. Trại viên của những trại tập trung cải tạo của Cộng Sản không phải là người tù nên không được đối xử hay cho ăn uống như một con người.
Con người, lại là những con người lính chiến nên dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh dù cho nó có bẽ bàng tới đâu. Trong trại tập trung cải tạo cái ăn đã không giống trại tù mà đến cả cái việc “phóng uế” cũng không giống ai hết! Vì không phải là nhà tù, cho nên trại cải tạo cũng không có cầu tiêu tiểu. Người Cộng Sản tiên tiến nên “đã tiến bộ” hơn người ở xã hội văn minh Việt Nam Cộng Hoà. “Phân người” là sản phẩm sinh hóa của con người, nhưng lại là phân bón rất tốt cho thực vật. Nên người tù cải tạo của Cộng Sản đã phải sữ dụng những thứ ấy để tạo ra miếng ăn. Ngày đầu tiên trong trại cải tạo, là phải có chương trình giải quyết “cái việc phóng uế” trước cái ăn. Ăn là giai đoạn đầu, nhưng “việc phóng uế” tuy đến sau nhưng lại quan trọng hơn. Dù cho có đói thì con người vẫn có thể nhịn được đôi ba ngày, nhưng cái chuyện tiểu tiện hay đại tiện thì lại không thể nhịn nổi đôi ba ngày được. Cho nên các tên cán bộ Cộng Sản đã nghĩ dùm và giải quyết cho cải tạo viên trước tiên. Các “hố xí” (danh từ mới xuất hiện khi CS chiếm đươc miền Nam) đã được cán bộ Cộng Sản ra lệnh cho đào tức khắc để giải quyết cái việc ấy.
Đó là điều ngạc nhiên thứ hai vì trong đời tôi chưa bao giờ “được ngồi đồng” nơi “hố xí”. Nói thì nghe thật phũ phàng, và chua chát! Phũ phàng nhứt là phải đi làm cái việc mà tưởng chừng mình không bao giờ có thể làm được, đó là gánh phân đi bón rau. Đầu tiên khi nghe những tên quản giáo Việt Cộng bảo chúng tôi phải làm cái việc này thì thật tình như tiếng sét nỗ ngang tai. “Các anh lấy phân trồng rau để cải thiện bữa ăn của các anh”; Lại “cải thiện”!
Trại viên không những phải lấy phân mà còn phải hứng và lấy nước tiểu nửa. Phân thì khỏi phải dự trữ vì lúc nào cũng dư thừa ở các “hố xí”, nhưng nước tiểu thì phải tích lũy, nghiã là phải có thùng chứa. Như thế thì mỗi “láng” phải có hai thùng chứa nước tiểu để ở hai đầu nhà. Trong đêm trại viên không cần đi xa nhà, nếu thức giấc thì sẵn có hai cái thùng ở đầu nhà, và cứ việc “tè” vào đấy, khỏi mất công đi xa, vừa tiện lợi vừa có ích vì sẽ dùng nó để tưới rau. Đó là lời cán bộ CS nói với tù nhân. Mới nghe thì thật hữu lý, nhưng có ai biết được là chúng sợ rằng trong đêm tù có thể lợi dụng đi xa để dễ bề vượt ngục.
Thử hỏi cái khó khăn như thế nào khi lần đầu tiên làm công việc “lấy phân” để bón cho rau. Cái tiến bộ của xã hôị chủ nghĩa là biết lấy phân và nước tiểu của trại viên để bón rau cho trại viên. Đỉnh cao trí tuệ của xã hội chủ nghĩa là thế đấy!
Tôi là một trong hai người tình nguyện để làm cái công việc bón rau đó! Tục ngữ ta có câu “gánh nước thì khỏi bồng em”, và tôi đã chọn một trong hai, tức là chọn cái công việc “gánh phân” để trồng rau. Ông bà ta nói “vạn sự khởi đầu nan”, và khởi đầu việc “gánh phân” thật là khó khăn vô cùng cho tôi. Một miếng khăn vãi dùng để bịt cả mũi lẫn miệng, chỉ chừa ra hai con mắt đủ thấy đường để làm việc, trông giống như hiệp sĩ “Zorro” đang hành đạo. Một cái thùng sắt để làm thùng chứa, một khúc cây rắn chắc dùng làm đòn gánh, và một chiếc lon nhỏ có cán để làm cái đồ múc phân. Thế là chúng tôi có trang bị ban đầu cho “nghề” trồng rau.
