|
Về Cha Cát Biển Thân gánh sầu buồn lỡ Khi tôi còn bé, ba tôi hay đi lưu
diễn cùng với đoàn văn nghệ cãi lương tỉnh Bình Thuận nên ông được
biết đến qua tên hiệu Phan Sinh hơn là tên thật. Vào dạo đoàn về
trình diễn tại rạp Moderne, tôi bé tí teo, quá bé để nhớ nhiều; chỉ
loáng thoáng trong ký ức cảnh rạp hát mờ mờ ảo ảo, ba đóng vai
Hoàng Tử Lưng Gù và một vài cảnh đánh gươm mà tôi rất thích. Đến
lúc ba bị gian thần đâm một nhát gươm trên sân khấu, tôi khóc lóc
gào rên “Ba ơi, ba...” làm cho ai cũng bật cười. Tiệm may Phan Sinh của
ba tôi sát vách với nhà hàng nỗi tiếng Nam Thạnh Lầu, lúc nào cũng
nhộn nhịp với hơn 10 thợ may nam nữ. Cảnh bên phố có những buổi
chiều với tia nắng vàng nghiêng nghiêng nhẹ nhàng êm dịu như dòng
đời, khác hẳn với những khẩn trương ngày Tây về ruồng bố như dạo
anh chị tôi chào đời mấy năm trước đó. Những năm sau ngày bầu cử Tổng
Thống Việt Nam đầu tiên quê tôi thật thanh bình êm ả làm sao bên
mái gia đình thân thương. Bỗng một hôm chủ phố từ Sàigòn về, vì cần
tiền gấp ông lấy lại căn nhà để bán ngay cho người nào có thể trả
bằng tiền mặt. Quá yêu quý căn nhà nhưng không sẳn tiền để chồng
mua, gia đình chúng tôi đành phải dọn xuống Cồn Cỏ, mãi 1 năm sau
mới dọn về căn nhà mới cất ở trước Ấp Đức Nghỉa. Lúc lên 10
tuổi, tôi bắt đầu ghi nhận thêm nhiều kỹ niệm đáng yêu về Phan
Thiết. Tôi nhớ vào khoảng năm 1963 tỉnh Bình Thuận tổ chức diễn
tuồng "Hoàng Hoa Thám", có ca nhạc và cả nhạc cảnh
"Hòn Vọng Phu", để gây quỷ cứu trợ nạn lụt miền Trung. Đây
là một tuồng công phu với sự đóng góp của nhiều người con Bình Thuận.
Trong kịch bản Hoàng Hoa Thám do ông Trần Thiện Hải cha của nhạc sĩ
Trần Thiện Thanh sáng tác, cha tôi đóng vai Đề Thám tức Hoàng Hoa
Thám, phấn đấu chống Pháp trong hoàn cảnh bi thương nhất. Chú Tư Hí,
chủ tiệm hớt tóc trước rạp Moderne, là 1 quái kiệt, chọc cười
nghiêng ngã. Ông thủ vai anh lái dê, với mấy câu than thân trách
phận về tật “dê” cố hữu khiến ai cũng cười lăn. Chú Mai Hiếu là
một tài tử xi-nê bô trai mũi cao, to lớn, đóng vai quan toàn quyền
Pháp, kẽ thù dân tộc. Chú Châu (cảnh sát) đóng vai Trần Quang Ngọc
ngực mang thẻ bài, là kẽ bồi Tây chỉ điểm cho giặc, cùng với các
chú Thạnh, Võ, Tư Kiên, và nhiều diễn viên khác mà đến nay tôi
không thể nào nhớ hết. Cảnh bi hùng nhất là cảnh xử trãm anh hùng
Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí Việt Quốc (VNQDĐ). Để làm chiếc đầu
người, tôi còn nhớ ba tôi dùng 1 quả đu đủ xanh cạo khắc mặt mủi
giống nét người. Giữa ánh đèn sân khấu mờ ảo, chiếc đầu của anh
hùng Nguyễn Thái Học rơi rụng trên đoạn đầu đài, vừa hào hùng vừa
bi thãm không khác nào số mệnh đau thương chung của dân tộc
Việt...Ngoài ra còn có 1 đội vũ công từ Sài Gòn về tham gia. Thuở
đó, bên cạnh trường Tiểu Học Đức Nghiả gần nhà chị Ngô Đình Minh
Khanh có 1 bải cát lún mà chúng tôi thường ra thả diều. Bải cát đó
là nơi tập dợt của đội vũ, vì màn vũ có những cảnh nhảy cao và
nâng người quá đầu, nên có té xuống cát lún thì cũng đở đau... Nhà tôi hầu như lúc nào cũng có
tiếng cười tiếng ca. Có lúc các nghệ sĩ tề tựu quây quần, nguyên
một dàn đờn gồm Kìm, Xến, Tỳ Bà, Guitar, Tranh cùng hòa tấu. Tiếng
đàn đủ loại rượt bắt nhau thoăn thoát, vây lượn giữa tiếng ngân
tiếng ca mùi mẫn của chị Tám, chú Võ, thật là 1 cảnh tượng hạnh
phúc đáng yêu mà tôi không thể nào quên. Chú Năm (em chú Tư Sanh
chích thuốc) từ Sài Gòn về, là một tay đờn guitar điệu nghệ vững
vàng, vừa đệm đờn vừa nhịp tiếng song lang các bài Sương Chiều Tú Anh
thật mùi, với các âm hưỡng đầy tình người. Những dịp đó, người qua
đường tụ tập thật đông trước nhà tôi ở đường Phan Đình Phùng, với
