|| Trang Thơ Văn 20 || Nguyễn Kim Anh || Nguyễn Ánh || Huỳnh Văn Bảnh || Lê Văn Châu || Huỳnh Kim Chiến || Nguyễn Văn Chín || Lê Kim Cúc || Tôn Thất Cường || Hoàng Thế Dân || Nguyễn Xuân Dục || Mai Tất Đắc || Nguyễn Văn Đệ || Nguyễn Ðình Hoàng || Nguyễn Văn Hùng || Lưu Ðức Huyến || Trần Ken || Đặng Ngọc Khảm || Phan Ngọc Long || Vũ Hửu Lý || Ðinh Lê Thu Nguyệt || Ninh Kim Phượng || Trương Đình Quí || Nguyễn Văn Sáng || Ngô Thiện Tánh || Cung Vĩnh Thành || Lê Văn Thạnh || Nguyễn Văn Thước || Minh Trang || Trần Đình Triết || Trang Thanh Trúc || Dương Thiệu Tùng || Ðặng Tuyến || Nguyễn Văn Vang || Nguyễn Phúc Vĩnh Viễn ||


nẻo đường thi sách


Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
Cái công danh là cái nợ lần
Nặng nề thay hai chữ quân thần
Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ
Cũng rắp điền viên vui tuế nguyệt
Trót đem thân thế hẹn tang bồng
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Hết hai chữ trung trinh báo quốc
Một mình để vì dân vì nước
Túi kinh luân từ trước để nghìn sau
Hơn nhau một tiếng công hầu.
Nguyễn Công Trứ

    Bài thơ trên là của Nguyễn Công Trứ mà chúng ta ai cũng đã được học thời Trung học. Tôi xin chép lại để bắt đầu câu chuyện lính tráng của tôi và những bạn trong khóa 20 Sĩ quan Hải Quân Nha Trang.

       Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao hơi lờ mờ như đại đa số các bạn cùng khóa. Đậu Tú tài một với hạng Bình và Tú tài hai với hạng Bình thứ, tôi tưởng bở đã mơ được làm người du học sinh, nộp đơn và chầu chực hết Bộ Quốc gia Giáo dục đến cơ quan Usaid mãi mà chẳng thấy ai kêu!!! Quái nhỉ, Tây cho 80 cái, Tân Tây Lan cho 12 cái, Úc cho 20 cái, Hoa kỳ cho hơn trăm học bổng leadership cơ mà… Lại còn vô khối học bổng quốc gia nữa, số người đậu bình hay bình thứ nào có mấy tay, thế mà tên tôi đã không hề thấy có ở trong bất kỳ một cái danh sách trúng tuyển du học sinh nào hết!!! Nhờ cậy, tôi xin được làm chức thầy giáo dậy giờ tại trường trung học Trịnh Hoài Đức ở Bình Dương và nộp đơn theo học tại Đại học Khoa học. Tôi đi học với tâm trạng của một con dế con háu đá, nhưng mang đậm tâm hồn của một anh cu mới lớn đang cố tập tành cho ra vẻ đã đậm nét hiện sinh. Phì phèo điếu thuốc trên tay cùng ly cà phê bí tất của chú Huệ phía dưới giảng đường hai, và ngồi hàng giờ với vẻ hay làm ra vẻ đang suy tư táo bón để tránh tiếng ồm ồm giảng bài nghe chói tai từ hệ-thống âm-thanh khuếch-đại cực-kỳ dở ẹc trong lớp học. Không vắng mặt trong bất kỳ một buổi sinh hoạt văn nghệ văn gừng nào của Trịnh Công Sơn nơi sân trường Văn Khoa, của Phạm Duy nơi tòa thông tin Hoa kỳ, của Từ Công Phụng nơi trường Dược, của Nguyễn Đức Quang, và tôi đi dậy học với một tâm trạng và lý tưởng cao cã toàn mong những chuyện đội đá vá trời.
