( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

 
Đại Hội 2006 :

Tâm tư gửi bạn
    CungVĩnhThành

Những HC2 rời đàn
    NguyễnXuânDục

Hồi ký 36 năm ra khơi
    AnhChịHuỳnhvănBảnh

Thoáng giấc mơ qua
    ChịNguyễnNgọcChâu

Bút ký đh2006
    AnhChịNguyễnPhúcVĩnhViễn

Thuyền lại bến xưa
    TônThấtCường

Cảm nghỉ về đh2006
    20 và thân hữu


Đặc San 2006 :

Trang bìa
    TrầnTuấnĐức
Giới thiệu
    CungVĩnhThành

Những chuyện kể năm xưa
    Gia đình 20

Hiệp định ngưng bắn Paris và ...
    TrầnĐìnhTriết

36 năm ra khơi
    Chị LêvănTài

Nhớ về khóa 20
    ĐặngNgọcKhảm

Hội trùng dương
    CungVĩnhThành

Nẻo đường Thi Sách
    NguyễnvănĐệ

Hội ngộ
    ViễnHuy

Hai chuyến đi
    LêvănChâu

PCE08
    NgôThiệnTánh

Ông thần râu kẽm
    LêvănThạnh

Triệu đóa hồng
    NguyễnÁnh

Vĩnh biệt Nguyễn H. Tâm
    LưuĐứcHuyến

Nhớ anh trong tù
    LêKimCúc

Nhớ em trong tù
    HuỳnhvănBảnh

Một kiếp hải hồ
    LêvănTài

Mây tháng tám
    NgôThiệnTánh

Nam vang đi dể khó về
    HuỳnhKimChiến

Biển chiều
    CungVĩnhThành

Đi tìm mẩu xương xườn thất lạc
    NguyễnvănHùng

Thu, vỏ ốc và chuyến tàu khuya
    ThânHữu

Thầm hỏi? Nổi niềm
    VõKimMai

Lá thư bâng quơ
    VõthịĐồngMinh

Lục bát biển
    NgôThiệnTánh

Kỷ niệm vui buồn trên HQ9610
    ĐặngNgọcKhảm

Tìm tự do
    LêKimCúc

Nổi trôi
    NguyễnvănVang

Bố và con
    QuỳnhChâu

Những mảnh đời cải tạo
    HuỳnhKimChiến

Chuyện đàn bà
    NguyễnvănHùng

Đêm ngồi nghe thác đổ
    NgôThiệnTánh

Trang nhà khóa 20
    LêvănChâu

Bạn tôi
    NguyễnvănChín

Vượt thoát
    NguyễnÁnh

Bàn nhảm về chử Nôm
    NguyễnvănHùng

Chúng tôi muốn sống
    NguyễnvănChín

Trang cuối
    TrầnTuấnĐức


những chuyện kể năm xưa

Chương 7: Sĩ Quan Hải Quân

       K hoảng hơn hai phần ba trong số tân SQHQ khóa 20 không đủ điểm ESL, nên không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ! Nhưng để bù lại, những bạn này đã được tự chọn đơn vị để tân đáo theo thứ tự đậu cao hay thấp. Vào một buổi sáng Thứ Hai, chúng ta tụ tập tại Câu Lạc Bộ nổi để lựa chọn nhiệm sở. Một tấm bảng xanh do Phòng Tổng Quản Trị HQ dựng lên ngay trên sân khấu. Trên đó ghi lại tất cả các đơn vị đang cần bổ xung thêm quân số sĩ quan. Lần lượt, chúng ta được kêu tên lên theo danh sách đậu hạng cao trước rồi hạng thấp sau. Tuần tự, chúng ta lựa chọn đơn vị, và đi lên lập thủ tục. Đơn vị nào đã đầy đủ cấp số thì được nhân viên TQT gạch bỏ tên trên bảng. Những đơn vị thuộc hạm đội đã được chiếu cố nhiều và nhanh nhất, kế đến là những đơn vị hải đội, còn những đơn vị giang đoàn thường được để dành cho những anh bạn lỡ đậu phải hạng thấp! Chúng ta đã thực sự trở thành những sĩ quan Hải Quân, và sẵn sàng nhận lãnh những trách nhiệm được giao phó.

29.- Phan Ngọc Long: Vì quá dốt tiếng Anh, nên khi tốt nghiệp tôi may mắn không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Đến khi tới phiên lên lựa đơn vị để phục vụ, tôi thấy chẳng còn bất kỳ một đơn vị chiến hạm hay hải đội, hoặc những đơn vị bờ tà tà nào để mà cho mình lựa chọn hết! Tôi thấy còn toàn là những giang đoàn xung phong… và BTL/Vùng 3 Sông Ngòi. Tôi chẳng biết giang đoàn xung phong làm cái gì, nên nhận đại BTL/V3SN vì thấy nó lẻ loi và dù chẳng biết nó nằm ở đâu nữa.
Khi trình diện BTL/V3SN mới biết nó nằm ngay tại… Sài Gòn, sau này dời lên cầu Biên Hòa (CCHQ/Long Bình)! Tôi được giao phó cho chức vụ Sĩ Quan Huấn Luyện, nhiệm vụ thiết lập chương trình huấn luyện cho các giang đoàn xung phong trực thuộc như GĐ22XP, GĐ24XP, GĐ28XP, GĐ30XP, và lực lượng Giang Cảnh thuộc Vùng 3! Với cấp bậc chuẩn úy OJT (on the job training) mới ra trường mà phải lo chuyện huấn luyện cho các đơn vị giang đoàn thiện chiến của V3SN về hành quân sông, và các sĩ quan cảnh sát mang cấp bậc Đại Úy Biên Tập viên thì thật là tréo cẳng ngỗng và nực cười! Nhưng rồi thì công chuyện cũng xong, nay thì Phú Cường-Bình Dương, mai thì Nhà Bè-ĐKRS, mốt lại Bến Kéo-Tây Ninh… Cũng may, quan Hà văn Lượm làm chánh văn phòng TL/V3SN nên tất cả những tin tức quan trọng liên quan đến huấn luyện đều được thông báo cho biết trước!
Một hôm tôi đang làm SQ trực tại CCHQ Long Bình, ông Cảnh nhái lèng èng và đám tùy tùng lè phè ghé qua để điều tra hay tham khảo một vụ nổ xà lan chở đạn ở một khúc trên sông Đồng Nai. Tôi phải dùng giang đỉnh cơ hữu để đưa ông Cảnh lè nhè, và nhóm của ông này ra chỗ đó. Mọi người vào một cái xã hẻo lánh nằm gần bờ sông trong một vùng coi có vẻ xôi đậu lắm, tôi và mấy thằng em nằm chờ dưới giang đỉnh. Trời tối dần, mà sao chưa thấy ai trở lại! Tôi và mấy thằng em cũng đâm lo. Quái, làm cái “khỉ gió” gì mà lâu thế, VC nó ra nó “xụyt” cho một phát thì nguy hiểm quá. Mãi tới khuya mới thấy ông ấy mò về tàu, và cũng may là lúc trở về không có chuyện gì bất trắc xẩy ra.
Vào một ngày mưa gió mịt mù, đám sĩ quan trẻ chúng tôi, kể cả HV Lượm và tôi, đi theo CHT/CCLB xuống Biên Hoà nhậu. Trên đường về, chiếc jeep lùn chở chúng tôi bị lật! Tất cả đều bị thương, ngoại trừ HQ Đại Úy Vinh (K15) CHT/CCHQ/LB bị tử nạn. Sau khi ở nhà thương về, chúng tôi bị kêu lên Cục An Ninh Quân Đội, và bị tống vào Quân Lao Gò Vấp vì cái chết của CHT/CCHQ/LB có thể là do bị ám sát. Thật là hãn hữu khi bị nhốt tại Quân Lao mấy tháng! Sáng thức dậy được thả ra ngoài hít thở không khí trong lành, nhưng phải làm việc khuân vác hay lao động tay chân, ăn uống với cá ươn, gạo mục. Chiều đến thì bị nhốt vào nằm xếp lớp như cá hộp trong những dẫy nhà mái tôn. Xin cám ơn bạn HV Lượm đã chia sẻ những đồ ăn tiếp tế của nhà.

