|| Trang Thơ Văn 20 || Nguyễn Kim Anh || Nguyễn Ánh || Huỳnh Văn Bảnh || Lê Văn Châu || Huỳnh Kim Chiến || Nguyễn Văn Chín || Lê Kim Cúc || Tôn Thất Cường || Hoàng Thế Dân || Nguyễn Xuân Dục || Mai Tất Đắc || Nguyễn Văn Đệ || Nguyễn Ðình Hoàng || Nguyễn Văn Hùng || Lưu Ðức Huyến || Trần Ken || Đặng Ngọc Khảm || Phan Ngọc Long || Vũ Hửu Lý || Ðinh Lê Thu Nguyệt || Ninh Kim Phượng || Trương Đình Quí || Nguyễn Văn Sáng || Ngô Thiện Tánh || Cung Vĩnh Thành || Lê Văn Thạnh || Nguyễn Văn Thước || Minh Trang || Trần Đình Triết || Trang Thanh Trúc || Dương Thiệu Tùng || Ðặng Tuyến || Nguyễn Văn Vang || Nguyễn Phúc Vĩnh Viễn ||


hai chuyến đi

Lời tác giả: Trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, có hai lần đi xa, vượt đại dương mà tôi vẫn nhớ mãi. Lần đầu, thực tập Đệ Thất Hạm Đội lúc vừa ra trường cuối tháng 07 năm 1970, có dịp quan sát và học hỏi ở một quân chủng Hải Quân hùng mạnh nhất thế giới. Lần thứ nhì, 30 tháng 04 năm 1975, ra đi tình cờ không định trước. Chuyến đi này ảnh hưởng nhiều đến quảng đời còn lại của tôi. Những đoạn hồi ký sau đây được viết lại theo ký ức những gì đã xảy ra hơn 35 năm qua, mong quý bạn thứ lổi nếu có chi tiết nào không đúng.

Thực tập Đệ Thất Hạm Đội (tháng 10 năm 1970)