Tết Mậu Thân đã xẩy ra như một khúc quẹo ngoặt ngoèo cho cuộc đời cũa chúng tôi, và những thanh niên cùng thời ở Việt Nam. Cuộc đời mới lớn của chúng tôi đã bị đảo lộn tùng phèo! Chúng tôi đang ăn chơi vui sống nơi đô thị, chiến tranh tưởng như của những ai kia và xa tít vùng quê hay rừng núi. Nay cuộc chiến đã xẩy ra ở ngay tại Sài Gòn, ngoài đầu ngõ, hay xóm dưới hoặc xóm trên. Tôi phải diện kiến trực tiếp với nỗi lo sợ của chiến tranh từng ngày và hàng giờ, tôi nhìn thấy Việt cộng nằm chết phơi thây cháy đen nơi tòa đại sứ Thái Lan trên đường Trương Minh Giảng, nơi đài truyền hình, tôi nghe tiếng AK lắp bắp khu Cây Thị bên Gò Vấp, tôi thập thò cùng đám người tò mò theo chân mấy anh lính Nhẩy Dù hay Biệt Động Quân truy kích địch nơi khu Hạnh Thông Tây. Đêm với ánh đèn hỏa châu và tiếng súng tiểu liên như nhắc nhở chúng tôi là cuộc chiến đang khốc liệt diễn ra nơi này nơi kia trong thành phố, và những giấc ngủ đã không yên vì những tin đồn tụi nó xuất hiện khu này khu nọ. Mắt dán chặt mặt TV đen trắng theo dõi tình hình thời cuộc hàng giờ. Theo chân những người bạn hướng đạo trong Đạo Đông Thành Gia Định đi làm chuyện cứu trợ nạn nhân chiến tranh tại trường Chu Văn An, tại sân vận động Cây Thị, Gò Vấp Gia Định. Tôi thấy rõ sự bấp bênh của cuộc sống của người dân nơi đất nước với cuộc chiến tương tàn.
Sau khi trận chiến đã được giải tỏa ra khỏi thành phố, ngày đầu tiên tôi đi dậy học lại ở Bình Dương, thấy học trò đứa còn đứa mất. Ngay nơi sân trường đã là một bãi chiến trường đẫm máu trong mấy ngày Tết vừa qua, vết máu còn vương vãi trên tường, nơi cầu thang. Nghe kể lại là một đại đội đặc công Cộng sản tưởng là có thể nuốt tươi được một trung đội Địa phương quân đang đóng tại trường, nhưng đã không ngờ là khi đó còn có một Đại đội thám kích thuộc Sư đoàn 5 đóng dưỡng quân ngay trên lầu lớp học trong mấy ngày Tết, và dĩ nhiên đám VC này bị sơi tái ngay.
Sau đó thì phong trào Sinh viên học đường lính kiểng được thành lập, Lâm Quốc Hùng và Võ văn Hai là những bạn cùng chung trung đội với tôi. Chúng tôi tập tành ắc ê, một hai, quẹo phải quẹo trái…, quần áo kaky vàng, đầu đội mũ chào mào, chân mang bata trắng. Chở hai chở ba trên Honda, và nhất là ngồi vắt vẻo hai bên lạng qua lạng lại như trêu cợt mấy anh phú lít để bù lại những ngày phải chở nhau ngồi kiểu hai chân cùng bên. Kết quả là tôi không qua khỏi ngưỡng cửa chứng chỉ MPC sau hai năm theo học. Khí thế chiến cuộc bừng bừng khắp chốn, trường ốc lớp học nào cũng tụm năm tụm ba bàn chuyện có khóa lính này lính nọ đang mở. Nhớ đôi câu đối của Nguyễn Công Trứ khi còn học trung học, và xin sửa lại chút đỉnh cho hợp thời hợp thế :

Anh em ơi, hăm mươi mấy tuổi rồi, khắp Đông Tây Nam Bắc bốn phương trời, đâu đâu cũng lừng danh công tử xác.

Trời đất nhẽ, một phen này nữa xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh.