30.- Nguyễn văn Đệ: Tôi vốn tính nhút nhát ngay từ thuở còn thơ, và cái số kể ra cũng nhàn. Kể từ ngày ra trường tôi chỉ đóng nơi những đơn vị loanh quanh gần Sài Gòn, nên chẳng có mấy kinh nghiệm đánh đấm đụng trận với tụi VC. Khi ra trường, tôi đã chọn để phục vụ trên chiếc trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ 225 vì con số “chín nút”. Tôi và một số bạn đã trình diện trễ văn phòng TLP/Hạm Đội khoảng năm ba phút, nhưng không được ông trung sĩ bí thư chấp thuận cho điểm danh, và ngồi chờ trình diện TLP/HĐ vào lúc hai giờ chiều. Dù cho lúc đó TLP/HĐ, Đại tá Bùi Kim Nguyệt, vẫn còn đang trong giấc ngủ trưa! Một giờ là một giờ, không phải một giờ năm phút, nghe chưa? Chúng tôi bị ký tám “củ”. Trong lúc chờ phương tiện để đi trình diện đơn vị, thì chiếc trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ 225 đã bị trúng mìn trôi và bị chìm tại Năm Căn. Tôi được thuyên chuyển về chiếc hỏa vận hạm HQ 471. Chúng tôi lãnh dầu từ những kho xăng Nhà Bè, và đi tiếp tế những CC/YTTV/HQ thuộc Vùng 4 như Long Xuyên, Cần Thơ, Đồng Tâm, Tân Châu, An Thới, thuộc Vùng 3 như Cát Lái, Cát Lở, và cả cho Côn Sơn nữa. Tôi gặp được những vị hạm trưởng dễ tính và chịu chơi, nên mỗi lần đi công tác là chúng tôi thường mang theo xe gắn máy theo tàu. Đến nơi trong khi tàu tiếp tế, chúng tôi thường có “nhiệm vụ vận chuyển” xe xuống và rong ruổi đi chơi những thành phố quanh vùng. Khi đi tiếp tế An Thới hay Dương Đông thì chúng tôi thường ghé hòn Mau trong quần đảo Nam Du, phía ngoài khơi Kiên Giang để “tạm nghỉ” qua đêm!

31.- Nguyễn Đăng Khúc: Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân, tôi được nằm trong danh sách dự khuyết đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, nhưng chờ mãi chẳng thấy quan nào từ chối cái việc đi thực tập thành ra tôi không được “đôn” lên danh sách chính thức, mà đành phải trình diện chọn nhiệm sở! Tôi lựa Hải Đội 2 Duyên Phòng. Tôi chọn đơn vị này chẳng phải vì những chuyện “phủ phê” sau này mà vì nào đã có biết gì đâu! Chẳng là vì những mối tình con con còn xót lại tại thành phố Nha Trang, và nhất là những đơn vị khác còn lại toàn là giang đoàn và giang đoàn! Tôi trực thuộc Phân Đội 2 tại Cam Ranh, và ngoài ra còn có thêm các quan khác như Phạm Đức Phong, Ngô Nguyên Trực, Đỗ Ngọc Viêm “tango”, Ngô văn Long hay Long Xùi… Chúng tôi hiện diện thường xuyên mỗi khi về bến, và thường làm “sì bông xo” cho cư dân “phái đẹp” ở vùng Cây Số Chín.
Khoảng gần cuối năm 1972, tôi được thuyên chuyển về Duyên Đoàn 14, nằm ở Cửa Đại, Hội An. Hùng Fox từ HĐ2DP/Phân Đội 1 (Quy Nhơn) cũng được thuyên chuyển về cùng đơn vị với tôi. Toán của Cảnh Nhái cũng nằm tại đây vì VC nhiều cũng “như rươi”. Chúng tôi có nhiệm vụ tuần tiễu, ngăn chận, tiêu diệt, và nhiều khi hành quân yểm trợ hỗn hợp với Bộ Binh thuộc tiểu khu Quảng Nam trong những mật khu như Cẩm Thanh, Đồng Bò và trên sông Thu Bồn nên cũng có đụng độ lai rai hay ăn pháo kích của VC. Nhờ biết đờn địch nên Hùng Fox nắm Ban CTCT và Nội Vụ, còn riêng tôi thì sau cùng nắm chức vụ Chỉ Huy Phó đơn vị thay thế Quan Long Đột (K19) thuyên chuyển đi đơn vị khác.
Khoảng giữa năm 1974, tôi được thuyên chuyển về Giang Đoàn 24 Xung Phong tại Bình Dương, Phú Cường. Cùng đơn vị còn có các quan Phạm văn Độ và Nguyễn văn Thắng. Đang ngất ngưởng làm CHP duyên đoàn, về giang đoàn làm sĩ quan trưởng toán dẫn tàu đi lên đi xuống cho VC nó tập bắn B40, lòng tôi buồn rưỡi rượi! Thủy thủ duyên đoàn đa số là dân địa phương nên tương đối hiền lành và nghiêm túc. Lính giang đoàn có nhiều tay “bạt mạng”, coi Trời bằng vung huống gì sĩ quan chỉ huy! Vùng hoạt động của chúng tôi nằm trong những mật khu khét tiếng của VC như Tam Giác Sắt, Dương Minh Châu… nên chuyện bị phục kích, đụng trận, trúng mìn xảy ra như cơm bữa! Có một lần công tác tuần tiễu trên sông Sài Gòn hay sông Bé (?), khúc gần chợ Phú Cường, ngang xóm Lò Heo, chiếc monitor command của chúng tôi bị trúng mìn trôi. Vào khoảng quá nửa khuya, tôi đang nằm thiu thiu mơ màng chuẩn bị đi vào giấc ngủ thì một tiếng “ẦM” vang lên, mũi tàu như bị nẩy lên đưa cao lên khỏi mặt nước rồi đâm chúi xuống! Tôi tỉnh hồn, chụp vội ống liên hợp của máy truyền tin, liên lạc với mấy thằng em và báo cáo về TTHQ. Chưa đầy năm phút sau, nước đã ngập lên khỏi phòng lái khi tôi chưa dứt liên lạc. Chỉ trong vòng tích tắc sau là chúng tôi đã “lóp ngóp” trong làn nước sông đen ngòm của một đêm tối trời! Tôi vội sải tay, đạp mạnh hai chân tống mình bơi ra xa vì luồng nước hút tạo ra bởi con tàu đang chìm dần xuống đáy sông như muốn cuốn chúng tôi theo! Nước sông lạnh và tôi cảm thấy hụt hẫng giữa dòng! Ban ngày nhìn vào hai bên bờ khúc sông này thấy nhỏ hẹp, nhưng bây giờ chơi vơi giữa dòng thì lại thấy bờ xa ngút ngàn! Những giang đỉnh trong toán đã vòng lại tiếp cứu và đón chúng tôi lên tàu. Kiểm điểm nhân viên thấy đầy đủ, và không ai bị thương. Chuyện chìm tàu này tôi đã bị Ty 3 An Ninh “neo” lại bờ cả tuần để điều tra!

32.- Nguyễn văn Hùng: Sau lễ mãn khóa tốt nghiệp, chúng tôi đi phép, và trình diện BTL/HQ để nhận nhiệm sở.
Tôi phải đi người nhái vì đã được nhận bởi đơn vị này trước. Tôi đã phải năn nỉ ỷ ôi để LLNN bỏ tên tôi ra khỏi danh sách tuyển chọn, và để cho tôi được về Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Phải mất hơn một tháng sau thì tôi mới được toại nguyện, và được thuyên chuyển về Sở PVDH. Khi trình diện Sở PVDH, tôi đã mất cơ hội phục vụ trên tầu của Lực Lượng Hải Tuần. Các bạn cùng khóa như quan Bạch Xuân, Dương Xuân Phong, và Vũ Hữu Lý đã may mắn được làm HP/PCF. Riêng tôi và quan Đỗ Thanh Vẽ phải ngồi cạo giấy “chán phèo” nơi văn phòng. Chúng tôi không có được phụ cấp cho những đơn vị tác chiến, và nhất là không được có những “món tiền phụ trội do số dầu thặng dư” trên chiến đỉnh đem ra đầu tư trên những con thuyền đánh cá của ngư dân giầu có hay đầu nậu buôn bán dầu trong vùng.

