|| Trang Thơ Văn 20 || Nguyễn Kim Anh || Nguyễn Ánh || Huỳnh Văn Bảnh || Lê Văn Châu || Huỳnh Kim Chiến || Nguyễn Văn Chín || Lê Kim Cúc || Tôn Thất Cường || Hoàng Thế Dân || Nguyễn Xuân Dục || Mai Tất Đắc || Nguyễn Văn Đệ || Nguyễn Ðình Hoàng || Nguyễn Văn Hùng || Lưu Ðức Huyến || Trần Ken || Đặng Ngọc Khảm || Phan Ngọc Long || Vũ Hửu Lý || Ðinh Lê Thu Nguyệt || Ninh Kim Phượng || Trương Đình Quí || Nguyễn Văn Sáng || Ngô Thiện Tánh || Cung Vĩnh Thành || Lê Văn Thạnh || Nguyễn Văn Thước || Minh Trang || Trần Đình Triết || Trang Thanh Trúc || Dương Thiệu Tùng || Ðặng Tuyến || Nguyễn Văn Vang || Nguyễn Phúc Vĩnh Viễn ||


chuyến ra khơi đầu tiên
( Ghi lại những kỷ-niệm vui đầy ắp tình người trong chuyến đi )

              Vào ngày 18 tháng 7 năm 1970, các sinh viên sĩ quan hải quân Khóa 20 thuộc Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang tức khoá Ðệ Nhị Hổ Cáp ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Hơn một phần tư số sĩ quan vừa mới ra trường đó, gồm bảy mươi người, được chia ra từng toán. Mỗi toán khoảng năm người được đi thực tập trên các quân hạm thuộc Ðệ Thất Hạm Đội Mỹ hoạt động tại vùng Thái Bình Dương. Thời gian thực tập khoảng mười tuần lễ. Chúng tôi được đưa về Sài Gòn làm thủ tục xuất cảnh, khám sức khoẻ tổng quát và may sắm quần áo mới đủ loại để mặc tươm tất trong chuyến đi. Chúng tôi được lãnh trước hai tháng lương để đổi ra đô la Mỹ. Lúc bấy giờ hối suất chính thức là: 45 đồng Việt Nam đổi được 1 đô la Mỹ, nếu tôi nhớ không lầm. Chúng tôi được phép đổi một số tiền ấn định nào đó nhưng tôi không còn nhớ là bao nhiêu. Ngoài ra, tôi được cháu của anh bạn Tô Nhựt Quang cho mượn thêm 100 đô la Mỹ. Trong thời gian thực tập đó, chúng tôi được chính phủ Mỹ đài thọ tiền ăn, dường như mỗi người mỗi ngày được đài thọ 4 đô la Mỹ để chi cho buổi ăn sáng 1 đô la, hai buổi ăn trưa và chiều mỗi bữa 1,50 đô la. Ăn bữa nào tính tiền bữa đó. Tới kỳ lương chúng tôi được phát tiền cho tổng số tiền chính phủ Mỹ chi cho những bữa mà chúng tôi không ghi tên ăn trong suốt kỳ lương đó.
Toán chúng tôi gồm có năm người. Chúng tôi cùng lên đường trên chuyến phi cơ quân sự Mỹ cất cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi ghé qua một phi cảng của căn cứ không quân Mỹ, dường như ở Nhật, sau khoảng tám giờ bay thì phải. Rồi chúng tôi lại được chuyển máy bay để đến phi cảng Clark, thuộc căn cứ không quân Mỹ ở Phi Luật Tân. Sau cùng, chúng tôi đuợc đưa đến căn cứ hải quân Mỹ tại Phi Luật Tân - Subic Bay, cách thủ đô Manila khoảng 165 cây số về phía tây.
Sau khi làm xong mọi thủ tục cần thiết, chúng tôi được hướng dẫn đến dương vận hạm USS 1167, cũng có thể là USS 1169. Tôi không nhớ rõ số Tàu. Tàu đang cặp bến tại đó. Mỗi anh em chúng tôi đều có một sĩ quan cơ hữu Mỹ bảo trợ. Thiếu úy John Clark là viên sĩ quan bảo trợ của tôi. Suốt thời gian thực tập, John hướng dẫn tôi mọi sinh hoạt trên tàu.
Ngay ngày đầu tiên tại Subic, tôi gặp một sĩ quan hải quân phe ta đang chờ nhận tàu do hải quân Mỹ chuyển giao cho hải quân Việt Nam. Anh ta bảo có một sĩ quan Việt Nam đã bị bọn du đảng Phi dí dao nơi cầu tiêu công cộng để moi của. Anh ta khuyên chúng tôi hãy cẩn thận khi đi ra phố. Vì vậy chúng tôi cố gắng giữ gìn khi "đi bờ" - một từ ngữ mà anh em hải quân quen dùng cho việc rời tàu đi bát phố vào những ngày trong tuần sau giờ làm việc hay vào ngày cuối tuần, khi không có phiên trực. Sau vài ngày, chúng tôi bắt đầu ngán món ăn Mỹ, và đâm ra thèm món ăn ta có mùi vị nêm nếm cố hữu, nhất là mùi vị nước mắm và mùi tỏi đã quen. Khi ra phố vào buổi chiều tối đầu tiên ở Subic. Chúng tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy trên bàn ăn của quán ăn có để nước mắm, vì lúc đó chúng tôi tưởng rằng chỉ có Việt Nam mới có nước mắm mà thôi. Thật là bé cái lầm! Sau này khi ra nước ngoài chúng ta mới vỡ lẽ rằng, Thái Lan và Phi Luật Tân cũng có sản xuất nước mắm. Khi khám phá ra việc này chúng tôi mừng húm như tìm được vàng vậy. Tiện đây tôi muốn trình bày một sự thật rằng: Trầu cau không phải chỉ có ở xứ mình đâu nhé; dường như trầu cau có ở khắp các nước khác quanh vùng Ðông Nam Á đấy. Ở Ðài Loan cũng có trầu cau, vì tôi đã trông thấy tận mắt. Vào mùa thu năm 1988 khi tôi có dịp ghé qua Ðài Loan chơi, tôi có thấy người dân bản xứ bày bán trầu cau cuộn sẵn từng lọn nhỏ ở vỉa hè, giống như người mình bày bán thuốc điếu ngoài vỉa hè thuở xưa ở Việt-nam vậy.
Từ khi biết ngoài quán có những món ăn bình dân hợp khẩu vị, và biết được rằng nếu chúng tôi không ghi tên ăn cơm trên tàu, chúng tôi được hoàn tiền cho bữa ăn mà chúng tôi được đài thọ, chúng tôi thường tận dụng những buổi chiều không có phiên trực ra ngoài phố ăn cơm chiều thay vì ăn trên tàu. Tôi thấy ngoài quán cơm gần căn cứ Subic có món ăn giống như món gà kho của mình. Ngày đầu tiên ăn thử món ăn đó tôi thấy rất ngon miệng. Tôi ghi chép tên gọi để học thuộc nhưng rất tiếc hiện nay tôi không còn nhớ tên gọi món đó. Dường như món "gà kho Phi" này có mùi nước mắm thì phải. Trong thời gian tàu còn cặp bến tại căn cứ Subic, tôi ăn món này vài lần vì nó quá gần gũi với mùi nêm nếm của ta. Lúc đó, tôi mới thắm thía câu nói "xa quê hương nhớ mẹ hiền"; cũng có người bảo: "xa quê hương nhớ vợ hiền". Tôi nghĩ thầm, có lẽ đó là câu nói thốt ra từ cửa miệng của những chàng trai lữ thứ từng có kinh nghiệm xa nhà lâu ngày, thèm ăn những món ăn hợp khẩu vị quen thuộc mà mẹ hiền hay vợ hiền của mình thường hay nấu cho mình ăn. Lúc đó tôi cảm thấy được ăn lại món ăn quen miệng sau mấy ngày xa quê hương sao ngon quá! Bấy giờ tôi cũng đâm ra nhớ mẹ tôi quá đỗi. Các bạn nào từng ở vào hoàn cảnh như tôi ắt tưởng tượng được ngay cái ngon ngọt, cái khoái khẩu của tôi lúc đó. Với các bạn chưa trải qua thì vốn liếng ngôn ngữ hạn hẹp của tôi không làm sao khiến cho các bạn cảm nhận được cái thú tuyệt vời đó được. Thứ đồ ăn mình đang thèm, dù đạm bạc, xoàng xĩnh đến đâu đi chăng nữa, bao giờ cũng là món ăn ngon tuyệt "cú mèo"! Có phải vậy không các bạn?
Tôi vốn là người có nước da ngăm ngăm, chắc có lẽ trong người tôi có pha chút máu Cam-pu-chia truyền từ thuở bà cố ngoại chăng? Dường như tôi có nghe người cậu bà con của tôi bảo rằng bà cố ngọai của tôi là người Miên thì phải. Cũng có thể vì vậy mà từ khi định cư ở Úc Ðại Lợi đến nay gần hai mươi hai năm, tôi vẫn thường hay hân hạnh được anh em người Phi Luật Tân chào hỏi khi họ gặp tôi ở ngoài đường phố. Có lẽ họ tưởng lầm tôi là đồng bào của họ chăng? Tôi nghĩ chính lý do này, tôi đã được hưởng trọn một ngày Chủ Nhật đi rong chơi ngoài phố ở một thị trấn gần căn cứ Subic thỏa thích mà chẳng hề hấn gì hết; chẳng có một người dân địa phương nào nhận diện ra tôi là người nước ngoài.
Viết đến đây tôi lại chạnh nhớ đến thầy Phù Quốc Phong, Thầy Phong từng dạy tôi trước đây khi tôi học tại Trường Tiểu Học Trọng Ni, ở Rạch-giá.Trước khi đi chuyến thực tập này tôi đã nhờ thầy Phong ký tên vào đơn bảo lãnh cho tôi. Trong đơn, thầy cam kết rằng thầy sẽ chịu trách nhiệm nếu tôi trốn ở lại nước ngoài. Thầy đồng ý ngay khi tôi ngỏ lời nhờ vả mà không có một chút lưỡng lự hay đắn đo gì cả. Thưa thầy, trò rất nhớ ơn thầy; trò mong mỏi thầy đọc được bài viết này để thầy trò mình có dịp gặp lại nhau. Trò đã dò hỏi tin tức về thầy qua một số người có gốc gác ở Phú Quốc nhưng trò vẫn chưa được biết tin tức về thầy.Gần đây qua một người bạn, được biết thầy Phong hiện định cư ở California nhưng không rõ địa chỉ của thầy.
Xin các bạn hãy thông cảm cho cái tính hay "cà kê dê ngỗng" của tôi nhé. Tôi xin trở lại vấn đề chính đây.
Vào ngày Chủ Nhật đi rong hôm ấy, tôi tiếc thầm rằng: Tôi không biết nói thông thạo tiếng Tagalo. Nếu được vậy, chắc tôi được chu du xa hơn bằng loại "xe lam Phi". Đó là loại xe Jeep có ghế dành cho hành khách ngồi tựa như "xe lam" ở Việt Nam xưa kia, bên hông xe được sơn vẽ nhiều màu sặc sỡ. Trước hôm ấy tôi có dọ hỏi ý kiến một người Phi gốc Hoa có tiệm buôn gần căn cứ Subic về dự định thực hiện chuyến đi Manila cuối tuần duy nhất ở Phi của tôi. Nhưng anh bạn này khuyên tôi chớ có đi, vì đường đi đến Manila xa xôi, lúc đó lại lầy lội, hiểm trở, hậu quả của một cơn bão lụt vừa xảy ra tại các vùng lân cận. Anh lại bảo tôi rằng, tôi là người nước ngoài không biết tiếng địa phương, trên đường đi dễ gặp chuyện bất trắc. Tôi thất vọng vì mộng viễn du Manila không thành. Ðành phải lủi thủi đi dạo phố chợ vào ngày cuối tuần vừa kể.
