.. ..Thời gian qua không quay trở lại
Và tóc xanh ngày một phai màu
Nhưng tâm ta mãi luôn ghi nhớ
Dĩ vãng buồn, khoắc khoãi, đớn đau .. ..

Ðúng vậy, đã 25 năm dài trôi qua, những lo âu, khoắc khoãi ngày xưa không còn nữa, nhưng trong ký ức của tôi vẫn ghi nhớ mãi, những hình ảnh ấy giống như một cuốn phim quay chậm và cứ quây lui, quây tới không thể nào ngừng.
              Ngày 23 tháng 3 năm 1975. Nộp xong bài thi cuối khóa, tôi vội vã trở về nhà, dựng xe Honda vào garage, tôi chạy nhanh vào phòng khách, gặp Ba tôi đang chắp tay sau lưng đi tới, đi lui, trên gương mặt người hằn nhiều nét lo âu, vừa thấy tôi, Ba tôi vội nói:
- Ba thấy tình hình chiến sự coi bộ nguy lắm con ạ, chắc phải tìm cách đi trước thôi, chớ để nước đến chân thì không kịp.
Tôi trả lời:
- Dạ, mấy cô thầy con cũng nói như rứa đó. Lần ni chắc không chạy giặc bằng đường bộ được mà phải chạy giặc bằng đường thủy.
Tôi nhìn Ba tôi bằng ánh mắt thông cảm, vì gia đình tôi nói riêng, và người dân Huế nói chung đã phải bỏ lại nhà cửa để tìm đường chạy giặc hai lần, lần thứ nhất vào Tết Mậu Thân 1968, lần thứ nhì vào Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972.


Tất cả bỏ của chạy lấy người, có lần gia đình tôi suýt bỏ mạng bởi tay bọn VC nằm vùng địa phương, nên Ba tôi rất lo lắng, nhận thấy tình hình chiến trường hơi bất ổn chút xíu là Ba tôi đã vội thu xếp đưa vợ con đi lánh nạn VC.
- Con gọi điện thoại cho Tài, bảo Tài xin đơn vị một chiếc xe GMC lên đüa gia đình mình xuống Thuận An, ở tạm trong căn cứ Hải Quân, khi mô đơn vị có tàu vô Nam thì mình xin đi theo.
- Dạ, con sẽ gọi ngay.
Tôi gọi điện thoại cho chồng tôi, chiều hôm ấy gia đình tôi và hơn mười người bà con theo xe GMC của đơn vị HQ Thuận An về căn cứ HQ ở tạm. Cứ nghỉ rằng sẽ ở tạm vài tuần, ai ngờ khuya hôm ấy, một số gia đình binh sỉ HQ của đơn vị phải di tản vô Ðà Nẳng, nên chồng tôi thu xếp cho gia đình tôi đi theo.
Tàu vô đến Căn Cứ HQ Tiên Sa, Ðà Nẳng thì nghe tin Huế thất thủ, có anh bạn TTCường ra đón và xin xe đơn vị đưa gia đình tôi vào thị xả Ðà Nẳng, chúng tôi ở tạm nhà anh chị họ ở đường Trần Cao Vân. Nghỉ lấy sức được vài ngày, chồng tôi lại tiển gia đình tôi xuống tàu tại bến Tiên Sa để tiến dần vô Nam.
Ba tôi và chồng tôi ở lại Ðà Nẳng, tôi muốn họ đi cùng nhưng họ còn mang trách nhiệm riêng đối với đơn vị, hội đoàn nên tôi đành chấp nhận đüa gia đình đi trước. Ðại gia đình gồm có Bà ngoại già trên 80 tuổi, Mẹ tôi, bảy đứa em và một số anh chị họ, tổng cộng khoãng hai mươi người mà ngoài Bà Ngoại già, bà Mẹ yếu, thì tôi là lớn nhất, nhưng lại mang cái bụng bầu to tướng, di chuyển khó khăn, chỉ biết ngồi một chổ mà sai biểu các em làm theo mà thôi, đoàn người chúng tôi như quân không có tướng, thiếu người dẩn dắt khiến lòng tôi rất lo lắng, nhưng thông cảm Ba tôi và chồng tôi không thể bỏ hàng ngủ, đồng đội mà ra đi theo vợ con trong lúc nầy được, nên tôi cố nén nổi lo sợ, lên tàu theo sóng người di tãn.
Tàu ra khơi được một ngày thì thì được tin Ðà Nẵng thất thủ, tàu cặp vào Vịnh Cam Ranh lúc nửa đêm, chúng tôi ngơ ngác không biết đây là đâu, chỉ rời tàu theo lịnh.
Ai củng lo âu vì lạ nước lạ cái, gia đình tôi tìm được một cái lều trống, vội đưa Bà Ngoại và Mẹ tôi vào nghỉ tạm, sau đó, em trai tôi đi lảnh cháo trắng do Hải Quân địa phương phát, đem về cho mọi người ăn lấy sức. Tôi cố nuốt cho xong chén cháo, nhưng có cái gì chặn ngang cổ họng, nuốt thật khó trôi, phải chăng đó là sự lo âu, sợ hải vì từ nhỏ đến lớn, chị em tôi không khi nào đi xa một mình, nên rất rụt rè, e ngại mổI khi phải rời Huế để đi đâu đó xa Huế chừng vài ba chục cây số, bây giờ đây phải bỏ Huế ra đi, đi thật xa mà không có người chủ gia đình, là Ba tôi dẩn dắt. Thử hỏi làm sao mà không lo âu , sợ hãi được ? Nhìn quanh chỉ thấy bóng đêm và người tỵ nạn, không ai biết đây là đâu, thuộc vùng nào ? Gặp một anh Thủy thủ, tôi vội hỏi:
- Ðây là đâu vậy anh ?
- Là Cam Ranh, nơi nầy là vùng phi quân sự, không có dân ở đâu.
Nhớ lời Ba tôi dặn nếu đến Cam Ranh thì cứ theo địa chỉ của người chị họ mà đến, ở đó chờ Ba tôi và chồng tôi. Trước khi chia tay tại căn cứ Tiên Sa, Ðà Nẵng, Ba tôi đã cẩn thận ghi cho tôi một vài địa chỉ của bà con ở từng vùng, nếu tàu đến nơi nào thì cứ theo địa chỉ ấy mà đến, thế nhưng trong lúc nầy tôi không biết làm sao để đüa gia đình đến nhà người chị họ vì nơi đây không có ngườI ở, không có xe cộ gì hết.
Sáng hôm sau, đang ngồi buồn rầu, bổng có tiếng ai hỏi:
- Có phải gia đình thiếm Tài đó không ?
Tôi vội nhìn lên, người hỏi là một ngườI đàn bà đứng tuổi, dù chưa biết là ai, tôi cũng trả lời:
- Dạ, em là vợ của anh Tài, còn đây là gia đình của em, Ba em và anh Tài còn ngoài Ðà Nẵng.
- Chị là vợ của Ðại Úy Dũng, vậy thì em cứ đưa gia đình em theo gia đình chị, chốc nữa có xe của đơn vị HQ ra đón những gia đình HQ vào căn cứ, chứ ở đây đông lắm, chị em trước lạ sau quen.
Nghe chị nói vậy, tôi mừng lắm vì đang bơ vơ xứ lạ mà có người nhận là quen, giúp đỡ thì còn gì bằng, thật tôi đang "buồn ngủ mà gặp chiếu manh" tôi chấp nhận ngay:
- Dạ, cám ơn chị nhiều.
Thế là gia đình tôi, gia đình chị Dũng và vài ba gia đình nửa theo xe của HQ vào căn cứ Mecathai, đường đi lên dốc, xuống dốc , quanh co, khúc khuỷu, hai bên toàn rừng và rừng.
Căn cứ Mecathai nằm trong một thung lủng, sát bờ biển, khá rộng, tất cả chúng tôi được ở chung trong một căn nhà dài, không khí thật trong lành, mát mẽ, cảnh vật êm ả, thái bình. Sống trong một khung cảnh như vậy nên cũng yên tâm phần nào, nhưng lòng tôi lúc nào cũng buồn rầu, lo lắng, các em tôi thì rất vô tư, thỉnh thoảng chúng nó theo anh hạ sĩ quan Tâm ra bải cát tìm trứng con vích, mang về chiên ăn, trứng tròn, vỏ trắng, trông như trái ping pong, lòng đỏ nhiều hơn lòng trắng.
Tạm trú nơi đây gần một tuần, vào một buổi sáng, tôi đang ngồi trước cửa nhà, nhìn trời bao la, lòng buồn man mác, chợt có một chú HQ đi ngang trước mặt, nhìn anh ta rất thảm hại: chân trần, áo đứt nút, tay xách đôi giày, tôi vội hỏi:
- Chú ở đâu đến vậy ?
- Ðà Nẵng.
- Ồ ! Vậy chú có biết Trung Úy Tài, làm ở phòng 2 An Ninh không ?
- Có phải ông Tài mủi cao, mặt trắng không ?
- Dạ phải.
- Tui thấy ông ta bị du kích bắn chết ở bải biễn Thanh Bình rồi, tội nghiệp ông ta mới cưới vợ còn trẻ lắm.
Tôi chưa kịp cám ơn thì nước mắt đã tuôn tràn hai má, chạy vộ vào trong báo tin cho gia đình biết hung tin; cả nhà ngồi khóc cho đến xế chiều thì thì ông Ðại Úy Dũng xuất hiện, ông ta đến tìm vợ con. Thấy tôi, ông ta nói:
- Ðơn vị ở Ðà Nẵng di tản vào đây rồi, Bác trai cũng đi chung, chú Tài đang giữ hồ sơ, giấy tờ ngoài Cam Ranh, chưa vào đây được.
Tin nầy làm cho gia đình tôi vui mừng vô hạn, linh hồn tôi như sống lại; cả nhà ngừng khóc và dọn cơm ăn vì đã đói bụng lắm rồi.
Chờ đến ngày thứ hai rồi mà vẩn chưa thấy Ba tôi và chồng tôi vào đây tìm nên tôi rất sốt ruột.
Sáng hôm sau, có xe GMC của căn cứ chở người đi chợ, tôi và hai thằng em trai xin quá giang ra phố Cam Ranh, xe chỉ chạy được một quảng đường thì quẹo sang hướng khác, không phải đường ra phố; tôi biết được là lúc xe chở chúng tôi vào căn cứ vào ban ngày, nên tôi nhớ. Tôi hốt hoảng nói cho em tôi biết, đợi khi xe ôm cua chạy chậm, hai thằng em tôi nhảy xuống rồi đüa tay đỡ cho tôi nhảy, dù tôi đang mang thai, nhưng vì lòng quá nôn nóng muốn gặp mặt chồng, nên tôi không sợ nguy hiễm. Ba chị em nhắm hướng ra phố Cam Ranh, vừa đi, vừa chạy, suốt mấy tiếng đồng hồ; đến xế chiều thì tìm được nhà người chị họ. Chị cho biết:
- Chú và chồng em ghé hôm kia, cả ngày hôm qua đi tìm thiếm và các em mà không có, sáng nay củng đi rồi, các em chưa gặp à ?
- Dạ chưa, vì nóng lòng nên tụi em mới ra đây tìm.
Tôi trả lời, thì chị Nhi ( tên người chị họ) bảo:
- Tụi em ở lại đây, đợi chú về chứ ?
Em tôi nói với tôi:
- Chị ở lại chờ Ba với anh Tài đi, còn hai đứa em thì trở lại căn cứ Mecathai báo cho Mạ biết, có thễ đüa gia đình ra đây luôn.
Tôi gật đầu chấp thuận biện pháp nầy, hai đứa em tôi chào chị Nhi rồi chạy đi, tôi ngồi chưa đầy mười phút thì Ba tôi về, vừa trông thấy tôi, Ba tôi mừng lắm:
- Suốt ngày hôm qua, Ba và Tài đi tìm Mạ và các con hết mấy trung tâm tị nạn vẫn không thấy nên sáng ni hai cha con chia làm hai ngả để tìm, Ba tìm hoài vẫn không gặp nên định về nghĩ ngơi, còn Tài thì không biết tìm ở hướng mô ?
- Gia đình mình được xe HQ dón vô căn cứ Mecathai chớ không có ở mấy trung tâm tị nạn.
- Rứa thì con ở lại đây chờ , Ba tìm vô căn cứ nớ đón gia đình ra đây.
- Căn cứ xa lắm, với lại Ba lạ mặt, lính gác cũng không cho Ba vô trong căn cứ mô.
- Thì hai cha con mình cùng đi.
Ba tôi và tôi ra đi, cũng vừa đi vừa chạy, trời càng ngày càng tối dần, đi được mt đoạn đường độ vài cây số, chúng tôi gặp bốn anh Sĩ Quan HQ cũng vào căn cứ nên nhập bọn cùng đi cho đông, khỏi sợ. Vì vừa đi vừa chạy nên hai chân tôi mỏi rả rời, cái bụng bầu rị xuống thêm nặng làm tôi càng mệt, có lúc hai chân muốn khụyu xuống không đi được nhưng Ba tôi cứ nắm tay tôi kéo bừa mà chạy vì sợ bị bỏ rơi, may thay có ánh đèn pha, biết có xe sắp chạy ngang nên mấy anh Hải Quân và Ba tôi nắm tay nhau chận xe lại xin quá giang, lấy cớ "cô nầy bụng bầu đi không được nữa", và chưa chờ sự cho phép, tất cả leo lên phía sau xe Jeep, ngồi chồng chất lên nhau nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc như thường. Khi xe đến cổng trại, phải ngừng lại, không thể chạy thẳng vào bên trong vì có hai ba lớp dây kẽm gai giăng ngang lối đi, chúng tôi đành xuống xe.
Tôi đễ ý thấy có một tốp Sĩ Quan Thủy Quân Lục Chiến độ hơn 20 người, tay lăm lăm khẩu súng chỉa vào trong căn cứ; họ giàng thành một hàng ngang như đang đánh trận, phía bên trong cũng nhiều người lố nhố, tay cũng cầm súng, hai bên như sẵn sàng chiến đãu làm chúng tôi sợ xanh mặt, hỏi ra thì nhóm Sĩ Quan TQLC muốn vào bên trong đễ lên tàu, nhưng những người trong căn cứ không cho vì sợ lộn sộn, do đó mớI có cảnh hai bên ghìm nhau như vậy, thiếu chút nửa thì đã xãy ra cãnh "nồi da xáo thịt" đau lòng.
Tôi kéo Ba tôi đi dần về phía cổng, chợt nghe giọng quen thuộc của chồng tôi vọng ra:
- Có phải em đó không ? Tôi mừng quá la lên:
- Em đây, có Ba nửa.
Chồng tôi xuất hiện, đón tôi và Ba tôi vào; vừa đi chồng tôi vừa nói:
- Bà Ngoại, Mẹ và các em đã xuống tàu đi SàiGòn từ lúc trưa rồi, còn con phải ở lại chờ Ba và vợ con.
Tôi hỏi:
- Thằng Ðược và thằng Lân đi với gia đình à ?
- Không có, hai đứa nó đi đâu chưa thấy về, sẵn có tàu di chuyển một số gia dình HQ của căn cứ vào SàiGòn, nên anh thu xếp cho Mẹ và gia đình đi trước; chắc bây giờ cũng sắp đến SàiGòn rồi đó. Bây giờ mình cũng lên tàu vào SàiGòn luôn, vì tối nay nhiều bộ phận của căn cứ cũng di chuyễn.
Ba tôi nói:
- Thôi vợ chồng con đi đi, vô tới SàiGòn thì tới nhà Thím Trung coi Mẹ và các em đã tới đó chưa, còn Ba thì ở lại đây chờ thằng Ðược về rồi sẽ đi sau.
- Sợ không còn tàu nữa đó Ba à !
- Nếu không còn tàu thì Ba sẽ ra Cam Ranh tìm mọi cách thuê ghe hay gọ vào sau.
- Ba cứ đi với vợ chồng con, còn nó thì không biết lúc nào về, cứ viết giấy đễ lại đây cho nó, khi nó về thấy giấy thì nó biết gia đình đã di tản rồi, nó sẽ tìm cách vào sau.
Ba tôi đồng ý theo đề nghị của chồng tôi, tôi tìm được một miếng giấy cạc tông khá lớn, viết lên giòng chử như sau:
" Tất cã gia đình đã theo tàu HQ vô SàiGòn rồi, con về lại nhà chị Nhi lấy số tiền Ba gởi rồi thuê ghe đánh cá vô SàiGòn, gặp gia đình tại nhà chú Trung. Ba "
Tấm giấy được gắn ngay cửa ra vào, Ba tôi vẫn chưa chịu rời nơi ấy, cứ nhìn góc nọ góc kia như muốn tìm cái gì, tôi vội hỏi:
- Ba đang tìm chi rứa ?
- Ba tìm cái bình nhựa đễ đựng nước, lên tàu khát thì có mà uống.
Vậy là cả ba chúng tôi đều đi tìm bình nhựa, chợt nghe giọng quen thuộc của anh Hạ SQ Tâm từ ngoài nói vào:
- Bác Tài, hai thằng em của bà đi chơi về khuya, lính gác cổng không cho vào trại, nói ông Tài ra mà lảnh kìa.
Chúng tôi mừng lắm, không cần tìm bình nhựa nữa, cùng đi ra cổng trại đón em tôi. Khi giáp mặt chúng nó, hỏi ra thì hai đứa bị lạc đường, cũng vất vả lắm mới tìm về được đến đây. Vậy là năm người ra bến tàu sắp hàng để lên tàu.
Khoảng bốn chiếc tàu lớn đang đậu dưới bến, chúng tôi sắp hàng đễ lên chiếc HQ802. Khi tất cã 5 người của chúng tôi lên được trên boong tàu, người nào người nấy mồ hôi đổ ra như tắm. Tôi đứng dựa vào thành tàu nhìn mung lung phía chân trời, chợt nghe tiếng léo nhéo bên tai:
- Ba với anh Tài đứng trên boong tàu Mạ ơi,
Tôi tỉnh hẵn, nhìn xuống phía dưới, ôi thôi.. .. .. nào là Bà Ngoại, nào là Mẹ, nào là các em đang đứng ở phía dưới, bị hàng hàng, lớp lớp người chen lấn, chưa biết phải lên tàu nào, tôi gọi Ba tôi:
- Ba ơi, Mạ và các em chưa vô SàiGòn, đang còn đứng phía dưới đất tề.
Mọi người nhìn xuống, cố gọi to đễ gia đình thấy mà leo lên cùng tàu, khỏi bị lạc nhau, rồi cuối cùng tất cã cũng lên được.

              Tàu rời bến, nhắm hướng Nam tiến tới. Trên boong, dưới hầm toàn người và người. Gia đình tôi chọn một chổ trên boong đễ làm nơi ngủ. Tàu chạy hai ngày thì ngừng lại, cứ neo một chổ, một ngày, hai ngày, rồi ba ngày, không ai biết tàu đang ở đâu.