33.- Mai Kim Phụng: Sau khi đi thực tập ở Đệ Thất Hạm Đội về, trình diện BTL/HQ thì tôi cứ đinh ninh là mình sẽ đi PT thuộc Sở PVDH vì đã có xin đi từ trước, nhưng khi đó mới chưng hửng ra là mình đã được chỉ định phục vụ tại Hải Đội 5 Duyên Phòng! Chẳng biết phải trình diện đơn vị Hải Đội ở đâu, hỏi BTL/HQ thì được chỉ là ở Vũng Tàu. Tôi khăn gói lò mò ra Vũng Tàu, tới nơi mới được biết là chỉ có một chi đội ở đây thôi, còn phải về Mỹ Tho để trình diện BCH/HĐ5DP. Thế là tôi phải về lại Sài Gòn để theo xe đò xuống Mỹ Tho. Thật là khẩu phục tâm phục BTL/HQ nhà ta thêm một lần nữa! Xuống đến nơi, tôi thấy có quan Võ văn Tâm thuộc Phòng 1, nhân viên, có quan Bùi Cảnh Bằng thuộc Phòng 4, tiếp liệu, và quan Ngô Bá Nhẫn làm thuyền phó của một trong hai chiếc PCF nằm tại Mỹ Tho. Một trong hai chiếc PCF là soái đĩnh của CHT “Cao Bồi” Luật. Tôi chả có chức vụ gì nên không có chỗ ngồi chính thức, ngoại trừ tại Câu Lạc Bộ. Có một lần tôi đang ngồi trên bàn trong BCH vì không có ghế, bất ngờ CHT đi qua thấy tôi ngồi trên bàn coi chướng mắt quá, ông ta nói “này ông thiếu úy kia, đừng có bắt chước Mỹ!” Thế là tôi mất luôn chỗ đặt bàn tọa! Hết tiền ngồi trên CLB, tôi bèn mò xuống tầu quan NB Nhẫn tạm trú vậy.
Có một lần đang làm SQ Trực, BCH vắng hoe, CHT về Sài gòn, CHP và các SQ khác cũng đi chơi đâu hết thì tôi nhận được một “cú” điện thoại từ BTL/HQ/TTHQ là “công tác sớm hơn năm giờ”. Tôi chẳng biết “trời trăng mây nước” gì nên cứ hỏi tới mãi, làm cho vị sĩ quan ở đầu dây bên kia mới thắc mắc là tôi không nhận được công điện hay sao? Lệnh là phải gởi hai chiếc PCF đi hộ tống một chiếc LST đi Tân Châu. Sau này tôi mới rõ là công điện đã nhận được rồi nhưng các quan lớn cất kỹ, tính để chiều về giải quyết. Nhưng thú thật dù có thấy công điện thì tôi cũng mù mờ về cách giải quyết mà thôi! Tìm mãi không ra Lệnh Công Tác, tôi bèn ký Sự Vụ Lệnh cho quan NB Nhẫn dẫn hai chiếc PCF thi hành công tác! Một mình quan NB Nhẫn dẫn hai chiếc đi vì hai thuyền trưởng đã “dzọt” theo CHT, còn thuyền phó của chiếc còn lại cũng “dzọt” về Sài Gòn mất tiêu! Hai chiếc PCF theo quan NB Nhẫn đi mấy ngày mà chẳng thấy liên lạc truyền tin về BCH gì hết cả, nên ai cũng đinh ninh là hai chiếc này đi lạc lối rồi! Đến khi quan NB Nhẫn trở về bến rồi thì tôi mới biết là quan Nhẫn đã dẫn tàu “đi lạc” tới chỗ nào rồi, đã thế mà một chiếc lại còn bị mất cả chân vịt nữa chứ! Chắc quan NB Nhẫn nhà ta lúc đó cũng âu lo dữ lắm, nhưng không ngờ rốt cuộc lại được khen mới chết chứ. Còn vị thuyền phó kia thì bị phạt về tội bỏ tầu về SG. Cứ “cà nhổng” như thế cho đến khi quan NB Nhẫn thuyên chuyển về HĐ3DP thì tôi xuống thế chỗ làm thuyền phó cho một đàn anh K.18 cho đến khi lên làm thuyền trưởng cho một chiếc khác.

34.- Nguyễn văn Hùng: Sở PVDH được chia ra làm hai lực lượng: Hải Tuần và Biệt Hải. Sau một vài tháng ngồi cạo giấy cho Hải Tuần, Sở PVDH thành lập thêm một toán Biệt Hải, Toán Trâu Nước.
Tôi tình nguyện đi ngay vì dân Biệt Hải coi “gồ ghề” lắm. Sau vài tháng huấn luyện, tôi làm trưởng toán Trâu Nước gồm có 14 người kể cả tôi. Ba toán còn lại của Biệt Hải là Cá Mập, Ó Biển, và Rồng Biển. Trưởng toán Cá Mập là một Sĩ quan Lục quân, và trưởng toán của hai toán còn lại là hai Thượng Sĩ HQ đầy kinh nghiệm. Chúng tôi có quyền mặc đồ dân sự lè phè hay rằn ri khi ở bờ không đi công tác, và nhất là có giấy phép đặc biệt được đi cả trong những giờ giới nghiêm. Trong khi thi hành công tác thì chúng tôi đặc biệt chuyên “diện” đồ đen, chân đi đất hay giầy vải hoặc “dép râu”. Tôi vẫn còn đôi dép râu này dù sau hơn ba mươi năm không còn phải đi công tác nữa. Chúng tôi đã được trang bị như một toán VC với cây AK47 làm chuẩn.