       S au khi ra trường cuối tháng 07 năm 1970, tôi may mắn có tên trong danh sánh được đi thực tập khoảng hai tháng trên Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ. Gần hai tháng làm thủ tục, đổi tiền, may sắm quân phục và trình diện hàng ngày ở Câu Lạc Bộ nổi trong Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Cuối cùng, chuyến đi thực tập đã được khởi đầu bằng đáp phi cơ từ phi trường Tân Sơn Nhất ra đến Đà Nẳng. Tôi không nhớ rỏ có bao nhiêu Tân Sĩ Quan Hải Quân khóa 20 trong nhóm đi chung với tôi ra Đà Nẳng. Chỉ còn nhớ người bạn thực tập chung trên chiếc Khu Trục Hạm với tôi là bạn Nguyễn văn Như. Từ Đà Nẳng, tôi và Như được di chuyển bằng phi cơ trực thăng đến một chiếc Hàng Không Mẫu Hạm của Hải Quân Hoa Kỳ. Đó là chiếc USS America (CV-66). Chiếc HKMH này đang hoạt động ngoài khơi Vịnh Bắc Việt với nhiệm vụ oanh tạc các mục tiêu quân sự của Cộng Sản Bắc Việt trên đất Bắc. Có dịp sinh hoạt trên một chiếc HKMH thì mới hiểu được sức mạnh ưu việt của Hải Quân Hoa Kỳ.
Theo tài liệu trong website của Military Analysis Network thì kế hoạch hành quân của Hải Quân Hoa Kỳ thông thường gồm một chiếc HKMH dẫn đầu một nhóm gọi là Battle Group hoặc Strike Group. Trong nhóm này, ngoài những loại phi cơ oanh tạc, chiến đấu, thám thính, chống tàu ngầm, trực thăng chuyển vận v...v... trên HKMH, còn có nhiều loại chiến hạm khác như Khu Trục Hạm, Tuần Dương Hạm và Tàu ngầm loại tấn công đi theo để hộ tống, tổng cộng từ 10-14 chiến hạm. Khi hành quân trên biển, nhóm này được tiếp tế thực phẩm, đạn dược, nhiên liệu, cơ phận sửa chửa, nhân viên ...v...v... bởi một nhóm khác gọi là Logistics Group. (Một số bạn 20 cũng đang thực tập trên những chiến hạm tiếp tế này cùng lúc với chúng tôi). Một cuộc hành quân trên biển như vậy có thể kéo dài vài tháng, tùy theo tình hình chiến cuộc đòi hỏi.
Vừa đáp xuống chiếc USS America, tôi và Như được hướng dẫn đi thăm một vài nơi trên chiếc HKMH, trong đó có vài chỗ mà tôi còn nhớ như hầm chứa mỏ neo, phòng ăn của sỉ quan, đài chỉ huy v..v... Về hầm chứa mỏ neo, mổi mắt xích của mỏ neo rất to, nặng 391 lbs. Còn mổi mỏ neo nặng 30 tấn (chiến hạm USS America có 2 mỏ neo). Bước vào phòng ăn Sĩ Quan (chúng tôi được mời ăn trưa ở đây), tôi thấy phần đông là các phi công Hoa Kỳ đang ăn trưa trước khi thực hiện phi vụ. Trên chiếc USS America, phi công và sĩ quan trên chiến hạm dùng chung phòng ăn. Sau này, tìm hiểu thêm thì được biết phi công Hải Quân mang cánh chim vàng trên áo, còn phi công Không Quân thì mang cánh chim bạc. Ăn trưa xong, chúng tôi được hướng dẫn lên đài chỉ huy để quan sát phi cơ đang cất cánh và đáp xuống thực hiện phi vụ oanh tạc. Kỹ thuật điều khiển phi cơ cất cánh và đáp xuống trên HKMH rất đặc biệt và đòi hỏi khả năng và kinh nghiệm nhiều hơn là cất cánh và đáp xuống trên đất liền. Mỗi lần cất cánh, phi cơ được thêm sức đẩy bằng một “cái cần” xử dụng hơi nước (steam-powered catapult) gắn liền với sàn tàu. Chiếc USS America có tất cả bốn hệ thống steam-powered catapults. Mỗi hệ thống này có khả năng đẩy một chiếc phi cơ nặng 70,000 pounds từ zero đến 150 mph trong 2 seconds với khoảng cách 250 feet trên phi đạo. Mỗi lần đáp xuống, phi cơ được một trong ba sợi dây cáp kéo lại. Những sợi dây cáp này chỉ được căng ra mổi khi có phi cơ đáp xuống. Nếu lỡ không móc vào những dây cáp nầy khi đáp xuống, phi công phải cất cánh lên rồi sau đó đáp lại lần nửa. Những hoạt động cất cánh và đáp xuống nầy được điều khiển bởi nhiều nhóm nhân viên mặc áo màu khác nhau (để phân biệt nhiệm vụ của từng nhóm) trên sàn bay. Có hai đài truyền hình trên chiếc HKMH này, một đài truyền hình màu và một đài truyền hình trắng đen. Tổng số nhân viên trên tàu trên dưới 4,500 người.
Đến chiều, tôi và Như giã từ chiếc USS America để đi bằng trực thăng đến một chiếc HKMH khác, đó là chiến hạm USS Shangri-La (CVA-38). Chiếc HKMH này cũng đang hoạt động ngoài khơi Vịnh Bắc Việt. Thủy thủ đoàn của chiếc USS Shangri-La trên dưới 3500 người. Chúng tôi được nghỉ đêm trên chiếc HKMH nầy. Theo lời Sĩ Quan hướng dẩn cho biết thì khu vực cho các Sĩ Quan mới tân đáo hoặc khách đến thăm được chỉ định ở ngay dưới chổ đáp của phi cơ. Nhưng nằm ngủ ở đây, tôi chỉ nghe một tiếng “kịch” mỗi khi có phi cơ đáp xuống, ngoài ra không có ồn ào hoặc lắc lư gì cả! Sáng hôm sau, chúng tôi được di chuyển bằng trực thăng đến chiếc Khu Trục Hạm mà chúng tôi sẽ thực tập gần hai tháng. Đó là chiếc USS Keppler DD-765. Nhiệm vụ chính của chiến hạm USS Keppler là hộ tống chiếc HKMH USS Shangri-La đang hành quân ở ngoài khơi Vịnh Bắc Việt (Yankee Station). Thủy thủ đoàn của chiến hạm nầy có trên 330 người. Hên là được đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội, xui là thực tập trên một chiếc Khu Trục Hạm đang hành quân trên biển, nên chúng tôi lênh đênh trên đại dương hơn tháng trời, chịu đựng hai trận bão khủng khiếp. Một trận bão khá mạnh, làm một vài Sĩ Quan HQ Mỹ và chúng tôi té ra khỏi ghế trong lúc đang ngồi ăn trong phòng ăn dành riêng cho Sĩ Quan. Khi qua khỏi những cơn sóng to gió lớn, gặp lúc biển êm thì thật là lý tưởng. Mặt biển phẳng lặng như tờ giấy, chiến hạm tổ chức BBQ ngay trên sân tàu, một vài anh thủy thủ mang đàn ra ngồi ca hát. Đi biển cũng có những giây phút thần tiên. Chúng tôi có dịp ngồi ăn chung nhiều lần với Hạm Trưởng và Hạm Phó. Mỗi lần như vậy, luôn luôn có 2 anh thủy thủ Mỹ (gốc Phi Luật Tân) mặc đồ trắng đứng hai bên hầu Hạm trưởng. Ai dám nói Hải Quân không quan liêu? Trên các chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ, hầu hết các nhiệm vụ phi tác chiến như hỏa đầu vụ đều do người Mỹ gốc Phi đảm nhận. Cách vài ngày, có một anh thủy thủ gốc Phi đến từng phòng Sĩ Quan để đem quần áo dơ đi giặt. Giặt xong, còn ủi hồ (bằng máy) cẩn thận rồi mới trả lại.