              Sau vài ngày chúng tôi hiên diện ở Subic, có lẽ khoảng gần một tuần lễ, chiếc dương vận hạm chúng tôi được phái tới thực tập tách bến ra khơi, hướng về bến chính là Yokosuka trên đảo Honshu, Nhật Bản. Tàu rời vịnh Subic không bao lâu, chúng tôi được thông báo là tàu đang sửa soạn làm nghi lễ vượt xích đạo, trước khi tàu rẽ về hướng tây bắc thì phải. Tất cả thủy thủ đoàn cùng làm lễ khá long trọng. Trong chuyến hải hành này tàu vượt luồng sóng lớn nên tàu chòng chành; độ lắc lư của con tàu khá khác thường. Dường như có bạn nào đó bảo là tàu gặp sóng ngang. Bọn chúng tôi đa số đều say sóng, kẻ ít người nhiều. Dường như tôi đã bị ói mửa vài lần. Vì thấy càng nằm lâu trên giường càng dễ say sóng nên tôi rời phòng tìm nơi thoáng khí để đứng. Tôi thấy dễ chịu khi dứng ở buồng lái hay đài chỉ huy. Ða số các bạn khác lại thích nằm ngủ vùi khi không có phiên trực. Vào một buổi trưa hôm đó, trước giờ ăn trưa, tôi bớt say sóng sau cơn mửa trong nhà cầu.Tôi mon men vào phòng ăn sĩ quan để tìm trái cây ăn. Tôi đọc thực đơn, biết được bữa ăn trưa hôm đó có món thịt thỏ. Gần tới giờ ăn, tôi trở về phòng ngủ dành riêng cho cả bọn chúng tôi, báo tin cho các bạn còn đang ngủ vùi biết tin đó. Ba bạn còn lại trong phòng ngủ, kẻ trước người sau, đều lòm còm ngồi dậy để sửa soạn đi ăn. Tôi thấy dáng vẻ các bạn hãy còn lừ đừ, ngáy ngủ. Lúc đó dường như ban M.H. còn đang lên phiên trên đài chỉ huy. Sau khi vuốt lại quần áo và sửa soạn lại dung nhan tương đối nhanh, bốn chàng sĩ quan hải quân phe ta hăng hái tiến bước vào phòng ăn để ăn món ăn lạ mà chúng tôi chưa từng ăn qua. Tôi thầm nghĩ, nếu không có tin báo món ăn lạ đó thì chắc các bạn ấy thà ngủ vùi còn hơn là bước ra khỏi giường để đi ăn. Nếu các bạn đã từng say sóng ắt hẳn thấu hiểu tâm trạng của chúng tôi lúc đó. Ít có ai đang bị say sóng mà muốn ăn lắm, nhất là ăn những món ăn mình đã từng ngán ngược lâu rồi. Rốt cuộc, khi ăn xong mới biết rằng mình hố to. Thịt thỏ chẳng qua chỉ là món ăn lạt lẽo vô cùng! Nó thua xa thịt chuột ở miền đồng ruộng quê nhà các bạn ạ! Tôi từng được thưởng thức món chuột đồng tại khu đất hoang gần rừng tràm thuộc vùng U Minh Thượng, thuộc tỉnh Kiên Giang - nơi giam giữ hàng trăm tên tù "cải tạo". Bọn tù chúng tôi phải lao động cực nhọc khai hoang. Sau thời gian dài đốn đủ số lượng cây tràm đủ cỡ dùng làm cột, kèo cần thiết cho bọn quản giáo kinh tài, chúng tôi được chuyển ra vùng đất hoang ven bờ sông Kinh Làng Thứ Bảy, để đào ao đìa, đắp nền nhà làm trang trại, đào kinh thông nước phèn, rồi một tuần sáu ngày phải phát những bụi sậy và cỏ hoang để biến vùng đất đó thành nông trường trồng lúa. Lúc đó, tôi thấy món thịt chuột đồng nướng ăn ngon quá các bạn ạ! Nó ngon không thể diễn tả được. Nó quá ngon có lẽ vì cơ thể của tôi đã trải qua gần hai năm tiêu hao quá nhiều nhiệt lượng mà ăn uống lại thiếu thốn chăng? Bạn nào đã nếm mùi tù "cải tạo" ắt sẽ tưởng tượng ra được mùi vị ngon ngọt béo bùi của nó. Viết đến đây tôi nhớ đến thuở ban đầu khi đến định cư tại Úc Ðại Lợi, tôi có thử ăn món thịt thỏ lần nữa để xem nó có khác với mùi vị thịt thỏ đông lạnh mà tôi đã từng ăn qua trên tàu Mỹ hay không ? Nhưng tôi thấy thịt thỏ tươi cũng chả ngon chút nào cả. Sau đó tôi mới biết sự thật là: Ít có ai chịu ăn thịt thỏ. Rõ là bé cái lầm! Xin đóng dấu ngoặc lại.
Thế rồi tàu đi vào lãnh hải Nhật Bản sau những ngày vượt đại dương. Khi tàu tiến vào cửa vịnh trước khi vào bến Yokosuka (Hoành Tu Hạ), mặt biển phẳng lặng nên tàu tiến rất êm, ai nấy đều tỏ ra phơi phới, phấn khởi leo lên sân tàu ngắm cảnh. Tất cả thủy thủ đoàn đều mặc lễ phục, sĩ quan mặc bộ đồ "vét" đen, giầy đen, áo sơ mi trắng cổ thắt cà vạt, dường như màu đen. Tất cả đứng sắp hàng chỉnh tề để làm lễ chào khi tàu đi vào cửa khẩu Yokosuka.
Viết đến đây, tôi nhớ đến Q.A. - cô bạn học cùng trường thuở niên thiếu. Trước khi đi cô ấy có gởi tôi một băng nhạc cát-sét để tôi chuyển cho người chị bà con của cô ấy ở Ðài Loan có kèm theo bức thư để giới thiệu tôi với chị ấy, nếu tôi có dịp ghé qua đó. Dường như cô Q.A. muốn qua cuốn băng và bức thư để người chị họ cô ta tiếp đãi tôi chu đáo hơn. Nhưng tiếc rằng tàu tôi đi thực tập chỉ hải hành quanh quẩn các bến cảng Nhật Bản mà thôi. Nhờ cuộn băng cát-sét đó chúng tôi được nghe nhạc quê hương khi tàu lênh đênh ngoài đại dương. Băng nhạc đó có chủ đề là mùa thu. Chúng tôi cũng ra khơi vào mùa thu. Từ đó cho đến nay, những bản nhạc có chủ đề về mùa thu là những bản nhạc gợi nhớ nhiều kỷ niệm đẹp trong cõi lòng tôi. Có lẽ chúng tôi nghe đi nghe lại cuốn băng đó quá nhiều lần, cũng có thể máy cát-sét chúng tôi dùng không được tốt. Vì vậy, khi trở về Việt Nam thì băng nhạc đó đã hỏng mất rồi. Tôi phải mua cuốn băng khác để trả lại cho Q.A. Sẳn đây tôi có lời cám ơn Q.A. cho những gì Q.A. đã dành cho tôi.
Yokosuka là một trong hai căn cứ hải quân Mỹ tại Nhật. Yokosuka nằm trên đảo chính của Nhật - đảo Honshu, gần Yokohama, cách Tokyo khoảng hai tới ba tiếng đồng hồ bằng đường xe lửa điện. Ở Nhật, xe lửa điện là phương tiện chuyên chở phổ biến và tiện lợi nhất. Ða số người Nhật di chuyển bằng phương tiện này. Lúc đó dường như có hai loại vé xe. Loại xe tốc hành chỉ ghé những ga chính, giá vé đắc hơn. Loại xe thường thì ghé từng ga một, giá vé rẻ hơn nhiều. Cả hai loại xe này đều ghé lại các ga chính, như Kamakura, Yokoham chẳng hạn, trên đoạn đường từ Yokosuka đến Tokyo. Trên đoạn đường đó hầu như không có một khoảnh đất nào bị bỏ hoang. Nhà cửa tiếp nối với ruộng vườn, hảng xưởng hay cao ốc. Nhà cửa dân cư thường xây cất trên đồi hoặc ven đồi; họ thường cất san sát nhau. Yokohama (Hoành Tân), thương cảng chính trên đất Nhật, là cửa ngõ của thủ đô Tokyo (Đông Kinh) của nước Nhật. Các thương thuyền chuyên chở hàng đến Tokyo hoặc đi từ Tokyo bằng đường biển phải qua hải cảng này. Ở Yokohama có khu phố người Hoa (China Town), một di tích của người Hoa hiện diện lâu đời nhất trên đất Nhật. Tôi có ghé qua khu phố này để viếng cảnh và ăn uống món ăn nấu theo lối Hoa, người Nhật goi là Chuka Ryori (Trung Hoa liệu lý). Tôi cũng có ghé thăm Kamakura (Khiêm Thương), nơi có nhiều cảnh xưa tích cũ. Kamakura là một trong những cố đô của Nhật, có những đền đài, chùa chiền đồ sộ, miếu thần xã tức là đền thờ thần đạo, từa tựa như đình làng thờ thần hoàng ở Việt Nam.
Tiện đây tôi cũng xin giới-thiệu thêm một căn cứ hải quân khác của Mỹ trên đất Nhật là căn cứ Sasebo (Tá Thế Bảo). Sasebo nằm về hướng tây đảo Kyushu (Cửu Châu), thuộc huyện Nagasaki (Trường Kỳ), cách thành-phố Nagasaki khá gần. Tôi may mắn được viếng Sasebo trong chuyến đi thực tập trên cơ xưởng hạm AR 8 thuộc Ðệ Thật Hạm Đội Mỹ vào mùa thu, hai năm sau đó, tức năm 1972, khoảng 14 tuần lễ. Nếu có dịp tôi sẽ kể lại chuyến đi này.