35.- Dương Thiệu Tùng: Trong cuộc đời binh nghiệp, có nhiều bạn cùng khóa đã phải đối đầu với nhiều hiểm nguy hơn tôi, nhưng có lẽ tôi là người đã ở trong một trạng huống bi thảm nhất khi tân đáo đơn vị đầu tiên. Năm 1970, sau khi thực tập trên chiến hạm USS Chevalier (DD805) thuộc Đệ Thất Hạm Đội trở về, tôi được chỉ định phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211.1 (BCH/LĐĐN/TB). LĐĐN/TB 211.1 gồm có hai giang đoàn Thủy Bộ 70 và 71 đang đồn trú tại Căn Cứ HQ/Kiên An thuộc Quận Kiên An, Tỉnh Kiên Giang.
Sau một tuần nghỉ phép, tôi trình diện BTL/LLTB đang đồn trú tại Căn Cứ HQ Đồng Tâm (Mỹ Tho). Tư Lệnh LLTB lúc đó là HQ Đại tá Nguyễn văn Thông (Thông đầu bạc), còn Tư Lệnh Phó là HQ Trung tá Hoàng Cơ Minh. Sau khi trình diện, Trung tá Hoàng Cơ Minh cho biết là ngày hôm sau tôi sẽ tháp tùng theo xe của Tham Mưu Trưởng LLTB là Trung tá Nồng văn Lạng, đi công tác tại CCHQ/Kiên An, để tân đáo đơn vị. Trên đường đi chúng tôi ghé qua Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận HQ Rạch Sỏi ở ngoài thị xã Rạch Giá để nghỉ qua đêm, đến sáng sẽ vào CCHQ/Kiên An cho an toàn hơn.
Trong lúc ngủ qua đêm tại CCYT/TVHQ/Rạch Sỏi tôi được gặp một chuẩn úy CB (không nhớ tên) thuộc giang đoàn 70TB cho biết là tình trạng tại CCHQ/Kiên An rất là bi đát! Mới mấy hôm trước, căn cứ đã bị địch pháo kích rất dữ dội. CHT/LĐĐN/TB211.1 là HQ Thiếu tá Nguyễn văn Học đã bỏ nhiệm sở về Sài Gòn khi nhận được lệnh đưa Liên Đoàn từ Nam Vang về Kiên An, nên đơn vị đã báo cáo đào ngũ! CHP là HQ Đại úy Nguyễn An Cường (K14) thì hiện đang ở vùng hành quân cùng với hai giang đoàn. Liên đoàn hiện đang hành quân yểm trợ cho Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại vùng U Minh Thượng. Anh có rủ tôi bỏ về Sài Gòn trình diện BTL/HQ, tôi tuy bị hoang mang nhưng đã không nghe lời, và tiếp tục theo xe của Trung tá Lạng để tân đáo nhiệm sở vào ngày hôm sau.
Xuống đến CCHQ/KA, tôi không phải qua thủ tục trình diện vì CHT và CHP đều không có mặt. Ông thượng sĩ Quản Nội Trưởng hướng dẫn tôi vào một căn nhà tiền chế, và để tôi tạm ngụ tại chiếc giường của chuẩn úy CB Nghĩa. Chuẩn úy Nghĩa đã bị thương và đang được điều trị tại bệnh viện Rạch Giá. Mấy ngày hôm sau thì tôi được trực thăng của Hoa Kỳ bốc vào vùng hành quân, căn cứ Rạng Đông trong vùng U-Minh nơi đặt BCH của Trung Đoàn 33 BB. Trực thăng bay dọc theo Kinh Cán Gáo, tôi thấy lác đác một vài xác tàu chìm mà chưa được vớt lên! Khi gần đến căn cứ Rạng Đông tôi thấy có một nghĩa trang của VC nằm phía bên phải của bờ Kinh. Ngoài cổng vẫn còn thấy hai tấm bảng đề “Sống Oanh Liệt” và “Chết Vinh Quang” tuy đã bị miểng đạn bắn lỗ chỗ. U Minh Thượng vốn là mật khu, khu dưỡng quân, và thường là vùng bất khả xâm phạm của VC.
Sau khi trình diện CHP là Đại úy Cường, tôi được đưa xuống một chiếc quân vận đỉnh tác chiến Tango, là một loại LCM được biến cải thành chiến đỉnh với hỏa lực hùng hậu và có sàn (platform) để trực thăng có thể đáp xuống. Tàu đang ủi bãi bên bờ kinh, bên hông vẫn còn hai túi đựng xác của hai người lính chết mới vớt lên được từ một chiếc tàu chìm, đang chờ trực thăng đưa về Rạch Giá, trên trời thì một bầy kên kên đang bay lượn vòng vòng, kêu réo vang trời bằng những âm thanh “quang quác” nghe rất chói tai, có lẽ vì chúng nghe mùi tử khí nồng nặc bên duới. Đó là những ngày đầu tiên tân đáo, tôi bước ra khỏi những bài học, những mộng mơ thời quân trường để đi làm người chinh chiến, đối diện thực sự với những hiểm nguy, những lo âu, và nỗi chết luôn luôn có mặt kề bên.
Ít lâu sau thì HQ Đại Úy Nguyễn Duy Long (K13) được điều động về làm CHT. BCH/LĐĐN/TB 211.1 được đưa lên bờ làm việc chung với BCH của Trung Đoàn 33 BB để phối hợp hành quân hỗn hợp giữa BB và HQ. Lên bờ, tôi không còn phải trực diện với những cuộc chạm địch, bị phục kích trên sông, hay những cái lo ngay ngáy đến việc bị mìn của VC, tuy cũng vẫn còn có những màn pháo kích lẻ tẻ của đối phương. Nước sông vùng U Minh Thượng mặn như nước biển, nên chúng tôi đã phải chắt từng lon sữa bò từ những vũng nước mưa để đánh răng hay rửa mặt. Muỗi cũng trở thành một vấn nạn vì nhiều quá đỗi! Đại úy NDLong lên thiếu tá và được đổi đi làm hạm trưởng, Trung tá Nồng văn Lạng về thay thế, rồi Đại úy NACường cũng được thuyên chuyển đi làm CHT/CCHQ/An Thới, và tôi cũng được đổi về phục vụ trên Trợ Chiến Hạm Đoàn Ngọc Tảng (HQ228), giã từ vùng U Minh hung hiểm.

36.- Nguyễn Minh Cảnh: Hồi trước khi là HC2, em đã có đầu quân làm lính biệt kích cho ông Cha Hóa ở Đặc Khu Hải Yến ở dưới miệt Cà Mâu được đâu đó khoảng gần một năm. Ông cha Hóa trước là một Đại Tá của Trung Hoa Dân Quốc, sau khi Trung Cộng chiếm Hoa Lục, ông đã dẫn cả Sư Đoàn dưới quyền gồm toàn dân tộc thiểu số người Nùng và gia đình của họ ở vùng Vân Nam xuôi Nam và tạm định cư bên đất Cam Bốt. Đến khi ông Diệm mần Tông Tông thì ông xin đưa bầu đoàn của ông về lập khu dinh điền tại miệt Cà Mau, vùng Cái Đước khu sông Ông Đốc theo đúng chính sách của Phủ Tổng Ủy Tỵ Nạn đặt ra. Khu này muỗi thì như rạ, mà VC thì cũng “sêm sêm” không kém. Lần đầu tiên đụng trận khi toán của em bị VC phục kích ở gần quận Đồng Cùng, tỉnh Cà Mau. Em teo quá xá, phải thụp mình nấp xuống bên bờ kinh cho tới khi xong chuyện, Trưởng toán đi tìm và gọi tên thì em mới dám ló mặt lên và mò ra. Bây giờ nghĩ lại thấy làm sao mà lúc đó mình hèn quá sức, chịu không được! Kể từ đó, cứ mỗi lần trước khi đi công tác là “chúng nó” lại bắt em “phải” uống rượu! Và quả thật đấy, có lẽ rượu đã là “thần dược” làm hăng tiết vịt tuổi trẻ của em lên, và em thành “đầu bò” chẳng biết gì, cứ húc đại. Và cũng xin nhắc lại để cám ơn giới “chị em ta” đã giúp em “xả xui” trước và sau mỗi lần đi công tác.