Trong thời gian thực tập, tôi là Sĩ Quan Cơ Khí nên được đưa xuống quan sát và học hỏi dưới phòng máy, nhưng ít khi ở đây lâu. Cứ cách 3 ngày là có tàu tiếp tế thuộc nhóm Logistics Group đến tiếp tế thực phẩm và nhiên liệu một lần. Trong dịp này, nếu có nhân viên nào trên tàu được đi phép thì sẽ theo chiếc tàu tiếp tế này về bến sau khi thực hiện xong công tác. Hải Quân Mỹ sang lắm, mỗi lần được tiếp tế là tất cả trái cây gần hư đều vứt đi hết. Thời biểu tiếp tế rất đúng hạn, dù thời tiết xấu, vẫn tiếp tế như thường. Tôi có dịp quan sát vài lần tiếp tế lúc thời tiết xấu, rất nguy hiểm. Hai chiến hạm (tàu tiếp tế và khu trục hạm) hải hành song song, cùng vận tốc. Từ chiến hạm tiếp tế, nhân viên bắn một sợi dây cáp qua chiếc khu trục hạm. Những khi thời tiết xấu, gió thổi mạnh và tàu nhồi sóng, phải bắn nhiều lần mới thành công. Dây cáp này dùng để chuyển thực phẩm, còn tiếp tế nhiên liệu thì có thêm một ống dẫn dầu đi theo với dây cáp. Nếu có nhân viên đi phép thì sẽ leo vào một cái lồng (cage) treo qua dây cáp và di chuyển qua chiến hạm tiếp tế. Hoặc di chuyển qua HKMH rồi từ đó đáp trực thăng hoặc máy bay nhỏ về bến.
Có khi một chiến hạm tiếp tế hai chiến hạm cùng lúc. Nghĩa là cả ba chiến hạm cùng hải hành song song với nhau. Tôi còn nhớ có vài lần trong những dịp tiếp tế, chúng tôi có nhìn thấy một vài bạn 20 cũng đang đi thực tập trên những chiến hạm tiếp tế này. Nhìn thấy và vẫy tay chào thôi chớ không nói chuyện với nhau được. Hình như trong số này có bạn Nguyễn Hùng Tâm, một cố Hổ Cáp II. Trong thời gian thực tập trên chiếc Khu Trục Hạm USS Keppler, tôi cũng có dịp vào phòng radar, một Sĩ Quan Hoa Kỳ chỉ vào radar và nói đây là Vinh (hoặc Hải Phòng). Tôi chỉ thấy một điểm sáng trên radar, không sao hình dung được đó là một thành phố ven biển miền Bắc Việt Nam.
Sau hơn một tháng hải hành trên đại dương, chúng tôi được tin chiến hạm sẽ về Subic Bay, Phi Luật Tân để nghỉ ngơi và sửa chữa. Trước khi rời vùng hành quân, có một chiến hạm khác đến để thay thế chiến hạm chúng tôi. Sau khi bàn giao trách nhiệm, Hạm Trưởng ra lệnh chiến hạm rời Vịnh Bắc Việt, trực chỉ Subic Bay. Cả thủy thủ đoàn reo mừng và nỗi vui sướng hiện rõ trên từng khuôn mặt. Gần cặp bến Subic Bay, chúng tôi được phát lương. Sau khi trừ tiền ăn, chúng tôi được lãnh từ 2 đến 4 US dollards mỗi ngày. Cộng thêm vài trăm dollards được đổi trước khi lên đường, chúng tôi hy vọng sẽ có những ngày đi bờ thoải mái ở Subic Bay.
Tàu vừa cặp bến, chỉ chờ lệnh là tôi và Như xuống phố ngay. Trên đường đi, gặp lại một số bạn 20 cũng đang đi thực tập và đi bờ ở đây, chúng tôi họp thành nhóm và bắt đầu đi nhậu ở những quán bar. Giống như những quán bar ở SàiGòn phục vụ quân nhân Hoa Kỳ thời chiến, những quán bar ở đây cũng được thành lập để làm nơi giải trí cho những chàng lính Tam Tạng Hoa Kỳ mỗi khi tàu về bến. Nhóm chúng tôi được dịp cụng ly với những chai bia San Miguel và xem những cô gái Phi đang nhảy múa trên sân khấu. Như thì rất háo hức và enjoy hết mình. Hôm sau, tôi tìm đến PX (nơi bán đồ tạp hóa miễn thuế của quân đội Mỹ) và mua được một bộ máy stereo radio cassette hiệu Panasonic. Trước khi đi thực tập, tôi có mang theo địa chỉ ông Sĩ Quan Cố Vấn Hoa Kỳ (SQ Cố Vấn cho Tiểu Đoàn Pháo Binh của anh rể tôi ở Mỹ Tho) để gởi bộ máy stereo radio cassette về VN nhờ ông lãnh dùm. Nhưng không may là vị Sĩ Quan này vừa hết hạn phục vụ ở VN, phải trở về nước. Bộ máy stereo của tôi đi theo địa chỉ mới của ông về Mỹ!!! Sau đó, ông liên lạc với anh rể tôi và gởi qua trở lại. Tôi đi thực tập xong, trở về mãi đến mấy tháng sau mới nhận được bộ máy hát. Tưởng đâu đã mất luôn rồi!!
Những ngày sau đó, tình cờ xem một vài thông báo trên chiến hạm, thấy có tổ chức tour du lịch ở miền núi Baguio, trên đường về có ghé qua thủ đô Manila. Chuyến đi hai ngày mà chỉ có 60 dollards, kể cả vé xe bus và phòng ngủ một đêm, không kể tiền ăn. Tôi rủ Như cùng đi, nhưng anh bạn 20 yêu quí của tôi mới quen được một cô bạn gái Phi nên không muốn đi. Tôi đành đi một mình với khoảng chừng hơn 30 thủy thủ và Sĩ Quan trên tàu. Đi bằng xe bus, từ Subic Bay đến Baguio mất khoảng 2 giờ. Đây là thành phố nghỉ mát của Phi, giống như Đà lạt của VN. Tôi rất hài lòng với chuyến đi này, vừa được nghỉ mát, đi thuyền qua thác nước, vừa được ngắm cảnh. Trên đường về, xe bus có ghé qua thủ đô Manila vài giờ cho chúng tôi nghỉ, ăn uống và mua sắm.
Dân Phi ở thủ đô hoặc các thành phố lớn hầu hết lai Tây Ban Nha, trắng và đẹp, chớ không đen đúa như những người dân địa phương. Phi Luật Tân là cựu thuộc địa của Tây Ban Nha từ thế kỷ thứ 16. Nếu tôi nhớ không lầm thì có một cô người Phi lai Tây Ban Nha đoạt chức hoa hậu thế giới.
Về thức ăn của Phi, tôi thích nhất là món gà chiên, bày bán trên những xe đẩy trên đường. Những buổi tối đi bờ, trên đường trở về chiến hạm, tôi hay mua món gà này đem về ăn khuya với bánh mì, rất ngon miệng.
Sau hai tuần lễ đi bờ, tôi và Như được lệnh sửa soạn trở về VN. Có nghĩa là chuyến thực tập đã hoàn tất. Chúng tôi chào từ biệt Hạm Phó, một số Sĩ Quan và nhân viên chiến hạm mà chúng tôi có dịp sinh hoạt chung trong thời gian thực tập. Từ Subic Bay, chúng đi xe bus lên phi trường quân sự Clark Air Base rồi từ đó đáp máy bay về thẳng Sài Gòn.
       Sau vài tuần nghỉ ngơi, tôi xuống trình diện Bộ Tự Lệnh Hải Quân và được bổ nhiệm phục vụ trên Hải Vận Hạm Hậu Giang, HQ 406.
Còn Như thì được lệnh ra phục vụ Hải Đội 1 Duyên Phòng ở Đà Nẳng.
Theo tài liệu Hải Sử của Hải Quân Hoa Kỳ, cả ba chiến hạm mà chúng tôi có dịp đặt chân lên đều đã “về hưu” (decommissioned).
Hàng Không Mẫu Hạm USS Shangri-La rời Subic Bay ngày 09 tháng 11 năm 1970 trở về Mayport, Florida ngày 16 tháng 12 năm 1970. Sau đó, được kéo về Boston Naval Shipyard và về hưu ngày 30 tháng 07 năm 1971.
Khu Trục Hạm USS Keppler, được thiết kế bởi Công Ty Bethlehem Steel Company, Shipbuilding Division ở thành phố San Francisco thuộc tiểu bang California, hạ thủy ngày 24 tháng 06 năm 1946. Tham gia chiến tranh ở Việt Nam qua chiến dịch “Sea Dragon” (ngăn cản và tiêu diệt nguồn tiếp tế nhân sự và vũ khí của quân Cộng Sản Bắc Việt vào miền Nam bằng đường biển) và hoạt động hộ tống HKMH của Đệ Thất Hạm Đội ngoài khơi Vịnh Bắc Việt (Yankee Station). Về hưu ngày 01 tháng 07 năm 1972, chuyển giao cùng ngày cho Hải Quân Thổ Nhĩ Kỳ với tên mới là Tinaztepe và sau cùng phế thải năm 1982.
Hàng Không Mẫu Hạm USS America hạ thủy ngày 01 tháng 02 năm 1964. Tham gia chiến tranh VN lần đầu vào tháng 05 năm 1968, lần thứ nhì vào tháng 06 năm 1970 và lần thứ ba vào tháng 06 năm 1972. Sau hơn 30 năm hoạt động, chiếc HKMH này đã về hưu ngày 09 tháng 09 năm 1996 tại Norfolk Naval Shipyard ở Portsmouth, Virginia.