Từ khi cha sanh mẹ đẻ đến khi làm sĩ quan Hải Quân, chưa bao giờ mình có thể tưởng tượng ra rằng có ngày mình trở thành người tù gánh phân bón trồng cho rau như thế này. Ấy vậy mà ngày tháng trôi qua trong trại tù cải tạo của Cộng Sản, mình cũng có thể làm được cái công việc này trôi chảy.
Công việc trồng rau đầu tiên là phải chuẩn bị đất để trồng. Đất được cuốc sới lên làm thành từng luống, và trong khi một miếng đất khác đã được chuẩn bị kỹ hơn để gieo hạt giống. Phân được lấy lên từ những hố xí mang về khu vực trồng tiả, và cho vào một cái hố khác. Hố này không còn gọi là hố xí nữa vì không còn ai được phép“sản xuất” vào đây.Tuy không còn là hố xí nhưng hố nầy cũng chứa môt sản phẩn như hố xí, với các “con dòi” cũng bị di tản từ hố xí qua. Bên cạnh hố này, còn có thêm một hố khác để chứa nước tiểu. Phân chứa lâu ngày sẽ rữa ra và trở thành mùn là loại phân bón thật tốt cho rau cải. Nước tiểu lâu ngày không còn nhiều nồng độ và cũng là một chất bón giúp cho rau cải phát triển nhanh. Phân thì trộn chung với đất, còn nước tiểu thì pha với nước dùng để tưới hàng ngày. Đôi khi vì nhu cầu cấp bách còn lấy phân tươi pha với nước tưới vào gốc cây cải để chúng mau phát triển.
Cải “bẹ xanh” được gieo đã lên thành những cây con, nay chỉ còn nhổ ra từng cây mà cấy xuống những luống đất đã được chuẩn bị sẵn. Sau khi đã trồng những cây con xong, công việc hằng ngày là tưới, nhổ cỏ dại, và bắt sâu. Nước tiểu được pha với nước tưới vào buổi chìêu, nước suối tưới vào buổi sáng. Cải mau lớn như thổi. Hàng tuần lấy nước pha với phân mà tưới vào gốc cây cải. Mỗi ngày bây giờ chỉ còn viêc làm cỏ và bắt sâu để cây cải phát triển nhanh và tốt. Cải non xanh là những mật khu của những con “sâu rợm” to bằng ngón tay vừa xanh vừa bóng.
Rau nay đã đến kỳ thu hoạch. Rau được cân ký giao cho các nhà bếp để “cải thiên” bữa ăn. Rõ thật là cảnh “tù nuôi tù”. Vì số lượng thức ăn hàng ngày đã có tiêu chuẩn, và số cầu được kềm chế nên ít hơn số cung. Vì người tù cải tạo của Cộng Sản đâu có được cho ăn nhiều hơn tiêu chuẩn chết đói, dù cho tù nhân có đói meo. Đó là chính sách tinh vi “kiểm soát và kềm chế bao tử” của Cộng Sản đối với tù cải tạo, và một phần nào cũng cho cả người dân trong cái xã hội chủ nghĩa nữa.
Cải mỗi ngày một già, và bắt đầu trỗ bông. Để giữ cho cải chậm già, thì phải bẻ bỏ cây bông ấy, và tiếng gọi thông thường của nhà nông là “cái ngòng”. Thế thì mỗi ngày chúng tôi phải bẻ ngòng bỏ đi. Nhưng thay gì vứt bỏ các ngòng đi thì chúng tôi lấy đem về nấu canh. Đó là quyền lợi có được với nghề “bốc cứt trồng rau”. Chúng tôi không được phép bẽ lá rau về nấu, vì sẽ bị ghép vào tội là ăn cắp của công, phải bị kiểm điểm, kỷ luật. Ba anh em trong đội trồng rau chúng tôi gồm có Tài, tôi, và một anh bạn cùng làm rau thường có thêm một nồi canh để “cải thiện” bửa ăn hàng ngày. (Nói là canh vậy chớ chỉ có rau luộc thêm vào chút muối).Thế cũng là huy hoàng lắm rồi, và tương đối đỡ đói hơn các bạn tù khác vì có được phụ trội thêm chén canh “ngòng cải.”