              Trong chuyến thực tập lần đầu, tàu tôi đi ghé Yokosuka nhiều lần để lấy hàng rồi chuyển đi các bến khác. Thường tàu về bến chính này để lấy hàng tiếp liệu để chuyển đi các nơi khác. Đó là dịp cho thuỷ thủ đoàn nghỉ xả hơi. Vì vậy chúng tôi có nhiêu dịp đi bờ hơn. Riêng tôi thì vào những ngày không phải ở lại trực tàu vào giờ nghỉ, tôi luôn tranh thủ từng giây từng phút. Hết giờ làm việc là tôi vọt đi ngay để đi ngoạn cảnh cho thỏa thích. Đó cũng là dịp để tôi ra ngoài phố tìm món ăn hợp khẩu vị dể ăn. Vừa đỡ ngán lại vừa đỡ tốn tiền. Để tiết kiệm tối đa, tôi thường đi bờ bằng cách lội bộ hoặc đi xe buýt chớ chưa hề đi bằng xe tắc xi lần nào, dù khoảng cách khá xa. Tôi thường hay đi bờ tới giờ ngủ của tôi khoảng trước 10 giờ đêm. Còn vào ngày cuối tuần thì tôi luôn luôn đi rong xa và ngủ ngoài vào đêm Thứ Bảy. "Ði bờ" là dịp tôi được ăn trở bữa, thưởng thức các món ăn lạ miệng của Nhật, chẳng hạn như món tempura - món tôm hay đồ biển chiên lăn bột. Riêng hai món sukiyaki và món teppan yaki thì chưa nếm thử lúc đó, vì lính nghèo túi tiền eo hẹp. Vào ban đêm tôi thường hay ăn thử các món ăn chơi vỉa hè. Món tôi nhớ nhất là “yaki tori”, món gà xắt miếng nhỏ, xỏ từng xâu nướng than, tỏa mùi thơm ngào ngạt vì có phết nước sốt, khá ngon miệng. Đúng ra thì không món ăn nào bằng món người mình làm.vì thiếu gia vị quen thuộc. Nhưng vì lúc đó chúng tôi không có dịp ăn món Á Đông trên tàu nên mới thấy quá ngon. Ở Nhật có món bánh canh bột loc đủ loại, tiếng Nhật gọi là "udon". Món này khá phổ biến ở Nhất. Giới bình dân Nhật thường hay ăn món này vì khỏi phải chờ đợi lâu, Ăn một tô vừa đủ no bụng, giá lại rẻ. Món “udon” có nhiều giá khác nhau, tùy theo món đó có nhiều tôm thịt hay không. Phía trước cửa kiếng các tiệm ăn có trưng bày những món đó bằng plastic nhưng trông thật giống món ăn thật. Khi nào muốn vừa đủ no, muốn nhanh và không muốn tốn kém thì tôi thường ghé quán ăn món này. Tôi cũng đã len lõi vào chợ của người Nhật để quan sát nếp sinh hoạt của họ và kiếm món ăn quen thuộc trong chợ. Tình cờ tôi được ăn món cơm bình dân của họ ở trong chợ. Buổi ăn đó tôi ăn cơm với món giá xào, món cá chiên có kèm thêm chén canh miso (có chất đậu hũ). Món này có mùi hơi tanh. Cơm của họ khá dẻo. Bữa cơm hôm đó, tôi ăn thật đã thèm các bạn ạ! Khi lưu lại trên tàu Mỹ khá lâu, để thay đổi khẩu vị vào buổi ăn sáng, vì tôi quá ngán món trứng thường xuyên được ăn vào buổi sáng trên tàu, mà lại không có đủ thì giờ đi ra ngoài phố ăn sáng. Tôi bèn ra phố mua mì gói đủ loại hương vị trữ sẵn. Khi nào đọc thực đơn báo trước không thấy có món trứng chiên có trộn cà chua theo lối Tây Ban Nha mà tôi chưa ngán vì ít khi được ăn, thì tôi không ghi tên ăn sáng hôm đó. Sáng sớm trước giờ ăn sáng, tôi vào phòng ăn sĩ quan đun nước sôi trụng mì gói có kèm một quả trứng gà trộn vào. Món ăn sáng dã chiến này tuy đơn sơ nhưng lúc đó tôi lại thấy sao nó ngon miệng quá đỗi! Khi đi ăn ngoài phố tôi cũng thường hay vào quán ăn mà người Nhật goi là chuka-ryori (Trung-hoa liệu lý, Chinese cuisine). Món ăn ở các quán này được nấu theo lối người Hoa, nhưng có hương vị Nhật Bản hơn là mùi vị Trung Hoa. Tôi thường hay ăn món mì xào, món bánh xếp hấp hoặc chiên. Một món ăn như vậy khá mắc so với món bánh canh nhiều. Một món ăn cho một người tốn khoảng từ 180 yen đến 220 yen, khoảng trên 50 xu Mỹ theo hối suất đương thời Hối suất lúc đó một đô la Mỹ đổi ra được 360 yen. Tuy nhiên, so với tiền bị trừ cho một buổi ăn trưa hay chiều trên tàu thì tiết kiệm được gần một đô la Mỹ. Nhờ vậy tôi có thêm tiền tiêu khi đi chơi xa cuối tuần. Tiền mang theo thì tôi để dành mua sắm máy cat-set, đầu máy thâu băng, v.v. ở P.X trên tàu hay tại căn cứ.Tôi cũng ăn được một loại bánh mà tôi quên tiếng Nhật gọi tên gì nhưng tôi nhớ dường như họ viết với dạng Kanji (Hán-tự, dịch theo âm Hán Việt là hảo thiêu, nghĩa là bánh nướng ngon miệng chăng?). Món đó là loại bánh đổ khuôn đặt trên lò, hao hao giống lối đổ bánh khọt, nhưng cỡ bánh nhỏ hơn nhiều. Tôi cũng thường hay mua trái lê nashi loại da xanh lợt ăn khi thấy khát nước trong lúc đi dạo phố, vì loại lê này có nhiều nước, dòn lại có vị ngọt thanh. Riêng món chuối thì tôi thấy thèm nhưng ít khi mua ăn, vì giá quá mắc so với trái lê nashi. Lúc tàu trở lại bến Yosouka lần thư nhì. Lúc đó là vào đầu thu nên tôi thấy tại một tiệm bán trái cây có bày bán trái hồng tươi mà tôi chưa từng thấy qua trước đó. Mặc dầu giá hồng lúc đó cũng khá mắc, tôi "bấm bụng" mua một trái ăn thử Trái hồng này là loại hồng chát, chưa chín tới, vỏ vừa chuyển từ màu xanh ra màu vàng Mua xong tôi liền ăn ngay. Dường như tôi vừa ăn được một hay hai miếng đầu tiên là tôi bị mắc nghẹn, có lẽ vì tôi nuốt vội. Trái hồng chưa chín thì lại có chất ta-nanh, hơi chát, không thấy ngon, thua xa loại hồng giòn sản xuất tại vùng phía bắc tiểu bang Qeensland, Úc Châu mấy năm gần đây.Tôi hơi hoảng sợ và tự trách thầm sao mình nuốt quá vội vàng. May thay, không bao lâu sau đó tôi hết nghẹn. Thật hú hồn! Tôi đành vứt phần còn lại vào thùng rác bên đường. Viết đến đây tôi lại thầm nghĩ, mình được định cư ở xứ Úc này thật là thần tiên về phương diện ăn uống nhất là trái cây và rau cải mà tôi thích. Ở dây có đủ thứ trái cây, mùa nào thức ấy. Mấy năm gần đây, trái cây nhiệt đới hầu như đều có bán ở đây, vừa ngon lại vừa rẻ so với các nơi khác, nhất là so với đồng tiền kiếm được ở đây. Chỉ có món vú sữa và trái sa-bô-chê và măng cut còn tương đối mắc không được tươi ngon như trái hồng giòn, mảng cầu ta, chôm chôm hay xoài.
              Như người xưa thường nói, không gì vui sướng bằng “tha hương ngộ cố-tri." Chẳng bao lâu sau ngày đặt chân tại căn cứ Yokosuka trên đất Nhật, tôi bắt liên lạc với người bạn học từ thuở trung học đệ nhứt cấp là anh bạn Hàn Đức Quang. Trong thời gian tôi chuẩn bị đi thực tập, qua một người bạn học tên Phước tôi có tìm gặp Quang ở Sài Gòn. Lúc đó Quang về Việt Nam thăm thân nhân vào dịp hè năm đó. Tôi có xin diện thoại và địa chỉ của Quang ở Nhật. Từ đó trở đi khi tàu về bến Yokosuka tôi thường hay lên Tokyo vào chiều Thứ Bảy, ngủ qua đêm ở phòng trọ của Quang ở khu Shibuya (Sáp Cốc). Tiện đây tôi cũng xin phép giới thiệu Quang cho trọn tình bè bạn, cũng nhân dịp này bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Quang. Quang đã dành thời giờ quý báu cuối tuần của anh cho việc hướng dẫn tôi đi đây đi đó. Nhờ vậy tôi đước viếng được nhiều cảnh đáng ngắm khắp thành phố Tokyo. Chẳng hạn như vườn Đông Ngự Uyển dành cho du khác viếng cảnh ngoài vòng thành hoàng cung Nhật, công viên Ueno (Thượng Dã), tháp Tokyo, khu bán đồ điện tử Akihabara (Thu Diệp Nguyên) , v.v...Vào dịp mừng lễ Quốc Khách 26-10-1970, Quang đề nghị tôi hẹn các bạn cùng chuyến đi thực tập với tôi đến gặp Quang để cùng đi dự buổi tiệc do toà dại sứ Việt Nam tại Tokyo khoản đãi sinh viên du học tại Nhật. Đại sứ Việt Nam tại Nhật lúc đó là ông Nguyễn Triệu Đan. Ông Đan cùng toàn thể gia đình hiện nay đang định cư tại Melbourne, Úc Châu. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong chuyến đi thực tập này, chúng tôi được ăn món ăn Việt Nam trong đó có món chả giò và có cả nước mắm mà chúng tôi nhớ nhung, sau khoảng gần hai tháng rời quê hương. Vào buổi tiệc đó, ông Đan có mang chai nước mắm ra khoe với khách tới dự tiệc rằng ông vừa nhận được từ Việt Nam gởi qua. Điều đó chứng tỏ rằng những người xa quê hương đều coi món nước mắm là món ăn trân quý. Lúc bấy giờ Quang đang học cao học chuyên ngành Tài chánh tại đại học Keio, một đại-học tư của Nhật tại Tokyo; đại học đó đứng hàng thứ nhì sau đại học tư Waseda (Tảo Đạo Điền). Các bạn cùng toán có ai còn nhớ bạn Quang không nhỉ? Quang hiện nay đang định cư tại tiểu bang California. Quang có thói quen đi ngủ trễ và thức dậy muộn. Tôi thì ngược lại, có thói quen đi ngủ sớm, thường khoảng 10 giờ đêm, và luôn luôn thức dậy sớm, thường khoảng 6 giờ sáng. Tôi thầm tiếc không được rời nhà trọ Quang sớm đế có nhiều thì giờ đi ngoạn cảnh trong ngày Chủ Nhật thoả thích như lòng mong muốn. Để tận dụng thời giờ trống trải vào các buổi sáng Chủ Nhật trong lúc Quang còn đang ngon giấc, tôi rón rén rời phòng trọ, sau khi làm xong thủ tục vệ sinh, để quan sát nếp sinh hoat của người Nhật gần nhà trọ Quang đang ở. Vườn tược trước nhà của người Nhật tuy nhỏ nhưng lại được