Tài liệu tham khảo từ website của Hải Quân Hoa Kỳ và FAS:
a. http://www.chinfo.navy.mil/navpalib/ships/carriers/histories/cv66-america/cv66-america.html
b. http://www.chinfo.navy.mil/navpalib/ships/carriers/histories/cv38-shangrila/cv38-shangrila.html
c. http://www.destroyersonline.com/usndd/dd765/
d. http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd765txt.htm?
e. http://www.fas.org/man/dod-101/navy/unit/group.htm
f. US News & World Report, February 28, 1994 The big, mean war machine


30 tháng 04 năm 1975

       V ừa tốt nghiệp khóa Tham Mưu Trung Cấp ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân vào khoảng tháng 3 năm 1975, tôi được lệnh thuyên chuyển về làm Chỉ Huy Phó Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Cà Mau. Nhưng trước khi đi khoảng một tuần thì tôi lại được lệnh trình diện HQ Đại Tá NKLuân, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Tiếp Vận trong Hải Quân Công Xưởng. Vào trình diện CHT, tôi mới biết nhiệm sở mới sẽ là Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Bình Thủy.
Thế là tôi khăn gói hành trang lên xe đò xuống Bình Thủy, không phải đi Cà Mau. Vào trình diện đơn vị mới, CHT CCYTTTBT là HQ Trung Tá Cơ Khí NNXuân, lúc đó đã gần giửa tháng 04 năm 1975. Tôi gặp lại nhiều bạn 20 đang phục vụ tại đây, nhưng gần gũi và đi chơi với nhau nhiều là bạn Nhan Thanh Toàn. Chiều nào, Toàn cũng chở tôi bằng xe Honda ra phố ăn cơm canh chua cá bông lau. Trước khi rời SàiGòn đi Bình Thủy nhận nhiệm sở mới, tôi đã nghe một vài bạn 20 ở Bộ Tư Lệnh Hạm Đội cho biết các Hạm Trưởng đi họp về ra lệnh Sĩ Quan nghiên cứu hải trình đi Guam hoặc Subic Bay. Tôi có linh cảm sẽ có một chuyến di tản lớn. Tuy vậy, tôi vẫn trấn an gia đình Chú Thiếm tôi ở SàiGòn là chắc không có gì nguy hiểm. Chú tôi đang tìm cách xin giấy tờ để đi di tản qua ngã Tòa Đại Sứ Mỹ.
Gia đình ba má tôi ở Biên Hòa, ông anh ruột đang làm Sĩ Quan Quân Báo cho Sư Đoàn 3 Không Quân ở phi trường Biên Hòa. Một ông anh rể, SQ Pháo Binh của Quân Đoàn II, vừa di tản từ Ban Mê Thuộc về Biên Hòa, rồi lại ra Phan Thiết trình diện đơn vị vừa rút về tái phối trí ở đây.
Tôi không liên lạc được với ai trong gia đình từ lúc xuống Bình Thủy. Sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975, tôi có nhiệm vụ hướng dẫn khoảng 6 nhân viên gồm Hạ Sỉ Quan và Thủy Thủ đi tuần tiểu ngoài Căn Cứ. Kế bên Căn Cứ YTTVBT là phi trường Trà Nóc. Nhìn lên trời, tôi thấy những chiếc trực thăng của Không Quân từ từ rời phi trường, trên trực thăng chở xe gắn máy, tivi, thường dân. Mấy phi công đưa tay vẩy vẩy, ra hiệu bảo chúng tôi đi đi. Sau khi đi tuần tiểu xong, tôi dẫn cả nhóm trở về căn cứ, thì nghe tin Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng. Tôi bảo tất cã nhân viên giao trả vũ khí vào kho và nói: "Tình hình chắc không yên đâu, các anh về lo liệu cho gia đình và thân nhân".
Sau đó, tôi về phòng, soạn những giấy tờ cá nhân cần thiết đem theo, rồi từ từ xuống cầu tàu. Trên đường đi, tôi có ý tìm bạn Toàn nhưng không gặp. Xuống đến cầu tàu thì tôi thấy có hai chiếc PCF đang cặp bến ở đây.
Trên tàu có một Sĩ Quan tên Tân (biệt phái từ Thủ Đức). Tôi quen Tân lúc phục vụ ở Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Nhà Bè, hình như Tân lúc đó đang đi Giang Đoàn. Tân là thuyền trưởng PCF. Trưởng toán của hai chiếc PCF này là HQ Đại Úy LKHào (khóa 15). Tân cho tôi biết hai chiếc PCF được lệnh về đây để bảo vệ Bộ Tự Lệnh Vùng 4 Sông Ngòi ở Cần Thơ (?). Nhưng về đến đây thì cả Bộ Tư Lệnh đã di tản bằng chiếc HQ330 từ hôm trước. Tôi đề nghị Tân nói với Đ/u Hào cùng di tản luôn. Đ/u Hào bằng lòng đi. Lúc đó, trên cầu tàu đã bắt đầu nhôn nhao. Tất cả các tàu lớn nhỏ đều nối đuôi chờ tiếp tế nhiên liệu. Hai chiếc PCF đã có đầy nhiện liệu từ hôm trước nên chúng tôi tách ra đi dễ dàng. Trên hai chiếc PCF, tổng cộng tất cả SQ và nhân viên khoảng 8-10 người. Chúng tôi rời Bình Thủy ra gần đến bến Ninh Kiều thì có một vài nhân viên trên tàu tỏ ý không muốn đi. Đ/u Hào quyết định: "Anh nào không muốn đi, thì tôi sẽ cập bến Ninh Kiều cho mấy anh lên". Hai chiếc PCF cập vào bến Ninh Kiều, có khoảng 3 hoặc 4 nhân viên lên bờ. Chúng tôi móc túi lấy tất cả tiền mặt trong người cho các anh, vì đâu còn xài nữa. Xong xuôi, hai chiếc PCF tiến nhanh theo sông Cần Thơ ra cửa biển. Trên đường đi, chúng tôi thấy hai bên bờ, một số lính Địa Phương Quân vẫn vác súng đi tuần tiểu, với lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phất phới. Cũng có một vài ghe lớn, biết tin nên chở đầy người và thức ăn đi theo hướng chúng tôi ra biển. Không may cho chúng tôi, khi gần ra cửa biển thì nước thủy triều xuống, hai chiếc PCF mắc cạn, không đi được nữa. Lúc đó, trời đã sẫm tối, lại thêm vùng này là vùng sôi đậu, không an ninh nên chúng tôi phải thay phiên nhau canh gác suốt đêm. Đêm đó, tôi thao thức, bàng hoàng và lo lắng không biết gia đình ở SàiGòn và Biên Hòa như thế nào? Nhìn ra cửa biển thì thấy bắn trái sáng rực cả bầu trời. Chúng tôi đoán là một số chiến hạm Hoa Kỳ đang ở ngoài khơi chờ đón làn sóng người di tản.
Sáng hôm sau, thủy triều lên, hai chiếc PCF bắt đầu ra cửa biển thì không còn thấy bóng dáng chiếc tàu nào hết!!! Đ/u Hào quyết định đi về hướng Thái Lan. Trên đường đi, gặp một vài ghe đánh cá, chúng tôi hỏi thăm thì họ nói tối hôm qua có một chiếc tàu rất to (chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội) ở đây.
Chúng tôi lênh đênh trên biển gần hai ngày, vừa mệt mỏi vừa say sóng, ai cũng rã rời. Mưa bắt đầu trút xuống, càng lúc càng nặng hột, lại thêm một chiếc PCF bất khiển dụng (máy hư). Tôi cố gắng phụ giúp một anh nhân viên sửa nhưng chưa được. Đ/u Hào ra lệnh bỏ chiếc PCF bất khiển dụng, tất cả qua chiếc PCF còn lại và tiếp tục đi. Lúc đó, nhìn xa xa, bỗng thấy có một chiếc tàu hàng dân sự đang đi thật chậm và gần đó có hai chiếc tàu LCM (hoặc LCVP) của HQVN đang cố gắng tiến gần tàu buôn này. Chúng tôi mừng quá, cố gắng tiến về chiếc thương thuyền này và đồng thời bắn mấy trái sáng ra hiệu. Khi tất cả mọi người từ hai chiếc LCM lên được chiếc tàu buôn thì chúng tôi cũng vừa đến. Và chúng tôi cũng được cho lên tàu, sau khi bỏ lại tất cả vũ khí. Lên được tàu buôn rồi thì mới biết một chiếc LCM của CCYTTVBT đi từ Bình Thủy do Trung Tá NNXuân, CHT hướng dẫn và một chiếc khác đi từ Nhà Bè do HQ Đại Tá Cơ Khí LKSa hướng dẫn. Tổng cộng có hơn 200 người được tàu buôn cứu vớt. Tôi gặp lại hai bạn 20 là Ngô Minh Hiếu và Nguyễn Hoàng Kiệt.