37.- Cung Vĩnh Thành: Sau khi thực tập trên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, trở về nước ngày 15 tháng 11, tôi được tân đáo về phục vụ tại Giang Đoàn 43 Ngăn Chận, lúc đó đang hành quân tại vùng sông Ông Đốc thuộc tỉnh Cà Mâu. Bao nhiêu những cái học tại trường SQHQ Nha Trang như Hàng Hải Cận Duyên và Thiên Văn, Lý Thuyết Thuyền Bè, Hải Pháo, Vận Chuyển, Toán Đại Cương… và những gì thu nhận được trong thời gian đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đều không thể đem ra thực hành tại nơi này được! Ngày đêm chúng tôi đã phải đối diện với những rình rập phục kích của Cộng quân. Chúng tôi đã luôn luôn phải cảnh giác, và sẵn sàng trong tư thế phản công trong những lúc di chuyển, kích gác ban đêm, và ngay cả những khi đi tìm hay vớt xác những người lính thuộc quyền mới chết đêm qua, hoặc sau những lần quần thảo đụng trận với địch quân, đang tấp vào đâu đó bên bờ sông…
Khoảng giữa năm 1971, GĐ43NC được tăng phái cho chiến dịch Trần Hưng Đạo 27 tại Bình Dương cùng với các GĐ53TT, GĐ24 và 30XP thuộc Vùng 3 Sông Ngòi. Tuy được ở gần Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi hành quân thì hầu như là chúng tôi luôn luôn bị đụng trận bởi vì vùng trách nhiệm hoạt động của chúng tôi bao gồm cả những địa danh nổi tiếng như những mật khu Tam Giác Sắt, Hố Bò, và Bời Lời của Cộng quân. Cũng tại những nơi này mà niên trưởng K.19 NVSơn đã hy sinh sau khi bị hứng trọn một trái B.40 trong một lần chạm địch, niên trưởng K.18 LDụng và niên đệ K.21 PTĐạt đã bị thương mà qua thặng số. Không như những GĐXP trực thuộc Vùng Sông Ngòi ít khi phải di chuyển đổi vùng; những GĐNC, trực thuộc BTL/Lực Lượng Trung Ương tại Cát Lái, có tính cách lưu động và thường phải di chuyển vùng hành quân theo tình hình chiến sự.
Sau 8 tháng hoạt động tại vùng Bình Dương, GĐ43NC chúng tôi được lệnh di chuyển xuống trấn giữ con Kinh Đồng Tiến thuộc Vùng Hồng Ngự. Kinh Đồng Tiến là một con kinh đào có chiều ngang khoảng 5 hay 6 thước, chừng hơi lớn hơn chiều ngang của hai chiếc giang đỉnh nằm cạnh nhau mà thôi, do đó Cộng quân thường hay xử dụng mìn trôi để tấn công chúng tôi! Chúng tôi hoàn toàn bị thụ động, không đánh được một trận nào cho ra hồn cả mà vẫn phải chấp nhận những thiệt hại hay tổn thất mỗi khi giang đỉnh bị chạm mìn! Thành quả có được trong thời gian này thật là ít ỏi, chỉ là những lần giang đỉnh đi kích đêm, đôi khi tóm được vài ba tên Cộng quân về nhà dân thu thuế hay thăm gia đình mà thôi… Nhưng sự hiện diện của GĐ43NC và GĐ54TT tại con kinh này còn có mục đích chính là làm giảm thiểu việc điều binh của Công trường 7 Công quân tại Vùng 4. Ngoài ra GĐ43NC chúng tôi một đôi khi cũng còn phải tăng phái cho những vùng như Trà Cú, Gò Dầu Hạ, Tuyên Nhơn hay Mộc Hóa mỗi khi tình hình sôi động tại những nơi này.
Sau hai năm phục vụ tại giang đoàn, tôi được thuyên chuyển về Hạm Đội, phục vụ trên Hỏa Vận Hạm HQ473. Đây có lẽ là thời gian nhàn nhã nhất sau khi ra trường của tôi. Sau khi nhận đầy dầu tại những kho xăng tại Nhà Bè, chiến hạm của chúng tôi thường đi tiếp tế cho các Căn Cứ Hải Quân, Tiền Doanh Yểm Trợ, Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận tại Vùng 4 và Năm Căn. Đôi ba lần chúng tôi cũng ra tiếp tế cho Vùng 2 tại Căn Cứ Hải Quân Cam Ranh. Những chuyến công tác tiếp tế như vậy thường là ngắn hạn, do dó tôi có mặt thường xuyên tại Sài Gòn mỗi khi tầu về bến.
Sau hai năm phục vụ trong Hạm Đội, tôi đã tình nguyện làm đơn đi học lớp Sĩ quan An ninh tại trường Cây Mai ở Thủ Đức. Cùng đi học với tôi khóa này còn có HC2 TTCường, và thời gian theo học là 3 tháng. Đây đúng là thời gian phải học thật và khi thi mãn khóa cũng là thi thật chứ không phải học và thi đại khái như những nơi khác. Mặc dù đã là một sĩ quan, nhưng cách đêm chúng tôi cũng phải ôm súng ra vòng rào ứng chiến cùng một lúc thắp đèn cầy (?) để học bài thi cho ngày hôm sau. Thậm chí còn có những anh nhát gan vào cuối tuần đã không đi phép để ở lại trong trại mà gạo bài. Riêng cá nhân tôi, vào những đêm không phải ứng chiến, thường cùng với các sĩ quan cùng khóa học và thuộc các quân binh chủng khác như Nhẩy Dù, TQLC, hay BĐQ rủ nhau lên CLB để uống bia. Chúng tôi thường thi nhau uống, ai bị “gục” trước thì phải trả tiền cho nguyên bữa nhậu đêm đó! Cũng may vào cuối khóa học, tôi cũng đã được tốt nghiệp. Sau đó tôi được bổ nhiệm làm SQAN thuộc BTL/V4DH. Tại nơi này tôi đã được gặp lại hai vị thầy cũ của trường SQHQ Nha trang đó là HQ Đại Tá KHBá và HQ Trung Tá MMLiên hiện đang đảm nhiệm chức vụ TL và TLP/V4DH. Đã là một sĩ quan chuyên ngành như an ninh, sưu tập, phòng nhì hay tiếp liệu thì thường sẽ được theo học các lớp trung cấp trong ngành mình đã chọn. Tuy nhiên vì những lý do này nọ, tôi đã cố gắng xin xuất ngành an ninh. Sau cùng thì đơn xin xuất ngành của tôi đã được chấp thuận, và tôi được về học khóa Tham Mưu Trung Cấp Hải Quân tại TTHL/HQ/Sài Gòn tại HQCX. Đang theo học được giữa khóa thì tình hình đất nước biến động, và rồi Tháng Tư Đen của năm 1975 đã xẩy đến!

38.- Ngô Nguyên Trực: Sau khi đi thực tập trên một chiếc destroyer của Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ về, tôi được tân đáo Hải Đội 2 Duyên Phòng tại Cam Ranh. Tôi làm thuyền phó cho HQ Đ/Úy Bình (K.14) trên chiếc CoastGuard HQ 716, một thời gian sau thì lên làm thuyền trưởng chiếc PCF 3850. Đỗ Ngọc Viêm, Nguyễn Đăng Khúc ở chung một đơn vị với tôi. Sau hai năm tôi được thuyên chuyển về GĐ 55 Tuần Thám tại Châu Đốc. Nhiệm vụ của chúng tôi bao gồm tuần tiễu, ngăn chận, tiêu diệt VC, phối hợp hành quân với Bộ Binh. Chúng tôi lưu động tùy theo tình hình sôi động, từ Kinh Vĩnh Tế, An Phú, đến cả Kinh Đồng Tiến trong vùng Đồng Tháp Mười, và một đôi khi phải hộ tống tàu buôn lên đến tận Tân Châu. Có một lần chiếc PBR của tôi đang trên đường về căn cứ để lấy dầu thì bị trúng mìn VC. Sức nổ của quả mìn quá mạnh, hất tung người tôi lên, rớt xuống sông, chúng tôi bơi lóp ngóp và được chiếc PBR đi cùng vớt lên. Tôi bị tức ngực, máu rỉ ra từ lỗ mũi và hai bên lỗ tai. Sau đó tôi được tản thương về bệnh viện ở Long Xuyên, và điều trị tại đây hơn một tuần. Tôi và quan Nghiêm Xuân Chương được biệt phái cho toán “Viper” dưới quyền của HQ Tr/Úy Sơn (K.16) để thử nghiệm những chiếc “viper”. Toán chúng tôi gồm có một soái đỉnh là chiếc LCM6 biến cải và 8 chiếc viper. Đó là một loại ghe ximăng được sản xuất tại HQCX, và được gắn máy phản lực của PBR. Vỏ của PBR nhẹ nên máy phản lực đẩy nó ngóc đầu lên, và chạy như lướt trên mặt nước. Ghe làm bằng ximăng thì trái lại, dễ bể, nặng nề nên khi chạy nhanh nó cứ chúi mũi xuống sóng đòi đi thăm Hà Bá! Sau sáu tháng thì chương trình này được hủy bỏ, tôi được trở về BTL/LLTT 212, Tư Lệnh là HQ Đại Tá Nghiêm văn Phú (Phú Già.)

39.- Trần Tuấn Đức:
Đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội cùng với các quan Phạm văn Độ, Nguyễn văn Xê, và Nguyễn Đình Tiến (Tiến Răng Dzaàng) trên chiếc tầu dầu Ashtabula USS AO-51 xong, tôi được tân đáo Trợ Chiến Hạm Nguyễn Ngọc Long HQ-230 cùng với các quan Trần Đức Chấn (Gà Mái Mập) và Cơ Khí Trưởng Nguyễn Hữu Thiện.Chiến hạm chúng tôi đa số là được biệt phái vùng Năm Căn, trên sông Ông Đốc, và một đôi khi cũng được biệt phái cho Vùng 4 Sông Ngòi.
Trong một lần đang vận hành trên sông Ông Đốc, chúng tôi bị VC tấn công bằng những loạt đạn B 40, tôi đang đi quart, mọi người nhốn nháo nhẩy vào nhiệm sở tác chiến. Anh hạ sĩ giám lộ giữ nhiệm vụ lập lại lệnh truyền xuống phòng lái vội nằm rạp xuống sàn của đài chỉ huy để tránh lằn đạn, vì quýnh quáng nên anh đã chụp vội theo cái “ống phễu” truyền lệnh xuống phòng lái, thế là lệnh của sĩ quan đương phiên hay của hạm trưởng đều vô hiệu! Chiến hạm vẫn tiếp tục giữ hướng cũ, và có khuynh hướng lao vào bờ! Những loạt đạn phản pháo từ trên tàu đã làm im tiếng súng địch. Hạm trưởng và sĩ quan đương phiên đã lấy lại bình tĩnh, nên đã điều chỉnh lại kịp thời và hướng dẫn con tàu trở lại đúng hướng. Một lần khác, cũng bị địch tấn công bằng B-40 trên sông Ông Đốc, quan Chấn “Gà Mái mập” đang đi quart.
Một trái B-40 trúng ngay chiếc thuyền phao cấp cứu treo dọc đài chỉ huy, nhưng không nổ vì lớp foam xốp, miểng sơn văng tứ tung. Quan Chấn bị một miểng văng trúng người, có chẩy tí máu, và được hưởng một chiến thương bội tinh. Một lần khác, tàu bị trúng đạn B-40 ngang lườn làm cho nước theo lỗ hủng vào tàu. Cơ khí trưởng Nguyễn Hữu Thiện được lệnh balance các khoang chứa nước để làm nghiêng con tàu về một bên, tránh cho lỗ hủng do đạn phải nằm dưới mặt nước trong lúc nhân viên phòng tai làm việc vá tạm lườn tàu.
Sau hai năm, tôi được thuyên chuyển về Tiếp tế hạm HQ-459 thuộc Vùng 1 Duyên Hải. Nhiệm vụ chúng tôi là chuyên chở tiếp liệu từ CC/YTTV/Đà Nẵng cho các duyên đoàn thuộc Vùng 1, nhất là cho Cù Lao Ré. Sau đó được lệnh thuyên chuyển và được đi huấn luyện về môn Hydrography & Oceanography, đo đạc và thám sát để nhật tu hải đồ, giang đồ, và các bãi ủi. Về làm ở Sở Thủy Đạo, trực thuộc P2/BTL/HQ cùng với quan Hoàng Kim Công cho đến ngày mất nước.