chăm sóc gọn ghẽ tươm tất, trông rất đẹp mắt. Dù sao, sự chờ đợi Quang cũng không mất mát lắm. Nhờ vậy tôi có dịp quan sát nếp sống của người dân Nhật.Hơn nữa, nhờ Quang hướng dẫn, tôi đỡ phải mất công, mất thời giờ mò mẫm đọc tài liệu hướng dẫn du lịch và tra tự điển để tìm câu hỏi thăm thích hợp.Tôi khỏi phải "rặn" ra từng câu tiếng Nhật "ăn-đong" học được qua từ điển để hỏi đường đi nước bước đến các nơi muốn viếng. Như các bạn đã từng ghé qua Nhật trước đây đều biết rằng: Đến viếng nước Nhật mà không biết tiếng Nhật thì khó đi đến nơi về đến chốn suôn sẻ. Lúc bấy giờ, du khách ngoại quốc khó gặp được một người Nhật ngoài đường phố có thể giao tiếp, chuyện trò với mình bằng tiếng Anh rành rẽ. Ngay cả như tôi gặp được một sinh viên lúc bấy giờ đang chọn học Anh văn là môn học chính ở đại học mà vẫn không hiểu được rành rẽ ý của anh. Tôi gặp anh ta ở gần khu phố người Hoa, thuộc thành phố Yokohama. Tôi không hiểu rõ ràng ý anh ta muốn nói gì, qua lối nói tiếng Anh ngọng nghịu của anh. May nhờ có bà già người Hoa, gốc Bắc Kinh đang rảo bước gần đó làm thông ngôn, chúng tôi mới hiểu nhau. Nhờ vậy tôi lại có dịp làm quen với bà này và đến thăm bà sau đó khi tôi có dịp ghé qua Yokohama, trên đường từ Tokyo về tàu vào buổi chiều Chủ Nhật. Bà cụ đó họ Hạ, tên Đình Vinh. Bà sinh ra và lớn lên ở Bắc Kinh, Trung Quốc.Chồng bà là người Nhật. Trong thời Nhật xâm chiếm đất Trung Quốc, ông chồng bà có mặt ở đó và nên duyên chồng vợ với bà. Khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, chồng bà đưa bà về sinh sống ở Nhật. Người thân bên chồng chống đối quyết liệt cuộc hôn nhân dị chủng đó; họ tẩy chây, không qua lại với hai ông bà. Tôi có gặp mặt chồng bà. Ông bị bại liệt, có lẽ vì cơn tai biến mạch máu não. Bà cho tôi biết rằng Bộ Xã Hội Nhật có cấp tiền cấp dưỡng cho ông ấy. So với chế độ xã hội Việt nam lúc bấy giờ, tôi thầm nghĩ ông bà sống đở khổ hơn nhiều. Bà thì làm việc lặt văt để có chút ít tiền tiêu xài thêm. Khi tôi ngỏ lời chia tay với bà trước khi trở về Việt Nam. Bà rũ tôi cùng đi với bà tới một tiệm bán thức ăn. Bà mua nhiều gói đồ ăn khô, trong đó có món rong biển và nấm đông cô để tặng tôi. Tôi không chịu nhận. Khi có phép về thăm gia dình trong ở Rạch giá sau đó, tôi được biết những món quà đó đã được bà gởi tới nhà tôi bằng đường bưu điện. Tôi thầm nghĩ phải chi tôi nhân ngay lúc ở Yokohama thì bà đỡ phải tốn kém thêm trong việc gởi quà. Sau đó tôi có liên lạc với bà bằng thơ đôi ba lần, nhưng lần sau cùng thì thơ của tôi bị gởi trả lại. Tôi nghĩ chắc bà đã qua đời. Tiện đây, tôi xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ tới ân tình của bà đã dành cho tôi. Bà nghèo tiền thật, nhưng bà lại giàu lòng nhân ái. Dường như bà không có con, vì bà không có đề cập đến con cái. Bà có vẻ hơi bất bình thường. Có lẽ vì bà bị áp lục nặng nề từ bên chồng lâu năm chăng? Bà tỏ ra rất mến tôi. Có lẽ bà đã gặp được một người từ một nơi xa xôi đến mà lại có thể giao tiếp, chuyện trò cảm thông với bà bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Qua đó bà đã được dịp thố lộ, tâm sự nỗi niềm cô quạnh của mình suốt mấy mươi năm qua nơi đất khách quê người chăng?
              Tàu của chúng tôi đi thực tập cặp bến Yokosuka lần đầu vào khoảng cuối tháng Tám thi phải. Lúc bấy giờ thời tiết vẫn còn oi bức, vì mùa hè vẫn còn nấn ná chưa muốn cất bước ra đi để nhường bước cho mùa thu mát mẻ trở lại trên đất Nhật. Ngày đầu tiên "đi bờ” ở đó tôi gặp cơn mưa lâm râm. Khí trời khá oi bức. Tôi nhớ ngày Quang và Nghĩa, một người em của anh bạn học tên Minh của chúng tôi, hướng dẫn tôi đến viếng khu bán đồ điện cũng là ngày rất là oi bức, khó chịu mà tôi chưa từng trải qua. Tôi nghĩ thầm có lẽ cái oi bức đó giống như cái oi bức của gió Lào ở miền Trung nước Việt tôi từng nghe qua mà chưa từng được nếm mùi.
Vào một buổi chiều tối nọ sau ngày tàu cặp bến Yokosuka lần đầu, có lẽ là vào buổi tối Thứ Sáu thì phải, cả bọn năm đứa chúng tôi cùng kéo nhau "đi bờ". Chúng tôi ra phố chính Yokosuka để tìm thú vui mà bọn trẻ độc thân thường thích lui tới. Đó là thú xem vũ khoả thân. Trong buổi xem vũ này, vì tò mò hay muốn chơi ngông, tôi nổi hứng bất tử, có hành vị coi như rồ dại khiến cho một vài khán giả Nhật tỏ ra bất bình. Nhưng sau đó, có lẽ họ biết tôi là người nước ngoài nên bỏ qua cho. Bạn V.H. sau đó trách móc tôi và đề nghị nên rời hiện trường ngay sau đó vì e đụng chạm không hay cho cả bọn.
              Trên chuyến xe buýt ngoài phố trước khi đến nơi giải trí vừa kể, tôi mon men làm quen một thiếu nữ Nhật. Nếu tôi nhớ không lầm thì cô nàng tên là Masako (Chính Tử). Masako là một sinh viên năm thứ hai, lúc đó đang theo học tại Đai Hoc Tokyo. Dường như quê nàng ở vùng quê, có lẻ ở đảo Shikoku (Tứ Quốc) thì phải. Nàng có khổ người nhỏ nhắn, thon thon, nước da bánh mật. Nét mặt tầm thường. Không đẹp, cũng không xấu, trông có duyên của một cô gái đang xuân. Nàng có mái tóc cắt ngắn, không uốn. Masako lúc bấy giờ đang ở trọ tại khu Kokubunji (Quốc Phân Tự), một khu ngoại ô thuộc thành phố Tokyo, cách trung tâm Tokyo khá xa. Tôi xin địa chỉ của nàng. Nàng cho tôi địa chỉ ngay trên xe buýt không có chút e dè gì cả.
Vào một ngày Chủ Nhật kế tiếp, có lẽ hai ngày sau đó, chúng tôi cả bọn năm đứa bèn rủ nhau, hí hửng lên đường đi Tokyo bằng chuyến xe lửa điện vào lúc sáng tinh sương để tìm gặp nàng. Lúc đó tôi chưa bắt được liên lạc với Quang. Đến Tokyo, chúng tôi hỏi đường đi đến nhà nàng. Một anh bạn trẻ người Nhật nhiệt tình, sốt sắng giúp đỡ, dẫn dắt chúng tôi đến tận bến xe buýt đi Kokubunji. Sự nhiệt tình của anh bạn trẻ này cũng như lòng hiếu khách của người Nhật mà tôi có dip gặp sau này khiến cho tôi vương vấn, quyến luyến nước Nhật và có cảm tình với người Nhật thật sâu đậm. Rất tiếc rằng giá sinh hoạt ở Nhât ngày càng đắt đỏ, trong khi đó tiền Úc thì càng ngày càng mất giá tôi nghĩ thầm khó thực hiện những chuyến đi viếng nước Nhật dự trù cho những năm sắp tới. Viết đến đây, tôi nhớ đến một chuyện rất cảm động. Tôi xin mạn phép kể ra đây như là một kỷ niệm đẹp khó quên và để ghi ơn một người Nhật trẻ vô danh và một bà chủ quán trọ sồn sồn giàu lòng trắc ẩn.
              Trong một dip lang thang, ngao du tai trung tâm một thành phố nào đó mà tôi quên mất tên, vào một chiều tà ngày Thứ Bảy. Có lẽ đó là thành phố Kita Kyushu (Bắc Cửu Châu). Tôi có ý định ngủ qua đêm ở đó để ngày Chủ Nhật hôm sau tôi có nhiều thì giờ ngoạn cảnh thành phố đó, nên tôi nhờ anh bạn trẻ cũng xuống xe một lượt với tôi chỉ cho tôi một quán trọ rẻ tiền. Anh bạn trẻ này dường như đang vội vã muốn đi đâu đó. Có lẽ đó là thói quen của người Nhật thường đi với những bước chân vội vàng để bắt kịp chuyến xe mà họ muốn đi chăng? Anh hơi khựng lại, nghĩ ngợi vài giây. Rồi anh dẫn tôi đến một trạm cảnh sát cách bến xe một quãng khá xa với bước đi thật nhanh. Tới nơi, anh trình bày với viên cảnh sát trực rành mạch ý muốn của tôi. Xong anh vội vàng ra đi ngay. Rất tiếc vì anh ta quá vội vã chia tay nên tôi không có dịp xin địa chỉ của anh.Viên cảnh sát cũng giúp đỡ tôi rất tận tình. Anh tra điện thoại niên giám, giúp tôi dọ hỏi một vài quán trọ. Kết quả, tôi có chỗ qua đêm tương đối khá rẻ gần đó. Tôi không nhớ rõ tại quán trọ đó hay một quán trọ hai năm sau tại thành phố Kagoshima (Lộc Nhi Đảo), tôi trả lời câu hỏi tò mò của bà chủ quán trọ về lương bổng của tôi một cách cụ thể rằng: Lương tháng của tôi lúc đó không đủ dư để may sắm một bộ đồ vét dân sự tôi đang mặc. Có lẽ bà thông cảm cho chàng sĩ quan nghèo Việt nam sống trong cảnh chiến tranh, nên sáng hôm sau khi tôi định rời nhà trọ đi ngoạn ỏanh, bà mời tôi ăn sáng với món sashimi, món gỏi cá sống Nhật mà bà đang ăn. Ban đầu tôi từ chối vì ngại ăn cá sống, mặc dầu trong lòng cũng muốn ăn thử cho biết mùi. Bà này nỉ, bảo tôi cứ ăn đi, không phải trả tiền đâu. Tôi bèn ăn thử.Tôi thấy khá ngon miệng. Vị khá ngọt, không thấy tanh, có lẽ nhờ gia vị chăng? Đó là lần đầu tiên tôi được ăn món gỏi cá sống Nhật. Qua cuộc chuyện trò với bà chủ quán trọ vừa kể cũng như một số bà vào tuổi sồn sồn Nhật mà tôi từng gặp sau này, bà nào cũng tỏ ra tội nghiệp cho dân Việt Nam phải cam chịu sống trong cảnh chiến tranh triền miên. Tôi thầm nghĩ, có lẽ các bà ấy đều đã từng nếm múi cơ cực trong những năm chiến tranh trong thời kỳ Đê Nhị Thế Chiến chăng?