Ðồng bào trên tàu đã chịu đói, chịu khát, vậy mà còn bị những cơn mưa ban ngày tự nhiên ào ào trút nước xuống, khoảng 1 hay 2 giờ thì tạnh; trời lại nắng; cứ như vậy liên tục làm ai ở trên boong tàu cũng bị ướt, rồi khô, khô rồi ướt; đêm về, khí lạnh từ biễn bốc lên, khó mà có giấc ngủ ngon.
Dò hỏi rồi cũng biết rằng tàu đang neo tại vùng biễn Phú Quốc, và sở dĩ chưa cho đồng bào xuống đảo là vì có bà Thiếu Úy trên tàu định vào đảo bằng canô, nhưng khi hạ chiếc canô xuống thì chẳng may mấy sợi xích bị đứt, làm canô bị rớt xuống mạnh; bà Thiếu Úy bị thiệt mạng ( sau nầy được biết đó là Thiếu Úy Lê Quang Mỹ Lan, con của Ðại Tá Lê Quang Mỹ, cựu Tư Lệnh HQ); khiến ông Hạm Trưởng giận nên chưa cho đồng bào xuống vội. Chúng tôi vừa mệt, vừa đói, số lương thực mang theo quá ít, dù ăn rất dè sẻn, cũng đã hết rồi, mấy anh HQ của đảo Phú Quốc củng có ra tiếp tế, họ đứng dưới canô ném lên những cục cơm vắt to bằng nắm tay, lượng người trên tàu quá đông, vô tổ chức, cả một mảng người nhào bên nầy, rồi bên kia, đạp lên nhau, té lên nhau để lợm cơm tiếp tế, mạnh được yếu thua, gia đình tôi không giành được vắt cơm nào cả, đành ngồi nhìn người ta giành nhau.
Một buổi sáng nọ, tôi và em trai áp út của tôi đứng nhìn trời, nhìn nước, thì nghe tiếng hỏi từ phía dưới vọng lên:
- Trên đó có gia đình Tài không ?
Vài người nào đó đã kéo em tôi về phía trước và nói lớn:
- Có, em ông Tài đây nè.
Một thùng mì gói ăn liền được ném lên, cả một đám đông ào ra giành giựt, em tôi hốt hoảng nằm bẹp xuống boong tàu, mình nó đè lên thùng mì gói, nhưng cũng chỉ lấy được vài gói mà thôi vì đã bị người lớn lấy hết rồi. Ðã trải qua 25 năm rồi, nhưng chúng tôi vẩn chưa biết ai là người đã giúp cho thùng mì ấy, có lẻ là một trong những người bạn của chồng tôi, và mặc dù không biết nhưng tôi luôn luôn ghi nhớ và thầm cám ơn họ.
Suốt mấy ngày đêm khổ sở trên tàu, cuối cùng cũng được vào đảo, khi dặt bước chân lên đảo, có lính Hải Quân chào đón và phát cho mỗi người một ổ bánh mì và một họp sữa đặc, ai nấy đều mừng rở khi nhận bánh mì, riêng tôi , đã ăn ổ bánh mì ấy một cách ngon lành và có lẽ đây là lần ăn mì ổ ngon nhất trong đời của tôi. Một tốp người bị lính HQ dẫn đi bắn vì họ đã thừa nước đục thả câu; lúc trên những chiếc tàu chở đồng bào di tãn, họ đã cướp của hãm hiếp gây ra những cái chết đau thương cho một số người, nên giờ đây họ phải đền tội, lòng tôi ngao ngán vô cùng.
Ðược bạn chồng tôi cho xe ra đón gia đình tôi vào đơn vị nên chúng tôi khỏi phải theo đoàn người vào trại tập trung, chúng tôi được một bửa ăn uống no nê và một đêm ngủ thoãi mái. Anh bạn khuyên chúng tôi hãy ở lại một thời gian đễ lấy lại sức nhưng Ba tôi nhất định đòi ngày mai phải vào SàiGòn, tôi biết rỏ Ba tôi rất nóng lòng muốn lấy ra số tiền đã gởi trong Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín. Sáng hôm sau, có một chiếc tàu nhỏ đưa gia đình tôi và vài ba gia đình Hải Quân khác vào Rạch Giá ( mới đây tôi được biết người bạn đã giúp đở gia đình tôi ở đảo Phú Quốc là anh Hồ V. Xách, thành thật cám ơn anh, dù lời cám ơn rất muộn màng nhưng phát xuất từ đáy lòng thành thật của tôi)
Ðã có chiếc xe GMC đợi sẵn tại Rạch Giá để đüa tất cả mọi người lên SàiGòn.
              Chúng tôi có mặt tại SàiGòn vào ngày 20-04-1975. Tuần đầu, gia đình tôi tá túc tại nhà chú thím Trung ở Gia Ðịnh, sau đó chuyển đến ở tạm nhà của bạn Ba tôi là bác Phúc, ở Cầu Sơn, Hàng Xanh.
Tình hình mỗi ngày mỗI biến động dử dội, mọi người đều lo lắng, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, chồng tôi phải theo đơn vị ra ngoài Cát Lở, khoảng ngày 26-04-1975, anh vào thăm nhà rồi bị kẹt ở lại vì Việt Cộng và Quốc Gia đang đánh nhau nên đường không thể lưu thông; chúng tôi vô cùng lo lắng.
Ngày 28-04-1975, chồng tôi nói với tôi:
- Em để anh đi đến Bộ Chỉ Huy Hải Quân, nếu có gì xảy ra, anh phải di tản theo chớ không thể ở lại được vì VC vào chắc chắn chúng nó sẽ thanh trừng, bắn hết Sĩ Quan Quốc Gia, lúc đó chúng mình sẽ xa nhau vỉnh viễn. Anh ra đi thì còn sống, chờ khi nào tình hình lắng dịu, anh sẽ tìm cách về gặp em, chớ em sắp sanh rồi, không thễ đem em theo được, dọc đường lỡ em sanh con so mà sanh khó, không có Bác Sĩ thì nguy hiễm lắm.
Tôi trả lời qua màn lệ:
- Anh cứ đi đi.
Và chồng tôi từ giã ra đi, tôi đau lòng vô cùng nhưng không thễ ích kỹ giữ chồng ở lại đễ rồi ân hận suốt đời.
Ngày 29-04-1975, ông Dương Văn Minh thay Cụ Trần Văn Hương làm Tổng Thống và ra lệnh thiết quân lực 24/24, nhưng ngoài đường Bạch Ðằng, Bà Chiễu, dân chúng đi lại tấp nập, vì gần đó có kho chứa đồ của quân đội Hoa Kỳ, họ vào đó đễ lấy đồ, cớ người chở bằng xe Honda, có người đem cả xe ba gác chở một xe đầy dầu ăn, thuốc hút, đường.
Ba tôi căn dặn các em tôi:
- Tụi con không được đứa mô ta khỏi nhà hết nghe, nguy hiểm lắm.
Tôi thì ngồi một góc nhà mà nghĩ đến chồng, không biết có còn gặp lại nhau nửa không ?
VC pháo kích vào Thị Nghè, gây tang tóc, đau thương.
Sáng ngày 30-04-1975, nghe tiếng hoan hô vang dậy ngoài đường, nhìn từ một lổ nhỏ ở cửa sỗ, tôi thấy một số người tay đeo băng đỏ, tay cầm cờ, đi tới đi lui, rồi xe chở đày bộ đội VC tiến vào thành phố.
Thế là hết, chúng tôi hốt hoảng, chúng tôi lo sợ, chúng tôi đau khổ .. .. không dám ra đường, Ba tôi và bác Phúc trai mang một số giấy tờ ra đốt, còn lại một số giấy tờ quan trọng thì bỏ vào bao ni-lông, chôn ở phía sau nhà.
Ba tôi bảo tôi:
- Con đem thùng thư của con đốt luôn đi, thư có đề KBC của Tài, tụi nó vào soát thấy thì biết nhà mình có Sĩ Quan, chúng không tha mô.
Tôi tiếc lắm vì những lá thư nầy do chồng tôi gởi cho tôi hàng tuần, từ lúc quen cho đến lúc cưới, tôi đã cất giử rất cẫn thận. Khi rời Huế di tản, tôi bắt em trai tôi mang theo, đi tới đâu mang theo tới đó; bây giờ buộc lòng phải đốt đi, hỏi tôi không buồn sao đươc ? Nhưng vì sự an nguy của gia đình tôi đành phải hủy nó đi, nhìn những lá thư cháy tàn bởi ngọn lửa, lòng tôi tiếc nuối vô cùng.
Cả nhà đang lao nhau trong sự lo âu thì chồng tôi xuất hiện, tôi vui mừng như chết đi sống lại, anh đã không nỡ bỏ vợ con ra đi, nhất là đứa con sắp chào đời, nên quay trở về đễ thấy vợ con dù sau đó có mệnh hệ gì cũng cam lòng. Ngón tay đeo nhẫn của anh bị rướm máu vì anh vội vàng cởi chiếc nhẫn kỹ niệm ngày tốt nghiệp có khắc chữ "Ðệ Nhi Hổ Cáp" vất xuống sông Bạch Ðằng đễ trên đường về nhà được an toàn hơn. Tôi không cần biết ngày mai sẽ ra sao ? Chồng tôi nhặt hết áo quần Hải Quân vất xuống cái hồ sau nhà.
Một ngày trôi qua chậm chạp, nặng nề, căng thẳng. Khuya ngày 01-05-1975, tôi đau bụng dử dội, theo kinh nghiệm, mẹ tôi biết tôi sắp sanh nên hối thúc em tôi thu xếp một ít đồ dùng vào cái giỏ mây rồi cả nhà dẩn tôi ra đường. Ngoài đường im lìm không một bóng người, chợt thấy một chiếc xe ba gát từ phía Hàng Xanh chạy lại, các em trai tôi chạy ra chận đường yêu cầu ông chủ xe đüa chúng tôi đến bệnh viện, ông ta không chịu nhưng em tôi kéo tôi lên xe, mẹ tôi củng nhảy lên theo, ông ta đành chở chúng tôi đi Bà Chiểu. Ba tôi, chồng tôi và các em tôi chạy bộ theo sau. Ðến bệnh viện bảo sanh Phước Lập nằm trên đường Lê Quang Ðịnh, hai người đàn bà đứng tuổi ra đón vào, chồng tôi hỏi:
- Ở đây có bác sĩ không ? Một trong hai bà trả lời:
- Không, chỉ có bà mụ lâu năm kinh nghiệm mà thôi.
Chồng tôi vội gắt:
- Viện bảo sanh mà không có bác sĩ, sanh con so lỡ sanh khó thì sao ?
- Cứ đễ cô ấy ngồi nghĩ ở đây, cậu đi tìm xe taxi rồi đưa cô ấy đến bệnh viện Từ Dủ.
Chồng tôi vội vàng trở ra, chừng mười phút sau, tôi đau bụng quá, bà mụ bảo tôi vào phòng sanh khám thử, và tôi sanh ngay. Ðó là một bé gái mặt mày sáng sủa, tóc đen nhánh nhưng chỉ được 1kg8 mà thôi. Khi chồng tôi quay lại báo tin đã tìm được xe rồi thì đã thấy con gái chào đời rồi, chồng tôi vui mừng lắm. Suốt 3 ngày liền cứ quanh quất trong phòng săn sóc vợ con chứ không đi đâu cã.
Vào một buỗi chiều của ngày thứ tư, tôi còn nằm ở nhà bảo sanh, chồng tôi ra ngoài vài tiếng đồng hồ, khi trở về tôi nhìn thấy hai mắt anh đỏ hoe như vừa khóc xong, tôi có hỏi nhưng chồng tôi nói:
- Tại bụi vào mắt anh thôi.
Rồi nói tiếp:
- Mai anh phải đi vắng vài ngày, vắng anh thì em đùng có buồn nhé, phải ăn cơm thật nhiều nghe.
- Anh đi mô rứa ?
- Anh về quê một ít hôm sẽ lên.
Nằm nhà bảo sanh được một tuần, tôi được về nhà, tôi mới biết được mẹ chồng tôi mất đúng vào ngày 30 tháng 04.
Trong lúc đang nằm bệnh viện, VC pháo kích vào làm Bác Sĩ, Y tá chạy trốn hết và mẹ chồng tôi mất vào lúc đó. Dù được tin muộn, Ba tôi và chồng tôi cũng về quê đễ chia buồn, hai hôm sau lên lại SàiGòn thì Ba tôi nhận được thư tay do ngườI bác ruột tôi từ Huế gởi vào, gọi gia đình tôi phải ra lại Huế gấp vì có một số người đang tranh dành dãy phố của Ba tôi. Họ nghĩ rằng gia đình tôi đã di tản ra nước ngoài rồi nên họ đều khai vớI bọn Công An VC rằng Ba tôi đã nhận tiền của họ đễ cho họ ở rồi, không biết phải giải quyết cách nào nên Chánh Phủ Lâm Thời Miền Nam VN địa phương cho niêm phong tất cả nhà tôi với lý do: "chạy theo Mỹ".
Ba tôi quyết định hôm sau thuê xe đưa gia đình về Huế, tôi cũng theo về vì ở lại không ai săn sóc, mẹ chồng vừa mới mất, chồng thì đã đi trình diện với chánh quyền địa phương Gia Ðịnh và không biết lúc nào bị đi tập trung cải tạo.
Sanh chỉ được mười ngày mà phải ngồi xe đường dài thiên lý làm tôi mất sức nhiều. Xe không được chạy thông suốt, cứ chạy một đoạn thì phải dừng lại chờ người ta gở mìn rồi mới chạy tiếp nên phải mất 4 ngày 4 đêm chúng tôi mới về đến Ðà Nẵng. Ba tôi ghé nhà người anh họ đễ lấy lại những đồ đạc đã đüa từ Huế vào tháng trước nhưng không còn lại một thứ gì cả, những người ở lại đã lấy hết rồi.
Khi về đến Huế, nhìn thành phố vốn đã u buồn, vắng lặng, nay càng thêm vắng lặng, u buồn. Nhà tôi bị VC niêm phong, không cho vào nên phải ở ngoài garage, Ba tôi làm đơn ra khu phố nộp để xin vào nhà, nhưng chính quyền địa phương cứ ngâm tôm đơn, không chịu xét, gần một tháng trời làm Mẹ tôi sốt ruột vô cùng vì tôi sanh còn non ngày non tháng mà phải nằm trên nền xi măng, sau nầy sợ bệnh hậu sản, may có anh Vinh, trứơc 1975 là tài xế xe Daihatsu thưòng đến chở hàng cho Mẹ tôi, nay VC cho làm trưởng an ninh khu vực, vì biết rỏ gia đình tôi, nên anh ta bảo với Ba tôi rằng:
- Chính quyền không xét đơn cho Bác thì Bác cứ phá cửa mà vào ở, nhà của mình mà sợ chi.
Nghe anh ta đề nghị như vậy, Ba tôi tiếp lời ngay:
- Anh là tổ trưởng an ninh khu vực nầy, nhờ anh phá cửa dùm chứ tôi không dám phá mô.
Anh Vinh vội phá cửa, chúng tôi dọn vào nhà, nhìn trong nhà trống rỗng, vì tất cả đồ đạc đã bị người quen đüa về nhà họ hết, Ba tôi phải đến nhà họ năn nỉ xin lại một ít đồ về mà dùng. Nhìn căn nhà đìu hiu, buồn vắng mà muốn rơi nước mắt, nhưng còn thiết tha gì nửa, khi nước đã mất rồi, thì nhà có màng chi ?
Sân vườn nhà tôi rộng nên mấy đoàn thể trong khu vực thường đến tụ họp, sinh hoạt, nào là đoàn thanh niên, nào là hội phụ nữ, nào là đoàn thiếu nhi ..v.v.. ..
Cứ mỗi tối cuối tuần, lổ tai tôi đều phải bị tra tấn bởi những tiếng hát sắc máu từ ngoài sân dội vào: "Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng".. .. .."như tiếng sấm vang dội, như tiếng sấm vang rền như lời Bác gọi lời cha truyền con nối.. .."
Thật khổ sỡ vô cùng, tôi vội đóng hết các cửa sổ lại mà những tiếng hát quái ác kia vẫn lọt vào, lời ca, điệu nhạc đầy vẽ hằn học, như thúc giục tuổi trẽ phải bạo động, phải chém, phải giết, ghê sợ quá !!
Tôi nhận thư chồng tôi cho biết chỉ phải học tập cải tạo 10 ngày rồi sẽ ra Huế với tôi. Tôi chờ đợi.. .. ..10 ngày.. ..20 ngày.. .. .. rồi 30 ngày.. .. vẫn bằn bặt biệt tăm làm tôi bồn chồn lo lắng vô cùng, dân chúng lại đồn tin nầy tin kia, xầm xì to nhỏ rằng bọn VC chở một số Sĩ Quan VNCH lên rừng, làm bộ tai nạn lật xe đễ giết chết một số rồi. Lòng tôi nóng như lửa đốt, không thể ăn ngon, ngủ yên được, tôi quyết định vô Nam tìm chồng, âm thầm xin giấy phép đi đường ngày mai ra đi, hôm nay tôi mới báo tin cho Ba Mẹ và các em tôi biết. Gia đình tôi ngăn cản không muốn tôi đi, sợ tôi vất vả, nhưng tôi đã cương quyết ra đi tìm chồng, biết không làm lay chuyễn được ý định của tôi, Mẹ và các em tôi òa ra khóc, Ba tôi thì vơ vét một số tiền cho tôi làm lộ phí, dặn đi dặn lại:
- Số tiền nầy còn đễ ở ngoài mà chi tiêu lúc đi, còn số tiền nầy phải cất kỷ, không được xài tới, đễ khi mô muốn về lại Huế thì có mà mua vé xe.
Ngày tiển tôi ra bến xe Nguyễn Hoàng đễ vào Nam sao mà buồn quá, Mẹ và các em tôi thì giọt vắn giọt dài, tôi củng vậy, không sao cầm được nước mắt.
Ngồi trên chiếc xe xuyên tỉnh 20 chổ ngồi, tay ẵm con thơ mới hơn một tháng đễ muôn dặm tìm chồng, thật không có hình ảnh nào cảm thán hơn ! Khi xe chạy ngang Hòn Chồng, một bà đứng tuổi ngồi cạnh tôi nhìn ra ngoài, chỉ tay về phía Hòn Vọng Phu và bảo:
- Hoàn cảnh cô nầy (tôi) cũng giống như Hòn Vọng Phu kia, ẳm con thơ đi tìm chồng mà chưa biết chồng đâu ?
Nghe những lời nói nầy của bà, tôi muốn khóc vô cùng, phải cố gắng kềm chế đễ khỏi bật ra tiếng nức nở, nghẹn ngào nhưng đã không ngăn được hai dòng lệ nóng chảy dài trên má.
Vào đến SàiGòn, tôi cố đi đến vài người quen đễ hỏi tin tức, nhưng không ai biết được bọn VC đã đưa số Sĩ Quan VNCH đi đâu ?
Tôi về quê chồng ở lục tỉnh, định ở lại vài hôm rồi ra lại Huế, nhưng hoàn cảnh các em chồng thật nheo nhóc, vừa mất mẹ, chúng nó rất cần sự an ủi của tôi, tôi không nở rời xa chúng ngay nên đã ở lại một tháng., hai tháng, ba tháng rồi bốn tháng thì nhận được thư chồng tôi gởi từ Trảng Lớn, Tây Ninh, ra Huế rồi Ba tôi gởI lại vô Nam, đến được tay tôi thì thư đã nhàu nát. Tôi mừng như bắt được vàng, thế là đã có tin tức của chồng: chồng tôi vẫn còn sống.