Thương thuyền Đại Hàn có tên là Twin Dragons trên đường đến Thái Lan chở hàng. Vừa cặp bến hải cảng Bangkok, Đại Tá Sa (thâm niên nhất trong nhóm) và Thuyền Trưởng có lên gặp đại diện Mỹ ở Bangkok để xin tỵ nạn cho cả nhóm nhưng bị từ chối. Lý do: chúng tôi được tàu buôn Đại Hàn cứu vớt nên thuộc nước Đại Hàn, Hoa Kỳ không thể nhận. Chúng tôi đành phải tạm trú trên thương thuyền, có một vài người không chịu được, nhảy xuống chạy về khu vực của HQ Hoa Kỳ, nhưng sau đó, bị chận bắt và trả về lại thương thuyền. Mỗi ngày, những người phu Thái Lan (làm việc trong bến tàu), trên đường về đi ngang qua và ném lên tàu cho chúng tôi chuối, cơm, kẹo, bánh v..v…. Sau này, mỗi lần nhắc đến chuyện tỵ nạn, tôi đều không khỏi xúc động trước nghỉa cử cao quý của những người dân Thái Lan này. Ngoài ra, ông đại diện Hàng Không VN ở Bangkok (không nhớ tên) cũng đem đến tặng chúng tôi một số sách báo, tiểu thuyết tiếng Việt.
Sau khi lấy xong hàng và biết là Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ sẽ không can thiệp giúp đở chúng tôi, Thuyền Trưởng tàu buôn quyết định chở chúng tôi về Đại Hàn. Trên đường hải hành về Đại Hàn, chúng tôi được tin Tổng Thống Đại Hàn Phát Chung Hy đã chấp nhận cho chúng tôi tỵ nạn tại Đại Hàn. Tất cả mọi người thở phào nhẹ nhõm. Khi qua eo biển Đài Loan, trước khi đến Đại Hàn, tàu gặp sóng lớn nên mọi người trên tàu cũng “lắc lư” theo. Thành phố hải cảng chúng tôi sắp đến có tên là Pusan, nằm về hướng cực Nam của nước Đại Hàn, chỉ cách Nhật Bản chừng vài chục hải lý.
Chúng tôi được đưa đến tạm trú trong một trường tiểu học. Trước đó vài tuần, nơi đây cũng đã tiếp nhận khoảng trên 1300 người Việt (có thân nhân là người Đại Hàn), được di tản từ SàiGòn giửa tháng 04 năm 1975 bằng hai chiến hạm LST của Hải Quân Đại Hàn. Để phân biệt hai nhóm, những người đến trước được phân phát quần áo màu xanh, còn chúng tôi thì nhận quần áo màu đỏ. Thành ra, mới có danh xưng: “toán áo xanh và toán áo đỏ”. Tổng cộng hai nhóm lên đến trên 1500 người.
Hội Hồng Thập Tự Đại Hàn chuẩn bị rất chu đáo. Mỗi người chúng tôi được phát khăn tắm, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, quần áo ngủ, mền, gối ..v..v.. Mỗi ngày, chúng tôi được ăn uống ba bữa đầy đủ. Tôi vẫn còn nhớ mì, trứng và kim chi là những món chính. Từ từ, chúng tôi lập thành toán đá banh và đánh bóng bàn, còn bên áo xanh thì lập nhóm văn nghệ trình diển giúp vui trong khi chờ đợi đại diện các quốc gia đến phỏng vấn để nhận tỵ nạn. Vào trại chừng hai tuần, thì tôi gặp được người quen cùng quê ở Biên Hòa, từ đó mới liên lạc được đứa em bà con đang du học bên Thụy Sỉ, và được gởi cho $100 US dollards. Tôi bắt đầu sống thoải mái hơn một chút, có tiền mua thuốc lá và ăn vặt. Hình như lúc đó 1 dollard đổi được 5 đồng Won (tiền Đại Hàn).
Tạm trú ở Pusan hơn năm tháng thì có phái đoàn Mỹ đến phỏng vấn và hầu hết tất cả cựu quân nhân quân lực VNCH như chúng tôi đều được phép định cư tại Hoa Kỳ. Trước khi lên đường sang Mỹ, chúng tôi được đi thăm thủ đô Seoul và một vài cơ sở kỹ nghệ lớn của Đại Hàn như xưởng đóng tàu, xưởng chế tạo xe du lịch v..v… Quốc gia Đại Hàn, mặc dù vẫn đang trong tình trạng Quốc Cộng giữa hai miền Nam Bắc, nhưng kinh tế phát triển nhanh và đang cạnh tranh với quốc gia Nhật Bản láng giềng.
Giã từ Pusan, chúng tôi lên chiếc phi cơ thương mại của hãng World Airways để đi Hoa Kỳ. Chặng dừng chân đầu tiên khi đến Hoa Kỳ là phi trường Anchorage, tiểu bang Alaska. Ghé phi trường nghỉ chờ tiếp tế nhiên liệu, tôi vào phòng đợi mua một gói thuốc lá Marlboro. Lúc đó, một gói thuốc lá chỉ có 15 xu. Sau đó, chúng tôi được đưa đến trại Fort Chaffee thuộc tiểu bang Arkansas và bắt đầu cuộc sống lưu vong tỵ nạn từ đó…….
Bạn Hiếu chờ phỏng vấn quá lâu nên quyết định đi Canada trước chúng tôi. Bốn năm sau, bạn qua Mỹ và hiện sống ở Sunnyvale, California.
Tôi không được tin Nguyễn Hoàng Kiệt sau khi rời trại Fort Chaffee.
Toàn thì kẹt lại, sau đó mới sang được Hoa Kỳ, hiện định cư tại Tiểu bang Utah. Tân (thuyền trưởng PCF) qua Đại Hàn rồi đi Mỹ cùng lượt với tôi, rồi bặt tin luôn. Tôi mang ơn người bạn này vì nếu không có bạn thì chưa chắc tôi đã đi được.
Niên Trưởng Hào và tôi cùng theo đuổi một cô cựu sinh viên trường Luật thuộc nhóm áo xanh trong thời gian tạm trú ở Pusan. Cuối cùng, tôi là kẽ may mắn. NT Hào đã qua đời tháng 07 năm 2001 ở San Jose, hình như bị ung thư phổi.
Ba má tôi bình yên, hơn bốn tháng sau mới biết tin tôi đã sang được bến bờ Tự do. Đến cuối năm 1992, tôi mới có dịp về VN thăm gia đình lần đầu. Năm năm sau thì Ba tôi qua đời, hưởng thọ 90 tuổi. Tôi có về lo thủ tục chôn cất cho Thân Phụ tôi. Má tôi vẫn còn sống, đang ở dưới quê với anh chị cả tôi.
Anh ruột tôi, chỉ vì tiếc chiếc xe Honda 90, đem về nhà cất, trở lại phi trường thì lỡ chuyến bay. Ở lại, anh bị đi học tập cải tạo trên ba năm, trở về vài năm sau thì được xuất cảnh theo viện HO và hiện sống ở San Jose, California.
Anh rể tôi, kẹt ở Phan Thiết, trở về Biên Hòa, ra trình diện và đi học tập cải tạo. Lý lịch là Sĩ Quan cấp tá, du học quân sự tại Hoa Kỳ, nên anh “được” nếm mùi 13 năm ở núi rừng Hoàng Liên Sơn miền Bắc. Trở về sau 13 năm lưu đày, anh có tên trong danh sách đi Mỹ diện HO nhưng anh không đi, ở lại với chị cả tôi để săn sóc Ba má tôi. Hiện vợ chồng anh đang vui thú điền viên với con cháu ở Biên Hòa.
Chú Thiếm tôi, đi được bằng phi cơ qua ngã Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, sang đảo Guam rồi đến trại Fort Chaffee, từ đó sang Pháp định cư cho đến nay.
       C òn tôi thì “lưu lạc giang hồ”, từ trại Fort Chaffee, ra tiểu bang Missouri ở tạm đi làm vài tháng, rồi lên Iowa theo học ngành Điện tại trường Iowa State University ở thành phố Ames với đứa em bà con. Trong thời gian này, tôi có dịp theo Hà Mạnh Chí (học cùng trường ISU với tôi) về Nebraska, cách trường ISU chừng 50 dặm, thăm bố là Cố HQ Đại Tá HVNgạc. Theo học tại trường ISU được hai năm thì tôi lên tiểu bang Wisconsin lập gia đình với cô cựu sinh viên trường Luật, rồi di chuyển qua California và định cư cho đến bây giờ ..........