(Câu đối bên trên đã được sửa từ “ băm sáu tuổi rồi” thành “hăm mươi mấy tuổi rồi” mà thôi)
Lệnh nhập ngũ khóa 6/69 đuổi đến nơi. Tôi nhờ cái mác giáo chức, nên có lẽ chỉ phãi đi học quân sự rồi hy vọng sẽ được biệt phái trở về dậy học tiếp? Nhưng đâu có biết là sẽ được biệt phái hay không! Được Đỗ Ngọc Viêm, ông anh họ và cũng là một ông bạn thân, rủ rê nộp đơn gia nhập Hải Quân, quan nhớn tầu thủy coi cũng bảnh tọe lắm chứ. Sau cùng thì chẳng cần thi cử chi cả mà lại được chấp nhận vào khóa 20 SQHQ. Ngày trình diện khóa 6/69 đến nơi mà chưa có lệnh lạc nhập trường Hải quân, hồi hộp quá! Bạn Nguyễn Hùng Tâm đã chạy đôn chạy đáo với thượng sĩ Thinh để lo vụ này. Sáu giờ sáng hôm đi trình diện Trung tâm nhập ngũ Hải Quân ở nơi đường Thi Sách, chú tôi đèo tôi trên chiếc Lambretta, dặn dò đủ thứ cần phải cẩn thận và phải tránh khi ở trong quân đội… Tới đường Thi Sách nằm ngay phía sau lưng Bộ Tư Lệnh Hải Quân, tôi đã thấy lố nhố nhiều người, đứng tụm năm tụm ba, ồn ào và náo nhiệt nhưng không tránh khỏi những nét ưu tư trên mặt. Tôi ngó quanh ngó quất coi Đỗ Ngọc Viêm đang ở nơi mô, hay coi xem có ai quen biết hay không, nhưng chẳng thấy ai quen. Tiến lại gần hai tên Bắc kỳ đứng gần nhất, và đang nhìn tôi với những đôi mắt thấy có vẻ có cảm tình. Hai tên này đều ốm yếu như dân đang học luyện thi (tôi chắc cũng chẳng khác hơn là mấy) vì chắc lo âu đến tương lai mù mịt (?) Một tên cao long khòng lêu khêu như sếu vườn, lưng còng còng có lẽ vì đã lâu năm ngồi bò ra giường hay sàn nhà để gạo bài, mắt mang đôi kiếng cận gọng đen xệ xệ trên sống mũi, tóc hớt ngắn, giọng nói trong trẻo và có âm sắc cao, quần áo chững chạc như một chủng sinh trong nhà dòng. Chắc các bạn đã đoán ra là ai trong số chúng ta rồi, nếu không thì tôi xin thưa đó là tên Chương Còm, Chu văn Chương nhà ta. Tên kia thì có vẻ là dân học Chu văn An nhưng sau này mới được biết là không phải dân CVA mà là từ trường Dược, đầu tóc với kiểu đằng trước chải hất tém lên còn đằng sau thì như đít vịt, quết “bờ ri ăng tin” bóng nhẫy, thấp hơn anh Chương Còm hơn hẳn một cái đầu. Chàng mang bộ đồ hợp thời trang của thập niên sáu mươi, áo tay dài lùng thùng, quần vải bóng láng ôm sát cặp giò khẳng khưu một cách vừa phải, mang đôi giầy mũi nhọn hoắt. Đứng trên một chân, còn chân kia gác hờ hững trên lề, Tâm Bùi cười thân thiện bắt chuyện khi tôi tiến lại làm quen, thế là tôi đã có những người bạn đầu tiên trong khóa 20. Một hồi sau thì có Nguyễn Hữu Thống và Trần Đức Chấn Gà mái gia nhập câu chuyện thì phải. Bây giờ ngày nay Chương còm không còn ốm yếu như ngày nào nữa, mà đã bệ vệ như một ông chủ đại gia khi mở cửa bước xuống chiếc xe Huê kỳ bóng lộn đón tôi ngày nào khi tôi ghé thăm San Jose. Trước đó mấy phút tôi đã tưởng gõ lầm cửa nhà một ông Mỹ nào đó nếu bạn Chương đã về không kịp, và mỡ nụ cười hiền lành cố hữu tiếp đón. Còn Bùi văn Tâm thì thật sự tôi đã không nhận ra anh khi tham dự Đại hội Khóa 20 năm 2000. Anh mập ú nụ và phương phi như một nhà tài phiệt người Chợ Lớn. Ngoài những bạn kể trên tôi còn được gặp Võ văn Côi và Nguyễn Lập Thành là những người đã cùng học chung với tôi nơi trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn, và Nguyễn Quang Toàn học chung hồi tiễu học. Chúng tôi mang vào đời lính mới với những câu thơ thời trung học như:

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam tuyền mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất quân ....

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn và Bà Đoàn thị Điễm diễn Nôm. Hoặc đôi câu thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng ngày nào:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Cuối cùng thì mọi người cũng được nhập trại Bạch Đằng Hai. Chúng tôi nằm ngồi lổn ngổn trên sàn nhà, chẳng hàng chẳng lối chi cả. Chỗ tôi nằm, bên phải gần nhóm Trần Kim Hoàng, Phan Thiết Dũng, Huỳnh Minh Quang và bên trái thì gần nhóm Nguyễn Xuân Dục, Phan Ngọc Long. Nhóm của Hoàng, Dũng và Quang nói nhiều chuyện liên quan đến đàn địch ca hát văn nghệ văn gừng, còn tôi thì mù tịt chuyện này nên không mấy thích thú cho lắm, bèn quay ra nhập bọn với Nguyễn Xuân Dục và Phan Ngọc Long và chúng tôi thân nhau như kết nghĩa Bàn Đào từ dạo đó. Sau này còn có thêm các bạn Ngô Nguyên Trực, Lưu Ngọc Quang, Tôn Long Thạnh, Huỳnh Hữu Lành, Lưu An Huê, và Nguyễn Hữu Hải (đào ngũ, và gia nhập Cảnh sát) nhập bọn nữa. Chúng tôi chia nhau những chuyện vui buồn quá khứ, những lo âu tương lai, hay những điếu thuốc lá lẻ, hoặc những ổ bánh mì trong suốt thời gian theo học ở Quang Trung và Nha Trang. Tôi vẫn còn nhớ như in những buổi tiệc tiễn những chàng trai thời loạn, bị vứt bút nghiên để lo việc đao cung tại nhà các bạn Nguyễn Xuân Dục, Lưu An Huê, hay Lưu Ngọc Quang. Thân sinh các bạn đó đã coi và đối xữ với chúng tôi như con cái của họ vậy. Bia và thức ăn ê hề như đại yến, no say xong cả bọn rút vào phòng mở máy lạnh và nằm ngủ gáy o o như sấm trước khi trở lại trại mơ tiếp giắc mơ làm người thũy thủ.