Sang tháng thứ năm kể từ ngày tôi rời Huế thì tôi nhận được thư Ba tôi, nhắn ra gấp vì Trường Ðại Học Sư Phạm đã gởi giấy về nhà gọi tôi trở lại trường để học Triết học Mác-LêNin. Tôi viết thư trả lời cho Ba tôi biết là tôi không muốn đi học lại, chỉ muốn ở đây đễ chờ ngày đi thăm chồng mà thôi. Ba tôi gỡi thêm thư nữa, bắt buộc tôi phải ra gấp, bởi vì lý lịch của gia đình tôi thuộc loại xấu, Ba tôi là Sĩ Quan truyền tin lâu năm, chồng tôi là Sĩ Quan Hãi Quân của quân đội "ngụy", nếu nay tôi không làm theo họ yêu cầu, sẽ bị chụp mũ là chống đối Cách Mạng, cho nên tôi phải thu xếp đễ về lại Huế.
Từ miền Tây đi xe lên SàiGòn, đến ngã Bảy, chen lấn mua được tấm vé, phải chờ 4 tiếng nữa xe mới chạy, tôi ẳm con đi loanh quanh bến xe đễ thời gian qua nhanh, ai ngờ đã bị kẻ gian lấy cắp số tiền tôi đễ trong túi xách, kiếm tới kiếm lui, chỉ còn xót lại vài đồng lẻ mua đủ 2 ổ bánh mì và một chai nước, thôi kệ, vậy củng tạm đủ rồi, chỉ 2 ngày đường là đến Huế, mỗi ngày ăn một ổ bánh mì và uống nửa chai nước củng được rồi.
Xe chạy đến Quảng Ngãi thì bị hư, hành khách xuống xe đễ tài xế sữa, cứ tưởng vài tiếng đồng hồ thôi, ai ngờ kéo dài quá một ngày, tài xế tuyên bố:
- Xe bị hư hộp số, phải về SàiGòn sửa mới được, bà con ở lại đây chờ, tui quá giang xe vào SàiGòn.
Chờ qua ngày thứ hai, rồi thứ ba mà vẫn chưa thấy bóng dáng ông tài đâu cả, tôi đã ăn hết bánh mì và uống hết nước từ ngày thứ hai của cuộc hành trình nên bây giờ phải chịu đói, tôi ẵm con đến ngồi dưới bóng mát một gốc cây cao bên lề đường, mắt lơ đảng nhìn trời, nhìn đất mà trong lòng buồn lo hết sức. Qua ngày thứ tư, tôi đói lắm, đã không có gì ăn mà con cứ bú mãi làm ruột co thắt lại, mấy bà buôn hàng chuyến đi cùng xe rủ nhau đi chợ mua đồ ăn, tiếng cười nói, tiếng gọi nhau tạo thành một âm thanh hổn độn, càng làm tôi buồn tủi. Một ông đứng tuổi, mặc đồng phục bộ đội Bắc Việt, vai mang quân hàm có mời tôi ăn lương khô nhưng tôi lắc đầu từ chối, tôi ghét chế độ rồi ghét luôn những gì liên hệ.
Chiều hôm ấy, một bà chị hơi đứng tuổi đến bên tôi nhỏ nhẹ nói:
- Xe hư đậu ngay trước nhà anh chị nên mấy ngày nay anh chị Năm đễ ý em, thấy em cứ ôm con ngồi một chổ không ăn uống gì. Anh chị nhìn em, biết em là con nhà đàng hoàng, có học nhưng chắc vì hoàn cảnh mà em phải như vậy thôi. Bây giờ, anh chị đề nghị em cứ vào nhà anh chị mà nghỉ ngơi, đến bửa ăn thì ăn cơm dưa muối với anh chị và các cháu, khi nào xe sửa chửa xong thì em hảy đi.
Nghe xong mấy lời đó, nước mắt tôi tuôn ào ra, cố gắng ngăn lại mà không được. Tôi tủi thân, tôi cãm động, tôi căm thù vì ai mà ra nông nổi ? Tôi nghẹn lời chỉ thốt ra hai tiếng: "cám ơn".
Ngay chiều đó, tôi được ăn cơm cùng với gia đình anh chị Năm, dù thức ăn có phần đạm bạc nhưng tôi cảm thấy rất ngon, không phải ngon vì bụng tôi đang đói mà ngon bởi " bát cơm Phiếu Mẫu" . Tối đến, mẹ con tôi ngủ trên chiếc giường đặt trước mái hiên. Khuya đó, ông tài xế từ SàiGòn ra đến nơi, và sáng hôm sau, tức ngày thứ năm, xe đã sữa xong và tiếp tục cuc hành trình. Tôi cám ơn và từ giã anh chị Năm nhưng quên hỏi địa chỉ, điều nầy đã làm tôi ân hận suốt hai mươi lăm năm nay và sẽ kéo dài cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tôi muốn đền ơn đáp nghỉa nhưng không làm được, đành rằng anh chị ấy giúp trên tinh thần:" thi ân bất cầu báo" nhưng tôi phải biết: " thọ ân mạc khả vong" . Xe băng núi, vượt đèo và về đến Huế lúc nửa đêm, tôi gọi một bác xe xích lô già và nói:
- Nhờ bác đưa mẹ con cháu về nhà số.. .. đường .. .. khi tới nơi, Mẹ cháu sẽ trả tiền cho bác.
Bác ấy nhận lời ngay. Căn nhà thân yêu của tôi xuất hiện trước mặt, tôi vội bước xuống xe, chạy nhanh đến cửa chính đang đóng im lìm và gỏ, miệng kêu:
- Ba Mạ ơi ! Con đã về đây, mở cửa cho con.
Bên trong có tiếng gọi nhau, các em tôi reo mừng:
- Hình như chị gọi.
Ðèn bật sáng, cánh cửa mỡ rộng, Mẹ tôi xuất hiện, chưa kịp nói thêm câu gì, tôi ngả quỵ xuống bất tỉnh.
Khi tỉnh dậy, tôi thấy tôi đang nằm trên chiếc divan trong phòng khách, những gương mặt thân yêu của Ba tôi, của Mẹ tôi và các em tôi vây lấy chung quanh tôi. Ngoài ra, còn có chị Trung, là y tá lâu năm trong xóm mà mấy chục năm nay gia đình tôi là thân chủ của chị, và bác xích lô già đáng kính, có lẽ Mẹ tôi chưa kịp đưa tiền công cho bác. Quá xúc động nên chẳng nói gì, chỉ có nước mắt ứa ra khóe mắt.
              Tôi dưỡng sức ít hôm rồi đến trường trình diện. Vài ngày sau, tôi giao con cho Mẹ tôi săn sóc đễ trở lại làm cô sinh viên ngày hai buổi đến trường học Triết học Mác Lénin và giáo dục xã hội chủ nghĩa, văn học cận đại của X.H.C.N.V.N.
Tôi tham gia vào sinh hoạt của lớp một cách miễn cưởng. Lúc nầy tôi mới biết anh Ngọc, cùng học chung từ năm thứ nhất lên, là cán bộ VC nằm vùng. Vài ba người khác thì có chút thành tích như có một lần đem tập san Ðối Diện đi phân phát ở đâu đó và đã bị bắt giam mấy ngày.
Anh Ngọc là cán bộ cốt cán thì không làm khó dễ gì đến tôi cã, nhưng anh Ngọc Anh, là "cách mạng nữa mùa", lại hống hách vô cùng. Mổi lần họp tổ là luôn phê bình, chỉ trích tôi còn tư tưởng tư sản, kễ cả dọa tôi rằng:
- Mi đi học lại làm chi cho uổng công, cách mạng không bổ dụng mi mô. Ba mi là sỉ quan ngụy, chồng mi là sĩ quan ngụy đang học tập cải tạo không biết ngày về, không bắt mi đi học tập là đã may cho mi lắm rồi, còn bon chen học lại để làm giáo viên xã hội chủ nghĩa ưu việt há ? Còn lâu.
Một lần, hai lần tôi không thèm nói gì, nhưng y cứ lãi nhải mãi làm tôi rất bực mình, tôi bèn đi tìm cô Chủ Nhiệm, cô Hoàng, là người trong Nam tập kết, đễ trình bày hoàn cảnh, nổi phiền muộn của tôi. Cô đã nói anh Tư, trưởng lớp, động viên , an ủi tôi và phê bình anh Ngọc Anh, từ đó y mới đễ tôi yên.
ThờI gian đi lao động cũng nhiều, khi thì trồng cây gây rừng tại núi Thiên Thai, lúc thì đào sông tại làng An Xá. Những lần xa nhà đễ đi lao động như vậy, tôi càng nhớ đến chồng tôi, và tôi đã thễ hiện niềm thương nổi nhớ ấy qua những bài thơ mà tôi đã viết trong những giờ nghĩ trưa. Có ai ngờ đâu chính vì những bức thư tôi đã gởi cho chồng có kèm theo những bài thơ tình kia đã làm cho chồng tôi phải bị phiền toái. Vì mổi lần trong trại có thư của thân nhân đến thì tên Quản giáo trại giao hết cho người trưởng trại sau khi đã duyệt xong, đễ người trưởng trại nầy mang về phát lại cho các anh trại viên. Riêng thư tôi gởi cho chồng tôi, hắn ta giữ lại và gọi riêng chồng tôi lên văn phòng gặp hắn, vì nhiều lần như vậy nên có một số anh em trong trại nghĩ chồng tôi là "ăngten" cho hắn, cũng may có một số anh em khác hiểu rỏ chồng tôi nên đã đính chính dùm.
              Mùa hè năm 1976, chúng tôi kết thúc khóa học, tôi nhận được giấy đi thăm nuôi chồng, lúc nầy đã chuyễn qua trại cải tạo Bùi Gia Mập, nằm trên núi Bà Rá, tỉnh Sông Bé. Không ngại đường xá xa xôi, tôi thu xếp, ẳm con vào Nam lần thứ hai, ghé về quê chồng ít ngày rồi trở lên SàiGòn để đi Sông Bé thăm chồng.
Lần thăm nầy có Ba chồng cùng đi, chúng tôi phải đón xe đi từng đoạn đường một, vất vả lắm mới tới ngả ba Minh Hưng rồi từ ngả ba nầy chúng tôi đi bộ lần mò vào sâu trong rừng đễ đến trại. Chúng tôi gặp vài ba anh cải tạo viên ốm yếu, xanh xao, có anh mặc áo may bằng bao cát Mỹ, tôi khóc ròng khi gặp chồng tôi, tôi mừng vô hạn, nước mắt cứ tuôn ra.
Ðêm đó, chúng tôi ngũ lại trong một căn phòng dã chiến do chính các anh tù cải tạo cất lên đễ chuẩn bị tiếp đón gia đình thăm nuôi theo chính sách của Ðãng. Sáng hôm sau, chúng tôi ra về với tấm lòng quyến luyến.
Tôi ra lại Huế, một số lớn các bạn cùng khóa đã có nhiệm sỡ mới, còn lại khoãng 20 người vì lý lịch xấu nên phải chờ, trong đó có tôi.
Tháng sau, người của Ty Giáo Dục Sông Bé ra nhận hết chúng tôi vì nhu cầu ở đó cần. Tôi chấp nhận ngay vì đi thăm chồng cũng gần. Niên học 76-77, tôi gởi con cho Ba Mẹ và các em săn sóc, và từ nay tôi sống cô đơn nơi xứ lạ trong niềm thương nổi nhớ triền miên.
Ðến Ty Giáo Dục Sông Bé trình diện, ông trưởng phòng tổ chức nói với tôi:
- Cô sẽ về công tác tại trường cấp 3 Bù Ðăng Bù Ðó.
Dù chưa biết Bù Ðăng Bù Ðó ở đâu nhưng chỉ mới nghe cái tên thôi cũng làm tôi hoảng vía rồi. Tôi vội nói:
- Thưa chú, xin cho cháu đến nơi nào gần thành phố hơn.
Ông ta nhìn tôi bằng nữa con mắt và trả lời:
- Lý lịch cô xấu lắm, nhà nước khoan hồng nên mớI bổ dụng cô. Cô không được đòi hỏi.
Nước mắt tôi tuôn ra làm ông đổi ý.
- Thôi được, cho cô về Phước Vĩnh, chỉ cách thành phố 70 km mà thôi, có xe đi về hàng ngày. Tuần sau đi nhận nhiệm sở.
Vậy là tôi trở thành cô giáo, ngày lại qua ngày cuộc sống, việc làm vẩn buồn bã trôi đều, và niềm thương nhớ khôn nguôi !
Một buổi chiều thứ sáu, sau khi dạy xong, tôi quyết định đi thăm chồng, gọi là đi thăm "chui" vì không có giấy phép của trại. Ðứng chờ rất lâu mới thấy xe xuất hiện, chưa kịp hỏi xe đi đâu thì tôi vộ nhảy đại lên. Trong xe chật như nêm, trên mui xe cũng một lớp người, tôi chĩ đứng được một chân trên tầng cấp lên xe, một tay xách giỏ, tay còn lại cố nắm chặt cứ lắc lư nguy hiễm vô cùng.
Một bác lớn tuổi đang ngồi trên mui xe nói với tôi:
- Cô đưa cái giỏ xách tôi ôm cho, phải vịn cã hai tay mới được.
Ðưa vội giỏ xách lên cho bác, có thêm một tay nữa đễ vịn cho an toàn hơn. Xế chiều thì xe đổ bến Phước Long. Tôi hốt hoãng, lo âu vì đã đi lầm xe. Mấy bà đi thăm nuôi chồng con ở trại Bùi Gia Phúc đang gọi nhau, rủ nhau bao xe vào trại, riêng tôi đứng lặng lẽ âm thầm. Một bác chạy xe Honda ôm dừng lại hỏi:
- Cô vào trại không ?
Buồn rầu tôi trả lời:
- Chồng cháu học tập ở trại Bùi Gia Mập.
- Vậy cô đi lầm đường rồi. Cô có nhiều tiền không ? tôi sẽ đưa cô qua bên đó dùm cho.
- Cháu là một giáo viên, không có tiền nhiều.
- Nếu không có tiền thì tôi không thể đưa đi đâu vì đường xa mà lại xấu. Thôi như vầy nè, chốc nữa sẽ có một chuyến xe cuối qua Bù Ðăng, người đợi xe quá đông, tôi sẽ chạy xe lui tới đường nầy. Nếu thấy xe xuất hiện, tôi sẽ ra hiệu cho cô, thì cô tách đám đông mà chạy trước, may mà leo lên được.
Theo cách đó của bác xe ôm tốt bụng, nhưng đám đông toàn là những người khôn ngoan, nên khi vừa nghe tiếng xe chạy từ đàng xa thôi là tất cã ào ra chạy, đua nhau chạy, cuối cùng tôi cũng leo lên được nhưng chỉ đứng được một giò.
Vì đường xấu nên xe cứ phải ngừng lại thay vỏ nhiều lần nên khi đến ngã ba Minh Hưng thì trời chạng vạng tối.
Xuống xe chơ vơ, lạc lỏng, lo âu, một gã thanh niên mới lớn đến bên tôi nói:
- Chị lỡ đường thì tối nay về nhà em mà ngủ.
- Nhà em có đông người không ?
- Chỉ có mình em, Ba Má em đi vắng rồi. - Cám ơn em, chị có bà con ở đây, chốc nữa sẽ đến đó.
Bóng đêm ở miền rừng buông xuống rất nhanh, tôi nhìn thấy có một căn nhà mới cất đơn sơ, có bày bán chuối và bánh kẹo, nên lần vào hỏi mua một nãi chuối để làm quen. Nhà đó là của hai vợ chồng trẻ từ SàiGòn mới đến, tôi nói:
- Ðêm nay, anh chị cho tôi ngồi trong nhà được không ?
Người chồng trả lời:
- Ðược, nhưng chỉ có một cái mùng cho chúng tôi thôi, còn chị ngủ không mùng thì muổi cắn chết.
- Chỉ cần ngồi trong nhà cho an toàn thôi, tôi không ngại muổi cắn.
Nghe có tiếng xe chạy, người chồng đề nghị:
- Có xe của xưỡng gổ chạy ngang, chị xin quá giang vào xưỡng gổ ngủ lại, sáng mai đở phải đi bộ 10 cây số.
Tôì bước ra ngoài, chiếc xe be chạy qua, tôi chưa kịp xin quá giang thì xe đã ngừng lại. Người tài xế nói:
- Lên xe đi.
Nhìn thấy phía sau xe đã có 3 ngườI quá giang, đó là một ông già, một bà già và một chị hơi lớn tuổi nên tôi rất yên tâm.
Khi xe sắp đến xưởng mộc, ông tài xế nói:
- Trời tối rồi, 2 bác và 2 chị vào trại mộc ngủ tạm, sáng mai hảy đi.
Bốn người chúng tôi đều đồng ý đi tiếp, nên xuống xe đi bộ. Ðường rừng quanh co, đầy sỏi nhọn, trời mưa nên không thể mang giày, phải cởi giày cầm tay, đi chân trần, đạp lên sỏi đá để dò từng bước một. Bốn người nắm tay nhau mà đi. Chốc chốc lại ngừng, chờ có sấm chớp đễ nhìn đoạn đường phía trước là quanh co hay thẳng rồi mới đi tiếp. Lầm lủi đi trong bóng đêm như vậy không biết mất bao nhiêu tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì là sắp đến cả.
Bà già đề nghị:
- Mình đi đã lâu mà chưa thấy gì cả, nếu đi rủi bị lạc vào sóc Bambo thì phiền lắm, chi bằng mình ngồi lại đây chờ sáng.
Ông già hưởng ứng liền:
- Phải đó, tôi có mang theo cái mùng, 4 người chui vào trong rồi cầm 4 góc đễ muổi khỏi cắn.
Nói sao làm vậy, nhưng khi mới chui vào mùng ngồi chưa được vài phút, bà già lại nói:
- Mình ngồi như vầy cũng nguy hiễm lắm, tụi thanh niên xung phong quanh đây sẽ ra cướp giựt hết đồ đạc của mình, còn 2 cô nầy chúng sẽ hãm hiếp, nhiều người đã bị rồi đó.
Vậy là cuốn mùng và đi tiếp, đi hơn một tiếng đồng hồ, bỗng có tiếng xe chạy, rồi ánh đèn pha ngược chiều chiếu đến, ông già đi phía trong sợ hãi, nhảy ào vào phía trong, ai ngờ chổ đó là một cái hố nhỏ nên kéo theo cả 4 người rớt xuống hố. Khi chiếc xe đã chạy xa, chúng tôi lóp ngóp bò lên khỏi miệng hố, áo quần đều bị sũng ướt.
Tôi nói:
- Có xe jeep chạy ngang tức là sắp đến trại rồi đó. Mình đi lầm lủi trong bóng đêm như vầy lở vệ quốc quân của VC bắn thì sao ? Chi bằng mình lấy lồ ô khô đốt làm đuốc mà đi thì tốt hơn.