hàng rào hai bên cổng phủ đầy hoa hoàng anh vàng thắm, để vui lây
trong cuộc say mê của nhóm nghệ sĩ trước sân nhà tôi. Trong những
cuộc cầm ca mê hoặc đó, các giọng hát nam nữ tranh đua nhau trổ tài
giửa không khí hào hứng khích lệ của các nghệ sĩ đánh đàn, vẽ nên
hình ảnh sinh hoạt văn nghệ tiềm tàng của người dân Bình Thuận... Tôi, một cậu bé, chỉ biết mang
giử những hình ảnh thân thương đó theo cạnh cuộc đời không bao giờ
tưởng tượng được sẽ có dịp bước ra sân khấu để sống lại những hình
ảnh dấu yêu ấy mà các cha chú đã đi qua. Từ bé tôi chỉ chạy loáng
xoáng trong nhà, không bao giờ biết ca biết hát. Vào năm 13 tuổi, ba
tôi dạy đánh đờn Xến, tôi chỉ học duy nhất 1 bài Xang Xừ Líu (liu liu
liu ú sáng liu, liu xừ liu ú liu xừ...) rồi từ đó chỉ biết nghe mà
không bao giờ trực tiếp tham dự. Trong khi các chị và em tôi đều biết
ca các bài bản Nam lẫn Bắc, tôi chỉ biết vùi đầu vào các sách toán
và triết, đêm đêm cùng với các bạn thân Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn
Trung Quang hút thuốc lá trước nhà Hùng (đối diện hãng nước đá
Huỳnh Đức), giữa bầu trời đen với những sao lấp lánh, bàn say mê về
Jean Paul Sartre, André Maulroix, André Gide, Francoise Sagan...ru hồn theo
văn của Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ và thơ của Nguyễn Đình Toàn,
Xuân Diệu, Nguyên Sa... Kỷ niệm về người cha yêu dấu được
hằn lên sâu đậm nhất vào những lúc mình không ngờ được. Thuở tôi
nhận chức vụ Engineering Director cho hảng BEI tại Little Rock, Arkansas,
tôi mua 1 căn nhà xinh 2 tầng trong một khu yên tỉnh. Có điều khu nhà
này cách không xa 1tuyến đường xe lửa thường xuyên hụ còi đến đi
vào quảng giữa khuya. Tiếng còi xe lửa huyền hoặc đó lôi kéo về
trong tôi không biết bao nhiêu là thương nhớ về Ba, vì dạo còn nhỏ
được cưng chiều, hầu như không chuyến đi Sài Gòn nào mà Ba tôi không
dắt tôi theo. Nhớ làm sao những chuyến xe đêm, tàu ngừng tại mấy
chặng, tôi được ăn cháo gà, được nghe tiếng xe rốc rách chạy lặng
lờ xuyên đêm đen, và cuối cùng ngừng hẳn tại ga Sài Gòn ngay trước
chợ Bến Thành, huyên náo nhộn nhịp. Tôi có cảm tưởng như mình đang
được trải qua các chuyến phiêu lưu kỳ thú như Sinh Bá trong chuyện
thần thoại 1001 Đêm của vương quốc Ba Tư... Tôi viết bài thơ trong nỗi nhớ ràn
rụa về Ba... Thương chuyến cùng Ba xe lửa khuya Con vẫn cùng Ba những quảng đường Con nhớ Ba thường dẩn xem phim Chuyện xử thế nhân, Tam Quốc Chí Giọng ấm lời ca thấm hồn ai Ngày đổ Tú Tài con nhớ sâu Chuyện của Ba mà như của ai Con cả chết đi ngày nhỏ dại Êm ấm hoà bình tạm ghé chân Bơi lội trong tình thương thiết tha Rồi cảnh quê mình thêm khổ đau Khuya nay thức giấc tiếng đoàn xe (Đêm Nghe Đoàn Xe Lửa) Vào tháng 4 năm 2002, Tôi và chị
Hoàng Nam cùng qua Philadelphia thăm Ba. Trí nhớ của Ba như đã cạn hẳn.
Người cha yêu dấu với ngón đàn du dương và làn hơi truyền cảm giờ
chỉ là một người lớn tuổi gầy gò, tóc bạc sương, ngồi xe lăn với
cặp mắt nhìn thờ thẩn, xa xôi vào hư vô. Ba chỉ cười nhìn các con
nhưng nét tinh anh sắc bén của tầm mắt không còn nữa. Ba như ngọn
đèn leo lét trước gió. Chị Nam khóc nhoà và viết bài thơ sau đây lúc
gặp lại người cha thương yêu: Nụ Cười Của Cha Mái tóc bạc sương, thân hình hạt
dẻ Viện dưỡng lão chiều hoang buồn
lẻ tẻ “Con thương Ba...” “Ừ, ba thương con
lắm” Nụ cười cha xinh như hoa hàm tiếu Xác chưa đi, nhưng hồn đà tháp
cánh Nguyễn Thị Hoàng Nam Sáng sớm hôm nay chuông điện
thoại reo lúc 4 giờ sáng. Chị tôi báo tin người cha yêu quý của
chúng con đã trút hơi thở cuối cùng. Dĩ vãng trôi về lũ lụt trong
hồn người con. Còn đâu nữa, bóng dáng yêu thương xưa? Con khấn nguyện
cho Cha an vui nơi cõi vĩnh hằng……..
20-5-2003 |