40.- Lê văn Châu: Sau khi đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội về, tôi được lệnh trình diện tân đáo đơn vị đầu tiên là Hải Vận Hạm Hậu Giang HQ 406. Hạm trưởng là HQ Th/tá PTQuỳnh (vừa bàn giao với HQ Th/tá LVRạng, cùng khóa 11), Hạm phó là HQ Đ/úy LATuấn (khóa 14), Cơ khí trưởng là NT19 HQ Th/úy CK NTHoàng. Ngoài ra, còn có thêm 2 NT19 nữa là HQ Th/úy TTAn (SQ Đệ Tam) và HQ Th/úy NVOanh (SQ vận chuyển), và một bạn khoá 20 là HQ Ch/úy Nguyễn Đình Noa (SQ ẩm thực).
Chức vụ đầu tiên của tôi là Phụ tá Cơ khí trưởng kiêm SQ phòng tai. Vài tháng sau, NT NTHoàng được lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác, và tôi lên thay thế làm Cơ khí trưởng. Lúc đó, HQ 406 đang đi tiếp tế khắp các vùng duyên hải và sông ngòi. Chúng tôi đi công tác nhiều nơi như Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Quốc, Côn Sơn, Năm Căn, Đồng Tâm, Cần Thơ …v..v. Có một lần tham gia hành quân bên Cao Miên, chiến hạm hải hành lên tận hải cảng Shihanookville để tiếp tế nhiên liệu và chở mấy chiếc Thiết vận xa bất khiển dụng của quân lực VNCH về Việt Nam. Một kỷ niệm nhỏ về chuyến đi này là tôi theo Hạm phó LATuấn ra phố hớt tóc. Cứ nhớ đến hai chữ “cáp-duồn” là tôi rợn tóc gáy khi anh thợ hớt tóc người Miên đưa dạo cạo lên mặt!! Cũng may là không có chuyện gì xảy ra.
Một lần khác khi đi công tác ở Phú Quốc, Hạm trưởng Quỳnh rủ các SQ hùn tiền mua nước mắm về Sài Gòn bán lấy lời. Các SQ trên tàu đồng ý chung tiền vào. Nhưng trên đường về, gặp sóng to, hầu hết các bình nước mắm bị bể, cả tàu xông lên toàn là mùi nước mắm hôi và rất khó thở!! Khi tàu về đến sông Sài Gòn, phải bơm nước ngọt lên để rửa tàu mới bớt hôi. Đúng là ‘tiền mất tật mang’!!!!
Tôi được nếm mùi ‘cây còn’ lần đầu khi tàu về bến, tất cả SQ (kể cả HT và HP) được một SQ (tên Hóa, biệt phái từ Thủ Đức, nhà ở Xóm Mới) mời về nhà ăn giỗ, đặc biệt có “hạ” một con “cầy tơ” để đãi khách quý. Trong giới nhậu đã có câu thơ rằng:
“Sống ở trên đời ngon nhất dồi chó,
Chết xuống âm phủ biết có hay chăng?”

