Đông Y thường thức
Bữu Thảo

Chanh

Chanh là loại có nhiều dược chất về phần quả (vỏ chanh, ruột chanh) và cả về phần lá lẫn phần rễ của cây chanh. Trái chanh có vị chua, tính mát, thanh nhiệt, khỏi nôn, tiêu thực, sáng mắt, sát trùng. Nước chanh hạ nhiệt, kích thích tiêu hóa và giải độc say sóng rất nhanh. Cũng như nước cam, nước chanh rất cần cho người bị sốt xuất huyết. Nước chanh còn trừ được nôn ói, giúp ăn ngon, loại trừ chất mỡ dư trong cơ thể, trừ độc tôm, cua, cá biển, sò, hến. Nước chanh còn dùng để chữa suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu cho trẻ em bằng cách vắt chanh vào sữa uống hoặc uống nước chanh tưởi
Lá chanh, vỏ chanh trị ho hen, khó thở, bổ huyết, hoạt huyết, tiêu đàm, trị đau mắt, nhức đầu, sả󮠰hụ tắt sữa, sưng vú.
Trị ho có đờm: Chanh tươi một quả, nghệ tươi 20 gr, đường cát 5 gr, muối ăn 2 gr. Nghệ giã nhỏ, trộn muối và đường, chanh cắt mỏng, trộn chung, hấp cơm, ăn trước bữa ăn, mỗi ngày một lần, ăn từ 6 đến 7 ngàỵ Cũng có thể lấy vài quả chanh, thái mỏng, để cả vỏ và hột, trộn đường phèn, hấp cơm ăn trước bữa ăn trong vài ngày liền, một ngày hai lần càng tốt.
Trị viêm họng: Lấy chanh tươi, thái mỏng, trộn muối vừa mặn, ngậm vào miệng và nuốt dần, vài lần trong ngàỵ. Lá chanh có vị đắng, the, có mùi thơm. Dược năng: Giải nhiệt, thông can khí, tiêu thũng, tán độc, hoạt huyết, tiêu thực. Lá chanh trị tức ngực, khó thở, đau mắt, nhức đầu, sâu răng do can hỏa bốc lên.
Trị sốt rét: 30 gr lá chanh tươi, xắt nhỏ, pha với 25 ml rượu, phơi sương một đêm, uống lúc sáng sớm khi bụng còn đói, uống xong sẽ ói nước vàng ra là khỏi bệnh.
Trị rắn cắn: Lấy rễ chanh 10 gr, hột chanh 5gr, gừng sống 5gr, giã nát pha với 3 gr phèn chua trong một ly nước sôi (50 ml), uống 2 lần trong ngày, cách nhau 2 giờ, mỗi lần uống 2 muỗng canh.
Công Dụng Của Gạo Nếp
Gạo nếp có tính ấm, vị ngọt, làm mạnh phổi, trợ giúp tiêu hóa, đi tiêu lỏng, đi tiểu khó khăn, ra mồ hôi trộm hoặc tự nhiên vã mồ hôi, giải độc.
Theo đông y, gạo nếp dễ tiêu, khiến ấm bụng, vì vậy người mắc chứng loét bao tử, khi ăn cơm nếp, bụng sẽ dễ chịu hơn. Ở những nước chậm tiến, những người mắc bệnh loét bao tử, thường được bác sĩ khuyên ăn gạo nếp. Tuy nhiên, ăn nhiều gạo nếp cũng không tốt vì sẽ tạo nhiệt, nổi mụn nhọt. Vì vậy, những người có mụn nhọt, ghẻ lở, vết thương chưa lành... được các lang y khuyên không nên ăn nếp.
Trị chảy máu cam: Lấy gạo nếp rang vàng, tán nhỏ, mịn, mỗi lần uống 6 - 7 gr với nước nấu sôi để nguộị Ðồng thời lấy một mảnh giấy nhỏ, cuốn thành ống, chấm ít bột nếp rang vàng này, thổi vào lỗ mũi đang chảy máu, rất hiệu nghiệm.
Trị sốt nóng, nôn mữa: Lấy gạo nếp rang vàng, gừng tươi một củ thái nhỏ. Ðổ một tô nước vào nồi, nấu sôi, dùng uống thay nước rất tốt.
Trị ói mữa, tiêu chảy, đau bụng: Lấy 120 hột gạo nếp, gừng tươi một miếng, tất cả cho vào cối giã nát. Pha nước vào, trộn đều, lọc lấy nước để uống.

Những người bị ói mữa liên miên, ăn vào bất cứ thứ gì cũng bị ói ra, có thể lấy một nắm gạo nếp rang cho vàng cháy, một trái cau khô, 25 hột tiêu, tất cả cho vào cối giã nhuyễn, tán thành bột, mỗi lần uống từ 1-2 gr với nước ấm.
CÂY ỚT
Ớt là loại cây được Christophe Colomb tìm được đầu tiên ở miền West Indies năm 1492. Sau đó, ớt được xác định là một loại quả ăn được, dân địa phương gọi là "agi", người Âu đọc trại ra là "chilli". Ít lâu sau khi được khám phá, ớt được lan tràn sang Á châu như Trung Quốc, Việt Nam, Nam Dương và Mã Lả Ớt có nhiều loại, tùy theo vùng trồng ra nó như ở Hung Gia Lợi, ớt có tên là "paprika", ở Phi châu tên là "chilli", ớt "cayen" ở Mỹ v.v... Ớt có vị cay, hăng, nồng, không độc và có tính nhiệt. Ớt càng nhỏ càng cay và nóng. Ớt có dược chất làm mạch lạc trong thân thể con người, giúp mạnh tỳ vị (lá lách và bao tử), trừ độc và sát trùng. Vì vậy, ớt trị được hàn lãnh, kích thích tiêu hóa và thần kinh, trị phong thấp, đau lưng nhức mỏi, rắn rết cắn và các bệnh ngoài da như lở ngứạ.. Lá ớt nấu canh ăn rất ngon, trừ mụn trên mặt.
- Trị rắn rết cắn: Lấy lá ớt tươi, giã nát, đắp vào chỗ rắn rết cắn sẽ hết đau nhức.
- Trị lở ngứa: Người mắc bệnhh lở ngứa trên đầu, ăn lá ớt nấu canh hay lấy lá ớt giã nát đắp vào chỗ lở ngứạ Canh lá ớt trừ nhiệt trên đầu và mặt, tai mắt, phong ngứa, trúng gió.
- Trị bệnh cổ trướng: Bệnh cổ trướng hay còn gọi là "chứng thủy thũng" (chứng bịnh lớn bụng) có thể trị bằng cách lấy 15 gr rễ cây ớt, trộn chung với 15 gr rễ cây cà phê, nấu với nửa lít nước để uống một ngày hai lần.