lê văn châu
07-2005



12 con giáp, 12 chòm sao

    N hân dịp nói chuyện với người bạn trong sở về năm cũ, năm mới, về năm ta, năm tây, tôi mới biết được thêm một chi tiết mà có lẽ phần đông chúng ta chưa biết hoặc không để ý tìm hiểu.
Hôm đó, tôi còn nhớ rỏ đó là sáng thứ hai đầu tuần, giửa tháng 12 năm 2008, vào sở làm. Sau khi làm xong một vài báo cáo hàng tuần và gởi đi rồi thì một người bạn Mỹ cùng sở vào phòng làm việc của tôi và hỏi thăm như anh vẫn thường làm hằng ngày. Anh hỏi người Việt chúng ta có đón mừng Christmas và New Year không? Tôi trả lời có và cho biết thêm chúng tôi còn đón mừng cã hai năm mới Tây và Ta. Câu chuyện tiếp nối với thắc mắc về năm ta. Anh hỏi năm nay là năm con gì? Tôi trả lời năm nay là năm Tý, con chuột, còn năm tới là Sửu, con trâu. Tôi còn nhanh nhẫu mở ngăn kéo đem ra một bài viết về “Chinese Zodiac 2009 for Year of Ox” lấy từ website(http://www.chinesefortunecalendar.com/2009/2009Zodiac.htm) vài tuần trước và đưa cho người bạn Mỹ xem. Anh đọc xong rồi thắc mắc: “ Tại sao có male và female signs kế bên hình những con vật?” Thú thật với quý bạn, lấy bài viết nầy từ internet, tôi chỉ muốn biết năm nào thuộc về con Giáp nào mà thôi, chưa có thì giờ đọc hết chi tiết của bài. Đến khi người bạn Mỹ nêu lên thắc mắc, tôi ngạc nhiên, đọc lại nguyên bài thì mới biết được nguyên do sắp xếp con Giáp nào thuộc giống đực, con Giáp nào thuộc giống cái.
Theo tác giả bài viết thì nền móng căn bản của Tử Vi Đông Phương (xuất phát từ Trung Hoa) là Yin Yang. Yang là phái Nam (đực). Yin là phái Nữ (cái). Mười hai con Giáp theo thứ tự được chia làm hai nhóm: Yin và Yang. Những con Giáp nào có số lẽ thuôc nhóm Yang (phái nam). Những con Giáp nào có số chẳn thuộc nhóm Yin (phái nữ ) Thứ tự của 12 con Giáp là: Tý (1), Sửu (2), Dần (3), Mẹo (4), Thìn (5), Tỵ (6), Ngọ (7), Mùi (8), Thân (9), Dậu (10), Tuất (11), Hợi (12). Như vậy, các con Giáp: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất có số lẽ, nên thuộc về phái nam (Yang). Còn các con Giáp: Sửu, Mẹo, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi có số chẳn, nên thuộc về phái nữ (Yin) Đó củng là lý do tại sao năm Sửu (tiếng Mỹ gọi là Cow, không phải Ox) và năm Dậu (tiếng Mỹ gọi là Chicken thay vì Rooster).
Trên đây là lý luận của người Trung Hoa, còn người Việt chúng ta thì phân tích như thế nào về Âm, Dương?
Trích đoạn nguyên văn sau đây từ trang web (http://www.vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2006/05/3B9E973D/?q=1) có tựa là “Tìm hiểu về 12 con Giáp”:
“Người xưa quan niệm Thiên là căn bản gốc, Địa là ngọn ngành. Lập ra Thiên can người xưa lấy số Dương của Hà Đồ (số lẻ) là 1, 3, 5, 7, 9, lấy số 5 ở giữa gấp đôi lên để bao hàm cả âm can (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) và cả dương can (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), tất cả 10 can theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Địa chi lấy số âm (số chẵn) là 2, 4, 6, 8, 10. Lấy số 6 ở giữa nhân gấp đôi để tạo thành 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi bao gồm cả dương chi (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) và âm chi (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).
Thời xa xưa lấy mặt trời làm gốc. "Mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì nghỉ". Gặp hôm trời u ám không thấy mặt trời, thật chả biết dựa vào đâu. Tương truyền có một người tên là Đại Nhiêu đã lập ra Thập can và Thập nhi chi để tính thời gian.
Thập can và Thập nhi chi phối hợp với nhau để sinh ra Lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm gọi là Nguyên). Lịch can chỉ ở 3 đời Hạ, Thương, Chu (bên Trung Quốc) không giống nhau. Hiện nay dùng lịch pháp đời Hạ, tức lấy tháng Dần làm khởi đầu của năm.
Việc tính giờ theo can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật.
Tý (23-1 giờ): Lúc chuột đang hoạt động mạnh.
Sửu (1-3 giờ): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày.
Dần (3-5 giờ): Lúc hổ hung hãn nhất.
Mão (5-7 giờ): Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Quốc gọi là thỏ, lúc trăng (thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.
Thìn (7-9 giờ): Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ). Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực.
Tỵ (9-11 giờ): Lúc rắn không hại người.
Ngọ (11-13 giờ): Ngựa có dương tính cao.
Mùi (13-15 giờ): Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.
Thân (15-17 giờ): Lúc khỉ thích hú.
Dậu (17-19 giờ): Lúc gà bắt đầu lên chuồng.
Tuất (19-21 giờ): Lúc chó phải tỉnh táo để trông nhà.
Hợi (21-23 giờ): Lúc lợn ngủ say nhất.”