Vừa lên xe buýt đi Kokubunji (Quốc Phân Tự), tôi chìa cho bác tài xế xem địa chỉ của Masako để mua vé xe, và nhờ ông ta báo cho tôi biết khi xe đến trạm Kokubunji. Khi gần đến trạm xe cần xuống, tôi sợ tài xế quên, bèn nhắc lại lời yêu cầu như lúc vừa lên xe cho chắc ăn. Chẳng ngờ trạm kế tiếp là trạm chúng tôi cần xuống xe. Cùng chuyến xe đó, có một cô nữ sinh, tên Michiko, cũng xuống xe cùng trạm với chúng tôi. Có lẽ Michiko để ý nghe lóm được lời tôi nhắc nhở tài xế. Nàng xuống xe trước chúng tôi. Rồi liền quay đầu lại bảo tôi hãy theo nàng đi vào ngỏ nhà nàng. Lúc đó trời đang lất phất mưa bụi, nàng giương dù. Tôi đi kè bên nàng. Nàng cho tôi biết rằng, cha nàng nói được tiếng Anh. Liền sau đó, nàng vội chạy một mạch về nhà gần đầu ngỏ hẽm. Chẳng bao lâu, hai cha con chạy ra, dường như có mang thêm hai cây dù nữa cho các ban còn lại che mưa. Sau khi đọc địa chỉ tôi đưa, cha của Michiko bèn cất bước đi trước dẫn cả đoàn sáu người đi theo sau. Tôi thì đi ké dưới mái dù che của Michiko, sánh bước cùng nàng, Trên đường đi đến nhà trọ Masako, hai đứa chúng tôi vừa đi vừa trao đổi những điều cần biết về nhau, nên đi hơi chậm so với bốn anh em khác. Trên đoạn đường đi từ tram xe đến gần nhà Michiko có lúc, vì vô tình, cánh tay mặt tôi chạm nhẹ vào cánh tay trái để trần của nàng vì nàng mặc áo ngắn tay, loại áo dính liền với váy, một loại đồng phục màu xanh đậm khá phổ biến ở nước Nhật lúc bấy giờ. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được hân hạnh sánh bước bên cạnh một "người đẹp" khá xinh. Tôi có một cảm giác cánh tay nàng âm ấm. Làm tôi nhớ đến một cảm giác lâng lâng như vậy khi tôi trao đĩa bánh cho một cô bé hàng xóm mà tôi yêu thầm vào thuở hoa niên, khi tôi ngồi bán bánh cho mẹ tôi nghĩ trưa. Lúc đó, tôi lấy làm lạ sao tay nàng quá ấm. Giờ nghĩ lại, có lẽ đó là vì âm dương cọ sát tạo nên luồng tĩnh điện chăng? Hai cảm giác cách nhau mười mấy năm sao giống nhau quá đỗi! Lòng tôi lúc đó lâng lâng, xao xuyến khó tả. Tôi thú thật với các bạn rằng: Sau đó tôi bắt bén, lợi dụng tình thế, cọ nhẹ thêm một lần nữa. Người mà, đâu phải thánh! Phải không các bạn?
Viết đến đây tôi bèn suy bụng ta ra bụng người.Tôi lại chạnh nhớ tới những tin đồn về ông Hồ Chí Minh. Tôi nghĩ có thể tin đồn đó là sự thật. Ông ta không là một vị tu hành chân chính, nên tôi nghĩ ông không thể là một vị thánh sống như những người đồng chí của ông ta thánh hoá đề cao ông lâu nay. Cũng chính vì thế, tôi cũng nghĩ rằng, câu "Nam nữ thọ thọ bất thân" của người xưa là đúng. Có lẽ các cụ muốn ngăn ngừa tình trạng “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, nhằm tránh điều cám dỗ không hay. Xin chư liệt vị phu nhân chân chính, nhất là những ai có nước da mịn màng, lòng bàn tay mềm mại như nhung, mặt mày, da dẻ xinh xinh, tiếng nói ngọt lịm dễ thương như cô bé hàng xóm của tôi vào tuổi hoa niên, thì hãy cẩn thận khi giao tiếp với đàn ông, dù họ là bậc "chân tu" đi chăng nữa. Nếu chư vị là.con chiên ngoan đạo hay là Phật tử thuần thành thì chớ có cung phụng thành khẩn quá mức đối với các cha hay các thầy. Kẻo lỡ đụng chạm thân mật như trường hợp của tôi với nàng Michiko hay cô bạn hàng xóm của tôi thì không nên. Vì như vậy có thể khiến các ngài "chân tu" phạm phải một trong mười điều răn của chúa, hay một trong ngũ giới của nhà Phật đấy!
Khi chúng tôi đến trước nhà trọ của nàng Masako, tôi thấy nàng đang đứng trên gác trọ ra vẻ hơi bấi rối. Sau khi cha của Michiko trau đổi vài câu với Masako, ông cho chúng tôi biết rằng: Masako cáo bệnh, từ chối tiếp chúng tôi. Nghe xong, lòng dạ tôi như cái bong bóng đang căng đầy bỗng dưng xẹp xuống vì bị chọc thủng, xì hơi. Tôi hỏi thầm, chúng tôi chẳng may đến gặp nàng vào lúc nàng bị bịnh thiệt tình hay là vì nàng muốn từ chối khéo đây? Chỉ có trời mới hiểu thấu lòng dạ Masako chăng? Có lẽ chúng tôi ngờ nghệch quá, không hiểu tâm lý con gái Nhật lúc bầy giờ. Phải chăng vì nàng e dè, sợ xóm giềng gièm pha vì tiếp đón một lúc năm chàng thanh niên xa lạ? Lúc đó, tôi thầm nghĩ, nếu tôi đến thăm nàng một mình, tình thế có khác hay chăng?
Liền sau khi báo tin buồn não lòng đó, ông Hosoya mời cả bọn năm đứa chúng tôi về nhà ông. Sau tuần uống tra ở cái bàn thấp và trò chuyện để biết về nhau. Chúng tôi chẳng ngờ ông lại mời chúng tôi ăn buổi ăn trưa với món sushi (thọ ty) quốc hồn quốc tuý của người Nhật thường hay ăn. Người Nhật thường mang món ăn này từ nhà hay mua ở tiệm ăn, đựng trong hợp gọi là “bento”, để ăn dọc đường, tại sở làm hay ở trường học. Sau món này, chúng tôi còn được mời ăn thêm mỗi người một tô mì nữa. Có lẽ ông Hosoya cảm thông nỗi lòng não nề của năm chàng sĩ quan hải quân Việt Nam trẻ độc thân nơi xứ lạ quê người mà ông đã từng trải qua ở Trung Quốc thời trai trẻ khoảng ba muơi năm trước đó chăng? Hay là ông muốn tỏ cho chúng tôi biết rằng: Dân Nhật của ông ta rất hiếu khách, chứ không như nàng Masako vừa từ chối tiếp đón chúng tôi chăng? Qua kinh nghiệm bản thân, tôi nghĩ rằng ông Hosoya, cũng như đa số dân Nhật, rất hiếu khách. Họ quý mến người nước ngoài, nhất là đối với người tỏ ra biết chuộng văn hoá xứ họ, nói được tiếng nước họ. Có lần tôi gặp một nhóm người Nhật tại một quán trọ vào mùa thu năm 1972. Tôi làm quen chuyện trò với họ, tại phòng tiếp khách của quán trọ nọ, trong lúc họ đang quây quần ăn uống vui vẻ với nhau. Tới lúc bí quá, tôi không diễn đạt bằng lời được, tôi bèn bút đàm với họ. Tôi dùng nhiều chữ Hán hơn là dùng loại chữ hiragana (bình giả danh) mà người Nhật bình thường hay dùng. Họ tỏ ra nể nang tôi. Họ tán thưởng tôi bằng cách mời tôi ăn lê (nashi) và uống trà tới tấp.Tôi thầm nghĩ, có lẽ họ nghĩ tôi có vốn kiến thức Nhật khá vì những người Nhật có trình độ giáo dục cao mới biết nhiều chữ Hán, còn người dân bình thường có vốn chữ Hán han hẹp thôi.Tiếng Nhật có rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa vì tiếng của họ chỉ có một giọng đọc cho một âm thôi, trong khi tiếng Việt thì có tới 6 giọng đọc. Vì vậy họ cần dùng khoảng hai ngàn chữ Hán (Kanji) trong ngôn ngữ thuờng dùng của họ để phân biệt những từ đồng âm dị nghĩa.
Tôi xin trở lại bữa ăn tại nhà nàng Michiko. Vừa vào bữa không bao lâu, chàng "công tử bột" của chúng ta vội hỏi nhà cầu ở đâu. Rồi chàng tất tả, xông xáo đi vào nhà cầu ngay. Từ nhà cầu ra, chàng bèn bào chữa với chủ nhà rằng vì chàng bi đau bụng hay đau bị tử hành nên không thể ăn món sushi còn lại. Tôi không nhớ rõ chàng có ăn tô mì sau đó hay không. Trong lúc đó, chàng cho chúng tôi biết rằng, chàng chẳng những mửa tháo các thức ăn còn sót trong bao tử, chàng còn mửa ra cả mật vàng nữa! Chàng. bảo: "Tanh quá! Ăn không vô!" Không biết từ đó đến nay chàng “công tử” hãy còn sợ món sushi nữa hay không. Tôi không biết các bạn từng ăn món sushi nghĩ sao? Riêng tôi thì tôi nghiệm thấy rằng: Người nào ăn được món đó là loại người ăn được đồ nguội và không ngại ăn đồ sống và nhất là không nhạy cảm với mùi tanh của tôm cá và rong biển.Theo thiễn nghĩ của tôi, khi ta ăn món này hay một vài món ăn khác của người Nhật thì không nên ngửi. Khi ăn món sushi thi ta nên ăn nhâm nhi, nhai cho kỹ thì ta sẽ thưởng thức được hương vị ngọt ngọt, bùi bùi của món ăn đó.
Tiện đây tôi cũng xin mạn phép giới thiệu về Michiko và gia-đình nàng để tỏ lòng biết ơn của tôi đối với gia đình nàng đã đãi chúng tôi một bữa ăn trưa bất đắc dĩ. Đây là một kỷ niệm đẹp, lưu lại trong cõi lòng tôi khá đậm nét.