- Giảm đau do viêm khớp: Trong ớt có một dược chất làm giảm đau (lúc đầu làm tăng cảm giác đau, sau không còn nữa) cho nên người bệnh cảm thấy dễ chịụ Kết quả sau cùng là người bị đau viên khớp không còn cảm thấy đau nữạ Ở Trung Quốc và Ðài Loan, người ta có chế ra một loại thuốc thoa ngoài da gồm một phần ớt và 5 phần "vaseline". Dùng loại thuốc thoa này để bôi vào các chỗ bong gân, sây xát... sẽ làm giảm đau.
- Hạ "cholesterol": Người ta thí nghiệm cho những con vật gậm nhấm được nuôi theo chế độ nhiều mỡ động vật, nhưng cho thêm ớt vào, thấy trong phân chúng tiết nhiều "cholesterol", còn "cholesterol" trong gan lại không tăng. Do đó, khi ăn mỡ nhiều, nên uống thêm khoảng nửa lít nước cà chua có pha thêm 1/8 muỗng ớt và một ít nước chanh vắt.
- Làm ngưng chảy máu: Ở chỗ bị thương, máu chảy (như đứt tay), dùng bột ớt hay băng có lớp bột ớt mỏng ép vào sẽ cầm máu.
Trong mùa lạnh, một số các cụ già thường hay rắc ớt vào vớ hay găng tay để giữ cho hơi ấm được lâu
DÂU TÂY
Trong dâu tây có nhiều muối khoáng loại quý và một chất cho phản ứng giống như "acide ethyl-salicylique". Người ta biết bệnh phong thấp chữa trị bằng những sản phẩm "salicylique" (sát trùng và chống viêm) nhưng những sản phẩm lấy từ những hóa chất đều có hại cho gan và máụ Trái lại, cũng những sản phẩm này, nếu lấy từ cây cỏ thiên nhiên, hiện diện ở trạng thái sống, trong rau quả, có hiệu lực lớn hơn và không độc hạị Như thế, người mắc bệnh phong thấp nên dùng dâu tây hơn dùng các thứ thuốc bằng hóa chất.
Người ta cũng biết dâu tây làm giảm lượng "acide urique" trong nước tiểu, tăng cường các đặc tính miễn dịch tự nhiên và những cơ chế tự vệ. Dâu tây, nhờ những muối khoáng sẵn có, tác dụng rất tốt trong nhiều trường hợp, nhất là đối với bệnh lao và những bệnh thiếu chất khoáng. Dâu tây cũng có dược chất chống ung thự Chất đường thuần túy trong dâu tây rất tốt cho những người bị bệnh đái đường. Dâu tây cũng còn có tác dụng hữu ích đối với chức năng của gan, đối với hệ tuyền và hệ thần kinh.
Trong mùa dâu tây, phải ăn dâu tây một cách đều đặn mỗi ngày để có được hiệu quả tốt, rõ ràng. Buổi sáng, để bụng đói, ăn dâu tây có nhiều hiệu quả hơn. Mỗi ngày, mỗi người có thể ăn trung bình 500 gr. Cũng có thể dành riêng một ngày trong một tuần, chỉ ăn toàn dâu tây không thôi, đừng cho đường hay kem vào.
- Lá dâu tây: Chế nước như nướ›c trà, dùng để chữa trị các bệnh đi tiêu chảy, viêm gan, thận hay bàng quang (bọng đái) .
- Rễ dâu tây: Sắc cho sôi độ 5 phút, rễ dâu tây cò thể dùng chữa bệnh viêm bàng quang và tất cả các trường hợp bị viêm đường tiểu
Các thảo dược cải lão hoàn đồng

Việc lựa chọn thực phẩm tác động rất lớn đến sức khỏe và tuổi thọ con người. Từ xưa, các thầy thuốc đã chú tâm tìm kiếm những loại cây cỏ giúp đẩy lùi tuổi tác, khiến con người trẻ lâu hơn. Khoa học ngày nay chứng minh, một số loại thảo dược có khả năng đó.
Lão hóa là một hiện tượng tự nhiên, không tránh được. Nhưng quá trình này rất khác nhau về thời gian và cách biểu hiện ở mỗi người. Có những người chưa nhiều tuổi nhưng cơ thể đã lão suy, lại có người sống đã lâu nhưng ,thân thể vẫn tráng kiện, tóc vẫn xanh. Bằng một lối sống tích cực và sử dụng thức ăn, dược phẩm hợp lý, con người có thể can thiệp vào quá trình lão hoá để nó đến chậm hơn.
Trong kho tàng Đông dược có rất nhiều cây cỏ được xem là thuốc trường sinh, cải lão hoàn đồng, bao gồm:
1. Sâm: Có 5 loại là nhân sâm, sa sâm, huyền sâm, đan sâm và tử sâm; mỗi loại bổ cho một số tạng phủ. Danh y Đào Hoằng Cảnh (452-536) cho rằng nhân sâm có tác dụng an thần, giảm xúc động và hồi hộp, làm sáng mắt, thanh thần, gia tăng trí năng, dùng lâu sẽ giúp tăng tuổi thọ. Lương y Tôn Tư Mạo (thế kỷ thứ 7) dùng nhân sâm để chữa chứng lãnh cảm hoặc hỗ trợ cho cô dâu bị thẹn thùng trong đêm tân hôn. Một cuốn kinh cổ Ấn Độ viết: "Nhân sâm làm nẩy mầm hạt giống mà người đàn ông gieo vào người đàn bà, để sinh ra đứa con trai có sức khỏe như bò mộng. Dược vật này đem đến cho con người sinh lực".
2. Hoa: Cánh hoa đào của mùa xuân sau khi rụng được dùng làm phấn dưỡng da. Hoa cúc giúp mát gan tiêu độc, tiêu những mầm mụn trên da. Hoa sen giúp an định thần kinh. Hoa hòe làm bền chắc thành mạch, tránh những mảng xơ vữa...
3. Trái cây: Tương truyền, Dương Quý Phi nhờ ăn quả lệ chi (vải)mà giữ được làn da đẹp và nhan sắc làm say lòng người. Nhiều loại trái cây là những vị thuốc không thể thiếu trong việc bồi bổ, tăng cường sức khỏe như táo, sơn tra, bí đao, thanh trà, nhãn, mè...
Từ những huyền thoại và kinh nghiệm lưu truyền trong dân gian, các nhà khoa học đã nghiên cứu và khẳng định tác dụng chữa bệnh của nhiều loại thảo dược.
4. Trà: Trà xanh hay trà đen (trà ướp, trà tẩm) đều có tác dụng tốt cho sức khỏe khi dùng đều đặn mỗi ngày. Trà chứa các Polyphenol có tác dụng chống oxy hóa, loại trừ các gốc tự do là mầm mống gây hại đến các axit nhân của tế bào. Chính các gốc tự do này là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh tật mạn tính và sự lão hóa nhanh.
5. Nhân sâm: Có khả năng kích thích miễn dịch tế bào. Nó giúp cải thiện khả năng đáp ứng miễn dịch của các đại thực bào ở bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, có vai trò trong việc ngăn ngừa và điều trị các rối loạn đường hô hấp. Dịch chiết nhân sâm có tác dụng hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường. Loại thảo dược này cũng có tác dụng cải thiện tuần hoàn não và tác động tốt ở nhóm người lão hóa sớm.
6. Trái nhàu: Cung cấp nhiều dưỡng chất và giúp các thuốc khác tăng thêm tính hiệu quả. Trong trái nhàu có serotonin, rất cần thiết cho hoạt động tế bào; nếu thiếu chất này, tế bào sẽ thoái hóa dần.
7. Các loại hạt: Lạc, đậu nành, rau xanh, hạt hướng dương, hạt bí, hạt mè... có nhiều vitamin E. Đây là chất giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể an toàn trước dịch cúm, giảm bớt tác hại của khói thuốc lá...
8. Các loại rau củ quả: Chứa những thành phần hợp chất hữu cơ như Flavon, vitamin C, vitamin E..., có tác dụng chống lão hóa tế bào, giúp tăng cường tuổi thọ và phòng chống các bệnh nội khoa mạn tính, ung thư... Tốt nhất là các loại rau quả có màu đậm như nho đỏ, nho đen, rau xanh, bí đỏ, củ dền, cà rốt, cà chua, hạt hướng dương...