Đấy là giai đoạn mới vào tù ở các trại trong miền Nam. Việc tình nguyện trong tổ trồng rau không còn được cho phép nữa khi đoàn tù binh được chuyển ra Bắc, mặc dù có rất nhiều người muốn tình nguyện. Nghề “bốc cứt-gánh phân” trở thành một đặc ân, hay thướng chỉ dành cho những người già yếu bệnh tật, mất sức lao động hay không còn đủ sức để leo rừng lội suối nửa.
Ở một cái xã hội chủ nghĩa tiên tiến như miền Bắc lúc ấy, “cứt” là một vật chất có giá trị tuyệt đối cao, không ai có quyền lấy nó nếu không phải là sở hữu chủ. Có lẽ nói ra ít người tin, và chỉ có những người trông thấy tận mắt mới giựt mình tưởng chừng như mình đang nằm trong giấc mơ.
Di chuyển đoàn tù cải tạo ra Bắc, chúng nhốt họ dưới hầm chở than của chiếc tàu mang tên “Sông Hương.” Đối với các bạn tù cải tạo khác, có lẽ họ ít bị đau lòng hơn đối với các sĩ quan Hải Quân. Mới ngày nào đây, trên tàu Hải Quân thì sĩ quan ăn trong phòng ăn sĩ quan, có “bếp” lo lắng chu đáo bữa ăn, mà nay phải bị nhốt dưới hầm chở than, ăn nằm cùng một chỗ với thùng phân nước tiểu hôi thúi mà bọn Việt Cộng sữ dụng để cho tù binh tiêu tiểu tại chỗ. Biết nói cùng ai, đành cam chịu số phận của kẻ bại trận.
Tàu cập bến Hải Phòng. Sau khi rời tàu, để di chuyển lên miền rừng núi bằng xe lữa. Lại là các toa xe chỡ xúc vật. Tù nhân cải tạo chỉ được xem ngang hàng với xúc vật mà thôi! Khi ra đến miền Bắc, tù nhân đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Mấy mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa mà như thế này sao? Cầu cống, đường xá, nhà cửa ở thành phố sao mà nghèo nàn, cũ kỹ giống như thời Pháp thuộc để lại. Ở nông thôn toàn là nhà lá, nhà tranh, nhà nứa quá nghèo nàn, rách nát và thật lạ mắt, bởi vì khi dùng nứa lợp nhà thì khi trời mưa nắng, nứa cong và chỉa lên trời tựa như hàm răng lòi sỉ. Xe lữa còn chạy bằng đầu máy hơi nước. Thật tội nghiệp cho nó, như một con ngựa già leo dốc. Tiếng máy xì xụp, ráng sức lôi theo những toa xe để qua khỏi con dốc núi, so với người đi bộ nhanh thì họ sẽ qua con dốc có lẽ còn sớm hơn. Thật tội nghiệp cho cái đầu máy già nua, có lẽ trên thế giới Tây phương người ta đã cho vào viện bảo tàng hơn năm mươi năm trước rồi.
Dọc theo tuyến đường di chuyễn, chúng ta sẽ trông thấy những “hố xí” (lại hố xí). Mới đầu tù nhân không biết đó là nhà gì mà không ai ở, đến khi trông thấy tấm bảng có ghi hàng chữ rất rõ ràng cẩn thận “Cấm Lấy Phân”, lúc ấy thì tù nhân mới biết đó là những “hố xí công cộng.” Trong chân lý để xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phân người cũng đóng một vai trò quan trọng, và cũng đáng giá lắm vậy. Cộng Sản cố tình xâm lược miền Nam, nên tất cả tài nguyên, nhân lực, vật liệu chỉ biết để phục vụ cho chiến tranh, chúng không cần chăm lo cho đời sống văn minh phát triển của con người, cho xã hội, chúng đã kéo miền Bắc thụt lùi mấy mươi năm tiến bộ. Vì thế ở vào thời đại mà các nước phương Tây đã lên đến cung trăng, trong khi Cộng Sản vẫn còn coi “phân người” là những thứ quí trọng, vì không có “phân người” thì sẽ không có rau cỏ tươi tốt để ăn.
Khi xe lữa đến Yên Bái, Cộng Sản đã dùng xe tải để di chuyển tù nhân vào vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn. Chúng tôi được cho xuống xe ở một thung lũng hoang vu, toàn là rừng cây nằm cạnh bờ con suối.Tù nhân phải tự cất nhà cho tù nhân ở. Bửa ăn đầu tiên là môt bữa cơm (lúc này vẫn còn gạo để cho tù nhân ăn, tuy không nhiều hơn môt chén cơm đầy, thay vì một chén bắp hột như trong thời gian sau), và một chén canh rau muống.