Gia đình bên nội của Michiko (Đạo Tử) mang ho Hosoya (Tế Cốc). Dáng nàng khá cao, khoảng trên một thước sáu, vì dường như nàng cũng cao cỡ tôi. Nàng hơi có da có thit so với khổ ngườii con gái Việt Nam bình thường lúc bấy giờ. Vốn liếng ngôn ngữ của tôi kém cỏi, hạn hẹp, nên đành phải mượn từ ngữ của cụ Nguyễn Du diễn tả nàng Thuý Vân trong Truyện Kiều để hình dung về khuôn mặt của nàng cho tiện việc. Nàng có môt khuôn mặt khá "đầy đặn" và "nét ngài khá nở nang", má ửng đỏ hây hây.Tóc nàng cắt ngắn, không uốn, như bao nữ sinh Nhật khác thời bấy giờ. Nàng có nước da không trắng lắm, nhưng da dẻ trông tươi mát, mũi dọc dừa, khá xinh, nói chuyện có duyên.Sau buổi ăn trưa, lúc đầu tôi cùng các bạn trò chuyện với cha nàng Michiko, sau đó tôi xoay qua trò chuyện với nàng. Michiko cho tôi biết, lúc đó nàng đang học khoá luyện thi để chuẩn bi dự kỳ thi tuyển vào một đại học tư có tiếng ở Tokyo. Đó là Đai Học Waseda (Tảo Đạo Điền). Vì thế, tôi đoán lúc đó nàng đang vào độ tuổi 18. Nàng thích tìm hiểu các nền văn hoá nước ngoài, nhất là các nền văn hoá Á Đông. Nàng có đem khoe vài món sưu tập về mỹ nghệ của một xứ Á Đông nào đó mà tôi không nhớ rõ, dường như là Thái Lan thi phải. Tôi nhớ mang máng nàng bảo rằng nàng đinh học môn sử ở đại học sau này. Ông Hosoya Todayoshi (Tế Cốc Trung Chí), cha của Michiko, là một cựu sĩ quan hải quân Nhật, từng trú đóng ở vùng Đông Tam Tỉnh (xứ Mãn Châu), Trung Quốc vào thời trai trẻ. Mẹ nàng lớn lên tại đó. Lúc chúng tôi gặp ông Hosoya, ông trạc tuổi ngũ tuần. Lúc bấy giờ ông đang làm việc cho công ty Mitsubishi. Ông ta nói tiếng Anh khá lưu loát. Gia đình Hosoya có một người con trai, em của Michiko. Tôi vượt biển đến Kuantan, Mã Lai Á váo cuối tháng Năm, năm 1978. Vừa vào trại tị nạn ở đó, tôi liền viết thơ báo tin cho cha mẹ tôi biết rằng tôi đã đến bến bờ an toàn. Thư đó tôi gởi qua Nhật nhờ ông Hosoya gửi cho một người thân ở Sài Gòn và nhờ người này chuyển lại cho cha mẹ tôi ở Rạch Giá, vì mẹ tôi dặn tôi phải gởi vòng như vậy để gia đình khỏi bị liên luỵ vì tôi. Ông Hosoya đã làm đúng như sự nhờ vả của tôi. Khi đến định cư ở Úc vào những năm đầu, tôi có gởi thiệp chúc mừng cho ông vào mỗi dịp lễ Giáng sinh. Có một lần Michiko, về thăm cha mẹ biết địa chỉ của tôi. Nàng gởi thư cho tôi bằng tiếng Nhật và có gởi kèm theo hai tấm hình chụp vào ngày đám cưới của nàng. Phía sau hai tấm hình đó có ghi rõ ngày. Đó là ngày 1-10-1977, trước ngày tôi đến định cư ở Úc khoảng mười tháng. Michiko viết đại ý rằng, nàng đã quên tiếng Anh nên nàng đành phải viết Tiếng Nhật. Sau đó tôi có gởi thư hồi âm nhưng rồi bặt tin luôn.. Thiệp chúc mừng nhân dịp lễ giáng sinh năm sau đó tôi gởi cho cha nàng bị gởi trả lại. Dường như đó là năm 1986.Từ đó tôi tiếc rằng không liên lạc được với nàng và gia đình nàng. Có lẽ ông Hosoya đã qua đời và gia đình nàng đã dời đi nơi khác chăng? Tôi cũng có nhờ một người Nhật quen biết, ông Kurosawa (Hắc Trạch) viết thư bằng tiếng Nhật giùm tôi để báo tin tôi đang ở nhà ông này vào mùa Xuân năm 1996. Thư gửi đi rồi nhưng tôi không nhận được thư hồi âm. Ông Kurosawa thắc mắc, tại sao không có thư hồi âm mà thư gởi đi lại không có gởi trả lại. Tôi ngầm thắc mắc không biết nàng ngại liên lạc với tôi hay vì một lý do nào khác?
Khi kể về việc viếng thăm nước Nhật mà không nói đến việc tắm ở phòng tắm công cộng thì có thể các bạn bảo tôi kể còn thiếu sót. Vậy tôi xin nói về điều hiểu biết thô thiển của tôi.Tôi hân hạnh được Quang dắt đi tắm ở loại phòng tăm công cộng Nhật vào một buổi chiều tối ngày Thứ Bảy để cho tôi biết thêm về nếp sống ở Nhật. Nhờ vậy tôi cũng có thế ba hoa đôi điều về kinh nghiệm của mình. Đa số dân Nhật bình thường vào đầu thập niên 70 trở về trước không có nhà tắm riêng, nhất là ở các gác trọ như Quang. Một trong những lý do có lẽ là:vì nhà cửa của họ chật hẹp hay vì lý do nào khác? Hiện giờ chẳng biết họ có cải thiện hơm xưa không? Vào mùa xuân 1996, tôi và nhà tôi có đến viếng nước Nhật khoảng hai tuần lễ. Trong dịp này, tôi có tá túc tại hai nhà người Nhật quen biết .Một người ở thành phố Sasebo (Tá Thế bảo) mà tôi quen biết tại căn cứ hải quân Mỹ ở đó khi đi thực tập cơ xưởng hạm AR 8. Đó là ông Shichida (Thất Điền). Một người ở khác ở quận Chichibu (Trật Phụ), huyện Satama (Kỳ Vương), cách Tokyo khoảng hai tiếng rưởi bằng phương tiện xe lửa điện. Đó là ông Kurosawa, Tôi quen biết ông khi tôi tình nguyện chứa chấp ông và ba vị giào sư Nhật khác tại nhà tôi khi họ viếng thành phố Melbourne vào năm 1984 thì phải. Tại hai nhà của hai gia đình quen biết này đều có phòng tắm riêng, nhà của họ tương đối rộng. Phòng tắm của họ không có gương sen. Trong phòng tắm của họ có một nơi nhỏ hẹp có ghế thấp để ngồi tắm rửa kỳ cọ sạch sẽ, trước khi bước vô bồn tắm để ngâm mình trong đó. Bồn ngâm nước ấm của họ cũng giống như bồn tắm ta thường thấy ở các nước Tây phương. Trong bồn có chứa sẳn nước đã điều chỉnh nhiệt độ, dùng cho cả nhà ngâm, nhưng không biết họ dùng bao lâu mới thay nước. Họ nhường cho vợ chồng chúng tôi vào tắm trước. Ngày đầu vợ chồng chúng tôi chỉ tằm rửa kỳ cọ bên ngoài bồn, chứ không có vào ngâm trong bồn. Bà vợ của ông Shichida ở Sasebo biết được sự việc nên báo cho ông ấy biết. Ông bèn khuyến khích nhà tôi tắm rửa xong nên ngâm mình trong nước ấm trong bồn.Nhà tôi thử xong thấy khoái lối ngâm mình trong nước ấm đó. Tôi thì không có thử ngâm mình ở nhà ông Shichida. Nhưng sau đó tôi có thử ngâm mình ở nhà ông Kurosawa ở Chichibu. Tôi thấy lối ngâm mình này đem lại sư khoan khoái cho cơ thể. Tại nhà ông Kurosawa, tôi thấy bà vợ của ông ta tắm rửa xong đã truyền nước trong bồn ngâm vào máy giặc để giặt quần áo một lần. Qua sự kiện này tôi nghĩ nước dùng ở Nhật có lẽ khá đắc hay quý hiếm. Đó có lẽ là lý do người dân Nhật bình thường không có phòng tăm riêng chăng?
Quang lúc đó ở trọ trong một phòng nhỏ hẹp có tủ chứa đồ, ẩn sâu trong tường, có một nhà cầu nhỏ hẹp trong có bồn rửa tay nhỏ nhắn. Không gian nhà trọ của Quang vừa đủ chỗ cho một bếp điên, và có lẽ có bồn rửa chén, một khoảng trống vừa đủ cho một người ngủ, ban ngày có thể để cái bàn có thể xếp lại dùng dể viết lách hay ăn cơm, và một cái giường đơn, vì Quang thích ngủ giường. Người Nhật thường it khi ngủ giường, họ thường ngủ trên sàn nhà có lót chiều. Ban đêm khi ngủ họ mới lôi nệm bông mà họ gọi là futon (bố đoàn) từ trong tủ ra, Tôi ngủ ở khoảng trống để bàn đó. Quang cũng như nhiều người dân Nhật bình thường khác phải đi tắm phòng tắm công cộng có trả tiền mà người Nhật thường gọi rất tôn kính là “o-furo ba”. Khi đi tắm ở đó người ta thường mặc áo kimono giản dị, gọi là yukata (dục y), mang một đôi guốc Nhật. Họ mang theo khăn tắm để kì cọ và lau khô và đồ dùng cần thiết khác. Vào phòng tắm người ta trần truồng ngồi trên một cái ghế thấp trước hai vòi nước nóng và lạnh, tự pha chế cho vừa đủ ấm trong một cái chậu. Dùng khăn tắm kì cọ rửa ráy, rồi sối nước cho sạch. Sau cùng họ mới bước vào bồn có chứa nước ấm để ngâm mình chung với mọi người. Thường họ ngâm khá lâu. Có thể họ muốn tận-hưởng cái khoan khoái của cơ thể khi tiếp xúc với nước vừa đủ ấm, cho máu huyết lưu thông chăng? Tôi chỉ tắm rửa giai đoạn đầu, chớ không dám bước vào bồn ngâm chung như mọi người.vào buổi tắm đó
Tàu có ghé bến Moji (Môn Từ) hai lần. Mỗi khi "đi bờ", ra khu phố chơi tôi hay la cà vào các quán ăn bình dân có bán rượu, tiếp chuyện với dân địa phương để tìm hiểu nếp sống của họ cũng như luyện khả năng nghe òa nói tiếng Nhật. Có lẽ trong lúc chuyện trò với họ tôi đã tiết lộ tông tích của mình và đã khoe việc chúng tôi sắp được ghé thành phố du lịch Beppu (Biệt Phủ) nghĩ xả hơi cuối tuần đặc-biệt sau đó, nên có sự kiện không vui xảy ra ở Beppu.
Khi tàu vào vịnh Beppu, chúng tôi thấy lố nhố rất đông người tụ tập trên bờ. Tàu chỉ thả neo trong vịnh Beppu chớ không vào cặp bến cầu tàu, vì lòng biển bến cảng không đủ sâu. Sau đó, qua lời hạm phó, chúng tôi biết rằng: Bọn cộng-sản Nhật sách động dân chúng địa phương ra đứng trên bờ dàn chào chống đối chúng tôi bằng biểu ngữ và dùng loa phóng thanh phản đối chúng tôi lên bờ. Sau khi hạm trưởng liên lạc và điều đình với giới chức thẩm quyền địa phương, hạm phó báo cho chúng tôi biết rằng, chúng tôi không được "đi bờ" vào buổi chiều hôm đó và cả ban ngày vào ngày Thứ Bảy hôm sau. Chúng tôi chỉ được phép "đi bờ” vào chiều Thứ Bảy và suốt ngày Chủ Nhật mà thôi. Lòng tôi cảm thấy buồn ủ-ê. Tôi thầm tự trách mình vì quá vui miệng, lỡ lời ba hoa, khiến cho cả bọn năm đứa chúng tôi mất đi hai buổi "đi bờ" hiếm quý.