TAI CHI CÓ ÍCH CẢ VỀ THỂ CHẤT LẪN TÂM THẦN
Ðó là kết luận của một nghiên cứu được đăng trên tạp chí nội khoa The Archives of Internal Medicine của Hội Y Khoa Hoa Kỳ, số ngày 8 Tháng Ba năm 2004.
Ðây là một tổng hợp của 47 nghiên cứu đã được công bố trước đây. Bài báo cho rằng Tai Chi có ích cho sự thăng bằng, dẻo dai và sức khỏe tim mạch. Các lợi ích về chức năng tim mạch và hô hấp xảy ra ở những người mạnh khỏe và cả ở những bệnh nhân đã mổ nối mạch tim (coronary artery bypass surgery), bị suy tim, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, viêm khớp và bệnh đa xơ - multiple sclerosis. Các tác giả cho rằng, các lợi ích bao gồm thăng bằng, sức mạnh và sự dẻo dai cho người già khỏe, giúp giảm té ngã ở người già yếu, giảm đau, căng thẳng và lo âu ở người khỏe (về thể lực).
Võ dưỡng sinh, Tai Chi, hay Thái Cực quyền, và một môn võ đã được tập luyện ở Trung Hoa trong nhiều thế kỷ. Tai Chi kết hợp thở sâu với thư giãn và các tư thế chuyển động một cách chậm chạp. Theo bài báo này, tập luyện Tai Chi giúp tăng cường sức khỏe, trí nhớ, sự tập trung, tiêu hóa, thăng bằng, sự dẻo dai, và giúp cải thiện sự lo âu và trầm cảm.
Vẫn theo các tác giả, cơ chế dẫn đến các lợi ích này vẫn chưa được hiểu một cách tường tận.

Mùi vị lạ trong miệng và cách chữa bằng Đông dược.
Ông T., 50 tuổi, hay bị đầy bụng sau bữa ăn, đại tiện lúc táo lúc lỏng, trong miệng luôn có vị ngòn ngọt (dù ông không hề ăn đồ ngọt), súc miệng, đánh răng mãi cũng không hết. Sau khi đi khám nhiều nơi không tìm ra nguyên nhân, ông đến một lương y và được biết mình mắc chứng "tỳ vị khí hư", "hư nhiệt nội sinh".
Sau vài ngày uống thuốc của vị lương y, cảm giác ngọt trong miệng ông T. dần dần biến mất. Triệu chứng đầy bụng sau khi ăn cũng giảm hẳn...
Trên lâm sàng, trường hợp như ông T. thực ra không hiếm. "Vị lạ trong miệng" thực chất là loại triệu chứng sớm, báo trước bệnh tật. Theo lý luận của Đông y, lưỡi thông với tạng Tâm. Khi cơ thể khỏe mạnh, tâm khí điều hòa thì trong miệng không có vị lạ, lưỡi có thể phân biệt chính xác các mùi vị. Nhưng khi âm dương mất cân bằng, hoạt động của một số tạng phủ bị rối loạn, tạng tâm có thể bị ảnh hưởng khiến cho tâm khí bị rối loạn, trong miệng xuất hiện mùi vị dị thường.
Miệng ngọt: Tạng Tỳ bị nóng thì miệng có vị ngọt; nghĩa là khi chức năng tiêu hóa của tỳ vị bị "nhiệt tà" gây rối loạn thì miệng thấy ngọt. Điều này tương tự cách lý giải của y học hiện đại: Chức năng tiêu hóa rối loạn có thể dẫn tới sự phân tiết dị thường một số men tiêu hóa; đặc biệt là khi lượng men amylase trong nước bọt tăng lên, miệng sẽ cảm thấy có vị ngọt.
Miệng ngọt do tỳ vị thực nhiệt: Thường do ăn quá nhiều thứ cay nóng, hoặc do nhiệt độc ở bên ngoài xâm phạm, lâu ngày tích tụ lại mà gây bệnh. Ngoài cảm giác ngọt miệng, bệnh nhân thường thấy khô khát, thích uống nước mát, ăn nhiều, mau đói; hoặc lưỡi lở loét, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô. Để khắc phục, cần thanh tỳ tả hỏa bằng cách dùng một trong 2 bài thuốc sau:
- Tả hoàng tán: Hoắc hương 15 g, chi tử 10 g, thạch cao 10 g, cam thảo 8 g, phòng phong 2 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
- Thanh vị tán: Hoàng liên 10 g, đương quy 10 g, thăng ma 10 g, sinh địa 12 g, đan bì 12 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Ngọt miệng do tỳ vị khí hư: Thường gặp ở người cao tuổi hoặc người mắc bệnh lâu ngày, tỳ vị bị tổn thương, dẫn đến tình trạng cả thực thể và chức năng bị thương tổn (khí âm lưỡng thương), khiến nhiệt tích ở bên trong (hư nhiệt nội sinh) thiêu đốt tân dịch ở tạng tỳ mà gây nên bệnh. Biểu hiện thường gặp: Miệng có cảm giác ngọt mà háo, người mệt mỏi, thở yếu, chán ăn, bụng đầy trướng, đại tiện lúc táo lúc nhão.
Để khắc phục, cần ích khí kiện tỳ và hòa vị dưỡng âm bằng cách dùng 2 bài thuốc sau: Sa sâm 15 g, mạch môn đông 10 g, ngọc trúc 10 g, phục linh 10 g, sinh địa 12 g, hoắc hương 12 g, sa nhân 8 g, trích cam thảo 8 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng đắng: Theo y học hiện đại, vị đắng trong miệng thường liên quan đến những rối loạn trong quá trình chuyển hóa dịch mật. Còn theo Đông y, khi "nhiệt" tích tụ ở gan mật, gây rối loạn chức năng tiêu hóa thủy cốc thì trong miệng xuất hiện vị đắng. Bệnh nhân thường bị đau đầu, choáng váng, chất lưỡi vàng mỏng.
Để khắc phục, cần dùng phép "thanh can tả hỏa" bằng bài thuốc "Long đảm tả can thang": Long đảm thảo (sao rượu) 10 g, hoàng cầm (sao rượu) 12 g, chi tử 10 g, mộc thông 10 g, trạch tả 15 g, xa tiền tử 15 g, sinh địa (sao rượu) 15 g, đương quy (sao rượu) 10 g, sài hồ 10 g, cam thảo 5 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng chua: Y học hiện đại cho rằng, cảm giác chua miệng thường hay gặp ở những người viêm dạ dày và viêm loét đường tiêu hóa, liên quan đến sự gia tăng tiết dịch ở dạ dày. Còn theo Đông y, chua miệng có liên quan mật thiết với chứng can tỳ bất hòa" (tạng can bị rối loạn, ảnh hưởng xấu đến chức năng tiêu hóa của tỳ vị). Ngoài cảm giác chua miệng, bệnh nhân thường thấy ngực sườn đau tức, đau đầu hoa mắt, bồn chồn, dễ cáu giận, sau khi ăn bụng đầy trướng, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng mỏng.
Để khắc phục, cần tả can hòa vị bằng bài thuốc sau: Hoàng liên 10 g, ngô thù du 10 g, phục linh 10 g, bạch truật 10 g, nhân sâm 6 g, cam thảo 3 g, trần bì 15 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng mặn: Theo Đông y, mặn là vị của thận. Nếu làm lụng mệt nhọc quá mức, tuổi cao sức yếu hoặc mắc bệnh lâu, thận sẽ bị suy tổn, chất dịch từ đây vọt lên trên khiến miệng có vị mặn (thường kèm theo lưng gối mỏi đau, đầu choáng tai ù, ngực, lòng bàn chân bàn tay nóng, mồ hôi trộm, di tinh, rêu lưỡi ít).
Để khắc phục, cần tư âm giáng hỏa, bổ ích thận âm bằng bài thuốc sau: Tri mẫu 10 g, hoàng bá 10 g, sơn dược 10 g, đan bì 10 g, phục linh 10 g, thục địa 15 g, ngô thù du 12 g, trạch tả 12 g, phụ tử 12 g, nhục quế 8 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng hôi: Thường liên quan đến 3 tình huống.
- Vị hỏa hun đốt: Miệng nóng hôi, chất lưỡi đỏ hay lở loét, hoặc chân răng sưng thũng, kèm theo khát nước, thích uống lạnh, đại tiện táo, nước tiểu vàng. Để khắc phục, cần thanh tả vị hỏa bằng bài thuốc: Đại hoàng 10 g, hoàng cầm 10 g, hoàng liên 5 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
- Thức ăn tích trệ: Miệng hôi có mùi như lên men chua, mùi thức ăn thối rữa, hoặc kèm theo mùi thức ăn sống, chán ăn, rêu lưỡi dày nhớt. Để khắc phục, cần tiêu thực hóa tích bằng bài thuốc: Sơn tra 10 g, thần khúc 12 g, lai phục tử 10 g, trần bì 10 g, bán hạ 10 g, phục linh 10 g, liên kiều 10 g. Sắc uống.
- Không chú ý vệ sinh răng miệng: Bị sâu răng hoặc viêm loét khoang miệng. Có thể sử dụng bài thuốc: Hoàng cầm 10 g, hoắc hương 10 g, thạch cao 10 g, sinh địa 10 g, cam thảo 4 g. Sắc lấy nước ngậm nhiều lần trong ngày.