Trại tù được cung cấp những mớ rau muống, thoạt mới nhìn thấy mình không biết là loại rau gì. Đến khi xem kỹ lại thì mới biết đó là rau muống, vì cọng rau chỉ có to gấp đôi cọng rau răm, và chỉ dài khoảng hai tấc. Rau muống ở miền Bắc là nhỏ bé như thế đó! Có lẽ rau này trồng thiếu “phân người” cho nên nó èo ọt, và xấu xí. Thế mới biết phân người ở trong cái xã hội chủ nghĩa nó có giá trị đến chừng nào.
Sau nhiều lần chuyển trại thì chúng tôi cũng được “an cư” ở trại 13 thuôc Đoàn 776 nằm trong hệ thống trại tù cải tạo thuôc tỉnh Yên Bái trong dãy Hoàng Liên Sơn. Bây giờ thì chỗ ăn chỗ ở tạm ổn định. Ổn định có nghĩa là nhà cửa đã cất xong, các đội đã được phân chia công tác, và dĩ nhiên “hố xí” cũng đã tiếp tục được giữ vai trò quan trọng trong trại cải tạo. Đội trồng rau như tôi nói, chỉ dành cho những tù nhân cải tạo thuộc loại “đồ dễ bễ”, nhưng là một đội vô cùng quan trọng của trại. Không có mấy ông “đồ dễ bễ” này thì mình cũng “dễ bị đói” lắm. Hàng ngày đội này làm những công việc như ở trong miền Nam, nhưng nay họ làm chuyên nghiệp hơn. Họ trồng nhiều thứ rau cải hơn như củ cải (nhưng không ra củ, chi ăn lá mà thôi), cải bẹ xanh thì bé tí, xu hào thì có củ lớn nhưng tù nhân chỉ được ăn lá, còn củ thì dành cho bọn cai tù ăn thôi (tù nhân nuôi luôn cai tù), và dĩ nhiên là rau muống.
Rau muống do tù nhân trồng với phân đầy đủ nên xanh tươi, mập mạp, có phẩm chất hơn những cọng rau muống khi đã được cho ăn lần đầu như tôi vừa kể. Cũng cần nên biết là trong các trại tù, việc sữ dụng vật liệu để làm sạch mỗi khi phải đi “thăm hố xí” thay đổi theo từng giai đoạn. Khi mới vào trại thì còn chút giấy mà xài, có khi dùng bao cát rửa sạch cắt ra cho mỗi lần cần đến. Nhưng khi ra đến đất Bắc, dĩ nhiên giấy hay bao cát đã hết từ lâu, nên người tù đã phải dùng lá cây rừng hoặc dùng nước. Đôi khi có người lấy quần aó rách xé ra từng miếng nhỏ để sữ dụng. Lá cây rừng thì dễ nhận diện, và dễ mục rửa. Còn vải quần áo thì thời gian mục rửa hơi lâu, và lẫn lộn với đất phân khó nhận diện.
Mỗi ngày đội trồng rau có nhiệm vụ phải thu hoạch số lượng rau đã được ấn định, họ mang vào nhà bếp cho “anh nuôi” nấu canh, và phân phối cho tù nhân. Nói canh ở đây, ta phải hiểu là rau bỏ vào chảo nước nấu chín, cho tí muối, và ít bôt ngọt là thành canh. Đừng đòi hỏi thêm thịt thà, đó là điều vô tưởng ở miền Bắc lúc bấy giờ, chớ đừng nói đến trại tù. Chén canh là chén thức ăn chính của tù nhân. Ngoài chén canh rau còn thêm được một tí nước muối hoặc tí nước mắm tôm pha thật loãng. Không bao giờ tù nhân được phát muối khô vì bọn cai tù sợ tù để dành muối mà vượt ngục. Hôm nào không có rau thì chỉ có tí nước muối hay tí nước mắm tôm. Những bữa như vậy thì tù nhân “phải khắc phục,” ráng chịu đói. Nói như thế để biết rằng chén canh rau nó quan trọng đến như thế nào đối với tù cải tạo. Người tù sau một thời gian ra Bắc thì không còn có cơm hàng ngày nữa. Đã không được ăn cơm mà khẩu phần ăn mỗi ngày lại bị bớt vì “chúng ta phải tiết kiệm để xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa”. Đó là câu nói của đám cai ngục khi giải thích với tù nhân mỗi lần khẩu phần ăn bị cắt bớt.