Ngoài một Nguyễn Hùng Tâm nổi tiếng chạy đôn chạy đáo, thậm thọt với thượng sĩ Thinh để lo cho anh em còn đa số anh em nằm chán nản và chờ thời. Một số những anh em nhập trại trước vì đã có những chứng chỉ một hai năm Đại học…, nhưng nổi bật nhất là Nguyễn Hải và Phan Xuân Sơn (theo nhận xét của riêng cá nhân tôi). Nguyễn Hải hay Hải Ngựa có một tạng người cao lớn như một lực sĩ nhà nghề, ngang tàng, nét mặt coi hơi ngầu và lạnh như tiền, sau này chơi thân mới biết là hắn ta rất vui vẻ, thân thiện, và nghịch thì cũng như giặc; nhưng vì cặp mắt cận thị nặng nên nhìn đời bằng đôi mắt lim dim và mơ màng hay ngó trên mấy tầng dây điện là vì như vậy. Phan Xuân Sơn hay Sơn Đen thì đen như lọ chảo, người tuy không cao nhưng to ngang vững vàng như bàn thạch, dềnh dàng nhưng nhanh nhẹn. Hai ông tướng này thường biến mất nguyên ngày có lẽ vì vào trước, nên rành đường đi nước bước. Chúng tôi diện đồ Hải quân mầu vàng, đầu đội nón cát kết, và rong chơi khắp chốn Sài Gòn trong những giờ đi bờ để chờ ngày lên Quang Trung thụ huấn khóa căn bản quân sự, trước khi ra Nha Trang học hải nghiệp. Chúng tôi hai trăm sáu mươi tám thằng (chưa kễ hai tên đã tốt nghiệp Thủ Đức) đã được tổ chức thành đội ngũ từ tiểu đội lên đến đại đội với nguyên tắc tự chỉ huy. Nguyễn Hùng Tâm thành sinh viên đại diện, còn tôi thành chức thư ký nhờ chữ viết như gà bới nhưng được tô xanh tô đỏ thành tưởng như tựa rồng bay phượng múa. Sau này khi lên Quang Trung còn có thêm Trần Đông Phước, và một số bạn khác, nhưng tôi không nhớ rõ. Sơn Đen (và ai nữa nhỉ) thành chức sinh viên kỷ luật. Một điều đáng buồn cười là một khi phạt ai hít đất thì sinh viên kỷ luật cũng làm hít đất theo; nếu không họ “đ…” làm thì làm “đếch” gì nhau!!! Nhưng Sơn đen to và khỏe nên có hít đất bao nhiêu cũng không thấm mệt, còn đa số anh em chúng tôi thuộc loại trói gà không chặt thì khi bị hít đất một hai “đơn vị” hai chục cái là đã muốn bở hơi tai ..........


nguyễn văn đệ
chuyến hành trình về thung lũng hoa vàng

          Nguyễn Bá Học đã có câu : "Ðường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Hình như là đề tài bình giải trong cuộc thi Trung Học Đệ Nhất Cấp của tôi vào năm sáu mươi mấy thì phải. Sau đây xin kể quí bạn nghe chuyện kể cuộc hành trình về Thung Lũng Hoa Vàng của gia đình chúng tôi.
Năm giờ sáng tôi đã lồm cồm bò ra khỏi giường. Vợ tôi thắc mắc trong cơn ngủ, còn sớm mà, nằm mí em một tí đã! Khốn nỗi, nhưng cả đêm tôi có ngủ ngon giấc được đâu! Cứ chập chờn với những mộng mị gặp lại hết người này người kia. Sau khi làm đầy đủ các thủ tục của một buổi sáng như thường lệ, tuần tự như rửa mặt, tắm rửa, chải chuốt, và ăn sáng, rồi đi ra đi vô mãi mà mấy đứa con tôi cũng vẫn còn say sưa giấc điệp!!!