Khi đi bờ ở Beppu vào buổi chiều tối Thứ Bảy, tôi chỉ đi dạo quanh trung tâm thành phố. Vào buổi xế chiều khi chúng tôi đặt chân lên bờ, tôi thấy trung tâm khu phố rất nhộn nhịp. Ngoài dường phố người đi tản bộ tấp nập, dường như ít thấy có xe cộ đi qua đó. Về đêm khi mặt trời vừa lặn, đèn đường rộ sáng, du khách túa ra đường phố đen nghịt. Đàn ông thường mặc kimono mỏng manh đơn sơ mà người nhật gọi la ‘yukata’ (dịch theo từ hán Việt là dục y, có nghĩa là quần áo tắm) với đôi guốc Nhật rộng bản.Có lẽ họ thả rong trên đường đi đến phòng tắm nước suối nóng công cộng chăng? Đàn bà thì mặc bộ đồ kimono cổ điển tương đối dầy, có nhiều lớp áo, nay nịch lỉnh kỉnh. Loại vải may áo tương đối dầy, màu sắc đẹp thanh nhã, với đôi guốc có quai bọc vải thon gọn. Theo thiển nghĩ của tôi, nhìn trang phục của phái nữ Nhật ta có thể đoán biết phần nào mức độ giàu sang của họ. Họ có thể là dân giàu có từ xa xôi đến đây hưởng thụ thú tắm nước nóng cho khoẻ người. Mặc bồ đồ kimon để đi dạo phố như ở thành-phố Beppu là hiện tượng hiếm khi thấy được trên đất nước Nhật trên đà âu hoá vào thâp niên 60 -70, thế kỷ 20. Theo sự hiểu biết của tôi, vào thời hiện đại lúc đó, người Nhật chỉ mặc bộ kimono cổ điển tươm tất như vậy khi đi dự những hội hè đặc biệt có tính cách văn hoá cổ truyền, như đám cưới chẳng hạn. Một bộ kimono để phái nữ Nhật ăn diện như các bà mặc đi dạo ngoài đường phố Beppu lúc đó rất đắc tiền. Tôi đã trông thấy nhiều bộ đồ như vậy bày bàn trong những cửa hàng bách hoá có ghi giá vài trăm ngàn “den” (yen) vào mùa xuân năm 1996. Đặc biệt ở thành phố ăn chơi Beppu này còn có bày bán các thứ đồ kích dâm ngoài chợ lộ thiên vào ban đêm nữa đấy các bạn ạ! Tôi chẳng ngờ hiện tượng này lại xảy ra ở một thành phố Đông phương còn giữ được nhiều nét văn hoá cổ truyền như nước Nhật. Hiện tượng đó tôi chưa thấy xảy ra ở các nơi khác mà tôi đã từng đi qua. Hoạ may ở các nước Bắc Âu mới có chăng? Vào ngày Chủ nhật duy nhất ở Beppu, tôi rời tàu sớm trong chuyến vào bờ đầu tiên và trở về tàu vào chuyến gần mười giờ đêm. Tôi đi rong khắp các nơi mà tôi có thể đi đến bằng cách lội bộ và bằng những chuyến xe buýt khi muốn đến viếng các nơi có thắng cảnh suối nước nóng ở ngoại ô thành-phố Beppu và thành phố lân cận. Thành-phố Beppu (Biệt Phủ) nằm về phía đông bắc đảo Kyushu (Cửu Châu). Thành-phố đó là một điểm du lịch nổi tiếng ở Nhật, có nhiều suối nước nóng rải rác ở ngoại ô.Theo lời bạn Quang cho biết: Chúng tôi được đến viếng cảnh Beppu là một điều may mắn hiếm quý. Người Nhật bình thường lúc đó ít có ai đủ khả năng đi đến đó chơi; chỉ có những người Nhật giàu có mới có đủ điều kiện đến đó hưởng thụ vì chi phí đi lại và chi tiêu cho khách sạn, ăn uống và tiêu khiển ở đó rất cao. Thật vậy, tôi đọc thấy giá cả phòng ngủ trên các tờ quảng cáo ghi giá đắc quá, đối với tôi. Tại Beppu có những ao lũng có bùn sền sệt, lúc nào cũng sôi sủi bọt, toả khói nghi ngút, toả mùi lưu huỳnh. Có loại có màu nước biển xanh biếc mang tên “Địa-ngục Biển” dịch theo chữ Kanji (Hán Tự) của họ. Rất tiếc tôi không nhớ đọc theo lối Nhật là gì. Có loại ao có màu đỏ tươi giống như máu. Họ đặt tên với chữ Kanji có nghĩ là “Địa Ngục Máu”, v.v.... Vì là lính nghèo, túi tiền eo hẹp, nên tôi không thể chơi sang để mua vé vào xem những ao lũng có màu sắc đẹp có tiếng ấy.Tôi đắn đo có nên vào xem hay không. nhưng giá quá đắc. Tôi đành phải mua bưu thiếp màu có hình chụp các thắng cảnh đó để nhìn và để giữ làm kỷ niệm. Rất tiếc tôi không còn giữ bên mình những bưu thiếp ảnh đó để trình cho các bạn xem. Rốt cuộc, vì lời Quang còn văng vẳng bên tai lúc đó. Tôi nghĩ rằng khó mà có dịp trở lại đó viếng cảnh sau này, tôi đành "bấm bụng" mua vé vào xem một ao lũng tương đối rẻ nhất. Ao lũng mà tôi vào xem chỉ là một thắng cảnh xoàng mà thôi, không có màu sắc đẹp mắt như “Địa-ngục Máu” hay “Địa-ngục Biển vừa nêu. Vào xem rồi tôi đâm ra tiếc! Đúng như người ta thường nói: "Tiền nào của nấy!” Nó giống như cái ao bùn mà trâu nước thường hay trầm mình vào mùa khô ở miền đồng ruộng miền Nam quê nhà vào mùa khô mà thôi.Chất bùn đặc sền sệt. Chỉ khác một chút là nó có vẻ nóng như đang sôi, có bọt sủi từ bên dưới lòng ao, và có khói toả lên quyện mùi lưu-huỳnh. Tại điểm thắng cảnh tôi vào xem, tôi thấy người ta làm các lò lộ thiên, lợi dụng hơi nóng toả ra từ dòng suối nước nóng thiên nhiên từ dưới lòng đất bốc lên để luột trứg gà hay hấp thức ăn để bán cho du khách ăn chơi cho biết. Trên đường đi đến viếng các thắng cảnh suối nước nóng, tôi có vào tắm ở một hồ tắm nước suối nóng lộ thiên cho biết mùi đời. Nam nữ tắm riêng chớ không có tắm chung như thiên hạ đồn. Dĩ nhiên là phải trả tiền. Nước ngâm khá ấm, nhưng tôi không lưu lại đó lâu để hướng thú thư giãn trong nước suối nóng, vì tôi muốn dùng thì giờ còn lại trong ngày để ngao du cảnh lạ nhiều hơn.
Sau những ngày cuối tuần nghỉ xả hơi ở Beppu, tàu về bến chính để lấy hàng. Tàu xuôi nam đi Okinawa. Trên đường đi đến đó, tàu ủi bãi tại một căn-cứ thủy-quân lục-chiến Mỹ ở Niwakuni (Nhược Quốc) để chuỵển hàng tiếp liệu cho căn cứ này. Tàu ủi bãi vào buổi chiều tà, mặt trời sắp lặn. Chúng tôi được dịp ngấm cảnh núi Fuji (Phú Sĩ) gần đó. Cảnh núi Fuji vào lúc hoàng hôn trông rất đẹp mắt. Rất tiếc tôi không đủ khả năng diễn tả cảnh để các bạn cảm nhận được rõ nét cảnh đẹp lúc đó như thế nào. Đành xin lỗi các bạn vậy. Tối hôm đó, cả bọn năm dứa chúng tôi, ngoài tôi ra, dường như không có ai muốn "đi bờ". Hầu như đa số đoàn viên cơ hữu trên tàu không có lên bờ. Vì tôi biết trước tàu sẽ rời Niwakuni ngay khi xong việc xuồng hàng tiếp liệu cho căn cứ ngày hôm sau, nên tôi không muốn bỏ lỡ dip đi bờ cho biết nơi mình đã đến. Sau buổi ăn chiều thì trời đã nhá nhem tối. Tôi vẫn náo nức muốn ra xem phố xá, dù thời giờ quá ngắn ngủi. Căn cứ đó khá rộng. Ra đến cổng cũng khá xa. Ra khỏi cổng, tôi thấy đường xá vắng teo, hầu như không thấy bóng người qua lại. Tôi ngần ngại, chùn chân> Tôi đâm ra lưỡng lự, nửa muốn trở về tàu nửa muốn đi tiếp. Nhưng tính tôi thường hay quyết định làm gì là làm cho đến nơi đến chốn, thế là đã trót ra đi thì cứ đi thôi Tôi tự nhủ, biết đâu mình sẽ khám phá nhiều điều hay ho. Cuốc bộ khá xa tôi chẳng thấy phố xá như đã mường tượng lúc đầu. Dường như đó là một thị trấn nhỏ miền quê. Phố xá quá vắng vẻ về đêm. Tôi chỉ thấy lèo tèo vài quán rượu bên đường có vẻ vắng khách. Lúc đó tôi cảm thấy hơi thất vọng. Tôi thầm tiếc rằng đã có dịp tới nơi gần núi Fuji mà lại không được dịp đến viếng cảnh biểu tượng của nước Nhật thì thật là điều không may.
Trước khi tàu chúng tôi rời căn cứ Niwakuni gần buổi xế trưa có một chiếc dương-vận-hạm anh em ủi bãi gần đó. Tàu mang số USS 1169 thì phải? Nếu đúng vậy thì tàu tôi đi mang số USS 1167, hay ngược lại. Tôi đến gần bãi tàu vừa ủi bãi đó để xem may ra có gặp bạn bè cùng khoá hay không. Tới nơi, tôi gặp Lâm Quốc Hùng và Kha Tư Tiếp có mặt trên tàu đó. Hùng và Tiếp liền xuống bãi gặp tôi. Lúc đó có hai thiếu nữ Nhật có lẽ vì tò mò cũng có mặt tai bãi. Tôi và Hùng liền tới làm quen. Tôi tự giới thiệu lai lịch của mình và hỏi địa danh chúng tôi đang đứng trò chuyện. Một trong hai cô tương đối khá xinh và dạn dĩ cho chúng tôi biết, đó là Numazu (Chiểu Tân). Tôi đâm ra thắc mắc, thầm nghĩ tại sao trong nhật ký hải hành lại ghi rằng tàu ủi bãi tại Niwakuni.mà cô bé đó lại bảo là Numazu. Vì nghĩ lúc đó tàu tôi đi thực tập sắp sửa rời bãi, tôi liền đề nghị hai cô gái Nhật cùng chụp hình với chúng tôi để lưu niệm. Chỉ có cô chịu nói chuyện với chúng tôi đồng ý đứng nán lại chụp hình chung với tôi và Hùng, còn cô kia thì đứng dang ra xa. Hình do Tiếp chụp giùm. Hùng và tôi lúc đó mặc bộ đồ vét đen hải-quân mà chúng ta không có dịp mặc ở Việt Nam bao giờ, vì lúc đó tàu của Hùng vừa vào bến mà tàu tôi thì sắp sửa tách bến. Tục lệ Hải quân Mỹ, thuỷ thủ đoàn phải mặc y phục chỉnh tề khi tàu vào bến hay tách bến xếp hàng trên sàn tàu làm lễ. Sĩ quan thì mặc đồ như vậy. Tôi nhớ mang máng, vẻ mặt cô ấy trong tấm hình có vẻ hơi ngượng nghịu một chút. Chụp xong hình tôi liền chia tay Hùng, Tiếp và hai cô thiếu nữ và đi nhanh về tàu. Không biết Hùng và Tiếp ở lại có hẹn hò gì được với hai cô không. Thuở ấy tôi hơi mơ mộng một chút, thầm nghĩ, nếu cả hai chúng tôi lưu lại lâu ở bãi đó để ve vãn cô bé dạn dĩ ấy thì có lẽ Hùng ở thế thượng phong, vì Hùng cao ráo, đẹp trai, vẻ mặt hao hao giống người Nhật chính cống. Than ôi, giờ thi vật đổi sao dời, Hùng và Tiếp đã vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng. Bức ảnh đó không còn nữa, vì cha tôi đã đốt bỏ tất cả những hình ảnh tôi chụp có mặc quân phục khi tôi bị đưa đi tù "cải-tạo"ở miệt U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang. Trước khi chuẩn bị chuyến vượt biển hụt vào khoảng tháng Ba năm 1978, phim âm bản tấm hình đó hãy còn nằm chung với các phim âm bản khác mà tôi còn lưu giữ trong hai chuyến đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Mỹ. Cha tôi thấy tôi chăm chú ngắm lại những hình ảnh chứa nhiều kỷ niệm thân thương ấy. bèn hỏi tôi: "Hình gì vậy?" Tôi thành-thật trả lời: "Ðó là hình chụp trong dịp đi ra nước ngoài." Ông bảo tôi hãy đốt đi. Tôi dùng dằng, vì thấy rất tiếc, bèn đem cất. Ngày hôm sau, mẹ tôi khuyên tôi nên đốt đi vì cha tôi quá lo sợ. Nghe vậy tôi đành phải bỏ vào lò trấu một cách từ từ những phim ghi lai những hình đầy ấp những kỷ niệm đẹp đó trong nỗi bùi ngùi. Trước khi đốt tôi đều xem lại từng hình ảnh một. Đúng ra tôi muốn giữ lại những hình ảnh không có mặc quân phục, nhưng vì muôn cho cha tôi an tâm, tôi đành đốt hết tất cả các phim âm bản đó. Nếu tôi không đốt đi mà âm thầm giữ lại, có thể trong mục hình ảnh trong trang mạng (website) Đệ Nhị Hổ Cáp sẽ có thêm tấm hình đó để các bạn thấy hình ảnh của Hùng lúc bấy giờ cũng không biết chừng.