5 cách chữa bệnh bằng mật ong
Mật ong đem lại sức khỏe và sắc đẹp.
Để chữa đau cổ họng, bạn có thể uống hỗn hợp mật ong hòa với nước ép gừng. Thứ đồ uống này còn giúp bạn giảm triệu chứng của cảm lạnh như ho, chảy nước mũi… Một số ứng dụng khác của mật ong:
- Giúp sáng mắt: Pha một thìa mật ong vào nước ép cà rốt, uống trước khi ăn sáng khoảng một giờ; bạn sẽ có đôi mắt trong sáng, tia nhìn tinh anh.
- Thúc đẩy tuần hoàn máu: Trộn 1 thìa nước ép tỏi với 2 thìa mật ong. Dùng 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng và tối. Bài thuốc này giúp thúc đẩy tuần hoàn máu trong cơ thể, khiến da dẻ hồng hào, mịn màng hơn.
- Giảm béo: Pha 1-2 thìa mật ong với 1 thìa nước ép chanh vào một ly nước ấm. Việc uống hỗn hợp này mỗi ngày sẽ giúp lọc sạch đường ruột, giảm béo.
- Trị hen: Trộn 1/2 g bột tiêu đen với mật ong và nước ép gừng, uống 3 lần/ngày.

Trị bong gân bằng y học cổ truyền
Lạc cũng có tác dụng chữa bong gân.
Bong gân là một tổn thương thường gặp ở gân, cơ, dây chằng, bao khớp tại các khớp. Nếu xử trí không kịp thời và đúng cách, nó có thể để lại di chứng như hạn chế vận động khớp, cứng khớp...
Nguyên nhân gây bong gân thường gặp nhất là lao động nặng, chơi thể thao,mang vác vật nặng, bước hụt. Người bệnh thường có cảm giác đau buốt, sưng đỏ hoặc xanh tím, phù nề quanh khớp bị tổn thương.
Để chữa bong gân, có thể áp dụng những bài thuốc Nam sau:
- Rau hẹ tươi rửa sạch, giã nát rồi đắp vào chỗ tổn thương. Ngày đắp 1-2 lần.
- Lá bưởi tươi rửa sạch, giã nát, trộn với ít rượu trắng đắp vào chỗ đau, mỗi ngày 1-2 lần.
- Lá cây nhãn sấy khô, giã nát, trộn với bột chín làm thành hồ, đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày có thể làm 1-2 lần.
- Lạc nhân 60 g, băng phiến 5 g, giã nát, đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.
- Lá sen tươi 60 g, hạt dành dành 12 g. Cả hai vị đem giã nát, đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.
- Dây bí ngô 50 g, gừng tươi 20 g, giã nát đắp vào chỗ đau, có thể dùng băng để cố định thuốc tại chỗ đau, thỉnh thoảng nhỏ thêm ít rượu loãng vào miếng thuốc đắp.
- Hành củ, gừng già và cỏ gấu lượng bằng nhau, giã nát rồi trộn với bột mỳ và rượu trắng, đắp vào chỗ đau.
- Pha mật gấu với rượu trắng nhạt, trong uống ngoài xoa; có tác dụng tiêu sưng nề, tan máu tụ, giảm đau nhanh.
- Hành 2-3 củ, đậu phụ 60 g, giã nát rồi đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.