Chương trình sẽ khởi hành lúc tám giờ sáng thì sẽ bắt được vào freeway 101 khoảng mười giờ hơn, tạm nghỉ ăn trưa trên đường đi, và sẽ đến San Jose lúc khoảng bốn năm giờ chiều. Từ nhà tôi ở San Diego lên San Jose có hai lối đi. Nhanh nhất là dùng freeway số 5, đến khi qua khỏi vùng Fresno thì bắt “cấp” 152 để vào San Jose. Đường này đi thẳng tuột, dễ dàng, nhưng nằm trong lòng chảo Bakersfield, nên máy lạnh phải mở tối đa. Hai là dùng freeway số 5 nhưng bắt qua freeway số 101 ở khúc LA rồi lên thẳng San Jose. Đường này nằm dọc theo bờ biển nên mát mẻ và rất hữu tình nhất là những khúc chạy qua Oxnard hay Santa Barbara. Ban ngày tôi thích dùng con đường này hơn, vì sẽ chạy ngang qua San Louis Obispo, nơi có khách sạn Madona nổi tiếng với cái bồn tiểu như hầm đá và bồn rửa mặt là những vỏ của con hến khổng lồ. Nếu bạn có dịp đi ngang qua, nên ghé lại thử một lần cho biết, nếu tử tế và dư tiền dư bạc thì ăn ở Cafeteria một bữa cho oai. Tôi cũng dự trù ghé lại Paso Robles là thành phố mà tôi đã phải “đóng đồn” hơn bẩy năm trong thời gian phục vụ tại Ft. Hunter Liggett.
Sáu giờ hơn, trời đã sáng hẳn, vợ tôi đang trang điểm, lũ con đã lục đục dậy và đang tranh dành nhau phòng tắm. Chẳng biết làm gì hơn, tôi đành kiểm soát xe lại một lần cuối. Tin tức tối hôm qua cho hay là ngày hôm nay sẽ rất nóng. Tôi lui cui thêm một chai freon nữa vào máy lạnh xe cho chắc ăn, mặc dù ông anh vợ đã nạp dùm thêm cho hai bình vào đêm hôm trước, nhưng vợ tôi vẫn than là hình như máy lạnh trên xe vẫn không được mát cho lắm anh ạ! Sau cùng thì mọi người đã sẵn sàng, và xe lăn bánh lúc chín giờ sáng ngày thứ Sáu để thẳng đường lên San Jose tham dự Đại Hội Khóa 20 vào năm 2003.
Lòng tôi rộn lên một niềm vui với tiếng nhạc và tiếng ồn ào của lũ con phía băng sau. Tôi hăng hái nhận quart đầu tiên, dự trù lái xe cho đến qua khỏi LA, thì ông con trai lớn, Cu Đôn, sẽ thay thế. Đi ngang LA, đường đi xe cộ như mắc cửi, tình trạng kẹt xe như thường lệ vào giờ ăn trưa đã đang diễn ra vào giờ cao điểm. Để tránh tình trạng kẹt xe vào ngày thứ Sáu cuối tuần trên đoạn từ LA cho mãi tới Thousand Oaks, tôi vội quyết định thay đổi lộ trình, dùng freeway số 5 thay vì 101 như đã dự định. Mọi người mải nhâm nhi những món đồ ăn vặt do vợ tôi mang theo nên cũng không cảm thấy đói, đành quyết định chưa nên ăn trưa vội.
Qua khỏi SixFlags, Cu Đôn thay Bố cầm tay lái. Thằng con còn đang tuổi mười tám nên rất hăng tiết vịt, hung hăng con bọ xít, nhấn gas phóng đến tám chín chục miles một giờ làm cho Mẹ nó giật mình thon thót và càu nhàu nhắc chừng luôn miệng. Chiếc Ford Explorer đời 97 của tôi leo dốc không biết mệt, quả không hổ là SUV. Tôi thấm mệt, thiu thiu dựa vào nệm ghế sau xe ngủ vật vờ. Thiếp đi được một lúc, tôi tỉnh giấc khi nghe thấy tiếng quạt máy lạnh thổi ù ù, người nhơm nhớp mồ hôi. Chồm người lên kiểm soát đồng hồ máy xe, mọi thứ bình thường ngoại trừ máy lạnh được mở tối đa nhưng chỉ thấy hơi man mát như quạt thổi mà thôi. Ngó ra bên đường, tôi nhận thấy xe đã lên đến đỉnh dốc, nơi này tôi đã từng phải ngủ lại hai đêm và một ngày vì xe hư, nhưng cũng may khi đó cùng lúc tác phẩm “Những Cây Dù Hòa Bình” của họa sỹ Christiano (?) đang trưng bày. Tôi không dám chắc rằng tên tác giả và tác phẩm là đúng, nhưng cũng cứ tự cho là như thế cho tiện bề viết lách.