MọI người đồng ý, bà già hy sinh sấp báo, cuốn lại kẹp thêm cây lồ ô khô rồi đốt làm đuốc soi đường.
Vừa bước vào cổng trại, năm sáu người cầm súng, từ những bụi rậm nhảy ra, quát:
- Ði đâu ? - Chúng tôi đi nộp đơn xin bảo lãnh chồng, con theo lệnh của Trung Ương.
Ba người đi chung chìa đơn ra, còn tôi thì không có đơn từ gì cả.
- Chị nầy, đơn đâu ? - Tôi đã gởi đơn theo đường bưu điện, hôm nay đến đây hỏi trại đã nhận được chưa, nếu chưa thì tôi sẽ về gởi đơn khác cho đơn vị.
Tôi bịa cho qua chuyện.
- Tất cả vào phòng kia chờ, chúng tôi đi báo cấp trên đến gặp giải quyết.
Bốn người vào căn phòng cất bằng cây rừng thô sơ gần đó, ông già bày sôi và gà quay lên bàn mời tất cả cùng ăn chung nhưng nào có ai ăn vô được. Vài bóng người thập thò phía sau cửa sổ hỏi:
- Thăm ai vậy ? - Thăm con là .. .. chồng là .. ..
Ba người kia nhao nhao trả lời, đến phiên tôi:
- Chồng tôi tên Tài.
- Có phải Tài T3 không ? Mủi cao, da trắng ?
- Dạ phải. - Ở gần đây nè, có gì tôi mang vào cho.
Tôi vội đưa cái giỏ xách cho anh kia, một lát sau, chồng tôi đi cùng người bạn ra gặp tôi. Tôi mừng lắm nhưng chưa nói được gì thì người quản giáo trại bước vào, quát đuổi chồng tôi vào láng. Sau đó, giải quyết cho 4 người chúng tôi qua ngủ tại gian nhà dành cho cán bộ vì có một số cán bộ đi công tác nên có giường trống.
Sáng mai lại, ông ta cho tôi được gặp chồng tôi từ 7 đến 9 giờ sáng. Trong 2 tiếng gặp nhau, chỉ nhìn nhau nhiều hơn là nói.
Từ giả chồng ra về trong ngậm ngùi, buồn bả, quá giang xe ra ngả ba Minh Hưng thì đã trưa, gìờ nầy không còn xe chạy về thành phố; tôi nghỉ bụng sẽ tìm vào trường học gần đây xin ngủ nhờ qua đêm, nhưng may thay một chiếc xe dừng lại bên tôi, bác tài ngóc đầu ra cửa kính hỏi:
- Cô về SàiGòn không ?
Mừng quá, tôi vội trả lời:
- Dạ chỉ đến Phước Vỉnh.
- Cứ lên đi.
Nhưng khi xe chạy một lúc, bác tài nói:
- Xe ít người quá, về thành phố không đủ sở hụi, tôi sẽ chạy qua Phước Long, quí vị sang xe khác.
Tôi buồn rầu nói với bác tài:
- Cháu là một giáo viên, không có nhiều tiền, chỉ đủ tiền cho một cái vé giá chính thức mà thôi, nếu bác qua Phước Long sang xe, thì cháu chỉ đủ tiền trả cho bác, còn chuyến về thành phố thì cháu không có tiền đễ trả.
- Cô khỏi lo, hoàn cảnh của cô tôi hiểu lắm, tôi sẽ lo cho cô.
Ðược bác tài hứa, tôi cũng an tâm. Nhưng khi xe đến Phước Long thì khách ào lên quá đông, nên bác ta không cần sang xe khác nửa, tiếp tục chạy về SàiGòn. Bác dặn người lơ xe:
- Mỗi người 20 đồng, riêng cô giáo nầy thì lấy giá chính thức 1.20 mà thôi.
Khi thâu tiền, tôi mở bao thư đựng tiền đễ lấy tiền đưa cho anh lơ xe, ngạc nhiên hết sức vì tôi lấy đũ số tiền 1.20 duy nhất mà tôi đã bỏ trong bì thư, vẫn còn lại hơn 3 đồng nửa ? Suy nghỉ mãi mà không biết tại sao lại còn dư như vậy ? Sau nầy, mới biết số tiền 3 đồng ấy là do chồng tôi bỏ vào. Vì khi nhận cái giỏ xách từ người bạn mà tôi đã nhờ mang vào, chồng tôi lục soát cái giỏ xách, gặp cái bì thư tôi đễ một tấm hình của tôi và 1.20 đồng, chồng tôi hoảng hốt, thấy lo sợ cho tôi vì số tiền quá ít ỏi, nên đã mượn vài người bạn thân cùng láng được ba đồng bỏ thêm vào cho tôi. Cảm động lắm thay !
Xe thả tôi xuống Phước Vĩnh lúc nửa đêm. Trời đang mưa tầm tã, những tiếng gầm vang trời của ông sấm, những tia sáng xoẹt ngang của ông sét đã làm tăng thêm nổi lo sợ trong lòng tôi. Con đường đất đỏ, nhỏ và ngoằn ngoèo như con rắn bò, vắng lặng, tối đen, không một bong người, không một tiếng động, không một ánh sang ngoài tiếng vang của sấm và tia chớp của sét mà thôi. Tôi mím môi, nắm chặt hai tay lại, đễ ngón tay cái vào giữa, mở to đôi mắt, đi rẽ vào con đường tắt nầy đễ về nhà trọ được gần hơn là đi bọc theo con đường nhựa chính của thị trấn. Khung cảnh hai bên con đường đất đỏ nầy thật hoang dã, chỉ toàn những bụi cây mắc cở tây gai nhọn đầy thân, những đám cỏ tranh dầy những chiếc lá dai, hai cành sắc bén nhu lưởi lam, và những cuộn giây kẽm gai của “ bộ đội cụ Hồ” giăng dọc, giăng ngang đễ đề phòng kẽ phản động. Tôi vừa đi vừa chạy, miệng thầm thì tự trấn an mình:
- Ðừng sợ, có chi mà sợ.
Mặc kệ cho những hạt mưa lớn tạt vào làm rát mặt, mặc kệ cho thân thễ đang run vì lạnh vì sợ, áo quần ướt sủng nước mưa đang vào thân thể, từng cơn gió rừng thổi lại càng làm tăng cơn lạnh, tôi vẫn lầm lũi chạy, cố chạy cho thật nhanh qua khỏi vùng đất âm u, hiu quạnh nầy, trong lòng lo sợ có kẽ xấu chận đường hảm hiếp, bởi vì chung quanh đây có nhiều đơn vị “bộ đội cụ Hồ” và thanh niên xung phong đóng trại.
Về đến nhà trọ, tôi tôi thở một hơi nhẹ nhỏm, tự cảm phục sự can đãm của mình, bởi vì tôi đã dám đi một mình trên con đường đất đỏ ngoằn ngoèo có cảnh vật hai bên đầy u ám, thê lương, trong bóng đêm của một đêm mưa tầm tả mà bình thường, dù giửa ban ngày tôi cũng chẳng dám đi. Ngày hôm sau, kễ lại cho những người quen nghe về chuyện đi thăm chồng lần nầy của tôi, ai cũng trách tại sao tôi dám liều mình như vậy ? Tôi cũng tự hú hồn và nhận thấy rằng tôi đã quá liều mạng, nổi nhớ thương chồng đã làm tôi không nghỉ gì đến sự hiểm nguy cho bản thân tôi.
              Ngày tháng trôi qua, cuộc sống xa cha mẹ, xa anh chị em, xa chồng con đã làm tôi héo hắc, nhất là nổi nhớ thương chồng con càng ngày càng đè nặng lòng tôi, không có đêm nào tôi không nghỉ đến đứa con gái đầu lòng bé bỏng yêu thương của tôi đang sống với Ông Bà Ngoại ngoài Huế và người chồng thất cơ lở vận yêu mến của tôi đang bị đọa đày tận rừng thiêng nước độc, niềm ao ước to lớn lúc nầy của tôi là sự sum họp. Tuy sống với một cõi lòng tan nát, nhưng tôi vẫn làm tốt nhiệm vụ của một cô giáo trẽ đang dẩn dắt thế hệ đàn em trên con đường giáo dục. Thời gian nầy là thời gian đầu tiên của những người miền Bắc cai trị miền Nam, nên họ không tin những công nhân viên của chế độ củ, nhất là trong ngành giáo dục, họ đưa một số Cô Thầy ngoài Bắc vào đây lẫn lộn với Cô Thầy trong miền Nam mà họ gọi là “ giáo viên chi viện”, mỗi trường cấp 3 tức trung học đệ nhị cấp, ngoài Hiệu Trưởng, Hiệu Phó cò có một đảng viên nòng cốt từ miền Bắc vào, đãm trách môn chính trị, một môn học quan trọng nhất đối với họ, người dạy môn chính trị củng là người có quyền hạn nhất trong trường, hơn cả Hiệu Trưởng. Trường đầu tiên của tôi gồm cả cấp II và cấp III, anh Hiệu Trưởng là người địa phương tập kết, tánh tình hiền lành, ngay thẳng, vẩn còn tình người, nhưng có vẽ ngang bướng, bất cần nên chưa vào đảng, anh có bằng Ðại Học ngoài miền Bắc, hơn hẳn một số cán bộ cấp cao của ty, nên anh chẳng cần cúi đầu với họ, anh tỏ ra khinh thường họ ra mặt. Người xếp song nhất trường, và cũng là thầy dạy môn chính trị, là một thanh niên miền Bắc, khoảng 30 tuổi, mặt mày cũng tạm được, không “ răng hô mả tấu” như hầu hết bộ đội gái trai từ miền Bắc vào mà ta thường thấy ngoài đường hay trong các cơ quan, nhưng cũng dép râu, quần kaki nổi hoa, áo sơ mi trắng vải thô, đầu cắt thật ngắn với hai cái mái xanh. Thời gian đầu cứ gọi chúng tôi là “đồng chí”, tôi thì gọi lại là thầy Tâm, vì anh ta tên là Tâm. Lúc đầu trông củng hách lắm, mặt mày lạnh lùng, chuyên phê bình góp ý, dần dần thì anh ta đổi cách xưng hô, không còn gọi mọi người là “đồng chí” nửa, anh ta bắt đầu gọi tôi bằng chị và xưng tôi. Vì thời gian đầu, nên họ ca ngợi đoàn thanh niên Hồ Chí Minh là thành phần ưu tú sau nầy của đảng, nên điều kiện kết nạp rất khó, nhưng ai có tính bon chen thì luôn luôn cố gắng đễ được vào đoàn, phải có hai đoàn viên có nhiều thành tích tốt và thâm niên đứng tên giới thiệu thì mới được chấp nhận. Trong trường chỉ có một đoàn gồm cho cả giáo viên lẫn học sinh, đoàn trưởng là một nam học sinh lớp 12, vì vậy khi đến lớp thì là cô với trò, thầy với trò, nhưng đến lúc họp đoàn, thì tất cả đều là “đồng chí”. Mỗi lần đi họp đoàn về, tôi thường thấy cô Cúc, cô giáo trẽ dạy môn sử địa, ngồi khóc vì bị anh đoàn trưởng kê tủ đứng, vì tội vẩn còn “ tàn dư của Mỹ Ngụy”, còn tình cãm ủy mị tiểu tư sản, vì đã liên hệ tình cảm trai gái với thầy Thanh, một thầy giáo dạy cùng trường. Tôi chẵng hiểu tại vì sao trai chưa vợ, gái chưa chồng yêu thương nhau bằng tình yêu thành thật mà cũng bị kết tội nhỉ ? Muốn làm người “ cách mạng” thì phải lạnh lùng như băng đá hay sao ?
Không biết vì lý do gì, đã mấy lần thầy Tâm đề nghị với tôi:
- Chị làm đơn xin vào đoàn đi, tôi sẽ đích thân giới thiệu và kếp nạp chị.
Cái gương của cô Cúc sờ sờ trước mắt đó, ngu gì mà tôi chui đầu vào rọ, tôi thường trã lời một cách nghiêm trang ( giả tạo):
- Ðoàn là nồng cốt mai sau của Ðảng, người đoàn viên là người ưu tú đễ sau nầy trở thành đảng viên, vì vậy tôi chưa dám xin vào đoàn vì tự xét bản thân tôi chưa tốt, có chồng đang lao động học tập cải tạo, chưa có quyền công dân nên chưa xứng đáng được làm một đoàn viên, khi nào tôi thấy tôi xứng đáng rồI thì sẽ xin vào đoàn.
Toàn trưòng có khoảng 15 cô thầy, ngoài thầy Tâm còn có hai anh miền Bắc vào “ chi viện” nửa, còn lại 13 cô thầy, là người trong miền Nam, hầu hết quê ở Bình Dương hay Sài Gòn. Hai anh Tuyên và Chiến, dù là người miền Bắc, họ vẫn có tình cãm, ăn nói cũng tự tốn chớ không hách dịch như tụi công an, vợ con họ còn ở ngoài Bắc, nên cuộc sống cũng thiếu thốn lắm, vì cần phải đễ dành tiền hàng năm về thăm gia đình. Vì tôi dạy tác phẩm “Ðoạn Trường Tân Thanh” của Nguyễn Du, nên anh Tuyên đặt cho tôi cái tên “nàng Kiều”, và cứ từ đó cứ gọi tôi bằng “nàng Kiều” không còn gọi đúng tên tôi nửa. Tôi cư xữ tốt với mọi người, sẵn sang giúp đở mọi người trong khả năng của tôi, nên được nhiều người thương mến, nhất là các em học sinh và cha mẹ của các em. Họ quí mến tôi hơn hẳn các thầy cô khác, và củng vì lẽ ấy mà có một lần tôi suýt bị rắc rối.
Một ngày kia tôi dạy tác phẩm “ Người Mẹ Cầm Súng” của Nguyễn Ðình Thi cho học sinh lớp 12, nhân vật chính của tác phẩm là Út Tích, một nhân vật có thật và đang sống tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Bản chất của VC khi tưng bốc ai thì tưng bốc lên tận mây xanh, khi nhận dìm ai thì dìm xuống tận đáy biển, dù hoàn toàn sai sự thật. Trong tác phẩm nầy, họ muốn ca tụng nhân vật Út Tích, khi nghe thiên hạ nói “…đàn bà đái không qua ngọn cỏ” thì Út Tích rất bất mãn, vì nói như vậy là khinh thường phụ nử nên một hôm, để chứng minh lời nói ấy là sai, Út Tích đã leo lên tận ngọn cây dừa cao mà đái xuống, một hình ảnh tục tỉu như vậy mà đưa vào văn học, bắt phải hết lời ca ngợi đó là một hành động anh hùng của một phụ nử anh hùng theo đúng bản hướng dẩn soạn thảo của bộ giáo dục. Tôi cố gắng giảng cho xong, nhưng vì tức cười quá nên tôi đã không cầm được, nên vừa giảng vừa cười. Chiều hôm ấy, em nử sinh tên Lan Phương, là một đoàn viên đắc lực, đã mách lại với cô Cúc, cô Cúc xúi giục em Lan Phương làm tờ biên bản để đưa lên Ty, kết tội tôi “ coi thường văn chương xã hội chủ nghỉa nên vừa giảng bài vừa cười khinh bỉ”. Tình cờ cô Hạnh, cô giáo dạy môn Anh Văn và ở chung phòng với tôi và cô Cúc, nghe được nên tìm tôi đễ cho hay sự việc. Sáng hôm sau, gặp em Lan Phương trên đường đến trường, tôi nói:
- Em có nhớ những câu ca dao, tục ngữ nào mà cô thường nhắc các em trong lớp hay không ?
- Dạ, cô thường nhắc những câu “ Không thầy đố mầy làm nên”; “Trọng thầy mớI được làm thầy”; “Muốn sang thi bắt cầu kiều, còn muốn hay chử phải yêu mến thầy” v..v… - Tốt, cô hỏi thêm em có dám khẳng định về giá trị, ý nghỉa của một nụ cười không ? Ví dụ, như hôm qua khi cô đang giảng bài cho các em, tự nhiên cô cười, vậy em có cho rằng cô cười vì khinh thường, vì chế nhạo tác phẩm hay không ? Nếu lúc đó đang giảng bài, bất chợt nhớ lại một chuyện vui đã xảy ra trong quá khứ, tự nhiên cô cười, nụ cười rất nhạy bén, nó đến rất nhanh, xuất hiện cùng một lúc với ý nghỉ của tiềm thức mà mình không ngờ được thì em nghỉ sao ?
Nghe tôi nói như vậy, Lan Phương có vẻ bối rối, sau đó trả lời:
- Hôm qua cô Cúc có đề nghị em tố cáo cô, nhưng em chưa làm, bây giờ cô giải thích rỏ rang như vậy, em không làm nửa.
Vậy là mọi sự êm xuôi. Tuy là một cô giáo trẻ mới ra trường, lần đầu tiên xa gia đình, sống chung với tập thể nhưng tôi cũng biết cách cư xử với những người chung quanh nên được cảm tình của các anh chị đồng nghiệp lớn tuổi, anh Nhung, dạy môn sinh ( vạn vật) đã có lần nói với tôi rằng:
- Trước kia tôi có ác cảm với người Huế lắm, nhưng từ ngày cô và anh Khanh về đây đã làm tôi xóa bỏ thành kiến ấy.
Thầy Khanh cũng ra trường một lần với tôi tại trường Ðại Học Sư Phạm Huế, cũng đổi vào dạy trường nầy một làng với tôi, nhưng thầy đã vào trình diện trước, không quen nhau trước nhưng bởi cả hai là người Huế, đi dạy xa gia đình, sống nơi xứ lạ quê người nên chúng tôi thân nhau rất nhanh, ai củng tưởng chúng tôi là hai chị em. thầy Khanh là một thanh niên tốt, sống mẩu mực, hay giúp đở mọi người, sẳn sàng chia sẽ với mọi người những gì thầy có, mặt mày lại sáng sủa, nên có vài cô nử sinh yêu thầm nhớ trộm.
Trường ít giáo viên nên không có người cấp dưởng ( nấu bếp), mọi cô thầy đều tự nấu ăn lấy. Anh hiệu trưởng thường mua củi cây to và dài như cái cột nhà, có khi còn to hơn nửa, do xe bò kéo, đem về chia đều cho mọi người, phía sau dảy cư xá có cái giếng độc nhất, sâu thăm thẳm, đứng trên miệng giếng nhìn xuống chẳng nhìn thấy nước, chỉ thấy một màu đen, mổi lần lấy nước thì phải cầm cái cần quay mà quay, cái thùng múc nước thì vừa to vừa nặng, cái dây nối cái thùng để quay thì dài thậm thượt, nên các cô sức yếu rất vất vả mổi khi lấy nước, cả mấy ông thầy củng vậy. Họ có chút sức mạnh thì củng phải dùng sức mà quay, nên cực chẳng đã họ mớí làm, vì vậy mổi lần thầy Khanh ra giếng quay nước thì ai nấy đều mở cửa sau chạy ra theo.
Người nầy nói:
- Anh Khanh xách dùm em vài thùng nước.