Cách dùng sơn tra phòng chống rối loạn lipid máu
Quả sơn trà (táo mèo).
Nếu như trong y học cổ truyền, loại quả này chỉ giúp tiêu thực thì với y học hiện đại, nó còn có nhiều tác dụng khác, trong đó có công năng điều chỉnh rối loạn lipid máu.
Sau đây là một số cách dùng sơn tra nhằm lập lại sự cân bằng của quá trình chuyển hóa lipid trong cơ thể và dự phòng tích cực các bệnh lý thuộc hệ tim mạch như tai biến mạch não, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim...
- Sơn trà 60 g, gạo tẻ 100 g, đường trắng 10 g. Nấu sơn tra và gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Tiêu thực tích, tán huyết ứ, làm giảm mỡ máu.
- Trà mạn 6 g, sơn tra 15 g, hoa hòe 18 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 18 g, hà thủ ô 30 g; sắc uống thay trà. Công dụng: Tiêu thực giảm béo, làm mềm huyết quản, hạ lipid máu, thích hợp cho những người béo phì có kèm theo rối loạn lipid máu.
- Sơn trà 30 g, tang thầm (quả dâu chín) 15 g, gạo tẻ 30 g; nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Dưỡng huyết, hoạt huyết, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu. Thích hợp cho những người bị rối loạn lipid máu thuộc thể Âm hư dương cang (hoa mắt chóng mặt, lòng bàn tay bàn chân nóng, hay sốt nóng về chiều, đau vùng trước tim, đổ mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ ít hoặc không rêu).
- Sơn trà 30 g, hà diệp (lá sen) 10 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu ở tất cả các thể.
- Sơn trà 10 g, hòe hoa 10 g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt bình can, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu có kèm theo cao huyết áp.
- Sơn trà 10 g, cúc hoa 10 g, thảo quyết minh 15 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Làm giảm mỡ máu, khứ ứ thanh nhiệt, thông tiện. Dùng cho người bị rối loạn lipid máu và béo phì.
- Sơn trà, kim ngân hoa, cúc hoa mỗi thứ 15 g, tang diệp 10 g; sắc uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt, bình can, hoạt huyết, hóa ứ, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu kèm theo cao huyết áp và các chứng trạng của Can dương thượng cang (đầu choáng mắt hoa, mắt đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, ngực bụng đầy tức, tai ù, hay quên, đại tiện táo kết).
- Sơn trà 15 g, trạch tả 15 g, kỷ tử 30 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Dưỡng can, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng thích hợp cho người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp.
- Sơn trà 30 g, hoa hòe tươi 5 g, lá sen non 15 g, thảo quyết minh 10 g, đường trắng vừa đủ; sắc kỹ lấy nước, chế thêm đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Làm giãn mạch máu, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu.
- Sơn tra 15 g, đan sâm 15 g, quyết minh tử 12 g, hồng hoa 5 g; sắc uống thay trà, dùng liên tục 1-3 tháng. Công dụng: Hoạt huyết thông mạch, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, thiểu năng tuần hoàn não và bệnh động mạch vành.
- Sơn trà 15 g, nhân trần 20 g, sinh mạch nha 15 g; sắc kỹ 2 lần, chia uống 2 lần trong ngày, liên tục trong nửa tháng. Công dụng: Thanh can lợi đởm, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu có kèm theo tình trạng chán ăn, đầy bụng, chậm tiêu.
- Sơn trà 9 g, nấm linh chi 9 g, trạch tả 15 g, thảo quyết minh 15 g, xích thược 12 g; sắc uống trong ngày. Công dụng: Tán ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành.
- Sơn tra 50 g, mạch môn 30 g, ngâm với 1.000 ml rượu trắng, mỗi ngày lắc 2 lần, sau 10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 20 ml. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch.
- Sơn trà, quyết minh tử, hà thủ ô, tang ký sinh, trạch tả mỗi thứ 100 g, mật ong vừa đủ. Đem các vị thuốc sắc kỹ lấy 500 ml rồi hòa với mật ong, đun sôi một lát là được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50 ml, 30 ngày là một đợt điều trị. Công dụng: Hoạt huyết, hóa ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp.
- Sơn trà, tang ký sinh, hoàng kỳ mỗi thứ 30 g, ngũ vị tử 10 g, bồ công anh 70 g, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 g; 30 ngày là một liệu trình điều trị. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt, ích khí bổ thận và làm giảm mỡ máu.
- Sơn trà 30 g, cát căn 15 g, tang ký sinh 15 g, quyết minh tử 30 g. Tất cả sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 8 g với nước ấm, 30 ngày là một liệu trình. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt, giáng áp, giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu kèm theo huyết áp cao.
- Sơn trà, hà thủ ô, thảo quyết minh mỗi thứ 15 g, đan sâm 20 g, kỷ tử 10 g, sắc kỹ, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, ích khí bổ thận, thanh nhiệt, giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành.

Tập Yoga để giảm cân

Yoga có thể cho bạn dáng người đẹp.
Yoga không chỉ giúp cơ thể khoẻ mạnh và đem lại sự yên tĩnh cho tâm hồn mà còn có khả năng làm bạn giảm cân. Theo các nhà nghiên cứu Mỹ, mỗi giờ luyện tập Yoga cường độ cao có thể tiêu tốn khoảng 540 calo.
Hãy thực hiện các động tác dưới đây để có một cơ thể thật đẹp. Sau một tháng, bạn sẽ có một vóc dáng khoẻ mạnh, rắn chắc và đẹp hơn. Đặc biệt, bạn có thể giảm nửa kilo trong một tuần.
1. Động tác đứng nghiêng mình: Đứng thẳng, hai bàn chân cách xa nhau một chút, hai tay chấp trước ngực (giữ vai thả lỏng và hạ thấp xuống). Hít vào và vươn hai tay thẳng lên cao, lòng bàn tay hướng vào nhau. Thở ra và nghiêng người ở hông về phía bên trái, thót bụng vào. Quay về tư thế ban đầu và lặp lại về phía bên phải.
2. Động tác tay: Hít vào, cong gối và cúi người xuống, đặt hai tay ở phía ngoài bàn chân. Bước chân trái về phía sau, tựa đầu gối trên mặt sàn. Thở ra và nâng ngực ở tư thế thẳng đứng, dang rộng hai tay sang hai bên. Hít vào, vặn nữa người phía trên sang bên trái và nhìn về phía vai trái như trên hình. Thở ra và quay về tư thế ban đầu.
3. Tư thế chống đẩy: Bắt đầu từ tư thế chuẩn bị chạy, đặt hai tay hai bên bàn chân phải (hai tay dang rộng bằng vai), thở ra và bước chân phải về phía sau để cơ thể bạn nằm ở tư thế chống đẩy, giữ ở tư thế này. Để tăng thêm độ khó cho động tác, cong khuỷ tay và hạ thấp người xuống ở khoảng lưng chừng chứ chưa tới mặt đất.
4. Tư thế rắn hổ mang: Từ tư thế chống đẩy, hạ thấp người xuống, bụng tựa lên sàn, hai chân duỗi thẳng, hai cánh tay kẹp sát vào nách. Hít vào, chống hai tay xuống sàn và nâng ngực lên, nhẹ nhàng uốn cong người (giữ cho khuỷ tay hơi cong và sát vào cơ thể, vai thấp xuống). Giữ ở tư thế này, sau đó hạ thấp ngực xuống sàn.
5. Động tác kết hợp: Từ tư thế rắn hổ mang, thở ra và nâng hông lên cao và về phía sau để cơ thể bạn tạo thành chữ V ngược như trên hình. Chống hai gót chân lên sàn. Hít vào và từng bước quay về động tác vặn người thứ hai, lần này bước chân trái lên phía trước, chống gối chân phải lên sàn và vặn người về phía phải. Quay người về phía giữa, đặt hai bàn tay phía trước bàn chân trái. Bước chân phải qua bên kia chân trái, vặn người và đứng thẳng dậy. Mỗi động tác lặp lại từ 4 đến 6 lần cho mỗi bên, giữ ở mỗi tư thế khoảng 5 nhịp thở. Tập 3 lần mỗi tuần. Trong những ngày khác đi bộ nhanh trong khoảng 15 phút.