Ông họa sỡi này thì thích chơi ngông lắm, những tác phẩm của ông ta thường mang một cung cách vĩ đại và loáng thoáng. Tôi không biết và nhớ nhiều về ông này, nhưng cũng tạm biết được là đã có lần ông ta cho căng lụa nhuộm hồng bao quanh nguyên một hòn đảo chẳng hạn. Lần này ông ta cho dựng khoảng hơn một trăm cây dù lớn mầu vàng, loại dù giống như để đằng sau vườn của nhà các bạn nhưng to hơn nhiều, dọc theo triền núi dài hơn hai chục dặm trong khoảng đi từ LA đổ xuống lòng chảo Bakersfield. Đồng thời một số dù như vậy cũng được dựng lên đồng bộ ở Japan. Nếu bạn đã có dịp về miền Nam Cali. vào khoảng đầu thập niên ’90, trên xa lộ số 5, đoạn mới khỏi Bakersfield và bắt đầu leo con dốc DÀI thì bạn sẽ thấy tác phẩm này từ xa, lác đác vài cánh dù vàng vươn lên khỏi những triền núi dọc đường đi.
Khi ấy, xe của tôi bị hư nằm vạ tại garage cây xăng tại chỗ, nên tôi cũng đã có thì giờ phất phơ đi coi đám nhân viên tự nguyên dương dù đồng bộ. Nói như vậy vì họ muốn là khi dù dương lên và mở ra thì mọi cái phải làm cùng một lúc, kể cả ở bên Japan. Coi thì cũng chẳng có gì là hấp dẫn cho lắm, nhưng được một cái là mấy em sinh viên làm cái nhiệm vụ mở dù thì coi mát con mắt lắm (xin lỗi mấy chị, khi đó tôi còn đang ở tuổi hồi xuân, tóc tai còn rậm rạp và mới xấp xỉ hơn bốn bó thành ra có ngắm mấy cô cũng là lẽ thường tình của một anh con giai đang từ giã tuổi thanh xuân!). Trời mùa hè, quần áo thiếu thốn, và nghịch thì chỉ có thua quỷ và ma mà thôi. Quan họa sỡi Christiano đánh máy bay trực thăng bay phành phạch một hai vòng, chụp vài bô hình là xong, còn dù thì để thêm vài tháng nữa thì phải. Có quan nào trong ban trang trí ngày xưa (Quan LQBảo, Quí Đen, VViễn, TTCường…) nếu biết gì hơn về vụ này thì thêm vào dùm cho em.
Xin trở lại vấn đề. Xe xuống hết dốc thì không khí trong xe nóng quá, ngột ngạt quá, nhiệt độ bên ngoài ở khoảng 105 độ F. Chắc chắn là máy lạnh xe bị bất khiển dụng! Tiếng càu nhầu của vợ tôi và lũ con tấn công tôi không ngớt: "Đã bảo mướn cái xe đi mà không chịu! Xe cũ mà cố chạy đường xa! Xe bây giờ nằm đường rồi biết sẽ làm sao!". Cái nóng ban trưa ở vùng Bakersfield nó thật là khủng khiếp! Nhiệt độ bên ngoài chỉ 110 độ F. Tôi với vội chai nước lạnh tu ừng ực cho đỡ bực mình (chứ làm gì bi giờ nữa khi vợ con nó eo xèo! Quí bạn cũng đã biết đó, một khi đàn bà mà họ càu nhàu thì nó nhây nhưa, nó dài, và nó dai nhách).