Sau chuyến nghĩ xả hơi thoải mái ở Beppu, tàu lại về bến chính để lấy hàng tiếp liệu. Khi lên hàng đầy đủ, tàu rời cảng Yokosuka, hướng về Okinawa ở phương nam. Dường như tàu ghé xuống hàng tiếp liệu ơ căn cứ thuy quân lục chiến Mỹ ở Niwakuni vừ kể. Tôi không còn nhớ chuyến hải hành đi Okinawa này như thế nào. Tàu ghé bến gần căn cứ thủy quân lục chiến Mỹ ở đảo chính thuộc quần-đảo Okinawa. Trong khi chờ tàu xuống hàng, tôi có dịp đi viếng thành-phố Naha (Ná Bá) hai buổi bằng xe buýt. Naha là thủ-phủ của quần-đảo Okinawa (Xung Thằng), cách nơi tàu căp bến khoảng 20 cây số. Tôi thấy có một số tiệm của người Hoa. Tôi có nói chuyện với một người Hoa có tiệm buôn ở đó. Họ cho tôi biết là họ đến từ Ðài Loan.
Nơi tàu cập bến có nhiều quán rượu, cũng có nhiều mục ăn chơi dành cho phái nam mà các chàng trai trẻ xa nhà đều háo hức muốn tìm đến để hưởng "của lạ" mà chúng ta thường nói là "đi trả thù dân-tộc". Có lẽ trong bọn chúng tôi, T.là người hưởng trội hơn cả. Tôi có thử qua "mục ấy", nhưng thấy nó nhạt-nhẽo lắm, không có gì đáng nói. Tôi trải qua chuyện như vậy có lẽ vì tự-ái nhảm, kẽo anh em trong bọn chê "cù lần, không biết gì hết!" Riêng về mục tắm hơi, em gái người bản-xứ, phục-vụ đấm-bóp cho tôi quá đứng đắn. Nàng có nước da ngăm ngăm, thân hình thon gon, không mấy hấp dẫn Nàng dùng thuật "mát-sa" thế đứng lên lưng tôi mà phục-vụ, chớ không có những mục hấp dẫn mà thiên hạ thường hay rao truyền. Thú thật với các bạn tôi chẳng "chấm mút" gì được hết! Tôi chỉ hưởng được cái thú thư giãn, thấy khoẻ khoắn trong người nhờ được đấm bóp và tắm hơi đúng nghĩa của nó mà thôi.
Sau hai ngày xuống hàng tiếp-liệu, tàu về bến chính, cảng Yokosuka. Tôi xin lỗi không thể kể lại được chuyến hải-hành nầy vì tôi không còn nhớ, có lẽ bị say sóng quá chăng?
Sau khi tàu trở về Yokosuka vài ngày, thời gian thực-tập của chúng tôi chấm dứt. Trước ngày lên máy bay trở về nước, trong buổi lễ chia tay, chúng tôi được trao mỗi người một món quà lưu-niệm. Ðó là tấm hình chụp chiếc dương-vận-hạm mà chúng tôi theo thực-tập, cở lớn khá sắc-sảo. Các bạn cùng toán có ai còn giữ bức ảnh đó không nhỉ? Nếu có, xin cho tôi một bản chụp để giữ làm kỷ-niệm. Tôi không còn nhớ khi trở về chúng tôi đi bằng loại máy bay gì và hành-trình như thế nào. Trí nhớ của tôi về hành-trình lên đường còn tương-đối rõ nét; còn về chuyến bay trở về nước thì hầu như hoàn toàn trống-vắng trong óc của tôi. Lạ thật!
Ðến đây tôi lại nghĩ chắc trong số các bạn sẽ có người thắc mắc rằng: Sau một chuyến đi thực tập như vậy thì tôi học hỏi được gì? Xin thưa thật với các bạn là: Tôi thu thập kinh nghiệm hải hành rất ít, vì tôi là sĩ quan cơ khí mà lại nhạy sóng. Nhưng tôi nghiệm thấy rằng: Muốn chống chỏi với cơn sóng hành, làm cho mình đỡ say sóng, thì hãy tìm nơi thoáng khí mà đứng. Chỗ đứng vững vàng nhất là nơi gần trọng tâm con tàu; điểm đứng lý-tưởng nhất là phòng lái hay đài chỉ huy. Ðứng theo thế tấn. Hai chân thẳng, hai bàn chân hơi dạng ra, ngang tầm với vai. Hít thở cho thật sâu và nhìn thẳng về phía trước. Nhờ áp dụng kinh-nghiệm ấy, nên tôi thấy đỡ say sóng hơn, mặc dù tôi là người nhạy sóng. Tôi cũng nghiệm thấy rằng: Người Mỹ trên tàu đa số họ có thái độ làm việc đứng đắn; họ thực hành đúng câu:"Làm việc ra làm việc, vui chơi ra vui chơi."
Viết đến đây, tôi nhớ tới việc tôi được một trung tá hải-quân nha sĩ Mỹ làm sạch răng cho tôi.. Tôi nghĩ có lẽ đó là dịp tôi ở trên cơ-xưởng-hạm AR 8 thì đúng hơn, vì cơ-xưởng-hạm mới có đủ phương tiện như vậy. Ông săn sóc răng của tôi rất tận tình, chu đáo. Vì trước đó hàm răng của tôi chưa được nha sĩ làm sạch lần nào, nên ông tốn rất nhiều thì giờ cho tôi. Sau khi làm sạch, tôi cảm thấy hàm răng của tôi khác lạ; khi uống thức uống lạnh tôi thấy buôn buốt. Tôi được hưởng việc làm sạch răng miễn phí nhưng lại được phục vụ rất chu đáo. Thật là một dịp may hiếm có.
Qua sự quan sát của tôi, tôi thấy trong khi ăn, sĩ-quan người Mỹ kỵ tiếng khua lớn của muổng nỉa hay dao va chạm vào dĩa. Họ kỵ tiếng nhai nhóp nhép, húp canh nghe rột rột, nói chuyện khi đồ ăn còn đầy trong miệng. Họ không trả lời bạn ngay khi thức ăn còn trong miệng họ. Ðợi nuốt hết rồi họ mới xin lỗi bạn, và trả lời câu bạn hỏi trước đó. Họ không để hở môi khi nhai đồ ăn. Khi húp xúp họ đưa muổng vào miệng, tì môi trên lên muổng, rồi mới kín đáo húp sao không có một âm thanh nào phát ra. Người Á-đông chúng ta, nhất là người Nhật và người Hoa, càng bình-dân càng húp lớn tiếng để tỏ rõ cái thống khoái khi ăn các món ăn nóng có chất nước ngon miệng. Có thể đây là một thí dụ điển hình cho câu nói “Đông tây không gặp nhau” chăng? Sau khi khám phá ra nếp ăn uống của họ tôi có phổ-biến điều nhận xét của tôi cho anh em cùng chuyến đi thực-tập năm ấy cũng như chuyến đi thực-tập cơ-xưởng-hạm hai năm sau đó. Tôi đã thực-hành được điều đó; trong khi đó hầu như đa-số anh em chung toán không ai muốn theo; có lẽ vì các bạn ấy cho điều đó không quan-trọng chăng?
Theo thiển-ý của tôi, chúng ta nên theo câu "nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc". Lý do: Ai cũng cho là nền văn-hóa, phong tục tập quán của mình là nhất. Phần đông người ta thường coi những ai có hành vi hay thói quen ngược với tập tục của mình là kém văn minh. Chính vì thế mà những người ít tiếp-xúc với nền văn hóa khác thường hay có đầu óc kỳ-thị, chê bai người khác kém văn-minh. Họ hay chê bai người khác vì họ chưa thấy cái hay cái đẹp của người khác. Họ không dựa vào quan-điểm của người khác để phán đoán sự việc, vì họ không am hiểu văn-hóa của kẻ khác. Hoặc vì họ chỉ thấy phiến diện, không thấy cái toàn diện; hoặc họ chỉ thấy được hiện tượng của một số nhỏ trong cộng đồng nào đó rồi "vơ đũa cả nắm" và đi đến kết-luận thiên lệch. Người Việt-Nam ở thành-phố Melbourne tôi đang ở có một dạo bị nhạo báng là dân ăn thịt chó, kém văn minh. Người Hoa ở Việt Nam đã bị mang tiếng là ở dơ, khạc nhổ bậy bạ cùng vì lẽ vừa nêu. Sự thật thì dân thích ăn thịt chó là một số quá ít so với số người không ăn thịt chó trong cộng-đồng Việt Nam. Người Hoa ở dơ hay khạc nhổ bậy bạ tuy có khá đông ở Việt-Nam nhưng không phải là số đông trong giới người Hoa; họ là thành phần xuất thân từ gia đình bình dân ít học. Xin lổi các bạn. Tôi lại dài dòng nữa rồi!
              Ðể kết thúc bài viết này, tôi xin mượn ý của nhà văn Trà Lủ ở xứ "Ca-na-đa đất lạnh tình nồng" để viết bài thơ tặng nàng Hosoya Michiko, đáp lại mối thâm-tình mà gia-đình nàng đã dành cho tôi trong những năm quen biết đã qua:
Xứ Nhật cảnh đẹp tình nồng,
Khiến chàng trai trẻ động lòng vấn vương.
Nhắn lời em gái thân thương,
Bao giờ gặp lại tỏ tường lòng anh.
Vào đêm gió mát trăng thanh,
Anh lại tưởng nhớ ngày còn xuân xanh.
Bao giờ gặp lại em đây?
Ðể anh đáp lại tình đầy em trao........



ngọc giang
Khởi thảo: 29/06/2000
Hiệu đính xong ngày 26-11-2003
e-mail: kentran46@hotmail.com





( Trở về đầu trang )