Để xương chắc khỏe: Tập thể dục tốt hơn bổ sung canxi

Thiếu nữ nên tập thể dục hằng ngày để tăng cường độ vững chắc của xương.
Ở phụ nữ, sự hình thành bộ xương chắc khỏe phần lớn diễn ra vào trước và trong tuổi thanh, thiếu niên. Trong giai đoạn này, thói quen tập thể dục hằng ngày còn quan trọng hơn việc bổ sung canxi, các nhà khoa học Mỹ khẳng định.
Trên Tạp chí Nhi khoa của Mỹ, giáo sư Tom Lloyd đến từ Đại học Penn State cho biết, đối với phụ nữ, canxi không ảnh hưởng lớn đến bộ xương trong giai đoạn xây dựng độ bền chắc ở tuổi thanh thiếu niên. Điều này đúng với cả những cô gái có mức độ hấp thu canxi hằng ngày rất thấp, cách xa đáng kể so với mức khuyến cáo. Đáng lưu ý trong thời kỳ này lại là mối quan hệ mật thiết giữa sức khỏe của bộ xương và việc rèn luyện thân thể. 17% độ vững chắc của xương được tạo nên từ thói quen vận động hằng ngày. Những cô gái có hệ cơ phát triển tốt cũng là những người có bộ xương chắc khỏe.
Nghiên cứu của Đại học Penn State về sức khỏe thiếu nữ bắt đầu từ năm 1990, với sự tham gia của hơn 100 em gái 12 tuổi. Công trình đến nay vẫn chưa kết thúc, và mục tiêu trong thời gian tới là sức khỏe tim mạch và sinh sản của thiếu nữ. Tất cả đối tượng nghiên cứu giờ đã trong độ tuổi 20. Nhận định về vai trò của canxi và vận động đối với sự hình thành độ chắc khỏe của bộ xương ở phụ nữ được rút ra từ dữ liệu thu thập trong khoảng thời gian 1990-2000. "Khi xét đến khối lượng nạc - khối lượng cơ thể trừ đi phần mỡ - chúng tôi nhận thấy, trọng lượng nạc cứ tăng lên 1 kg thì độ rắn chắc của xương cũng tăng lên 10 %", Moira Petit tham gia nghiên cứu cho biết. Tỷ lệ nạc của cơ thể có được nhờ sự tích cực vận động.
Giai đoạn từ 13 đến 19 tuổi là thời kỳ mà cơ thể phụ nữ xây dựng phần lớn độ vững chắc của bộ xương. Khi tuổi càng cao, sự vững chắc này sẽ ngày một hao mòn. Việc bổ sung canxi và chăm sóc tốt hệ xương trong giai đoạn thanh niên chỉ nhằm ngăn ngừa chứng loãng xương ở tuổi già.
Trong nghiên cứu của Đại học Penn State, mức hấp thu canxi của những em gái tham gia dao động trong phạm vi rộng - từ 500 mg/ngày tới 1.800 mg/ngày. Trong khi đó, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo thiếu nữ cần hấp thu khoảng 1.300 mg/ngày. Tuy nhiên, sự hấp thu canxi tác động rất ít tới độ vững chắc của bộ xương trong giai đoạn trên- giáo sư Lloyd nhận định - năng luyện tập mới là yếu tố quyết định.

Cây húng chanh làm thuốc

Để chữa chảy máu cam, có thể lấy húng chanh 20 g, lá trắc bá sao đen 15 g, hoa hòe sao đen 10 g, cam thảo đất 15 g; sắc uống ngày một thang. Đồng thời lấy lá húng chanh đem vò nát, nhét vào bên mũi chảy máu.
Húng chanh là cây thân thảo, mọng nước, sống lâu năm, được nhân dân trồng làm cảnh và làm thuốc. Nó còn có tên là rau thơm lông, rau tần lá dày (miền Nam), dương tử tô.
Một số bài thuốc Nam thường dùng trong dân gian:
- Cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức đầu, nghẹt mũi, ho đờm: Húng chanh 15-20 g giã vắt lấy nước cốt uống; hoặc thêm gừng, hành mỗi vị 12 g cùng sắc uống và xông cho ra mồ hôi.
- Sốt cao không ra mồ hôi: Húng chanh 20 g, lá tía tô 15 g, gừng tươi 5 g cắt lát mỏng, cam thảo đất 15 g. Sắc uống nóng cho ra mồ hôi.
- Ho, viêm họng: Hái vài lá húng chanh, nhai, ngậm, nuốt nước.
- Viêm họng, viêm thanh quản: Húng chanh 20 g, kim ngân hoa 15 g, sài đất 15 g, củ giẻ quạt 12 g, cam thảo đất 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ho: Húng chanh 10 g, lá chanh 5 g, vỏ quýt 5 g, gừng tươi 3 g, đường phèn 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đau nhức do ong đốt: Húng chanh 20 g, muối ăn vài hạt, tất cả đem giã nhỏ hoặc nhai kỹ, nuốt nước, bã đắp vào chỗ ong đốt.
- Dị ứng, nổi mề đay: Lá húng chanh nhai nuốt nước, bã thì đắp hay xoa xát.