Thập Can và Thập nhị Chi được dùng đặt tên cho những năm Âm Lịch:

1 Giáp Thân 2004
2 Ất Dậu 2005
3 Bính Tuất 2006
4 Đinh Hợi 2007
5 Mậu Tý 2008
6 Kỷ Sữu 2009
7 Canh Dần 2010
8 Tân Mão 2011
9 Nhâm Thìn 2012
10 Quý Tỵ 2013
11 Giáp Ngọ 2014
12 Ất Mùi 2015


B àn về 12 con Giáp trong Tử Vi Đông Phương, có lẽ sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không tìm hiểu thêm về 12 chòm sao trong Tử Vi Tây Phương. Thí dụ như từ đâu ra những danh xưng như Hổ Cáp, Thiên Xứng, Nhân Mã? Xin thưa đó là ba tên gọi trong số 12 chòm sao nằm trong đường hoàng đạo giửa các hành tinh và mặt trăng.
Theo tài liệu trong trang web (http://horoscope.findyourfate.com/):
“The planets, including the moon and sun, were in old times called traveling stars, but today we simply call them the seven planets of antiquity. It appears to an Earth-based observer that in the course of one year, the sun completes a full revolution around a large circle on the celestial sphere. This circle is called the ecliptic orbit. The planets and the moon are always found on the sky within a narrow belt, 180 wide, centered on the ecliptic, called the zodiac. The area around it is called the zodiacal belt. The zodiacal belt is a celestial highway where the movement of all the planets, the sun and the moon takes place when observed from the Earth. Twelve zodiac constellations are placed along the ecliptic path traveling the zodiac belt. Their names are Aries, Taurus, Gemini, Cancer, Leo, Virgo, Libra, Scorpio, Sagittarius, Capricorn, Aquarius, and Pisces.”
12 chòm sao đươc dịch ra tiếng Việt như sau:
Aries: Dương Cưu
Taurus: Kim Ngưu
Gemini: Song Nam
Cancer: Bắc Giải
Leo: Hải Sư
Virgo: Xử Nữ
Libra: Thiên Xứng
Scorpio: Hổ Cáp
Sagittarius: Nhân Mã
Capricorn: Nam Dương
Aquarius: Bảo Bình
Pisces: Song Ngư

Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa mượn tên 12 chòm sao trên để đặt danh xưng cho các khóa Sĩ Quan Hải Quân đào tạo từ Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (bắt đầu từ khóa 7 đến khóa 26):

Aries Dương Cưu . . k13 đệ nhị k25 đệ tam
Taurus Kim Ngưu . . k14 đệ nhị k26 đệ tam
Gemini Song Nam . . k15 đệ nhị . .
Cancer Bắc Giải . . k16 đệ nhị . .
Leo Hải Sư . . k17 đệ nhị . .
Virgo Xử Nữ . . k18 đệ nhị . .
Libra Thiên Xứng k7 đệ nhất k19 đệ nhị . .
Scorpio Hổ Cáp k8 đệ nhất k20 đệ nhị . .
Sagittarius Nhân Mã k9 đệ nhất k21 đệ nhị . .
Capricorn Nam Dương k10 đệ nhất k22 đệ nhị . .
Aquarius Bảo Bình k11 đệ nhất k23 đệ nhị . .
Pisces Song Ngư k12 đệ nhất k24 đệ nhị . .