Người nọ than:
- Nước trong thùng phuy của em không còn một giọt !
Người kia gọi:
- Cậu Khanh, kéo giúp tôi năm ba thùng nước.
Thầy Khanh vui vẻ đáp ứng tất cả, tha hồ mà đặt hàng. Củi củng vậy, khi thấy thầy Khanh đem củi ra bửa, thì mọi người củng đem củi ra, nhờ thầy Khanh bửa ra làm hai, làm ba đễ cho dễ chẻ. Tôi, thầy Khanh, và anh Lâm, dạy môn Pháp Văn, nấu cơm ăn chung, nên củi, gạo điều để chung tại phòng của anh Lâm và thầy Khanh. Ba chúng tôi xem nhau như anh em ruột. Anh Lâm lớn tuổi làm anh cả, kế đến là tôi, thầy Khanh là em út. Nhu yếu phẩm theo tiêu chuẩn mua hàng tháng , những thứ có thể để lâu được như đường, bột ngọt thì anh Lâm giử phần của anh để khi nào về Nha Trang thăm nhà thì đem về cho vợ, tôi củng giử riêng để khi có giấy thăm chồng thì mang lên cho chồng, còn phần của thầy Khanh thì để trong bếp cho ba anh em ăn chung. Mổi lần đi chợ hay đến thăm nhà phụ huynh học sinh thì ba anh em thường đi chung. Ði thăm nuôi chồng lần cuối tại vườn uôm, củng ở vùng núi Bà Rá, nhưng gần đưòng xe chạy hơn. Trở về cư xá thỉ tôi bị bệnh nặng, bị cảm lạnh vì đã đứng chờ xe suốt mấy tiếng đồng hồ dưới hơi sương lạnh của sáng sớm miền núi. Suốt một tuần tôi phải nghỉ dạy, vì thiếu thuốc men nên cơn bệnh kéo dài, thầy Khanh mượn xe đạp của một em học sinh, đặt tôi ngồi lên yên sau, rồi dẩn bộ từ cư xá đến bệnh xá trên con đường đất gồ ghề, chổ lồi, chổ lỏm bỏm nước mưa đã soi mòn, cách xa chừng nửa cây số cho tôi khám bệnh mua thuốc, những ngày kế tiếp, sau buổi dạy, thầy đi thẳng ra chợ mua vài cái hột gà, tiêu hành rồi vội vả về cư xá, cặm cụi nấu cháo cho tôi ăn giải cảm. Thầy săn sóc tôi như một đứa em ngoan săn sóc cho chị mình, và tôi củng vậy, đã săn sóc cho mọi người khi ai bị bệnh. Tình cảm ấy chẳng khi nào tôi quên được.
Trước cư xá là một miếng đất khá rộng, khi mới về đây thì đã thấy toàn cây mắc cở tầy dầy gai mọc tùm lum, làm cư xá trông thật hoang dã. Một hôm cuối tuần, phần lớn các giáo viên về nhà, vì họ ở Sàigòn hay cùng tỉnh, tôi đề nghị với thầy Khanh:
-Hai chị em mình dọn sạch đám cây mắc cở kia rồi cuốc vòng trồng sắn (củ khoai mì) mà ăn.
Thầy Khanh đồng ý, vậy là hai chị em bắt tay ngay vào công việc, khi dọn xong đám cây mắc cở rồi thì thầy Khanh cuốc vòng, còn tôi thì đến nhà dân xin hóm sắn. Chỉ vài tháng sau, đám sắn cao lớn, xanh tươi, có thể thu hoạch được, ai muốn ăn thì cứ việc nhổ lấy củ. Ðất đỏ rất thích hợp với loại củ, nên chỉ cần nhổ hai gốc là có cả chục củ sắn dài, nấu một nồi lớn đủ cho tất cả thầy cô trong cư xá ăn. Từ đó mổi lần có hội họp đông trong phòng anh hiệu trưởng, thì chúng tôi nhờ vợ anh nấu một nồi lớn, vừa họp vừa ăn. Ngoài ra, chúng tôi còn trồng một giảy mướp ngọt ngay phía sau phòng thầy Khanh. Trồng chơi mà trái rất nhiều, tất cả thầy cô trong cư xá hái ăn không hết. Tôi phải mang ra chợ đổi lấy cà hay bí, vì ăn mướp hoài ngán lắm.
Tính tôi ngang lắm, chỉ sợ lẽ phải, nếu sai là phải cải đến cùng, chẳng sợ ông to bà lớn nào cả, vì vậy mổi lần họp hội đồng thì tôi thường bênh vực các cô thầy nào bị phê bình, góp ý quá đáng. Phong trào các cán bộ Ty đến các trường để dự giờ được thịnh hành trong thời gian nầy. Một ngày kia, phái đoàn Ty gồm ông trưởng ty, ông phó ty và vài người nửa đến dự giờ địa của anh Nhân, vì khi đề cập đến Vịnh cam Ranh, anh Nhân nói:
- Trước năm 1975, ông Thiệu đã ký cho Nhật thuê Vịnh Cam Ranh trong thời hạn 100 năm để Nhật lấy cát, như vậy ông Thiệu đã có tội với nhân dân.
Nên sau buổi học, họp mặt đễ phê bình góp ý, thì ông trưởng ty nói nagy:
- Cô thầy trường nầy tư tưởng còn lệch lạc quá, chưa khẳng định lập trường bạn và thù một cách rỏ ràng, nên vẩn còn gọi bằng ông Thiệu, ông Diệm; chứng tỏ các người vẩn còn tôn trọng chúng nó, từ nay về sau khi nhắc đến những tên đó, yêu cầu các cô các thầy phải gọi là thằng N.V. Thiệu, thằng N. Ð. Diệm.
Việt Cộng xử dụng người vào những chức vụ quan trọng không cần có trình độ học vấn, bằng cấp gì cả, chỉ cần có công nhiều với đảng là được, trình độ ông trưởng ty nầy chỉ mới qua lớp sáu, nên thiếu hẳn khí phách của một người có học !
Các cô thầy nhìn nhau, không ai nói lời nào, riêng tôi xin góp ý ngay:
- Thưa các chú, cháu không biết cách giáo dục ngoài Bắc ra sao, chứ trong Nam thì phải “ Tiên học Lễ, Hậu học Văn”., không ai gọi người lớn tuổi hơn mình bằng thằng cả, dù là đối với kẽ thù, chỉ có bọn thực dân đầu đường xó chợ mới gọi người lớn bằng thằng nọ con kia thôi. Trước kia người trong Nam nầy gọi Bác Hồ bằng Cụ, chứ không ai gọi bằng thằng cả.
Tôi vừa dứt lời, ông ta đấm mạnh lên bàn, nạt lớn:
- Vậy ý cô muốn nói tôi là du thủ du thực đầu đường xó chợ hả ? Còn trong Nam nầy phải gọi Bác là Cụ Hồ bởi vì kính trọng bác là người vỉ đại không những trong nước mà còn đối với cả thế giới nửa.
Tôi cải lại:
- Thưa chú, bây giờ nhờ ơn cách mạng nên tụi cháu mới biết bác Hồ vỉ đại chứ lúc đó đâu có biết, chỉ nhìn thấy một cụ già có râu nên gọi như thế mà thôi.
Thấy tình hình căng thẳng nên chú phó ty lên tiếng:
- Tôi có ý kiến như vầy, từ rầy về sau, nếu cần nhắc đến NVThiệu hay NÐDiệm thì chúng ta nên gọi là tên Thiệu, tên Diệm.
Mọi người đồng ý.
              Ngày tháng trôi qua chậm chạp, tôi sống trong sự khắc khoải nhớ thương. Có anh chàng tên Bình, nhà ở Sàigòn, là kỷ sư đang làm việc trong đồn điền cao su Phước Hòa, cách nơi tôi ở chừng ba cây số. Một hôm gặp tôi trên chuyến xe về Sàigòn, hỏi thăm tôi vài ba câu rồi từ đó cứ theo đuổi tôi, dù biết tôi đã có chồng con, nhưng củng cứ tìm cách bộc lộ tình cảm, nhưng tôi cố tránh né. Có vài lần phụ huynh học sinh mời tôi về nhà ăn cơm, tôi đã thấy có mặt anh ta tại đó, nên sau nầy tôi từ chối mổi khi họ mời. Một hôm, em học sinh ấy đến cư xá nhờ tôi giảng lại bài, củng có anh ta đi theo. Tôi đâm ra lo lắng, vớI số tuổi còn quá trẻ, đang sống cô đơn với nổi buồn triền miên, liệu tôi có giử vửng lòng chung thủy đối với người chồng đang bị sa cơ thất thế hay không ? Một hôm tôi đến gặp cha Hiền, là cha sở họ đạo vùng nầy, để trình bày hết hoàn cảnh củng như nổi lo lắng của tôi cho cha nghe và xin cha hướng dẩn cho tôi tìm hiểu về đạo Công Giáo. Tôi thưa với cha:
- Thưa cha, thật sự trong lòng con chưa có một niềm tin nào nơi Thiên Chúa cả nhưng con biết luật của đạo Công Giáo chỉ cho phép một vợ một chồng, vì Chúa đả phán “ Những gì Thiên Chúa kết buộc, loài người không được phân ly”. Nên con lấy điểm nầy để làm điểm sáng mà đi theo trong đêm tối. Con muốn cho chồng con được yên lòng, tin tưởng, không nản lòng trong lúc tù đày.
Cha lắng tai nghe tôi trình bày, xong người từ tốn nói:
- Con suy nghỉ được như vậy là tốt, cha rất vui khi con muốn tìm hiểu Chúa, bắt đầu cuối tuần nầy, lúc nào rảnh thì con cứ qua nhà xứ, cha bắt đầu hướng dẩn cho con.
Mấy tháng đầu tiên đến vùng nầy, tôi ở tạm nhà cậu Vủ quen với gia đình tôi ở Huế. Sau 1975, cậu đưa gia đình vào đâu lập nghiệp, ngày đầu xách vali ra bến xe để đi nhận nhiệm sở, tình cờ tôi gặp Vinh, con trai của cậu Vủ, ngồi đối diện trên cùng một chuyến xe đò từ bến xe Bình Dương, nó nhìn ra tôi đầu tiên, hỏi tôi đi đâu. Khi biết tôi đi nhận nhiệm sở tại địa phương mà gia đình nó đang ở, nên nó đề nghị:
- Trường mi nằm đối diện với nhà tau, rứa thì mi tới nhà tau mà ở đi, để đi dạy cho gần, bước qua vài bước là tới, tiện lợi hết sức.
Vì lần đầu tiên xa nhà, sống đời tập thể, nên trong lòng tôi lo lắng lắm, tôi luôn luôn muốn sống trong không khí gia đình, nay đang chuẩn bị phải sống một mình trong cư xá, giửa những người không quen, nên khi nghe Vinh đề nghị là tôi chấp nhận liền. Vì vậy, mấy tháng đầu, tôi sống với gia đình cậu Vủ. Sau đó, tôi dọn vào ở trong cư xá để mổi lần họp hội đồng cho thuận tiện, vì tất cả giáo viên và gia đình anh hiệu trưởng đều ở trong cư xá, nên mổi lần họp hội đồng thì họp vào chiều tối và họp ngay trong phòng của anh hiệu trưởng, nên tôi ở ngoài thì rất bất tiện vì mổi lần họp xong, củng phải có vài người đưa tôi về nhà trọ, cách cư xá xa khoảng hai cây số và đường đất đầy “ổ vôi” vì nước mưa xoi mòn. Cư xá nằm đối diện với nhà thờ nên việc qua lại học giáo ly của tôi rất tiện lợi.
Phương tiện đi lại lúc bấy giờ rất khó khăn, mua được một hai vé tàu lửa hay xe đò để đi xa thì thật là vất vả; phải mất nhiều ngày chầu chực, chen lấn ở nhà ga xe lửa hay bến xe để sắp hàng, ban đêm không dám ngủ, vì kẽ gian đầy rẩy khắp nơi, lơ đảng một chút là mất đồ ngay, vì vậy mổi lần về Huế, tôi thường đi chung với thầy Khanh, để một người đứng sắp hàng chờ mua vé, còn một người ngồi giử hành lý, mới hy vọng có thể mua dược vé và khỏi bị mất đồ. Không khi nào mua vé trong ngày mà có, bởi vì do cuộc sống quá khó khăn, nên công nhân viên ngành nào củng tìm cách lường lọc để kiếm thêm tiền, bù vào chi tiêu trong gia đình bởi đồng lương quá ít. Các nhân viên bán vé, chỉ bán ra vài ba chục vé thì đã tuyên bố “ Vé ngày hôm nay đã bán hết” nhưng nếu biết cách để mua “chợ đen” thì mấy vé củng có và mắc hơn vé thường gấp ba bốn lần. Những người công nhân viên công tác xa quê, với đồng lương chết đói như chúng tôi không bao giờ dám nghỉ đến chuyện mua vé chợ đen, nên đành kiên nhẩn mà chờ ngày nầy qua ngày khác thôi. Mặc dù vất vả như vậy, hàng năm tôi vẩn cố gắng về Huế vào dịp Tết và hè. Lương của tôi lúc đó là năm mươi mốt đồng ; khác với tiền có hình ông Hồ đang lưu hành, từ đèo Hải Vân trở ra Bắc; đó là lương sơ khởi của cấp bằng Ðại Học Sư Phạm, mặc dù lúc nầy xài tiền theo đơn vị xu và đồng; một đồng mua được hai lít gạo, hoặc mười ký khoai lang, nhưng tôi không bao giờ dám mua thịt heo, thịt bò, thịt gà, thịt vịt hay cá vì so sánh với các thứ vật dụng, thức ăn khác thì những loại nầy quá đắt, do đó ngoài số ít thịt heo được mua theo giá tiêu chuẩn hàng tháng thì thỉnh thoảng tôi mới dám mua một hay hai ký lô thịt nai do mấy người đi săn được mang ra chợ bán với giá một ký lô là hai đồng, đem về kho mặn với sã đễ ăn được lâu ngày.
              Khu nầy là cư xá của gia đình cảnh sát quốc gia trước 1975, sau khi chiếm được miền Nam, chính quyền mới cho trường cấp ba làm cơ sở, vì chưa thể tách cấp ba ra khỏi cấp hai, nên anh hiệu trưởng dùng làm cư xá cho công nhân viên và giáo viên ở. Những người ở trước đã có trồng nhiều cây ăn trái như mít, ổi, đu đủ, điều, nay đã có trái nên chúng tôi được hưởng. Các cô thầy có gia đình ở Sàigòn hay các quận, huyện trong tỉnh thì về thăm nhà hàng tuần, hàng tháng, nên thỉnh thoảng họ mới dùng tới, còn ba anh em chúng tôi và các anh giáo viên chi viện thì hầu như phải dùng mỗi ngày, cứ đu đủ kho, mít non trộn, rồi đu đủ trộn, mít non kho, vì vậy không bao giờ thấy có trái mít hay trái đu đủ nào chín cả. Bắt đầu vắt trái của mấy cây sau phòng mình, khi đã không còn trái nà đủ lớn đễ có thể ăn thì xê ra vặt trái của mấy cây xa hơn chút xíu, rồi chút xíu nửa. Các cô thầy trường cấp ba và gia đình anh hiệu trưởng ở dãy gần cổng, còn dảy phía xa thì tạm cho các cô thầy cấp một và hai ở. Phía đó cũng có nhiều cây mít đã có trái. Một hôm anh Tuyên hái mấy trái mít non cở bằng cái tô trên một cây mít nằm phía sau căn phòng của thầy Sơn, thuộc dãy nhà bên kia. Ít ngày sau, chúng tôi nhìn thấy rất nhiều trái mít, từ lớn nhất bằng cái tô, đến nhỏ nhất bằng ngón tay nằm rải rác trên mặt đất, dưới gốc cây phía sau phòng của thầy Sơn, chúng tôi biết ngay bàn tay ai đã làm như vậy vì “ai mà trồng khoai đất nầy” nửa ! Hành động “phá hoại” của chúng khi nhìn thấy có vài trái mít trên cây phía sau phòng mình bị hái của thầy Sơn thật đáng nguyền rủa vì thiếu hẳn tình người và sự thông cảm. Thật ra thầy Sơn chỉ là giáo viên dạy thể dục thể thao của trường cấp một, chưa tốt nghiệp được phổ thông trung học (đệ nhị cấp); vì trường cấp hai và ba chưa xin được giáo viên thể dục thể thao, nên nhờ thầy ta dạy giúp mổi tuần một giờ. Anh hiệu trưởng cho vợ chồng thầy ở một căn phòng thuộc dảy nhà bên kia, vợ chồng thầy là người địa phương, gia đình vợ ở ngay trung tâm thị trấn ấy. Tuy học hành chẳng tới đâu nhưng bản tính của thầy rất kiêu ngạo, luôn tự cao tự đại, mỗi lần họp hội đồng giáo viên là thầy ưa phê bình, góp ý mà toàn tầm bậy tầm bạ không đâu vào đâu cả. Tôi dể dàng sống hòa đồng với mọi người, nhưng riêng đối với thầy Sơn nầy, chính tôi củng không có cảm tình, không thích thân thiện. Nhìn thấy hành động vô ý thức của thầy Sơn, tôi buồn lắm, bởi vì thiếu lòng bác ái đối với tha nhân, thiếu sự thông cảm đối với đồng nghiệp. Vợ chồng thầy là người địa phương, ở gần gia đình, đi lại dể dàng, còn chúng tôi là những kẽ sống xa gia đình, xa quê hương hàng ngàn cây số, trong một xã hội mà vật chất quá thiếu thốn như xã hội Việt Nam sau năm 1975; với số lương quá ít ỏi, phải dè sẻn từng đồng, từng cắc để làm lộ phí mà về thăm gia đình hàng năm thử hỏi làm sao có tiền để mua đầy đủ thức ăn cho những bửa cơm hàng ngày được ? Trong một xã hội như vậy thì con người phải tìm cách sáng tạo đễ sinh tồn, vì “gặp thời thế, thế thời phải thế”. Một xã hội mà các cấp lảnh đạo toàn cho ăn bánh vẽ và báo cáo láo. Cấp trung ương thì cho người ta ăn bánh vẽ, cấp huyện, tỉnh thì ưa báo cáo láo để lấy thành tích, vì vậy chúng tôi tự ăn thiếu, đến thiếu ăn, theo tiêu chuẩn thì mổi giáo viên được mua mổi tháng mười ba ký lô gạo, nhưng để muốn trung ương khen, nên những người lảnh đạo huyện, tỉnh báo cáo rằng để phát huy tinh thần “lao động là vinh quang” theo lời “Bác” dạy, nên ngoài thời gian sử dụng cho chuyên môn, giáo viên toàn tỉnh còn lao động sản xuất, đạt số lương thực mổi đầu người là năm ký lô cho mổi tháng, do đó tỉnh được trung ương gởi bằng khen ( bánh vẻ) và chỉ thị ty lương thực tỉnh ban cho mổi người thêm tám ký lô gạo, như vậy cộng vào với số lương thực tự túc nửa là đủ mọi người mười ba ký lô như đã hoạch định. Thật ra thì năm ký lô lương thực nầy chỉ do trí tưởng tượng của cấp lảnh đạo huyện, tỉnh mà thôi chứ không có, bởi vì ngoài thời giờ lên lớp ra, giáo viên còn phải soạn giáo ấn ( bài dạy) đúng theo khuôn mẩu của bộ giáo dục đưa ra, rồi chấm bài, sửa bài cho học sinh, rồi họp tổ chuyên môn, họp hội đồng và lo việc bếp núc nửa. Thỉnh thoảng còn phải học chính trị, như vậy làm sao có thì giờ rảnh để mà lao động sản xuất, với lại đất đâu mà canh tác ?