Rau muống được đội trồng tỉa giao cho nhà bếp để nấu canh. Đống rau muống được đem xuống suối cho nó “lặn hụp” vài lần là kể như đã rửa xong. Đâu có ai có thì giờ mà lựa lá già, lá héo, cây cỏ lẫn lộn trong đám rau ấy. Chảo nước sôi sẳn sàng trên bếp lữa chỉ cần đỗ hết vào, đun lữa lớn cho rau sôi lên, thêm tí muối và bột ngọt vào là xong. Bây giờ chỉ việc múc ra thau, chia đều cho các láng là xong việc. Các đội đi rừng, đi lấy nứa, đi trồng tỉa, đi xẽ gỗ, đi cấy lúa, đi phát hoang (đốn cây rừng dọn dẹp đất để trồng hoa mầu)... Mọi người bụng đói như cồn, kẻ ngôì người nằm để chống chọi với cơn đói, và chờ để được chia phần ăn. Cũng nên hiểu cho là khi bị đói triền miên rồi thì đa số con người sẽ không còn giữ được lòng bao dung quân tử nữa. Dù lương tâm mình không muốn nhưng lúc nào cũng cầu mong là mình sẽ được chia phần lớn hơn, nhiều hơn, ngon hơn. Cho nên khẩu phần ăn hằng ngày phải được chia ra cho từng người chớ không còn để ăn chung nữa. Khi đói cũng có ngươi xấu tính, ham ăn, nên ăn nhiều hơn phần chia mình có. Nói ra thêm xấu hổ, nhưng tôi vẫn nói, để cho mọi người biết thực tế xãy ra khi sự đói hành hạ những người tù Cộng Sản. Thường thì phần ăn được nhà bếp chia ra từng tiểu đội theo từng láng (một láng thường có 4 tiểu đội, mỗi tiểu đội khoảng 10 đến 15 người). Mỗi người trong tiểu đội được phân công hàng ngày có nhiệm vụ đi lấy và chia cơm. Mới đầu thì không ai để ý đến người chia cơm hay phần cơm của mình. Nhưng có những người xấu, chia không công bằng, nghĩa là chia phần của mình hay bạn bè mình nhiều hơn phần của những người khác. Sau nhiều lần bất công như thế, bị phát giác, rồi sanh ra cãi vã, mất hòa khí. Sau đấy phần ăn được đề nghị bắt thăm. Hiện tượng bắt thăm này không chỉ xãy ra ở một trại mà tất cả các trại tù CS miền Bắc. Cũng nên biết thêm, tiến trình bắt thăm đã phát triển đến mức tuyệt đối khoa học và công bằng. Tiến trình ấy như sau: mỗi người trong tiểu đội được chia cho một số cố định. Thí dụ anh A có số 1, anh B có số 2...Mỗi người có bổn phận đi lấy cơm và chia cơm hàng ngày khi đến phiên của mình, không ai được tránh phận sự này. Nếu tới ngày mình phải đi lấy cơm, mà mình bận không thể đi lấy được thì phải nhờ ai đó giúp mình đi lấy hộ, tuyệt đối không được quên, vì mọi người đang chờ cơm từng giây phút. Mỗi người có bổn phận đem chén của mình để vào chỗ thông lệ hàng ngày. Người chia cơm có phận sự chia cơm vào các chén để theo hình vòng tròn. Sau khi chia xong, anh ta lấy bất kỳ chén nào cũng được làm chén khởi đầu. Anh nhờ bất cứ người nào ở ngoài xa không thấy gì nơi chia cơm cho bất kỳ một số nào từ 1 đến 10 nếu như tiểu đội có 10 người. Thí dụ số 5. Người có số 5 cố định trong tiểu đội đến lấy phần ăn của mình được đánh dấu. Tiếp tục người số 6 lấy phần thứ hai theo chiều kim đồng hồ, đến nguời có số 7 và tiếp tục cho đến người số 4 là cuối cùng. Như thế người chia cũng như người nhận không bao giờ biết trước mình sẽ được phần nào. Chia cơm như vây thì thật là công bằng tuyệt đối. Sau khi mỗi người có phần chia, bây giờ chỉ có việc sang chén cho nhau là mình có phần ăn. Mọi người đều vưà lòng với phần ăn của mình.”Tất cả vui cả làng”. Thường thì không còn cần thiết phải đổi chén nữa vì mỗi phần ăn cũng tương đối bằng nhau.