Mời quý bạn đọc thêm một đoạn trong bài viết dưới đây của Cố NT Nguyễn Tấn Đơn trích trong trang web Hải Quân VNCH (http://hqvnch.net/default.asp?id=175&lstid=62):
K hi chuyển-giao cho Hải-Quân Việt-Nam, ngoài số thứ-tự ra còn có tên riêng của khóa. Mỗi tên tượng-trưng cho một chòm sao.
Trong Hải-Quân, với biển cả mênh-mông, hải-hành xuyên đại-dương là nghề của chàng. Thời đại văn minh tiến-bộ như hiện nay dù có vệ-tinh theo dõi, nhưng căn-bản của việc định vị-trí trên biển bằng các tinh-tú vẫn phải học, vẫn phải biết đối với các chiến-sĩ áo trắng.Ðó cũng là một niềm vui mà cũng là một nghệ-thuật vừa áp-dụng toán-học cũng như kinh-nghiệm trong ngành hàng-hải. Trong vũ-trụ, ngoài Thái-Dương-Hệ, chúng ta quan-sát thấy có những chòm sao kết-hợp với nhau thành những hình dạng gần như không thay đổi, xuất-hiện trên bầu trời tùy theo ngày giờ và vị-trí của người nhìn. Ðó cũng là những mục-tiêu của chúng ta dùng để xác-định vị-trí con tầu. Theo toán học không-gian, trái đất tạm xem như là trung-tâm điểm của Vũ-Trụ hình cầu. Mặt Trời di-chuyển giáp vòng trên Hoàng-Ðạo ( Ecliptic ) trong thời-gian là 365 ngày 1/4 ( một năm ), đi qua 12 chòm sao nằm dọc theo vòng cung lớn. Các chòm sao này tạo thành 12 con giáp ( Zodiac ) của khoa chiêm-tinh-học Tây-Phương như sau:
- Bảo-Bình ( Verseau hay Aquarius: từ 21 tháng 01 đến 19 tháng 02 )
- Song-Ngư ( Poissons hay Pisces: từ 20 tháng 02 đến 20 tháng 03 )
- Dương-Cưu ( Bélier hay Aries: từ 21 tháng 03 đến 20 tháng 04 )
- Kim-Ngưu ( Taureau hay Taurus: từ 21 tháng 04 đến 20 tháng 05 )
- Song-Nam ( Gémeaux hay Gemini: từ 21 tháng 05 đến 21 tháng 06 )
- Bắc-Giải ( Cancer: từ 22 tháng 06 đến 22 tháng 07 )
- Hải-Sư ( Lion hay Leo: từ 23 tháng 07 đến 23 tháng 08 )
- Xử-Nữ ( Vierge hay Vergo: từ 24 tháng 08 đến 22 tháng 09 )
- Thiên-Xứng ( Balance hay Libra: từ 23 tháng 09 đến 23 tháng 10 )
- Hổ-Cáp ( Scorpion hay Scorpius: từ 24 tháng 10 đến 22 tháng 11 )
- Nhân-Mã ( Sagittaire hay Sagittarius: từ 23 tháng 11 đến 21 tháng 12 )
- Nam-Dương ( Capricorne hay Capricornus:Từ 22 tháng 12 đến 20 tháng 01)
Như trên các chòm sao được xếp thứ-tự ngày tháng theo khoa Tử-Vi Tây- Phương. Ðầu tiên là Bảo-Bình và cuối cùng là Nam-Dương. Tuy nhiên trong Hàng-Hải Thiên-Văn, Hoàng-Ðạo và Xích-Ðạo hợp với nhau một góc nghiêng là 23 độ 27 phút. Hai vòng tròn đó cắt nhau tại 2 điểm " Gamma " và " Gammá ", ta gọi là Xuân-Phân và Thu-Phân. Vòng khởi điểm được tính lúc mặt trời đi từ " Gamma " và trở về lại là một năm.
Ngày 21 tháng 03 Dương-Lịch hằng năm là lúc mặt trời đi qua điểm xuất-phát, cũng là vùng có chòm sao Dương-Cưu nên được coi như số 1 và mặt trời mỗi tháng chiếm một cung, khi đi giáp vòng thì đến chòm sao Song-Ngư là số 12. Căn-cứ vào số thứ-tự các chòm sao ở trên để đặt tên cho khóa.
Khóa 7 SQHQ/NT, lúc này vị Tư-Lệnh Hải-Quân Việt-Nam đầu tiên là HQ Th/Tá Lê-Quang-Mỹ. Chỉ-Huy-Trưởng Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân đầu tiên là HQ Ð/Uý Chung-Tấn-Cang.Giám-Ðốc trường SVSQ là HQ Ð/Uý Nguyễn-Ðức-Vân. Tuy nhiên dù Pháp đã chuyển-giao cho HQVN nhưng Giáo-Sư và Huấn-Luyện-Viên vẫn là người Pháp. Ngoại trừ Căn-Bản Quân-Sự và Vũ-Khí-Nhẹ là do Huấn-Luyện-Viên Việt-Nam phụ-trách. Ðến tháng 5 năm 1957 tất cả Sĩ-Quan và Huấn-Luyện-Viên Pháp cuối cùng rút khỏi quân-trường. Khóa 7 được đặt tên Ðệ Nhất Thiên-Xứng đó là chòm sao số 7. Các khóa kế tiếp cứ thế mà tính theo vòng thứ-tự 12 con giáp như trên. Khóa 8 là Ðệ Nhất Hổ-Cáp, khóa 9 là Ðệ Nhất Nhân-Mã và tiếp-tục cho đến Ðệ Nhất Song-Ngư. Tiếp-theo là Ðệ Nhị, Ðệ Tam. v.v.”.
Mời quý bạn đọc thêm tài liệu sau đây trích trong trang web:
(http://www.khoahoc.net/baivo/tranthilaihong/150207-tuvitayphuong.htm)
“Các hành tinh Thái Dương hệ ảnh hưởng trên cá tính và vận mạng con người, xếp theo 12 con giáp trong Tử vi Tây phương. Bổn mạng Tử vi Tây phương còn dựa trên 4 yếu tố thiên nhiên : Lửa, Gió – không khí - , Đất, và Nước.
10 hành tinh Thái Dương hệ :
- Mặt Trời : cầm tinh tuổi Hải Sư (Leo)
- Mặt Trăng : cầm tinh Bắc Giải (Cancer)
- Thuỷ Tinh – Mercury : cầm tinh Song Nữ (Gemini) và Xử Nữ ( Virgo)
- Kim Tinh – Venus, nữ thần Ái tình : cầm tinh Kim Ngưu (Taurus), và Thiên Xứng ( Libra)
- Hoả Tinh – Mars, thần Chiến tranh : cầm tinh Miên Dương (Aries), và Hổ Cáp (Scorpio)
- Mộc Tinh – Jupiter, Thần Vương tinh, vợ là nữ thần Hôn nhân Junon : cầm tinh Nhân Mã (Sagittarus)
- Thổ Tinh – Saturn : cầm tinh Nam Dương (Capricorn)
- Thiên Vương Tinh – Uranus : cầm tinh Bảo Bình (Aquarius)
- Hải Vương Tinh – Neptune : cầm tinh Song Ngư (Pisces)
- Diêm Vương Tinh – Pluto : cầm tinh Hổ Cáp (Scorpio)
Trong 10 hành tinh Thái Dương hệ, thì Diêm Vương tinh Pluto nhỏ nhất và mới đây không được coi là hành tinh nữa, nhưng vẫn ảnh hưởng vận mạng con người, từ ngày 6 tháng 10 năm 2006 đến hết năm 2007. Diêm Vương tinh có quỹ đạo đi sát Hải Vương tinh Neptune. Cả hai đều có tầm ảnh hưởng mạnh, nhất là trong các lãnh vực liên hệ tình duyên, tiền tài và sức khoẻ. Kể từ năm 1906 đến nay, sau cả 100 năm, nay mới là dịp cả hai ngôi sao cùng sát cánh, đem lại nhiều cơ may cho các tuổi được chiếu mệnh ( Song Ngư - Pisces, và Hổ Cáp - Scorpio).
Những yếu tố thiên nhiên ảnh hưởng vận mạng :
- Lửa : ảnh hưởng trên những tuổi Hải Sư – Leo, Miên Dương - Aries, và Nhân Mã – Sagittarius
- Gió – Không khí : ảnh hưởng Song Nữ – Gemini, Thiên Xứng – Libra, và Bảo Bình Aquarius
- Đất : ảnh hưởng Kim Ngưu – Taurus, Xử Nữ – Virgo, và Nam Dương – Capricorn
- Nước : ảnh hưởng Bắc Giải – Cancer, Hổ Cáp – Scorpio, và Song Ngư – Pisces.”


12 con giáp, 12 chòm sao. Thiên Địa gặp nhau. Đông Tây hòa hợp.

Sưu tầm đặc biệt cho đặc san 2009


lê văn châu



( Trở về đầu trang )