Tháng nào mua được hoàn toàn năm ký lô gạo thì còn đở, có tháng bị thay thế vào một nửa bột mì, bo bo hay khoai lang thì có mà thiếu lên thiếu xuống. Sau nầy, tôi được biết không phải chỉ có cấp lảnh đạo ngành giáo dục và tỉnh tôi công tác là báo cáo thành tích tưởng tượng đâu, mà hình như ngành nào củng báo cáo láo, tỉnh nào củng báo cáo gian để thi đua lấy thành tích; chỉ có công nhân viên chân chính là chịu thiệt thòi thôi ! Lấy tình người mà đối với nhau, các cô thầy được công tác gần nhà, không phải chịu sự thiếu thốn triền miên như chúng tôi đúng ra phải thông cảm cho chúng tôi, nếu không nói là có thể giúp đở, đàng nầy đã không chia sẽ thì thôi, ngược lại còn hành động một cách ngang tàng, miệt thị như thầy Sơn, thì thật là đáng trách vì quá thiếu lòng bác ái ! Tết năm 1978, dù đang bệnh nặng, tôi vẩn nhất định về Huế ăn Tết. Ở lại ngả bảy, Sàigòn đúng ba ngày ba đêm, sắp hàng chầu chực đến muốn rụng cặp chân, tôi và thầy Khanh mới mua được hai vé. Vì đang bệnh, rồi còn lao tâm lao lực quá nhiều, nên khi về đến nhà thì tôi ngã quỵ, ói ra một đống máu tươi lênh láng trên nền nhà, làm ba mẹ và lủ em tôi hoảng sợ, gọi ngay chị y tá trong khu phố đến chích thuốc cho tôi. Sau ba ngày Tết, lấy cớ bị bệnh, tôi đễ thầy Khanh trở lại trường trước, còn tôi ở ráng thêm vài ngày nửa mới chịu đi, lần nầy tôi xin mẹ tôi mang con gái theo, hứa Hè nầy sẽ mang về trả cho Ông Bà Ngoại. Năm đó, con gái tôi chỉ mớI hơn haituổI, mặt mày thật sáng sủa, mái tóc đen mượt dài đến nửa lưng vì tôi chưa bao giờ cho cắt. Tuy chưa được lên ba, nhưng thuộc nhiều bài hát dài, đi đến nhà ai bảo hát là hát liền rất dạn dỉ, ai thấy củng thương. Tôi còn nhớ lần đầu tiên dẩn con gái đến nhà xứ gặp cha Hiền, con tôi đã làm cha ngạc nhiên lẩn thích thú khi nghe giọng hát “chột” phát âm không đúng của đứa bé thơ “ Trời mưa nhâm dâm, ướt đẩm na pi, anh nhớ cười chi, chi no chưởi săn, hai tua phang can, dat nen tang ki, ông huyện khong cho, toc nập, tự do, khong cho tôi cũng tười.” Và nhiều bài nửa, làm cho tất cả mọi người có mặt hôm đó cười đến chảy cả nước mắt, mãi đến hơn hai chục năm sau, mổi lần viết thư cho tôi, cha vẩn còn nhắc lại. Cha rất thương con gái tôi, biết đi theo tôi thì ăn uống kham khổ nên mổi buổi sáng Cha đều bảo chị bếp mang qua cư xá cho cháu một ly sửa nóng, hoặc đón cháu qua nhà xứ ăn cơm với cha vài ba lần trong một tuần. Sáng nào, tôi đi dạy mà toàn cư xá không có cô thầy nào cả thì tôi mang con gái tôi qua gởi nhà cô Mẫn, sát bên cạnh cư xá, chỉ cách nhau một cái hàng rào. Có nhiều lần khi đón cháu về, nhìn thấy có một ít tiền lẽ trong túi con gái, hỏi ra mới biết cô Mẫn thương ẵm cháu ra quày hàng bán gia vị, đồ khô của mẹ cô ngoài chợ, mấy người bán hàng gần đó yêu cầu cháu hát và hát rất tự nhiên nên họ khen và thưởng cho cháu tiền.
Một buổi sáng nọ, đang đứng giảng bài, bổng nghe từng tràng đạn nổ liên hồ, rồi có vài mảnh đạn bay vèo qua cửa sổ, ghim lên tấm bảng đen, tôi hốt hoảng hét lớn:
- Tất cả các em chạy nhanh xuống cuối phòng và nằm sát xuống, không được ngồi lên.
Rồi vội vả phóng nhanh ra cửa, chạy băng qua khu vườn sắn um tùm đễ đi ngỏ tắt mà về cư xá cho nhanh, vì lúc di dạy, con gái đang còn ngủ, sáng nay cô Hạnh không có giờ dạy, định ở nhà chấm bài, nên tôi để cháu ở nhà với cô, vì vậy tôi lo lắng vô cùng, vì biết kho đạn ấy nằm phía sau cư xá, ba chân bốn cẳng chạy vào phòng bằng cửa sau, nhìn lên giường chẳng thấy con đâu. Cất tiếng gọi cô Hạnh thì cô đang núp trong góc phòng, cô nói:
- Em đang ở sau bếp, nghe nhiều tiếng nổ lớn và gần quá nên hoảng hốt tìm chổ núp, quên mất có cháu ở nhà.
Hai chúng tôi vội tìm kiếm, thấy con gái đang nằm bẹp dưới gầm giường. Thương quá là thương, mới chừng ấy tuổi mà đã biết chui xuống gầm giường tránh đạn.
Sẵn có con gái tại đây, tôi xin cha rửa tội cho cháu và cha cũng cho tiến hành lể thêm sức luôn, còn phần tôi thì Cha chọn sẽ rửa tội trong ngày lể phục sinh.
Ðối với người Công Giáo, Lể Phục Sinh là lể lớn nhất trong năm nên các vị linh mục thường chọn ngày nầy để rửa tội cho những tân tông lớn tuổi. Cha đã rao tin trước đó vài tuần. Ðúng ngày lể Phục Sinh, số người đi dự lể rất đông, vừa ngồi vừa đứng chật ních nhà thờ, còn tràn ra cả phía ngoài hành lang. Ngoài những giáo dân ra, còn có một số anh em đồng nghiệp và phụ huynh học sinh của tôi nửa, anh Lâm là người vui nhất vì anh củng là người Công Giáo, nhưng không ai có thể ngờ rằng trong đám đông đứng phía dưới nhà thờ ấy, có một số là công an xả, huyện và cán bộ ty giáo dục nửa. Họ đến để xem xét tình hình. Sau buổi lể hôm ấy, cha Hiền và tôi bị mời “làm việc” liền, nên buổi tiệc ăn mừng do bà vú đở đầu của tôi là dì Huệ khoảng đải củng bị hủy bỏ luôn. Vài ngày sau, ông phó ty nổi tiếng là vị hung thần đích thân đến trường tìm gặp tôi. Anh Tuyên đả báo tin cho tôi biết và bảo tôi đến nhà học sinh tạm lánh mặt và tôi đả rời cư xá kịp thời nên không bị gặp ông ta. Chờ lâu quá không thấy tôi về, ông ta đã tự tiện lục soát hết đồ đạt của tôi, rồi lấy đi tấm ảnh “Ðức Mẹ sầu bi” mà cha Hiền đả tặng cho tôi, sau nầy cô Hạnh cho tôi biết ông ta vừa lục tung đồ đạt của tôi, vừa tìm tòi cái gì đó lại vừa nói: “Ðây là bạn hay thù ?”
Vì lảo phó ty hung thần kia không gặp được tôi, nên trở về lại ty, ngày hôm sau trên ty chỉ thị về trường, bắt buộc tôi tạm thời phải nghỉ dạy, mổi ngày thay vì lên lớp, thì ra văn phòng trường ngồi viết tờ tự kiểm điểm hành vi sai trái của mình, họ đả buộc tội tôi rất nặng:
“ Cô là một giáo viên xả hội chủ nghỉa, trách nhiệm của cô là phải truyền thông qua những lời giảng dạy, phải làm sao để học sinh giác ngộ mà bỏ đạo, đàng nầy thì ngược lại, chính cô lại tự xin vào đạo, phản lại đường lối cách mạng. Cô củng biết những phần tử xấu, phá rối cách mạng thường ẩn núp trong nhà thờ, chồng cô là một sỉ quan ngụy, có tội với nhân dân, đang được cách mạng khoan hồng, cho đi học tập cải tạo để trở thành con người tốt, chưa có quyền công dân. Nay cô vào đạo là cố ý tìm đường trước, đợi khi nào chồng cô trở về mà hoạt động phản cách mạng phải không ?”
Dù hạch hỏi năm lần bảy lượt, tôi vẩn giữ đúng một lời:
- Tôi xin học đạo và theo đạo hoàn toàn phát xuất từ tình cảm, muốn cho chồng yên tâm lao động cải tạo tốt để sớm được trở về và nhất là để tôi không bị sa ngả để khỏi làm mất danh dự gia đình, chứ không dính líu gì đến chính trị, xả hội cả.
Họ bắt tôi hoặc bỏ đạo, hoặc bỏ dạy, chỉ chọn một trong hai đường mà thôi. Tôi lo lắng lắm vì tôi tự xin theo đạo, không cho Ba Mẹ tôi biết, vì dòng họ tôi chưa có ai theo đạo cả. Tôi là đúa con, đứa cháu đầu tiên của dòng họ đã bỏ đạo của ông bà. Nếu giờ đây, vì xin theo đạo mà phải bị đuổi dạy thì Ba Mẹ tôi sẽ buồn biết bao nhiêu ? Sau năm 1975, gia đình tôi đã phải gánh chịu biết bao điều lo buồn, đau khổ, nay vì chuyện nầy để gia đình phải gánh thêm nổiphiền muộn nửa, thì tôi làm sao còn dám về thăm gia đình ?
Và dù tôi chỉ mớiđược rửa tội thêm sức, nhưng tôi củng không muốn bỏ đạo, vì bỏ đạo là hèn nhát, việc xin theo đạo là do tôi chọn chứ không có một ai xúi dục cả. Suốt một tháng trời tôi như ngồi trên đống lửa, ăn không ngon ngủ không yên, những xấp giấy viết kiểm điểm của tôi gởi lên ty, lại bị trả về đến năm lần bảy lượt vì “ chưa thành thật, chưa đạt yêu cầu.” Mổi chủ nhật, khi chuông nhà thờ ngân vang báo hiệu lể sắp bắt đầu, thì phía ngoài sân cư xá, xuất hiện vài bộ mặt hắc ám với những cặp kiến đen của mấy tên công an chìm, họ đang theo dỏi tôi. Cha Hiền bảo tôi tạm thời đừng đến nhà thờ dự lể nửa, cứ ở trong phòng, hướng mắt về nhà thờ đọc kinh thầm mà thôi. Thời gian chầm chậm trôi qua, rồi mọi chuyện củng lắng xuống, sau một tháng viết tờ kiểm điểm, tôi được trở lại lớp vì học sinh của tôi sắp thi tốt nghiệp, cần ôn bài vở.
              Một buổi chiều ngày chủ nhật nọ, sau khi ra tay nấu vài món ăn để anh Lâm đải cô thầy trong trường và vài người quen thân để mừng đứa con trai vừa mới chào đời vào tháng trước, tôi dẩn con gái qua nhà thờ chơi, thì anh Chiến chạy qua tìm và nói:
- Em về gấp, chồng em học tập cải tạo đã về rồi, đang ở cư xá chờ em đó.
Nghe xong, lòng tôi quá vui mừng, ẳm con gái vội vả trở về cư xá, gặp lại người chồng yêu mến, sau ba năm lao động cực khổ trong kiếp tù đày, tôi muốn khóc lên. Trông anh tiều tụy quá, nhưng vẩn còn giữ lại gương mặt sáng sủa, kiên cường của một sỉ quan Quân Lực VNCH, dù trong mảnh áo kaki bạc màu, sờn rách, tất cả mọi người có mặt hôm đó đều vui lấy với niềm vui của tôi. Anh hiệu trưởng bảo:
- Cô chú ở lại đây lập nghiệp đi, tôi xin đất cho mà canh tác.
Nhưng anh chỉ ở lại chơi với chúng tôi hai ngày. Con gái tôi rất ngoan, ai ẳm củng được, thế mà bố mới định ẳm thôi thì đã khóc không chịu, vậy mà miệng thì luôn luôn trả lời “con của bố Tài” nếu có ai đó hỏi “ con là con của ai?”
Tôi tiển chồng tôi ra bến xe để anh trở về quê hương chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương theo như lệnh đã ghi trong giấy tờ ra tù. Dù đã được trở về với gia đình, chúng tôi củng phải tiếp tục chịu cảnh sống xa nhau như Ngưu Lang Chức Nử mong cho đàn chim đến bắt nhịp cầu ô thước để gặp nhau.
Hè năm 1978, tôi đưa con gái về miền Tây thăm chồng trước khi về Huế. Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa nhờ chương trình “ dồn dân lập ấp” và “dựng ấp chiến lược” nên Việt Cộng bị tách rời với dân chúng, không thể trà trộn vào để hoạt động được nên phải rút vào tận hang hóc, đầm lầy, nhờ vậy dân quê mới được sống một thời yên ổn để làm ăn, nên vùng nầy sầm uất lắm. Cuộc sống của người dân củng khá giả, đồng ruộng phì nhiêu thẳng cánh cò bay, vườn cây trái sum xuê xanh tốt, nhưng sau khi mấy ông tướng phản chủ vì tham tiền của Mỹ, đành đoạn giết chết vị Tổng Thống đáng kính Ngô Ð. Diệm và bào đệ Ngô Ð. Nhu, Dương V. Minh ra lệnh dẹp bỏ hết “ấp chiến lược” làm cho Việt Cộng có cơ hội bò ra khỏi hang hóc, đầm lầy, trà trộn vào dân để hoạt động. Ban đêm VC phá đường, ban ngày quốc gia đấp lại, rồi từ từ VC tràn đầy vùng đất bên kia sông và tác yêu tác quái, dùng dân làm tấm bình phong để hoạt động, còn bên nầy sông thì quốc gia coi sóc. Dân luôn sống trong phập phòng lo sợ, bởi hể nghi ngờ ai chút xíu là VC kết tội “Việt gian”, chờ đêm về bắt di thủ tiêu, hoặc đến từng nhà dân cưởng bức các người mẹ, người chị trong gia đình ấy lội rạch, lội ruộng, lần mò đi trong đêm tối để vào tận vùng đầm lầy mà học tập, vì vậy nhiều dân quê từ từ bỏ nhà cửa, ruộng vườn đưa vợ con ra gần đường lộ dựng nhà ở tạm, đi chạy xe ôm, làm thuê làm mướn, buôn thúng bán bưng mà sống cho qua ngày đoạn tháng. Vườn của cha mẹ chồng tôi rất rộng, nằm sâu trong ruộng của phía bên kia sông, là vùng VC thường về phá phách. Trước kia có trồng rất nhiều dừa và cây ăn trái, nhưng vì phải bỏ mà đi đả lâu, nên sau năm 1975, khi VC chiếm miền Nam, nhuộm đỏ hoàn toàn đất nước từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, mẹ chồng mất nên gia đình trở về vườn, thì vườn chẳng khác gì một khu rừng hoang, dừa bị chặt gần hết, chỉ còn xót lại mười mấy cầy già nua cao lêu nghêu. Những cây cam, quít, mảng cầu, soài thì gảy ngang, gảy dọc, có cây bị bung cả gốc nằm cảng cả lối đi, hố bom hố đạn đầy khắp, cây mù u mọc chi chít, um tùm nhìn chẳng ra cái vườn gì cả. Ngôi nhà lớn ngày xưa như bị xóa hết vết tích, chỉ trơ lại cái nền nhà cỏ mọc um xùm. Vì sức người có hạn nên đả trở về vườn vài năm rồi, nhưng ba chồng và các em chồng chỉ dọn dẹp, phát quang được phần nào, khi chồng tôi rời nhà tù VC trở về quê hưong, lại dọn dẹp, phát quang tiếp. Dù sống trên chính quê hưong của mình , nhưng chồng tôi thật cô đơn vì đã mang cái nhản hiệu “ sỉ quan ngụy”. Trong một địa phương mà hết tám chục phần trăm gia đình có “ bằng liệt sỉ” thì hỏi làm sao một tên “sỉ quan ngụy” sống hòa đồng cho được !
Niên học 1978-1979, tôi vẩn ở nhiệm sở củ, mặc dù tôi đã có nộp đơn xin chuyển về quê chồng. Vì thương và thông cảm cho sự cô đơn nầy, tôi đã cố gắng về thăm chồng nhiều lần. Lúc ấy, vé xe bán rất giới hạn, nên tôi rất cần tờ giấy “ sự vụ lệnh” do trường cử đi công tác xa, vì nếu cầm trong tay tờ giấy nầy thì được xếp hàng theo của ưu tiên, thường không dài lắm, nên mua được vé sớm hơn, nên tôi đã lén vào phòng làm việc của anh hiệu trưởng, lén lấy con mộc đóng dấu và đóng lên nhiều tờ sự vụ lệnh mang về phòng riêng dấu kỷ. Khi nào muốn về thăm chồng thì đã có sẳn giấy, chỉ điền tên, nơi đi công tác, ngày tháng rồi nhái theo chử ký của anh hiệu trưởng ký vào, vậy là xong. Mổi lần về quê, nhìn thấy cuộc sống của chồng quá lam lủ, áo quần te tua, chân không giày dép, đầu không mủ nón, một mình lầm lủi cuốc đất sau vườn, lòng tôi se thắt lại, tôi tự ví hình ảnh của anh lúc đó thật giống hình ảnh của Robinson lạc trên hoang đảo. Anh thật lạc lỏng, cô đơn, gia đình đó, bà con đó, xóm giềng đó, nhưng có lẽ không ai hiểu được anh, không ai thông cảm được nổi tủi nhục, đớn đau của một người sa cơ thất thế của anh.
. Toi thay rang anh rat can co toi ben canh de cung chia se noi cay dang voi anh, de an ui anh cho anh khoi mang tam trang ke bat dac chi, ma song buong xuoi. Moi lan co su hien dien cua toi trong can nha nho be ay thi anh vui lam, vi vay toi lai cang rut ngan khoang thoi gian ve tham anh. Co mot lan anh ru toi di cho, nhin thay tan mat anh thao chi o bau ao de lay ra nam dong ma anh da cat dau. Toi xuc dong vo cung, nuoc mat ua ra, co gang lam moi khoi tuan trao, chung to rang luc nay nam dong doi voi anh cung qui lam; den hom nay, trai qua da hai muoi may nam roi, nhac lai long toi van thay ngam ngui xot xa!