Cháo thịt nạc - Món ăn dễ tiêu, mát, hợp với mùa hè

Cháo thịt nạc là món ăn mát, bổ dưỡng, ngon miệng, tốt với người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, nhất là những người mệt mỏi.
Nguyên liệu: gạo tẻ 200g, gạo nếp 100g, thịt nạc thăn (lợn) 200g, xương lợn 500g. Hành hoa, tử tô, gia vị, tiêu bột,v.v.
Cách chế biến:
Xương lợn rửa sạch, chặt thành miếng nhỏ cho nước vào hầm kỹ lấy nước nấu cháo. Nhớ vớt bỏ bọt khi hầm. Gạo tẻ và nếp trộn lẫn vo sạch để ráo nước. Dùng nước hầm xương để nguội đổ gạo vào nấu cháo - lượng nước vừa đủ. Thịt nạc thăn thái mỏng từng miếng, ướp gia vị như hành, tử tô, thái nhỏ. Khi nồi cháo nhừ sánh thì cho thịt ướp vào quấy đều, nêm mắm vừa ăn, đun thêm 15 phút nữa mới cho hành và tử tô vào trộn đều bắc ra - ăn nóng. Múc ra bát rắc hạt tiêu cho thơm.
Đây là món ăn vừa mát, bổ dưỡng, ngon miệng, mọi người cùng ăn trong ngày hè, tốt với người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, nhất là những người mệt mỏi.
Theo đông y, gạo tẻ có vị ngọt, tính mát, có khả năng điều hòa được tì vị, làm bổ dưỡng thân thể, trừ phiền não, dứt được nóng nảy, làm sạch mồ hôi, ngưng được cơn khát, lợi tiểu... với gạo nếp có vị ngọt, tính ấm, chất dẻo, mùi thơm, làm mạnh phổi, khỏe tì, có tác dụng chữa trị các chứng ra mồ hôi trộm, vã mồ hôi, yếu dạ, viêm dạ dày,v.v. Còn thịt lợn tính lạnh, vị mặn, ăn được phủ tạng bồi bổ kinh lạc, giàu dinh dưỡng chủ yếu là prôtêin, các amin, vitamin và khoáng chất đặc biệt là nước xương lợn hầm kỹ dùng nấu cháo. Còn có tác dụng chữa đau nhức xương, bồi bổ can xi....
Các phụ liệu, gia vị cũng tăng cường hiệp đồng tác dụng như giúp tiêu hóa. Hành có vị cay, tính ấm, thông dương, lợi khí, chữa cảm mạo... Tử tô vị cay, tính ấm, đi vào kinh phế, tâm, làm ra mồ hôi, hạ khí, tiêu đờm, chữa đầy bụng,v.v. Hồ tiêu cũng kích thích tiêu hóa...
Điều trị chàm bằng y học cổ truyền
Vị thuốc tri mẫu.
Chàm là loại bệnh tổn thương ngoài da có căn nguyên phức tạp, bao gồm 2 yếu tố: cơ địa dị ứng sẵn có trong cơ thể và tác nhân (bên trong hoặc bên ngoài) tác động vào cơ địa, gây nên bệnh.
Tổn thương cơ bản trên da của chàm là mụn nước và rất ngứa. Bệnh thường tiến triển qua 5 giai đoạn (nếu không có biến chứng): đỏ da; nhiều mụn nước lấm tấm; chảy nước vàng do mụn nước vỡ ra, để lại lỗ nhỏ lõm xuống; huyết tương rỉ ra, đóng thành vảy màu vàng rồi thâm dần, vài ngày sau bong vảy; vảy bong để lại lớp da non màu đỏ, không để lại sẹo.
Các biến chứng thường gặp là bội nhiễm (nhiễm thêm các vi khuẩn khác làm cho tổn thương lớn thêm do tăng tiết, vùng tổn thương sưng đỏ, tổng trạng sốt) và dày da vùng tổn thương, sừng hóa, da trên tổn thương khô nhám.
Dựa vào hình thể, chàm được phân thành 5 loại:
- Dạng nấm: Thường khu trú ở chân, màu đỏ sẫm, trên có mụn nước lấm tấm.
- Dạng viêm quầng: Thương tổn khu trú ở mặt, mí mắt.
- Tổ đỉa: Thương tổn khu trú ở rìa các ngón chân, có thể ở cả lòng bàn tay và chân, mụn nước từ sâu đội lên da, rất ngứa.
- Chàm sừng: Thương tổn khu trú ở lòng bàn tay, bàn chân, vảy dày trắng nứt nẻ, sưng đau, dưới vảy có mụn nước.
- Chàm thể đồng xu: Hình tròn hoặc bầu dục, màu đỏ hồng, trên có mụn nước, vảy tiết, khỏi dần từ chính giữa, khu trú ở tay chân.
Theo nguyên nhân, chàm được chia làm 5 loại:
- Chàm tiếp xúc: Do tiếp xúc với một số chất khác trên cơ địa dị ứng. Các tác nhân gây dị ứng gồm sơn, savon, nilon, kem, phấn, giày dép cao su, dây đồng hồ đeo tay, một số cây, cỏ, lá, hoa...
- Chàm vi khuẩn: Viêm nhiễm do vi khuẩn ở đâu đó trên cơ thể như viêm răng, hàm, mặt, tai mũi họng, viêm đường tiêu hóa hoặc một số cơ quan khác. Tổn thương gồm nhiều mụn nước, dễ lan tràn đến nơi khác, sưng đỏ, chảy nước, ngứa dữ dội.
- Chàm trẻ em: Do cơ địa, nội tiết, rối loạn chuyển hóa nước, một số bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng một số chất, thần kinh... Bệnh hay gặp ở trẻ em trên 2 tháng tuổi và thường tới 3 tuổi sẽ tự khỏi; trường hợp cá biệt sẽ bị dai dẳng tới lớn. Thương tổn cơ bản là những mụn nước khu trú hai bên má và trán (trừ mũi và miệng) tạo thành hình móng ngựa, giới hạn rõ rệt, đôi khi lan lên đầu, ngứa dữ dội. Bệnh tiến triển qua 5 giai đoạn như chàm nói chung, có lúc giảm lúc tăng, đôi khi kèm theo sốt cao và thường dễ bị viêm tai giữa.
- Chàm nội tạng: Thương tổn bị biến đổi, mụn nước chuyển thành sẩn lẫn mụn nước, rải rác khắp người.
- Chàm khô: Căn nguyên do cả bên ngoài lẫn bên trong (do hóa chất, do sinh vật, nội tạng...).
Điều trị bằng y học cổ truyền:
1. Thể cấp tính: Lúc đầu da hơi đỏ và ngứa, sau một thời gian ngắn, da sẽ nổi cục, có nhiều mụn nước, rất ngứa, loét, chảy nước vàng trong:
Về thuốc uống trong, dùng một trong các bài sau:
- Thổ phục linh 16 g, nhân trần 20 g.
- Khổ sâm 12 g, kim ngân 16 g.
- Hoàng bá 12 g, ké đầu ngựa 12 g.
- Hạ khô thảo 12 g, hoạt thạch 8 g.
Nếu mụn nước lan ra toàn thân, ngứa nhưng chảy nước ít, dùng các bài thuốc:
- Kinh giới 12 g, sinh địa 16 g.
- Phòng phong 12 g, thạch cao 20 g.
- Thuyền thoái 6 g, tri mẫu 8 g.
- Khổ sâm 12 g.
Về thuốc rửa ngoài, có thể lấy tô mộc 30 g, lá trầu 20 g. Đun sôi với 1 lít nước và một ít muối, thấm rửa tổn thương rồi hong cho khô ngay. Hoặc: Lá khế 100 g, lá kinh giới 100 g. Đun sôi trong nước rồi tắm.
Về thuốc bôi, lấy hùng hoàng 5 g, thạch cao 5 g. Ngâm với giấm rồi trộn đều, bôi lên chàm.
2. Thể mạn tính: Da dày, thô, khô, ngứa và trên vùng tổn thương có nhiều mụn nước, hay gặp ở cổ chân, cổ tay, khuỷu tay và nhượng chân. Về thuốc uống, dùng:
- Hoàng bá 12 g, thương truật 8 g.
- Ké đầu ngựa 12 g, phù bình 12 g.
- Phòng phong 8 g, bạch tiểu bì 12 g.
- Hy thiêm thảo 12 g.
Về thuốc rửa, dùng lá khế 100 g, lá kinh giới 100 g đun sôi, rửa vết chàm loét. Về thuốc bôi, dùng xuyên hoàng liên 4 g, hồng hoa 4 g (có thể thay bằng hồng đơn và chu sa) tán thành bột, hòa với mỡ trăn, bôi vào tổn thương, sau đó rửa sạch bằng thuốc rửa trên.

Hoa mào gà đỏ chữa tiêu viêm, cầm máu
Theo Đông y, mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, cầm máu. Người bị rong kinh có thể lấy hoa mào gà 20 g, ngải cứu 20 g sao cháy, sắc uống ngày một thang.
Một số bài thuốc khác:
- Ho ra máu: Hoa mào gà đỏ 15 g, lá huyết dụ 20 g sao cháy, lá trắc báo 20 g sao cháy, cỏ nhọ nồi 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Tiêu chảy: Hoa mào gà 10 g, vỏ dộp cây ổi 8 g, vỏ quả lựu 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Lỵ lâu ngày: Hoa mào gà 20 g, cỏ seo gà 20 g, lá mơ lông 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Khí hư: Hoa mào gà 20 g, rễ cây bấn 20 g, bồ công anh 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Sốt xuất huyết: Hoa mào gà 20 g, lá trắc bá sao đen 20 g, hoa hòe sao đen 15 g, ké đầu ngựa 15 g, lá dâu 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái rắt): Hoa mào gà 20 g, bồ công anh 20 g, mã đề 20 g, râu ngô 15 g, rau má 20 g. Sắc uống ngày một thang.