Tuy nhiên cũng có nhiều tiểu đội không cần bắt thăm vì đa số có ý thức và có lòng tự trọng nên cư xữ với nhau công bằng, hoặc đề cử môt anh nào đó có uy tín nhất đứng ra chia phần ăn. Đội tôi nằm trong trường hợp này vì anh chia cơm là một anh đã lớn tuổi, có tư cách, và lòng tương trợ anh em. Bao giờ phần ăn của anh cũng hơi ít hơn phần ăn của các người khác.
Một hôm sau giờ làm việc cực nhọc, người đã rã rời vì phải vất vã trên rừng đốn cây chặt nứa. Bụng đói cồn cào chỉ biết uống vào mọt ca nước lạnh để chống chọi với cơn đói đang hành hạ. Hai anh bạn tù đã lấy cơm về tới láng. Mọi người quây quần bên hai thau bắp hột, và thau canh rau muống. Bắp hột vừa mới chia xong không có vấn đề gì, mỗi người được một chén như thường lệ. Bây giờ tới thau canh. Vì là canh rau muống nên phải dùng đủa chia rau trước, sau đấy mới chia nước canh.
Anh bạn tù vừa chia được vài chén, nhưng lần này anh gắp rau muống lên mà thấy có cái gì lẫn lộn không phải là rau. Anh dừng tay lấy cọng không phải rau ra xem. Quả thật đấy không phải là cọng rau mà là miếng vải. Khỏi nói các bạn cũng biết miếng vãi ấy xuất xứ từ đâu rồi. Đó là kết quả của mỗi lần tưới phân tươi vào gốc rau muống. Trong phân này còn lẫn lộn miếng vãi đã được anh bạn tù nào đó sữ dụng làm sạch sẽ khi anh đi thăm hố xí. Sau khi gở miếng vãi ấy ném ra ngoài rồi, anh tiếp tục chia hết thau canh, và chia hết phần nước canh. Chia xong mọi người đem phần canh của mình về ăn hết như thể không có chuyện gì xãy ra. Có ai dám bỏ chén canh rau muống khi mà cơn đói hành hạ mình triền miên? Dẫu sau rau muống cũng đã được nấu chín rồi! Chân lý ở trong trại tù Cộng Sản không phải là dơ hay sạch mà là có cái gì đó trám vào lỗ trống trong bao tử.
Đấy là chén canh rau muống mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Có đói rồi mới biết giá trị của miếng ăn. Ông bà ta nói “giàu sang sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”. Bây giờ chúng ta ở đây tuy không giàu lắm nhưng chúng ta không tiếc gì tặng nhau một món quà trong ngày sinh nhật, cưới hỏi, chớ đừng nói đến mời nhau ăn một bữa cơm thân mật. Miếng ăn bây giờ không còn giá trị tuyệt đối nữa. Đôi khi chúng ta quên đi và không còn xem miếng ăn là quan trọng, không còn biết quý trọng thực phẩm. Đến những khi ta xa cơ thất thế, khi rơi vào hoàn cảnh bị bỏ đói khủng khiếp như trong thời gian bị Cộng Sản cầm tù thì ta mới biết được giá trị miếng ăn mới là tuyệt đối. Cũng chính miếng ăn mà làm xuất hiện bản chất, tư cách, của những con người xấu tánh rỏ hơn, chẳng khác nào bần cùng sinh đạo tặc.
Đây là chuyện thật và kinh nghiệm sống thực của đời tôi trong thời gian bị tù cải tạo của Cộng Sản sau ngày đen tối 30 tháng 4 năm 1975 của miền Nam Việt Nam. Tôi viết ra kể lại câu chuyện này để cho chính cá nhân tôi, gia đình, bạn bè tôi, và những người dân miền Nam Việt Nam hãy nhớ đến những ngày tháng đen tối sau khi Cộng Sản chiếm được miền Nam bằng những thủ đoạn lừa bịp, phĩnh phờ. Đừng quên những gì Việt Cộng đã làm, đã áp dụng vào cho những quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa, và người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

(sau chuyện Bạn tôi tiếp theo DS2006)
nguyễn văn chín





( Trở về đầu trang )