Khi tro lai truong, toi co gang day them gio ngoai chuong trinh de duoc lanh them tien phu troi, roi hang thang goi ve cho anh nhung goi qua nho, bo hai chuc dong ben trong nhung hop thuoc bo ma toi da xin mua theo tieu chuan, mong rang co chut tien, de anh muon tieu xai gi tuy y. Nhung goi qua tuy nho, chang gia tri bao nhieu, nhung da goi ghem rat nhieu tinh thuong yeu va su thong cam cua toi danh cho anh. Moi lan nhan thu anh bao tin da nhan duoc qua, toi vo cung sung suong. Thang hai nam 1979, to ve nghi ho sanh mot thang vi dua con thu hai sap chao doi, toi ve que cho chong toi xin giay phep di duong roi chung toi se ve Hue, toi muon ve nha de me va cac em toi san soc trong thoi gian sinh no, cho doi den ba ngay, chong toi moi xin duoc to giay ay, chuan bi do dac de sang som hom sau len Saigon thi khuya hom do toi chuyen bung, sinh dua con trai, tai benh vien tinh, that la may, neu khong cho mat ba ngay xin giay di duong thi co le toi da sanh o doc duong roi, neu nhu vay thi khong biet lam sao de xoay so!
Vi dinh ve Hue sanh, nen o day toi khong co mot su chuan bi gi nen me con toi thieu thon moi thu. So tien toi da goi ve, chong toi chang tieu dong nao, nen gio day anh da dem ra de mua sam vai thu can thiet cho me con toi, vi vay no da tro nen co gia tri. Em trai toi day tai thi xa vinh Long cung ve tham, dua cho toi mot nam tien va noi”:
- Chi giu tien nay mua thit ca ma an, em muon truoc ba thang luong do.
Tinh mau mu ruot ra that thieng lieng cao ca vi “mau chay ruot mem”; suot doi khong quen. Me toi cung da goi kip thoi tu Hue vao cho toi mot goi do dung gom ta lot, ao tre so sinh, thit cha bong, ruou gung v.v… nen cung do kho. Nam benh vien duoc mot tuan chong toi dua me con ve vuon de tien be san soc, nhung chi moi qua duoc hai tuan sanh, chong toi bi chinh quyen dia phuong goi di lam thuy loi muoi ngay. Tai dia phuong nay, he lam gi ma co dinh dang den chinh quyen cu, du chi la binh nhat, binh nhi, can bo xay dung nong thon hay linh dia phuong quan cung mang nhan hieu “nguy quan nguy quyen” phai tap trung lao dong lien mien, huong ho chi chong toi la mot “si quan nguy, toi ac tay troi” thi lam sao song yen duoc! Chong bi bat di lam lao dong vang, nen du dang non ngay non thang, toi phai tu lo lay moi viec, xach nuoc, giac ta cho con v.v… Mot tuan sau chong toi moi tro ve thi toi da het han nghi, chuan bi do dac de tro lai truong, vi khong duoc roi khoi dia phuong neu chua co phep, nen ngay toi di, em trai tu thi xa Vinh Long ve don, con chong toi chi dua ra ben xe. Khi den Vinh Long, sau khi chen mua cho toi tam ve, em toi cung tu gia toi luon de ve truong. Mot minh tay am dua con chua day thang con do hon, quan trong chiec khan bong, tay xach, nach mang de dan than tren cuoc hanh trinh dai dang dang, phai chuyen qua nhieu chuyen xe nen phai nhieu lan chen mua ve, vat va, dang cay, toi da khoc vi buon tui. Co cau:
“Nguoi ta di ben co doi
con toi di bien mo coi mot minh.”
That dung voi hoan canh cua toi luc nay! Toi dang “di bien mo coi mot minh” khong phai vi bi chong toi phu ray, hay khong duoc thuong yeu ma vi song trong mot che do ha khac. Khi len toi cu xa, vi co con nho nen toi don o rieng mot can phong, co em hoc sinh lop muoi mot ten Thu Ha o voi toi. Gia dinh em o tan ngoai Nghe An, da song ngheo doi may chuc nam roi, nen khi di vao Nam theo chuong trinh kinh te moi, lap nghiep tren mot vung dat do, kho can van thay hanh phuc vi duoc an no, so voi cuoc song ngay truoc thi duoc sung tuc gap may lan. Em giup toi am con, phu toi nau bep. Co da kho ma tro thi chang kha hon, cuoi tuan ve tham nha, khi tro lai turong, mang theo vai ki lo gao, mot mo khoi, do la luong thuc cua em trong mot tuan, cha me la nguoi ngoai kia vao vung dat do nay lap nghiep chua duoc bao lau thi lam sao co the cung cap cho em hon duoc. Vua day hoc, vua nuoi con tho that vo cung vat va, co nhieu hom di day ve, mo cua phong chay voi den cho cho nam ngu, thi con da muon het the vi da khoc qua lau; dau long cung danh chiu vi biet phai lam sao hon? Nien hoc ke tiep, toi doi di nhiem so moi, mot truong cap ba gan Saigon hon, con anh Lam, vi da dong vien toi hoc dao, vui mung khi toi rua toi nen cung la tong pham, bi doi nguoc len vung nui, cang xa Saigon hon.
Ngay toi roi cu xa de di nhan nhiem so moi, chi co em An, mot em hoc sinh nam lop muoi hai, nguoi mien Bac, vua theo gia dinh di kinh te moi trong nay, va em Thu Ha, dua tien. An xach vali, Thu Ha am em be theo chan toi den tan truong moi roi moi quay ve. Hom nay ngoi viet may dong nay, co nghi toi cac em nhieu lam, khong biet gio nay cac em o dau va lam gi, nhung du hai em co o tan chan troi goc bien, co van nho va cam xuc truoc nghia cu “ton su trong dao” cua hai em. Cau nguyen on tren ban cho hai em nhieu hanh phuc!
Ngoi truong moi co be the va van minh hon ngoi truong cu, vi o gan thi xa. O day toi cung gap lai ban be cu hay nguoi dong huong nen khong bo ngo lam. Vi khong co cu xa danh cho giao vien o, nen phai lay bot mot so phong hoc lam noi an chon o cho co thay, du co nguoi nau bep, nhung hau het co thay deu co bep rieng de nau them thuc an thuy thich. Tren khuon vien san truong, chi co vai ba cay phuong vi, ngoai ra chang co gi them. Noi day cui dun bep la mot van de nan giai, truong khong co ngan qui de mua cui, nen chi nau bep da khon kho ngay hai buoi khom lung ma thoi, khoi cay do mat vi cui dung cho bep nay la nhung canh phuong vi duoc cac thay chat xuong che nho ra va phoi vai nang, nen chua du kho thi da xu dung roi vi nhu cau thi can thiet, nen khoi bay cu mit mu. Con phan cac co thay thi lam sao? Xin thua cu doi cuoi tuan, truong hoi vang, cac co thay ru nhau xuong kho chua do cua truong de lam nguoi “pha hoai”, cac thay thi dung bua danh gay ban hay ghe, cac co thi dung dao dung rua che nho ra, chia nhau, phan nguoi nao thi nguoi do om ve dau duoi gam giuong cua minh, lay do che lai cho kin dao mot chut. Ban dau thi tim nhung cai ban, cai ghe gay chan, long oc, dan dan het ca ban ghe gay, thi cac thay lay nhung cai ban cai ghe con tot de “man thit” khong thuong tiec. Vi day la mot ngoi truong kha lon cua che do truoc, nen ban ghe hoc sinh rat nhieu, lai toan thu go chac, tot. Lan dau tien nhin thay cac thay pha ban ghe con nguyen ra lam cui dot, long toi that khong no, tiec lam, nhung dan dan toi tham gia vao “cong viec pha hoai” nay cung nhiet tinh lam, cung khong trach duoc chung toi, vi cap tren da khong quan tam den doi song cua cong nhan vien, von da kham kho, thieu thon va voi dong luong chet doi thi lam sao chung toi dam bo tien ra mua cui dot duoc! Chi danh nham mat ma lam “ke pha hoai cua cong” thoi. O day kham kho, thieu thon du thu, thua xa ngoi truong cu vi chang co cay trai gi de ma an them ca, ai co tien thi di cho mua, neu tai chanh eo hep the nop cho chi bep nam chuc xu moi ngay de hai bua duoc hai to canh “toan quoc”, cung vi thieu thuc an de an com nen toi rat luoi an com, den mua ca chua re, toi mua that nhieu, an mot to day ap ca chua tron chut duong cat vay la du roi, khi nao that doi moi chiu an com voi “canh toan quoc”.
Luat le cua nha nuoc that khong co dinh, chac chan nhu cac nuoc khac, ma cu thay doi tuy hung, tuy luc. Thoi gian truoc thi con cai duoc huong theo qui che cua nguoi me, nghia la khong can nguoi bo co la cong nhan vien hay khong, chi can nguoi me la cong nhan vien thi cac con duoc mua luong thuc va nhu yeu pham voi gia phan phoi; nhung khi toi ve truong moi, thi con toi khong duoc mua luong thuc theo gia phan phoi nua, boi vi co bo khong phai la can bo cong nhan vien, toi lam don nop len cong doan ty giao duc xin giai quyet cho truong hop cua con toi, vi toi phai truc tiep nuoi con ma lai cong tac xa gia dinh, duoc su tra loi cua anh cong doan truong nhu sau:
- Chung toi da chuyen don cua co qua trai te ban roi ho bao cho khi nao ho phat chan gao cho cac ho trong khu pho xong, neu con du thi se giai quyet cho con co.
Vua nghe xong, mat toi nong bung, toi tra loi nhu muon quat vao mat anh ta:
- Toi la mot co giao cong tac xa nha, khong the ve hang thang de lay them luong thuc cho con toi, vi vay toi moi lam don xin cong doan can thiep voi ty luong thuc giai quyet linh dong truong hop cua toi de cho con toi duoc mua gao theo gia phan phoi; de tao dieu kien cho toi cong tac, chu toi khong phai la an may, xin bo thi cho con vai ki lo gao, vay tai sao cac anh lai dua don toi qua te ban?
Trong mot buoi hop hoi dong giao vien cua truong, toi tuyen bo thang:
- Cong doan da khong giup duoc gi cho cuoc song kho khan cua me con toi, thi tu nay toi tu giai quyet lay, mong ban giam hieu hieu cho.
Va toi da lam dung nhu vay, bang cach moi thang toi o tai truong ba tuan, ve que chong mot tuan, nghia la cu tuan thu ba moi thang, toi xin doi gio cua anh chi em co gio day cung lop voi toi de toi day them cho hoc sinh chuong trinh cua tuan thu tu, goi la day don gio, con cac anh chi em nao ma toi da doi gio cua tuan thu ba, thi se day them cho hoc sinh vao nhung gio cua toi o tuan thu tu, nhu vay ai cung van day kip chuong trinh ca, vay la cuoi tuan thu ba, sau khi day xong la toi am con, tay xach, nach mang linh kinh ra ben xe de ve que, dieu nay la sai nguyen tac su pham, nhung vi toi muon co nhieu thoi gian song ben chong de chong toi duoc an ui phan nao su buon tui vi than “nga ngua”, le tat nhien ban giam hieu khong thich nhu vay, nhung ro rang la toi ve que de lay them luong thuc ma, nen ho danh phai lam ngo thoi. Van de ve que de lay them luong thuc chang qua la mot cai co thoi chu me con toi an dau bao nhieu, so gao phan toi cung du roi. Su giao thong qua thieu thon, nen viec di lai rat kho khan, mua ve gia cho den gap ba bon lan qia chinh thuc thi khong co tien. Hau het cac tai xe va lo xe chi muon ruoc may ba ban hang chuyen vi ho tra tien nhieu hon. Vi thuong chong lam lu, vat va lai co don ngay chinh noi chon nhau cat run cua minh, nen toi khong ngan ngai va cham nhung phu phang trong su doi xu thieu bac ai, thieu luong tam giua nguoi va nguoi cua tai xe xe do, lo xe; tuy nhien co nhieu luc van cam thay rat buon tui. Moi lan ve que tham chong, toi co gang chia se voi chong va cac em chong nhung gi toi co trong kha nang cua toi, khi tro lai truong thi toi mang theo vai trai dua kho, vai lit nep, chuc hot ga, lon ca loc cha bong, do la nhung thu “cay nha la vuon” cua chong, so ra chang dang gia bao nhieu, nhung nhin chong ngoi got trai dua cho sach se, hay loi xuong ao sau nha de tat can nuoc ma bat ca, hoac vao trong vua lua de tuyen chon chuc hot ga thi doi voi toi, tren doi nay khong co gi qui hon nhung thu do, boi no chan chua biet bao nhieu tinh yeu thuong cua nguoi chong doi voi vo voi con. Moi lan toi tro lai truong, vo chong cung chia tay trong ngam ngui, quyen luyen. Anh chi tien me con toi den dau lang roi tro lai, vi anh muon tranh mat moi nguoi. Toi am con lan ra quoc lo don xe, dung don xe doc duong that la mot van nan, vi hang chuc chiec chay qua, thi chi mot chiec ngung lai ma thoi, nen thuong thi phai mat ca mot buoi la thuong. Mot hom, toi dung cho xe tu sang som cho den xe chieu, chua co xe nao chiu ruoc, trong long lo se khong len duoc trong dem nay thi ngay mai se bi tre gio day, vi duong di thi dai, phai chuyen qua may lan xe nua moi toi, thi co mot chiec xe ngung lai cho mot ba ban hang xuong, toi voi leo len, mot tay om con, mot tay niu chat vao cua xe, nguoi lo xe quat duoi toi xuong, toi nan ni va phan bua rang cho toi dung cung duoc, vi so len truong tre gio day, mac cho toi het loi nan ni, nguoi lo xe van duoi, toi van li, khong chiu xuong, thi nguoi lo xe danh len vach xe ra hieu cho tai xe chay, chiec xe vua vot len, nguoi lo xe dung suc manh cua nguoi thanh nien de go tay toi ra khoi cua xe va xo toi xuong, xe chay vut di, toi nga xuong, so con bi tray nen co om con vao long, mac cho than the va cham tren mat dat, lon may vong vua dau vua tui, lom com dung day, xem con minh co bi gi khong, thay con khong bi tray bi xuoc, moi lom khom nhat hanh ly bi roi vung vai tren mat co. Nguoi ta chi danh gia con nguoi dua tren tien bac, khong can nhan pham kien thuc, tu cach gi ca, mot ba ban do lau, phi phap ma co tien, khong can dua tay vay, xe van tu ngung lai don ruoc, con mot co giao luong thien, dem tri oc va hoi suc cua minh de day do, truyen dat giao duc, kien thuc cho lop tre, ma khong co tien, du dua tay vay tu sang den chieu, cac xe van lam ngo, hoa hoang moi co xe e khach ngung lai, mot xa hoi ma dong tien la nguoi chu chi dao tat ca:
“Tien la tien la phat
la suc bac cua tuoi tre
la suc khoe cua tuoi gia
la cai da danh vong
la cai long che than
la cai can cong ly
tien la het y (noi luon)!!!!!”
Qua tui than, nuoc mat roi la cha. Tu do toi co ac cam voi nhung nguoi lo xe! Con trai toi tap di nhung buoc dau tien tai ngoi truong nay, moi lan toi len lop, thi anh Hiep, hieu pho am con cho toi, am riet lam anh phat quau, hop hoi dong giao vien, anh phe binh chong toi:
- Chong co khong co trach nhiem gi ca, vo co con nho va dang cong tac xa, vay ma chong co chang bao gio len tham.
Anh dau biet chong toi dang la mot ke bi sa co that the, bi chinh quyen dia phuong quan thuc, khong lam gi de co nhieu tien, mang tam trang chan chuong, tuyet vong thi con muon di dau nua.
Ha, ban toi, co gio len lop vao buoi sang, nen cung thuong am con giup toi, vi toi day vao buoi chieu. Con toi rat hieu dong, khi da chap chung biet di, no pha phach qua chung; vao phong hieu truong lay cay gat ly tach tra xuong nen xi mang be tan tanh, ra hanh lang, keo ro chen dia xuong dat lam chen dia be tum lum, roi cu cau lan mo qua phong ngu tap the cua giao vien nam, lay nhung xap bai ma cac thay dang cham diem do dang, tung ra nen, co gio tiep tay them, lam cac bai lam mon van cua thay Trung, mon phap cua thay Thuy, mon Toan cua thay Vinh, mon Ly cua thay Huu lon tung xeo voi nhau, nam la liet tren nen nha, lam cac thay than troi than dat, roi thay Minh uong may cay du du dang len, cam thay hy hung lam thi cu cau nam dau nho len het, khi thay Minh phat hien thi du du da heo queo, chi bep dang nau noi canh cai tren may hon gach, lam ba ong tao ke ben goc phong, cu cau nhat hon da nem vao noi. Tu ngay co su hien dien cua con toi, thi truong phai may lan bo tien mua chen dia, nhung co tieng cuoi tieng khoc cua tre cung lam cho long cac co, cac thay am lai. Co mot lan, tat ca chung toi dang hop trong phong hieu truong, quen de y den con, den luc tang hop, tim chang thay cu cau dau, cac co thay hoang hot chia ra di tim, thay Huu, thay Minh lo so cu cau te xuong gieng vi truoc san truong co mot cai gieng sau, nhung khong xai duoc vi nuoc duc, cac thay kia trach nhau tai sao khong day mieng gieng lai, thay Huu, thay Minh dinh cot giay leo xuong gieng thi toi reo len vi da tim duoc cu cau dang ngoi trong cai khap da bo de khuat trong lum cay truoc san nha di Hai, o sat canh truong hoc; di Hai chua nuoc de tuoi cay, may la cai khap nho, lung nuoc, nen khi cu cau vao ngoi trong khap thi nuoc chi len den nguc, cai chop dau cung nho ra ngoai nen vua ven canh cay la toinhin thay cu cau ngay. Ban be doi xu day tinh nghia, toi cam xuc lam.
Vi nong long muon som thuyen chuyen ve que de duoc song ben canh chong, nen rat nhieu lan toi am con len ty giao duc lam ap luc, chu pho ty Thieu la nguoi co tinh cam, da thong cam voi toi, cho co buoi hop hoi dong giao vien truong, co can bo ty ve tham du, toi xin phat bieu y kien:
- Toi cong tac xa nha, nen cuoc song gap rat nhieu su kho khan, vi vay, nam vao toi cung nop don xin thuyen chuyen ve que de duoc gan gia dinh, cac anh chi dong nghiep lon tuoi da noi voi toi “ Xa hoi nay chi nhat the, nhi tien, minh vua khong tien, khong the thi dung bao gio hy vong duoc doi ve que ca.” Toi da cai lai, “Day la xa hoi uu viet, cap chi huy se sang suot tao dieu kien tot cho minh cong tac.” Nam dau tien nop don, toi hoan toan nghi nhu vay, den nam ngoai, don toi van khong duoc xet, nen trong tu tuong cua toi dang phan van, khong biet cac anh chi kia dung hay la toi dung, nhung neu nam nay toi van khong duoc xet nua thi toi nghi rang cac anh chi kia hoan toan dung.