Ra lệnh cho cu Đôn quẹo vào exit 58, chui vào In and Out Burger cho hạ hỏa, và đồng thời kiếm cái gì bỏ bụng. Mở cửa xe ra thì như một cái lò lửa nó ụp vào mặt. Một cái nắng đổ lửa. Tôi nghe nói rằng thì là ở miền Trung của ta còn nóng và khó chịu hơn nhiều?. Mắt hoa lên, chúng tôi loạng choạng tiến vào tiệm ăn, mong cái máy lạnh trong tiệm sẽ làm cho mọi người thấy dễ chịu hơn. Nhưng tiệm ăn đông qúa, xếp hàng dài ngoằng! Tôi và mấy đứa con vội chia nhau đi kiếm chỗ, vợ tôi lo xếp hàng order đồ ăn. Tiệm đông, khách ra vô tấp nập, máy lạnh thành quá tải không lạnh được bao nhiêu, chỉ hơi man mát. Nhưng vẫn còn hơn là cái lò lửa ngoài kia. Sau khi ngốn hết cái hamburger số 3 với hành chiên (grilled onion) và túi freedom fried khoai tây chiên, tôi phóng ra mở hood xe để cho mát máy và nhân tiện kiểm tra nước và nhớt máy. Tôi tá hỏa tam tinh khi thấy nhớt văng tùm lum trong hầm máy, không biết là nhớt gì mà xanh lè!!! Coi kỹ lại thì thấy freon xịt ra từ đường áp xuất cao của máy lạnh. Bỏ mẹ rồi, đúng là bể ống máy lạnh, hay là hư luôn compressor thì thật là hao “bin” cho chuyến đi này! Tôi trở vào tiệm ăn và báo tin buồn cho mọi người. Mặt ai nấy như khi tầu gặp biển sóng cấp ba!
Lên xe chạy tiếp, máy lạnh bất khiển dụng, cửa sổ xe được mở ra nhưng nhiệt độ 110 độ F bên ngoài càng làm cho mọi người mệt thêm. Tôi định bắt qua đường 46 để qua freeway 101, nhưng nghĩ lại thì dù có bắt qua để được đi trong vùng lòng chảo Salinas cũng không khác hơn là bao nhiêu mà tốn thêm thời gian, nên đành thôi mà chạy tiếp đường số 5.
Xe chạy ngang qua khúc rẽ vào Coalinga, một thành phố nằm ngay trên đường nứt San Andre (?) giữa hai thềm lục địa Châu Mỹ và Bờ Biển Thái Bình Dương. Tại một sườn vực nơi thành phố này, các khoa học gia đã đặt một hệ thống đo đạc bằng tia laser và đã đo được sự “trôi” ngược chiều nhau của hai thềm lục địa là vào khoảng hai inches mỗi năm. Dân chúng tại thành phố này luôn được đặt trong tình trạng sẵn sàng báo động quanh năm. Xe đến gần Fresno thì một mùi hôi thúi bất ngờ xộc vào làm mọi người tá hoả!! Té ra là địa điểm tập trung bò, có phải đến hàng chục ngàn con bò đã được quy tụ ở đây. Tôi đạp gas cho qua khỏi đoạn này càng nhanh càng tốt. Ông con út tôi đùa, đúng là mùi nhà quê (it’s a really country air). Vùng này cũng thường hay bị sương mù bao phủ mọi khi chiều về và nhất là ban đêm. Chạy xe khi đó rất ư là nguy hiểm. Vì là đồng không mông quạnh nên ban ngày cũng hay bị bão cát bất ngờ. Cách đây hơn mười năm, một trận bão cát đã làm cho xẩy ra một tai nạn giao thông khủng khiếp trên freeway số 5 khoảng chỗ này. Khoảng hơn mấy chục chiếc xe đã tông vào nhau, kể cả những xe truck mười tám bánh. Cảnh tượng sau cơn bão đã được chiếu trên Ti Vi coi thật là kinh hồn. Cuối cùng rồi thì chúng tôi cũng đến đường quẹo vào 152. Nhiệt độ bên ngoài xuống hẳn, tuy thế cũng còn xấp sỉ 100 độ, nhưng vẫn còn hơn là 110 hay 105 độ F. Đến Gilroy thì thấy không khí mát hẳn. Mùi tỏi làm chúng tôi thèm được ăn cơm với rau muống xào thịt bò, nhất là phải đập vào vài nhánh tỏi tươi. Thêm tí rau thơm cho dậy mùi.
Đến khách sạn, nhìn thấy mọi người bơ phờ kiệt lực, tôi cảm thấy hối hận là đã không chịu mướn phứt cái xe cho khỏi bị trở ngại. Sau khi mọi người đã nghỉ ngơi đôi chút cho lại sức, và đã tắm rửa xong, tôi vội hối mọi người mau mau đi đến chỗ họp mặt.