Cây bầu đất
Cây còn có tên là rau lúi, khám khom, kim thất, đái dầm, thiên hắc địa hồng... Dân gian thường dùng bầu đất để chữa đái són, tiểu không tự chủ, đái buốt, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu máu, lỵ và các bệnh về thận.
Bầu đất là loại cây nhỏ có nhiều cành, thân nhẵn. Lá hình trứng tròn hoặc tù ở đáy, nhọn ở đầu, mọc so le. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới có màu đỏ tím nên có tên thiên hắc địa hồng. Cây này thường mọc hoang ở nhiều nơi và được trồng, dùng toàn cây làm thuốc. Có thể dùng rau bầu đất nấu canh ăn, hay sắc uống, phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng có thể tới 80 g.
Một số bài thuốc Nam thường dùng:
- Phụ nữ viêm bàng quang mạn tính: Rau bầu đất nấu canh ăn, hoặc sắc nước uống với bột thổ tam thất và ý dĩ sao, cả hai vị bằng nhau, mỗi lần 10-15 g, ngày uống 2 lần.
- Chữa đau mắt: Lá bầu đất rửa sạch, thêm vài hạt muối, giã nhỏ đắp lên mắt đau.
- Chữa lỵ: Bầu đất 30 g, rau sam 30 g. Nấu canh ăn ngày 1-2 lần.
- Chữa viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái dắt): Bầu đất 30 g, mã đề 20 g, râu ngô 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Trẻ em đái dầm: Bầu đất 20 g, nấu canh ăn hàng ngày. Nên ăn vào buổi trưa. Các buổi tối nên hạn chế ăn canh, uống nhiều nước.
- Khí hư, bạch đới: Bầu đất 20 g, rễ củ gai sao vàng 16 g, cỏ xước 16 g, kim ngân hoa 12 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.

Ngưu bàng - cây thuốc quý
Cây còn có tên là đại đao, á thực, hắc phong tử, thường mọc hoang và được người dân dùng nấu canh. Cả Đông và Tây y đều sử dụng ngưu bàng làm thuốc. Ngưu bàng là cây thảo, sống hàng năm, cao 1-1,5 m, lá mọc thành hoa thị ở gốc, mọc so le trên thân. Cụm hoa hình đầu, mọc ở đầu cành, cánh hoa có màu hơi tím... Lá to rộng có hình tim, mặt dưới lá có nhiều lông trắng.
Bộ phận dùng làm thuốc là quả (ngưu bàng tử), rễ (ngưu bàng căn). Theo Tây y, rễ ngưu bàng có tác dụng lợi tiểu, ra mồ hôi, thường dùng chữa tê thấp, sưng đau khớp và một số bệnh ngoài da. Theo Đông y, ngưu bàng tử vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh nhiệt, giải độc..., chữa cảm cúm, viêm tuyến vú, viêm phổi, viêm họng, viêm tuyến nước bọt, viêm tai giữa, mụn nhọt, sởi, đậu và một số bệnh ung thư... Do cây có tính hàn nên người tỳ vị hư hàn (lạnh bụng, ăn uống chậm tiêu, không muốn ăn, thích ăn uống ấm nóng...) không được dùng.
Một số bài thuốc Nam được dùng trong dân gian:
- Chữa đậu chẩn mọc trong cổ họng: Ngưu bàng tử 8 g, cát cánh 6 g, cam thảo 3 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa cảm mạo, thủy thũng, chân tay phù: Ngưu bàng tử 80 g, sao vàng, tán bột. Ngày uống 8 g chia ba lần. Dùng nước nóng chiêu thuốc.
- Chữa phù thũng cấp tính: Ngưu bàng tử 6 g nửa sao, nửa sống, phù bình (bèo cái) sao khô 6 g. Tất cả đem tán nhỏ, ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g. Dùng nước nóng chiêu thuốc.
- Chữa viêm tuyến vú: Ngưu bàng tử 12 g, sài đất tươi 20 g, bồ công anh 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Chữa nước tiểu sẻn đỏ, ít: Ngưu bàng tử 12 g, mã đề 30 g, rau sam 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa mụn nhọt: Ngưu bàng tử 12 g, sài đất tươi 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo đất 16 g..
- Chữa viêm họng: Ngưu bàng tử 12 g, lá húng chanh 12 g, lá rẻ quạt 5 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ung thư cổ tử cung: Ngưu bàng căn 20 g, chư thực tử 20 g. Các vị tán bột, uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 6-8 g.
- Chữa các loại ung thư: Ngưu bàng tử 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ung thư vú: Ngưu bàng tử 60 g, sao vàng tán bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-8 g.
- Chữa ung thư đại tràng: Ngưu bàng căn 20 g, xích tiểu đậu 8 g, đương quy 12 g, đại hoàng 6 g, bồ công anh 12 g. Tất cả đem xay nhỏ hoặc tán bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-10 g.
- Trẻ em khóc đêm: Ngưu bàng tử tán bột mịn, băng đắp vào rốn trẻ. Ngày thay thuốc 1 lần.

Điều trị hắc lào bằng thuốc nam
Quả bồ kết có thể chữa hắc lào.
Bồ kết 12 g, phèn chua 20 g, thêm nước, đun sôi, để nguội rồi tắm. Sau khi lau khô người, bôi thuốc vào chỗ da bị tổn thương.
Các thuốc bôi bao gồm:
- Vỏ cây đại tươi 50 g; củ chút chít 50 g; cồn 70 độ 100 ml. Hai vị thuốc rửa sạch, giã nát, ngâm vào cồn 7 ngày, dùng bôi vào chỗ hắc lào ngày 1-2 lần.
- Hạt muồng châu tươi 20 g; hạt bồ kết tươi 12 g. Tất cả giã nát, ngâm vào 100 ml cồn 70 độ trong 7 ngày, dùng dung dịch bôi chỗ hắc lào ngày 1-2 lần.
- Rễ, cành, lá cây kiến cò 50 g giã nát, ngâm vào 100 ml cồn 70 độ trong 7 ngày. Dùng dung dịch trên bôi 1-2 lần lên chỗ hắc lào.
- Rễ cây bạch hoa xà (bỏ lõi) 100 g ngâm trong 20 ml cồn 90 độ. Sau 7 ngày thì lấy bôi 1-2 lần lên chỗ hắc lào.
Ngoài việc tắm thuốc và bôi các dược phẩm tự chế trên, bệnh nhân nhiễm nấm hắc lào cần thay luộc quần áo đều đặn, phơi nắng để diệt nấm và bào tử. Không chà xát vùng hắc lào để phòng gây nhiễm trùng và lan rộng tổn thương, khiến nấm ăn sâu, khó chữa hơn.