Nghe toi noi vay thi chu Thieu len tieng:
- Chu hua voi chau, bang moi cach, chu se can thiep de chau duoc doi ve que.
Va chu da giu dung loi hua, nien hoc 1980-1981, toi co giay chuyen ve cong tac tai tinh nha cua chong toi. Va khi trinh dien voi ty moi, toi xin duoc day ngay tai truong cap ba thuoc huyen cua que chong. Toi ve Hue don con gai vao de ca gia dinh duoc doan tu, may thang dau, chong toi boi xuong dua toi qua song roi toi loi bo ra truong khoang hon mot cay so, sau do em toi tu thi xa Vinh Long mang ve cho toi chiec xe dap cua no, de toi khoi vat va loi bo. Goi xe dap tai nha mot nguoi quen ben nay song, tu tu toi tap boi xuong va tu toi cheo qua song, khoi lam phien chong toi dua don nua. Khi qua ben nay song, cot xuong vao mot than cay tren me vuon cua nha nguoi quen, roi lay xe dap di den truong, lan ve thi di xe dap tu truong ve goi nha nguoi quen, roi boi xuong ve nha. Co nhieu lan khi di thi nuoc lon, day song nen chiec xuong cot tan tren cao, luc ve gap nuoc rong, nuoc chi la la giua long song, vi vay toi phai cot hai ta ao dai lai, xan quan len cao roi loi bun, dung suc ma day xuong xuong tan me nuoc. Vi loi bun khong quen nen chan bi lun sau xuong, co gang rut duoc chan nay len thi chan kia lun xuong, that vat va, kho khan lam moi day duoc chiec xuong di, tay chan, mat may tem lem nhung vet bun. Khi qua toi bo ben kia, lai cung phai loi, phai day len tan me vuon, lan nao di day ve, toi cung met nhoai, be bet day bun tu dau xuong chan, co hom met qua an com khong vo, thay su di lai hang ngay cua toi bat tien qua, nen chong toi quyet dinh tim mua mot can nha nho trong khu xom gan cho, chi cach truong chua day mot cay so. Tu day, toi do phai loi bun, day xuong nua.
Can nha nho nay nam canh ben song, co dong nguoi toi lui giat giu, tam rua nen cung vui, chung toi don ve o day thi khu xom vui han len, su giao thiep voi xom gieng rat than thiet. Hang ngay, toi di day thi chong toi o nha cham soc con cai, den luc toi di day ve thi chong toi vo vuon, trong them cay, lap lai ho, gom cui cho ra v.v… Cuoc song tuy thanh dam, nhung that hien hoa, deu deu troi qua. Mot hom, dang dung giang bai trong lop, bat chot nhin ra ngoai duong, thay chong toi dang om mot goi do di bo ngang qua; toi biet la chong toi bi goi di lam thuy loi, cho day cho xong gio cua lop day, toi goi lop con lai cho anh hieu truong roi dap xe vao tru so uy ban nhan dan xa, gap nguoi co trach nhiem va tham quyen thuy loi, toi noi:
- Hien tai chung toi da ra o rieng, nha rat don chiec lai nam canh bo song, luon luon phai co toi hoac chong toi o nha voi cac con nho, toi di day thi chong phai o nha trong nom con tho, vi vay xin cac ong hay suy nghi ky. Neu thay cong viec day do con em nhan dan cua toi can hon, thi hay cho chong toi ve, duoc mien cong tac thuy loi, neu thay cong viec dao dat, moc bun cua chong toi la quan trong, khong ai co the thay the duoc, thi xin hay viet va ky len giay de toi mang ve nop cho nha truong xin nghi day trong thoi gian chong toi vang nha.
Ho noi cong viec cua toi can hon va chap nhan cho chong toi ve, duoc mien di thuy loi.
Nam 1981, toi sanh them mot be gai, ngay tai que huong cua chong. Con cang nhieu, nhu cau vat chat cang tang, dong luong cua toi thi chi bay nhieu, khong nhieu ra duoc, viec ruong vuon cung chua thu hoach kha hon, do do cuoc song cua gia dinh chung toi cang ngay cang dam bac. Vi vay khi co nguoi quen ru chung von lam an, chung toi mung lam; toi voi viet thu ve Hue trinh bay can ke voi ba me toi de muon tien, nhan dip dua em trai ut cua toi bi bat di nghia vu quan su, ba toi khong muon con trai minh lam “anh bo doi cu Ho” nen nhanh chong quyet dinh roi bo que cha dat to de dua gia dinh vao mien Nam. Ruot dau nhu cat, vi phai chiu bo mo ma ong ba sau lung, day la mot dieu ma ba toi khong bao gio chap nhan ca. Trong cuoc song cua ba toi, viec cham soc mo ma to tien la mot su viec quan trong nhat, vi vay tu thoi gian Saigon chua dong duc, nha cua, pho so con lua thua cho den nam 1975, ngay cuoi cung cua mien Nam Viet Nam, ba toi da co nhieu co hoi tot de vao Saigon lap nghiep va mac du chi em toi nan ni het loi, nhung ba toi cuong quyet giu vung y minh, bao nhieu lan chay giac, lanh nan cong san, roi cung tro ve, nha cua sap do, do dac mat sach, lai xay dung, lai mua sam, lai lam an va cham soc phan mo to tien. “Que huong toi ngheo lam ai oi! Mua dong thieu ao, mua he thieu an, troi hanh con lut moi nam,” nhung nguoi dan xu Hue rat luu luyen, the ma nay ba toi quyet dinh mot cach nhanh chong, “Phai vao Nam.”Ba toi ban voi mot can trong day pho phia truoc do gia dinh toi lam chu cho mot nguoi quen, roi voi va vao mien Tay gap toi. Muc dich di lan nay la xin giay phep di chuyen, dua vang cho vo chong toi muon va dem vao mot be gai khoang muoi hai tuoi de am con cho toi do cuc. Chung toi hun mot nua von, nguoi quen hun mot nua von de mua mot chiec ghe, dinh cung nhau di buon roi nhan dip do duong di nuoc buoc de bon tau luon. Trong viec hun hap lam an nay, vo chong toi rat trung thuc, tin nguoi, tien buon ban chung mot dong, mot cac cung khong he tham lam; nhung chan bao lau thi ra dam vi nguoi kia da luong gat chung toi. Mot hom toi dang dap xe dap tren con duong quoc lo tu nha vao truong, thinh linh bi danh mot gay phia sau lung, nghe cai “bich”. Toi muon lao dao, mat no dom dom, nuoc mat trao ra, cu tuong nhu troi sap, thi hai ten ngoi tren chiec Honda phong vut di; mot trong hai chung no la nguoi da hun hap lam an voi chung toi. Toi khong the ngo duoc no da dung nhung thu doan qua hen ha nhu vay, vua buon vua tuc, nen toi da noi voi chong toi:
- Anh phai gap mat thang Hoang Sau de lam cho ra vu nay moi duoc; thanh nien ma di danh len mot nguoi dan ba!
Thi chong toi tra loi:
-Tu ray di dau, em nho phai can than, dung di luc chieu toi, than anh la “si quan nguy” dang bi dia phuong quan thuc, neu minh danh no thang thi minh bi bo tu, neu minh danh no thua thi cung xu hue thoi. Gia dinh no quen than voi chinh quyen thi duong nao minh cung chiu thiet thoi, anh se tra thu no bang cachminh phai tim duong ra di, mot la chet, hai la phai co cuoc song tu do, vuon len, con cai phai duoc hoc hanh den noi den chon, roiminh giup do lai cho chung no, chi no phai can minh giup do, do moi chinh la da tra thu no.
Chinh ban than cua chong toi, cung la mot dai uy hai quan QLVNCH nay dinh cu o Uc va em toi, luc do day tai Vinh Long cung tuc lam, muon tim no de danh cho mot tran nhung chong toi da can ngan:
- Khong duoc, tui may danh no roi tui may ai ve cho nay, con tao o day lanh du.
Da luong gat lay vang cua toi, con tim moi cach de du chong toi den nha cha me no de ca nha danh chong toi. Nhung chong toi da canh giac, nen chung no khong the danh duoc chong toi. Buon phien vi vu nguoi quen than trong gia dinh ma luong gat va cuong quyet muon tim duong ra di, nen nam 1982, chong toi am tham roi bo que huong, noi chon nhau cat run cua minh, khong tu gia nguoi than. Mot minh len Saigon song nho gia dinh vo, khong giay to, ho khau, le lat qua ngay, luc nay gia dinh toi da vao song tai Saigon duoc it lau roi, nen c hong toi cung co cho de dung than. Duoi que, mot minh toi voi ba dua con tho, them co be giup viec va co em ut cua toi, cung do muoi hai tuoi, chung toi om lay nhau, cham soc nhau, ma toi la dau tau. Ban dem, nghe tieng cho sua, toi voi cam cay den dau hot vit ra cua quan sat, cu phap phong lo so thang luong gat kia den dot nha, mot con nguoi co tam dia ac doc thi viec gi cung dam lam ca. Ban ngay di day, chieu ve soan bai, cham soc nha cua. Toi den cu nam ma hoi hop, lo so, khong ngu duoc, nen chi may thang, nguoi toi gay rac. He nam do toi quyet dinh dua het gia dinh len Saigon, song nho cha me. Roi dau nien hoc 1983, chi mot minh toi tro lai que chong o nho nha co ban day cung truong de di day va cho hieu truong chuyen don xin thuyen chuyen len Saigon. Day duoc vai thang, van chua thay dong tinh gi, lai bi hieu truong di, vi thuong bi toi phe binh thang nhung tinh xau cua y moi khi hop hoi dong, hay toi da khong lam theo nhung gi ma y de nghi khong hop ly, vi du nhu de lay thanh tich voi huyen nha, y bao toi phai sua toan bo hoc ba cua mot em nu sinh lop 12 do toi huong dan, tu hoc luc kem sua lai thanh hoc luc kha, de em nay co the vao thang truong dai hoc sau khi da di ba nam bo doi, vi em nay biet suc khong the thi vao dai hoc nen da tu nguyen di bo doi, toi da khong lam, hay bat toi phai phe hanh kiem cua mot em nam sinh lop toi huong dan vao hang kem, vi em nay da noi mot cau lam ong Le Duan tuc gian khi ong ta den tham truong, de lay long ong truong phong giao duc; nhung toi cuong quyet cai lai vi neu hoc sinh co hanh diem kem thi khong duoc truong nop ho so di thi tot nghiep, trong khi em nay hanh diem rat tot.
Hoac de co them tien cho giao vien mua luong thuc, truong mo ra mot “can tin” ngay trong truong de ban keo banh, nuoc giai khat; cac co thay phai thay nhau dung ban, nhin canh hoc tro ngoi chem che tren ghe goi thuc an, thuc uong, co thi pha nuoc chanh, thay thi dap da cuc de mang ra phuc vu cho hoc tro, toi thay chuong mat lam, nhat la cac co thay cu thay em nao vao an uong nhieu thi khi vao lop khong dam cho diem xau, du em ay dang bi an diem xau, nen khi y chia phien cho toi dung ban, toi nhat dinh khong lam, toi noi:
- Lam nhu vay toi thay phan tac dung giao duc lam.
Nen khi lay tien loi ban “can tin” de mua gao hang thang cho giao vien, toi khong nhan, toi nop tien phan cua toi.
Vi nhung chuyen ay, hieu truong xep thoi khoa bieu cho toi ba muoi lam tiet moi tuan, lam toi duoi suc, yeu cau hieu truong rut bot vai lop dua qua cho cac thay co nao co chi muoi tiet moi tuan, thi ong ta noi:
- Chi cu thuong luong voi ho, vi tinh cam ho nhan cho chi moi nguoi it lop thi ho cu day gium cho chi, chu toi ma noi thi ho bao toi y quyen ma ra lenh!
Toi chuyen lai y cua hieu truong cho cac co thay ay va yeu cau moi nguoi nhan vai lop thi ho bao:
- Tui em san sang nhan day cho chi vai lop, nhung anh hieu truong phai len tieng moi duoc.
Toi noi lai voi hieu turong dung y nhu vay, ong ta van tra loi y nhu cu. Toi lap lai cau cua hieu turong da noi cho thay, co tre kia nghe, ho cung noi lai cau ay, noi qua noi lai nam lan bay luot, van vay. Toi nghi rang tat ca da thong dong voi nhau, nen mot hom, toi noi thang voi hieu truong, co ca hieu pho ngoi ben canh:
- Toi nho anh chuyen ho so xin thuyen chuyen len Saigon cua toi len ty, vi toi khong muon tiep tuc day o day nua, khong muon hop tac voi anh nua. Toi biet tu truoc den nay, anh chang chiu chuyen ho so xin thuyen chuyen cho giao vien nao ca, ai khong muon o lai day thi chi co duong nghi day, bo nghe thoi. Neu anh khong chuyen cho toi, toi cung nghi day!
Hieu truong chang tra loi, nhung anh hieu pho thi noi:
- Toi thich tanh thang thang cua chi, da lam gi thi lam dang hoang, lam den noi den chon, ma khong thich gi thi noi thang ra, chu khong phai nhan roi lam cho lay co. Duoc, chi cu yen tam, anh hieu truong khong chuyen don cua chi thi toi se chuyen len ty.
Duoc anh hieu pho hua, toi rat tin tuong vi du la hieu pho, nhung co tuoi dang tham nien hon, va ve mat chinh tri thi co quyen hanh hon hieu truong.
Toi len ty giao duc Cuu Long gap chu Hai, truong ty de trinh bay hoan canh cua toi va xin chu chuyen ho so cua toi len Saigon, ban dau chu noi:
- Neu chau khong muon day duoi ay nua, thi cho chau chon truong nao ma chau thich, chu se dua chau ve noi do ngay.
Nhung toi nhat dinh doi len Saigon va cuoi cung chu chap nhan. Toi roi que huong chong len Saigon song chung voi chong con trong su dum boc cua ba me va cac em toi. Mac du don xin thuyen chuyen cua toi da co tai ty giao duc Saigon, nhng cuoi cung toi danh phai bo day de xin day hop dong tai quan ma gia dinh toi dang song, boi vi Ty giao duc Saigon muon dua toi ve vung Duyen Hai. Lan nay toi khong muon tach ly chong con toi nua, vo chong, con cai gom nam mang nguoi chiu cuoc song lay luc qua ngay, khong co chut anh sang tuong lai nao ca, vi vay chong toi nhat dinh phai ra di va anh da lao minh vao con duong da dinh. Vi la si quan hai quan cua QLVNCH nen nhung nguoi chu ghe to chuc vuot bien rat can. Do do, chong toi duoc nhieu noi moc noi, cuong quyet ra di nen ai goi cung di, xa cung di, gan cung di, bien dong cung di, bien yen cung di, nghia la bang moi gia, mau va muoc mat, phai roi que huong. Tong cong hon hai chuc lan di roi ve, bi cong an VC phat hien, ruot chay, nhung may man khong lan nao bi bat, du that bai lan nay den lan khac, van nuoi uoc vong ra di, kien nhan va kien nhan cho den mot hom.
Sang hai muoi ba thang bay nam 1985, toi dua chong ra ben xe Van Thanh de chong toi di ra vung tau nhu thuong le, hen chieu chua nhat se ra don. Truoc khi len xe de ra Vung Tau, chong toi hua hen:
- Chua nhat em ra don, anh se dua em len Go Vap an goi vit. Anh co tieng day ne.
Den chieu chua nhat toi ra ben xe dung hen, cho mai, cho hoai cho den chuyen xe cuoi cung do ben, van khong thay bong dang chong dau, khi tat ca hanh khach tren ben xe tan mac het, toi moi buon rau dap xe tro ve nha, nhung trong long chua lo lang lam, vi nghi rang ngay mai chac chan chong se tro ve. Nhung ngay mai ngay mot da troi qua, van khong thay. Toi bat dau lo lang khong biet chuyen gi da xay ra? Den ngay thu tu thi co anh Dai o ngoai Vung Tau vao cho biet la tau danh ca ma chong toi lam hoa tieu day da ra di roi. Ho di chi co bay nguoi, ong ta va rat nhieu nguoi da bi bo lai, ho di bat ngo truoc thoi gian an dinh, nghe vay trong long bot lo, chi cau nguyen cho chiec tau cua ho den noi an toan. Roi hai tuan troi qua, khong co dien tin ve, toi nhu ngoi tren dong lua, them vao loi bao tin cua anh Trai, ban cua chong toi, cho biet.
- Toi nghe dai BBC Luan Don, nghe muc bao tin nguoi vuot bien, ho co noi co mot chiec ghe danh ca chi co bay nguoi di bi dam, xac troi vao vung bien Phi lippine, chi con mot nguoi song sot.
Mot tin tuc dong troi, doi voi toi, toi nhu dien nhu dai, an khong ngon, nhu khong yen. Mot ngay troi Saigon mua du doi, nuoc ngap nhieu con duong, nuoc mua tat xuong nhu trut, toi dap xe len nha anh Hai, ban cung khoa voi chong, do hoi tin tuc. Vi qua nong long ma di vay thoi chu anh Hai cung dau biet gi nhieu. Co nhieu doan duong ngap nuoc, dap xe khong noi, phai xuong xe, xan quan ma dan bo. Thoi gian nang ne, cham chap troi qua. Mot ngay no toi den nha chi Mai o duong Truong Minh Giang cu de biet them chut tin tuc gi chang, vi chong cua chi cung di chung voi chong toi lan do. Vua vao nha thi bo cua chi cuoi toe toet roi ghe tai toi noi nho:
- Thanh cong roi, da co dien tin ben My goi ve roi.
Bac dua cho toi to dien tin, toi doc duoc nhu sau: “Chien da den noi binh an.” Trong long toi mung nhu chet di song lai, nhung van con hoi hop doi cho. Them mot tuan nua troi qua ma van chua co dien tin cua chong toi goi ve, lam toi hoang so, cu nghi rang mot nguoi song sot trong chiec tau danh ca co bay nguoi di bi chim, xac tap vao bo bien Philippine ma dai BCC da loan tin ay la anh chien nay, so con lai sau nguoi bi chet duoi, trong do co chong toi, voi y nghi ay lam tinh than va the xac toi suy sap mot cach nhanh chong. Mot ngay troi qua that cham, keo dai nhu mot thang, vay ma cu het ngay nay den ngay khac tiep noi nhau troi qua, ruot gan toi nhu co lua dot, chi biet di den nha tho Fatima Binh Trieu de keu cuu voi Me, cau xin Me. The roi viec gi den se den, mot ngay no toi nhan duoc dien tin cua chong, bao tin da ben Philippine binh an sau muoi lam dem va muoi lam ngay chong choi voi bao tap, bien ca va con doi. That ta on Thien Chua qua loi cau bau cua Me Maria, Me Chua Giesu va la Me cua chung ta, co noi mung nao lon hon! Co niem vui nao nhieu hon!
Toi voi ra cho mua mot bo hoa hue that dep, den ngay nha tho Fatima, tran trong dat truoc dai Duc Me, qui truoc mat Me, thanh khan ta on. .........

Lễ Tạ Ơn 1999,
Anh.




Chị LVTài
Connecticut