Bước vào phòng hội, tôi đã thấy đầy người, những khuôn mặt rạng rỡ thân quen trong khóa tôi, mọi người đang ồn ào, náo động, nhiều người nhao nhao lên, đây rồi, phạn xá đây rồi… Mấy chị thuộc miền Nam Cali. níu kéo và rủ rê vợ tôi vào ngồi chung bàn. Các con tôi ngơ ngác, lạc lõng nhìn quanh nhìn quất. Trần Gia Định và Dương Thiệu Tùng hối tôi lên ngay sân khấu vì vừa mới giới thiệu tên tôi xong. Chóa mắt vì ánh đèn, tôi loạng choạng bước lên sân khấu trong tiếng ồn ào của bạn bè, và vẫy tay cho vợ con lên theo. Quan Trùm Vang dúi cho mấy món quà của Đại Hội. Quan LVChâu có vài lời giới thiệu. Tai tôi ù đi với những câu đùa cợt thân ái của bạn bè, mắt tôi mờ đi vì niềm xúc động, và niềm vui dâng tràn. Hùng Bò Bía léo nhéo “nói đi nói đi phạn xá”, rồi đưa máy hình lên bấm nhoáng một cái. Tôi mất bình tĩnh, lua quơ vài lời chẳng đi đến đâu, và chẳng biết là mình đã nói loạng quạng cái gì. Sau cùng thì những giây phút ấy cũng trôi qua, tôi bước xuống, thì bất ngờ một người đẹp túm lấy tay tôi, níu lại, và hỏi “ có còn nhớ tôi không??” Tôi bị một cú ngỡ ngàng, giật bắn mình, nhấp nháy nhìn lại, và cố nhớ lại để ráng nhận ra là ai!!! Nhưng đành chịu, chị đẹp lộng lẫy, coi đài các xa hoa, và sang trọng quá. Chị nhắc chừng “ông xã tôi đầu bạc, ngồi đằng kia kìa.” Tôi ngó theo hướng chị chỉ, nhưng xa quá, và cũng không nhận ra được là ai. Bước lại gần, mới nhận ra nụ cười hiền lành chân chỉ hạt bột của HHLành. Tên bạn rất thân trong những ngày mới nhập ngũ.
Lũ chúng tôi gồm có PNLong, NXDục, LAHuê, LNQuang, HHLành, TLThạnh, NNTrực… đã từng chia nhau chút nước tương, miếng thịt kho, quả trứng… ở Bạch Đằng Hai cũng như trên Quang Trung. Thật ra thì bọn hắn chia xẻ cho tôi, chứ tôi có một thân một mình nên không có ai tiếp tế cả. Có một lần tôi đã theo Lành ra chỗ chị bán vải. Lành hiền hậu, vui vẻ và to con rất xứng với chị, thật đẹp, duyên dáng, và thật là tươi. Chị ngồi giữa đống vải hoa muôn mầu, tươi cười trả lời bà bên trái, cắt đo cho cô bên phải, và tiếp chuyện chúng tôi. Tôi bảo Lành, ông hạnh phúc quá. Bây giờ gặp lại, không nhận ra chị, tôi thật có lỗi. Năm 73, tôi và Lành làm giấy xin hoán chuyển cho nhau từ BTL/V3SN và GĐ22XP, nhưng tôi đã được về 22XP, còn Lành thì về Hạm Đội.
HMQuang hối lấy đồ ăn ăn đi kẻo nguội. Tôi hòa nhập vào đám bạn, đễ mặc cho vợ con tự xoay sở lấy.
Ba năm trước chúng tôi cũng đã có một ngày vui như hôm nay. Thật không uổng công chờ đợi mất ba năm, chúng tôi hỉ hả uống với nhau ly bia chén rượu, kể lại cho nhau những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ, mà có mấy khi buồn lúc gặp nhau đâu. Nhất là những kỷ niệm nay đã được lập đi lập lại nhiều lần, nhưng nay nhắc lại nghe vẫn thú, vẫn hể hả tình bạn khi khề khà đôi ba chén.
Tiêu đề “mừng ngày gặp nhau” đã được lập đi lập lại nhiều lần mỗi khi đưa ly lên. Thế là đương nhiên những lần sau, mỗi khi chúng ta gặp nhau thì lại uống nước, nước ngọt, bia, hay rượu là để “ mừng ngày gặp nhau” nhá.
Sáng hôm sau, trong lúc các bạn đi thăm nơi này nơi kia thì chúng tôi chạy vội lên shop sửa xe của Cơ Khí Trưởng Trần Công Minh. Vợ chồng Sáu Minh rất mừng khi thấy chúng tôi ghé thăm. Chiếc xe của tôi đã được phát lệnh công tác đưa vào ụ ngay đễ giám sát tình trạng. Kết quả là hơi Freon đã được bơm vào quá tải, cần phải xì bớt ra là máy lạnh chạy ngon lành liền.
Cuộc vui hội ngộ của chúng tôi còn tiếp tục. Chúng tôi lại tiếp tục "Mừng Ngày Gặp Nhau" trong đêm dạ vũ vào tối thứ Bẩy và pic-nic vào ngày Chủ Nhật.



nguyễn văn đệ





( Trở về đầu trang )