Tôi chỉ dám thử món dồi nhưng vì không được nóng cho nên tôi không thích lắm.
Trong một chuyến công tác khác, chiến hạm đang trên đường hải hành ra Đà Nẵng thì máy ép gió còn lại bị hư! HQ 406 có hai máy ép gió, một máy bị bất khiển dụng, đang chờ sửa chữa tại Hải Quân Công Xưởng thì được lệnh đi công tác khẩn, chiến hạm phải lên đường với một máy ép gió còn lại. Hai máy chánh của tàu dùng sức gió để khởi động máy. Ông Thượng Sĩ phụ tá của tôi loay hoay mãi mà không sửa được! Tôi tìm cuốn Cẩm nang (Manual instruction), đọc kỹ thì đâm ra nghi ngờ là có thể một cơ phận bị đặt ngược chiều (do một thủy thủ trên tàu thay thế cơ phận này). Tôi ra lệnh đổi chiều của cơ phận vừa thay thế, quả nhiên, máy ép gió hoạt động trở lại. (Vì cơ phận bị đặt ngược chiều nên máy ép không đưa gió vào bình chứa được). Nhờ vậy nên chuyến công tác trở về bến bình yên và tôi được HT Quỳnh khen thưởng.
Thời gian sau cùng của tôi trên HQ 406, chiến hạm đi công tác hàng tuần ở Năm Căn, Cà Mau. Hạm Trưởng Quỳnh tình nguyện đi công tác này vì tàu rời bến ngày thứ Hai và trở về thứ Sáu nên ông được gặp vợ con mỗi tuần. Chúng tôi cũng thích vì được về Sài Gòn mỗi cuối tuần. Chuyến đi chỉ gặp nguy hiểm trên đường từ cửa sông vào căn cứ Năm Căn, và từ căn cứ trở ra đến cửa biển. Mỗi khi tàu vào đến cửa sông là đã có các chiến hạm loại giang pháo hạm hay trợ chiến hạm ra hộ tống vào. Có một lần, lúc trở ra, tàu bị trúng một viên B-40 bắn lủng thân tàu, gần phòng máy. Nhưng may mắn là không có ai bị thương và chiến hạm vẫn hải hành an toàn về đến Sàigòn, rồi sau đó được sửa chữa tại Hải Quân Công Xưởng. Một lần khác, trên đường về từ Năm Căn, ra đến biển thì cửa đổ bộ không đóng chặt được nên Hạm trưởng chỉ thị cho tôi xuống xem xét. Lúc đó vào ban đêm, trời tối đen như mực, sóng hơi to, sân tàu trơn trợt, một mình tôi leo lên cửa đổ bộ để quan sát coi xem tình hình ra sao, và sau cùng đã đóng cửa được (vì bị một thanh sắt chấn ngay cửa đổ bộ thành ra bị kẹt nên cửa không đóng chặt được). Bây giờ, nhớ lại, tôi thấy mình có thể rớt xuống biển rất dễ dàng nếu lúc đó không cẩn thận. Vài tháng sau, HT Quỳnh bàn giao cho HQ Th/tá NKKhánh (cùng khóa 11). HQ 406 tiếp tục đi công tác Năm Căn hàng tuần. Tôi vẫn còn nhớ mỗi lần ủi bãi Năm Căn, là có nhiều bạn 20 (không nhớ tên) thuộc HĐ5DP lái PCF đến để lấy dầu. Chẳng những lấy đầy hầm mà còn cố chất thêm vài thùng lẻ tẻ trên sàn tàu nữa????
Gần mãn nhiệm kỳ trên HQ 406 thì có một đàn em cơ khí khóa 21 (HQ Th/úy CK HVDự) xuống phục vụ chung với tôi. Khi tôi rời HQ 406 thì bàn giao chức Cơ khí trưởng cho Dự. Tôi không nhớ là Noa còn ở HQ 406 khi tôi rời chiến hạm hay không?
Rời HQ 406 giữa năm 1972, tôi về phục vụ đơn vị thứ nhì là Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Nhà Bè. Chỉ huy trưởng là HQ Tr/tá CK NHNăng, Chỉ huy phó HQ Th/tá CK HNam. Rất nhiều bạn 20 đang phục vụ ở đây. Bên Chỉ huy có Trần Đông Phước (Trưởng phòng Nội Vụ), bên Cơ khí thì có: Trần Mạnh Hà (Trưởng Ty Tiếp Liệu), Nguyễn văn Long (Trưởng Ty Chuyển Vận), Ngô Ngọc Luật (Trưởng Xưởng Buồm), Trần văn An (Trưởng Xưởng Động Cơ/ Cơ khí) và tôi. Tôi được bổ nhiệm làm Phó Trưởng Ty Công Thự Tiện Ích (Trưởng ty là NT19 ĐLMTruyết). Ty này lo về tiện nghi cho căn cứ (chăm sóc và bảo trì nhà máy điện, nhà máy nước; tu bổ và sửa chữa hệ thống điện nước, quân xa .v.. v.).
Căn cứ Nhà Bè này rất gần Sài Gòn, chỉ cách khoảng 10 hoặc 15 cây số. Một số nhân viên ở căn cứ này thuộc loại “con ông cháu cha”, rất khó đưa vào khuôn phép. Nhưng tôi vẫn nhốt những anh nào bê bối, vi phạm kỷ luật như trốn lên Câu Lạc Bộ hoặc ngủ trong giờ làm việc. Vì thế, tôi được CHP HNam trọng dụng, coi như đàn em thân tín, mỗi lần đi công tác xa đều rủ tôi đi cùng.
Lúc này, tình hình chiến sự bắt đầu sôi động, nên hầu hết các đơn vị phụ cận Sài Gòn được lệnh cấm trại thường xuyên. Chiều chiều, tôi đi xe gắn máy về Sài Gòn (được đi bờ vài giờ), ghé nhà hàng “Phi An” của gia đình bạn Trần văn An ở ĐaKao (mang theo tờ giấy viết tay của An để lấy đồ nhậu). Rồi trở về Nhà Bè sau khi mua thêm một chai Johnnie Walker cổ đỏ hoặc Napoleon. Chúng tôi (Long, Hà, An và tôi) thường vào phòng của tôi để ăn nhậu. Ngoài nhóm 20 chúng tôi, còn có thêm một đệ tử ruột nữa là BKVi (khóa 21). Trong phòng ngủ của tôi, dưới gầm giường toàn là những thùng đựng vỏ bia và chai không!!!! Chỉ trừ bạn NNLuật là một “con chiên ngoan đạo” nên không tham dự những cuộc vui. Có một lần, quá say, tôi rút súng lục bắn lên trần nhà (trên lầu là chỗ cư trú của Hạ Sĩ Quan). Khiến cho một ông Thượng Sĩ phải thốt lên: “Ngủ ngoài vọng gác còn an toàn hơn ở đây???” Sau vụ này, tôi bị thưa, lên trình diện CHT và bị phạt 8 ngày trọng cấm.
Sau hơn một năm phục vụ ở CCYTTV Nhà Bè, tôi được lệnh thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Yễm Trợ Tiếp Vận ở Bộ Tư Lệnh HQ. CHT là HQ Đ/tá NKLuân. Nhiệm vụ mới của tôi là tháp tùng phái đoàn Cố Vấn HQ Hoa Kỳ đi thanh tra tiếp liệu điện tử một số đơn vị Hải Quân (Căn cứ Yễm Trợ Tiếp Vận, Đài kiểm báo, Căn cứ Hải Quân). Phương tiện di chuyển nếu gần thì sử dụng quân xa của Cố vấn Hoa Kỳ, nếu đi xa thì có phi cơ của Air America. Thường đi công tác chung với tôi là một đàn em khóa 23 (?) tên GCNghĩa (con của Nghị viên GVThập, và có anh rể là HQ Đ/tá NGLuật tự “cao bồi” Luật). Thêm một kỷ niệm đáng nhớ trong thời gian này là chuyến thanh tra Đài Kiểm Báo 101 Cù Lao Ré (?) ở Vùng I Duyên Hải. Chỉ huy trưởng ĐKB lúc đó là NT18 LBChư, CHP là HC2 Tôn Thất Cường. Cường đưa tôi xuống làng Bình Vĩnh nhậu với dân làng. Lần đầu tiên, tôi được ăn con cua Huỳnh Đế (không to nhưng nguyên con cua là đầy thịt) và uống bia lạnh ngâm dưới giếng. Quá đã, quá đã! Cường nhường giường cho tôi (ở trailer) ngủ qua đêm ở ĐKB 101.
Cuối năm 1974, tôi rời Bộ CHYTTV về học khóa Tham Mưu Trung Cấp do Trung Tâm Huấn Luyện HQ điều hành trong Hải Quân Công Xưởng. Sau khi tốt nghiệp, tôi được lệnh thuyên chuyển về CCYTTV Bình Thủy. Về đây giữa tháng 04 năm 1975, hai tuần sau thì xảy ra biến cố 30-04.

Chương 8: Chuyện Súng Đạn

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Chinh Phụ Ngâm Khúc – Bà Đoàn Thị Điểm
       C húng ta lớn lên và sống trong chiến tranh suốt tuổi hoa niên, chuyện súng đạn là chuyện hàng ngày, nhưng tình nguyện gia nhập Hải Quân, chúng ta đã được huấn luyện và chuẩn bị để đối đầu với những cơn phong ba bão táp nhiều hơn là chuyện bóp cò súng. Tuy nhiên trong cuộc đời quân ngũ, chúng ta cũng đã phải trực diện đối đầu với những hòn tên mũi đạn, với chết chóc chia lìa, với mìn trôi, mìn từ... Chúng ta đi qua những cuộc đụng trận trong cuộc chiến không phải một cái “vèo” như những bạn phi công, nhưng cũng không đến nỗi phải ngày qua ngày như các bạn “cùng cha khác mẹ” TQLC. Những cuộc đụng trận của chúng ta chỉ trải qua vài phút, vài giờ, hay vài ngày, nhưng cái nạn mìn trôi thì cả ngày lẫn đêm! Xin mời các bạn hãy hồi tưởng lại một thoáng những kỷ niệm trong ta đó:


41.- Phan Ngọc Long: Sau hai năm ở BTL/V3SN, tôi được thuyên chuyển về tuần duyên hạm Tây Sa HQ-615 thuộc Hạm Đội, đang công tác tại Năm Căn. Trên HQ-615 có rất nhiều nhân viên ba gai, có thành tích, và Hạm Phó là quan Đỗ văn Sử. Sau một vài tuần công tác tại Năm Căn, tôi được chỉ định làm Hạm Phó thay thế quan Sử. Ngay ngày đầu tiên đảm nhận chức vụ Hạm Phó, tôi chỉ thị ông “Quản” đọc lệnh phóng thích quân lao của tôi để dằn mặt và đánh phủ đầu những nhân viên khó trị. Từ đó về sau, tôi đã rất dễ làm việc với đám nhân viên khó trị này. Sĩ quan chúng tôi ngoài Hạm Trưởng, tôi, quan ĐV Sử, còn có thêm HQ Ch/Úy Tuấn (K.21) và HQ Ch/Úy Thích (K.22). Tất cả những dụng cụ điện tử hải hành như radar, loran trên HQ 615 đều bất khiển dụng, chúng tôi chỉ có la bàn, kính sextan, hải đồ, và những sự trợ giúp, hướng dẫn của các đài kiểm báo mà thôi.
Khi còn công tác tại Năm Căn, chúng tôi nghe tin HC2 Huỳnh Hữu Khương bị tử thương ở khúc ngã ba làng, Năm Căn! Khi các bạn cùng khóa được thăng cấp thì tôi vẫn còn phải mang cấp bậc chuẩn úy, quan ĐV Sử trở lại làm Hạm Phó, và tôi xuống thành sĩ quan đệ tứ. Trong một chuyến tuần tiễu vùng Năm Căn như thường lệ, theo chức vụ, bạn Sử, CHP, đứng phía bên trái của đài chỉ huy, sĩ quan đệ tam Tuấn (K 21) làm trưởng khẩu 40 ly trước mũi, còn tôi làm sĩ quan đệ tứ coi khẩu 20 ly trên nóc, sĩ quan đệ ngũ Thích (K.22) làm trưởng khẩu súng cối 81 ở sân sau. Đang đi tuần, bất thần tàu bị VC tấn công ở khoảng một phần ba đường từ cửa Bồ Đề đến CC/HQ/Năm Căn, tại ngã ba Tam Giang nếu tôi không nhớ lầm. Khẩu 40 ly phía mũi bị trúng một trái B40, hay 57ly không giật, Tuấn và hai nhân viên trọng pháo bị thương nặng. Đài chỉ huy bị trúng một trái hoả tiễn, Hạm Trưởng HQ Đ/Úy Quý (K.14) bị thương nặng, quan Sử bị hất văng xuống tận cửa phòng ăn, lồm cồm đứng lên thì bị trúng tiếp ngay một viên thượng liên xuyên ngang ngực, nằm gục ngay tại chỗ! Tôi vội nhẩy xuống, điều khiển tàu, cho lệnh phản pháo vào các mục tiêu nghi ngờ, và cho nhân viên y tá chăm sóc những người bị thương. Khi tàu về đến CC/HQ/Năm Căn, những người bị thương được chuyển ngay về bệnh viện Cà Mâu điều trị. Bạn NX Dục đang làm trưởng xưởng cơ khí tại HQCX, nghe loáng thoáng tin hành lang là Hạm Phó HQ 615 bị thương nặng có thể đã chết rồi, nên vội vã phi báo ngay cho gia đình tôi biết là tôi đã bị tử thương trong trận này, làm cho mọi người trong gia đình hoảng sợ, nhưng sau đó tìm hiểu ra là bạn ĐV Sử mới giữ chức vụ hạm phó và bị thương nặng chứ không phải tôi nên vội chạy về đính chính lại! Hai nhân viên trọng pháo bị bán thân bất toại, Hạm Trưởng sau đó được bình phục và thuyên chuyển đi đơn vị khác, quan ĐV Sử cũng được bình phục và được thuyên chuyển về làm Chánh Văn Phòng cho Tham Mưu Phó Hành Quân, sau đó được vinh thăng Đại Úy, riêng tôi thì vẫn tiếp tục phục vụ trên HQ 615 thêm một thời gian nữa.
Hạm Trưởng mới là HQ Thiếu Tá Bài (K.13) và thêm một SQ/CB tân đáo chiến hạm ngay tại Năm Căn. HQ 615 chỉ với một máy khiển dụng, nước vào hầm máy phải dùng máy bơm nước ra nhưng vẫn tiếp tục được công tác vùng Năm Căn. Vào năm 1972, HQ 615 đã được biệt phái đến Hà Tiên, vùng biên giới Việt/Miên để yểm trợ hành quân cho một tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng trong chiến dịch dành dân chiếm đất. Chúng tôi đã dùng đại bác 40ly và BKP 81 ly trên chiến hạm để bắn yểm trợ tối đa cho đơn vị bạn, nhưng đồng thời cũng bị tụi VC bắn “lia chia” nhưng không ai bị gì hết.
Ngoài Năm Căn và Vùng 4 Duyên Hải, chúng tôi cũng phải công tác tuần tiễu tại khu Đại Lãnh-Vũng Rô thuộc Vùng 2, và trục Bắc thuộc Vùng 1 Duyên Hải nơi mà các loại PCE, WHEC, hay DER không được phép léo hánh tới vì sợ đụng chạm với HQ Bắc Việt. HQ 615 tuần tiễu ban ngày thì không đáng ngại, nhưng lại là một chuyện khác khi vào ban đêm chỉ với một la bàn từ, không dụng cụ hải hành điện tử, và ngoài tầm giúp đỡ của các đài kiểm báo. Nhiều khi vào lúc mặt trời mới lên, chúng tôi đã thấy Hòn Cọp mờ mờ và lù lù ngay trước mặt, hoảng hồn vội cho quay đầu và máy tiến “full” chạy trở ngược về miền Nam! Cũng rất nhiều khi tàu đã gặp phải những cơn bão “ghê hồn”, được chạy về Đà Nẵng trú bão, nhưng khi cơn bão vừa mới được thổi qua là HQ 615 lại được tiếp tục trở lại vùng tuần tiễu ngay lập tức! Những lúc như thế thì thật là khốn khổ, con tàu HQ 615 trồi lên hụp xuống như trái hột vịt lộn trong cơn sóng gió! Hai tay của sĩ quan đương phiên chỉ còn biết ôm chặt lấy chiếc la bàn để chống đỡ lại những con sóng phủ đầu, cao quá cả đài chỉ huy. Những vật gì trên boong tàu hay trên sàn của đài chỉ huy mà không được cột chặt thì sẽ bị nước biển lùa đi!
Tuy cực khổ như vậy, nhưng mỗi khi tàu về bến Đà Nẵng thì hầu như tất cả thủy thủ đoàn của HQ 615 đều “mò” ra khu đường rầy xe lửa để cùng chung vui với các quân binh chủng bạn mà không cần biết đến ngày mai. Nói đến khu đường rầy xe lửa ngoài “Đaà Neẽng” thì chắc chắn là các bạn đã từng phục vụ tại nơi đây đều không thể nào quên cho được. Chúng tôi lại có được những vị hạm trưởng với máu mê cờ bạc nên tôi luôn phải trực tàu, vì hạm phó là con chó giữ nhà mà, tôi thường hay lên nằm ngả lưng tại phòng của HC2 C/K NNChâu trong căn cứ yểm trợ Đà Nẵng để tạm quên đi những cơn lắc của sóng biển. Tuy nằm trên giường đệm êm ái, máy lạnh chạy rì rì của CC/YTTV/ĐN, nhưng cũng bị giật mình trong những giấc ngủ mệt mỏi, chân tay tự động phản ứng tự nhiên theo phản xạ như khi bị sóng đánh. Rất tiếc là tôi chưa có dịp được hưởng cái thú ngủ đò trên sông Hương, bây giờ nếu mà có dịp về thăm lại Huế để mong hưởng cái thú ấy thì già “mẹ” nó rồi! Trong khi phục vụ trên HQ 615, tôi đã có dịp gặp gỡ các bạn cùng khoá trên hầu hết các vùng chiến thuật như Vũ Đức Thiệu, Vũ Quốc Hiệp ở Phú Quốc, Nguyễn Hải ở Năm Căn (có còn nhớ Tr/Tá Tuyên không?), Nguyễn Ngọc Châu cơ khí ở Đà Nẵng…Riêng ở Vùng 2 thì không được gặp ai vì tàu ghé bến để lấy tiếp tế xong là phải đi ngay, không có thời gian la cà.
Sau hơn hai năm phục vụ tại HQ 615, tôi được thuyên chuyển về HQ 475. Tương đối nhàn hạ, chúng tôi đi tiếp tế dầu cho những căn cứ Chợ Mới, Long Xuyên, Năm Căn, Bến Lức, Cát Lái, Cát Lở, và Vùng 1. Một thời gian ngắn sau tôi được thuyên chuyển về BTL/Phòng Trợ Huấn được vài tháng thì biến cố tháng 4 năm 1975 xẩy ra.
42.- Mai Kim Phụng: BCH/HĐ5DP đóng ở Mỹ Tho, có các chi đội hoạt động ở Vũng Tàu, Tân Châu, và Năm Căn. Sau một chuyến thanh tra thường niên của BTL/HQ và vì có sự “bất hòa” giữa BTL/HQ và BCH/HĐ5DP nên tất cả HĐ5DP bị điều động về Năm Căn hết. Được ít lâu thì tôi được chỉ định làm thuyền trưởng cho một chiếc khác. Năm Căn có tiếng là muỗi “khá nhiều” nên vào buổi tối khi chúng tôi ngồi phải để chân lên ghế cho dễ đập muỗi. Cũng may là khi mặt trời lên thì muỗi chúng nó rủ nhau đi ngủ nên thấy cũng tàm tạm sống được. Chúng tôi đụng trận cũng nhiều, có khi tịch thu cả AK47, dàn phóng B40 và đạn dược nhưng chưa bao giờ tôi nhận được huy chương khen thưởng cả!
Một lần khác, có một chiếc PCF bị mắc cạn và sóng đánh giạt vào sát bờ. CHT đã huy động dân làng vào đó đốn cây để có chỗ đáp cho trực thăng câu mấy khẩu súng về. Tàu tôi được lệnh vào gần bờ để tìm cách kéo chiếc PCF đó ra, những chiếc khác còn lại nằm phía ngoài xa vì ở gần bờ nước rất cạn. Hai chiếc trực thăng của Mỹ có nhiệm vụ câu súng. Một chiếc đang câu khẩu 81 ly lên, thì bất ngờ sóng đánh tạt ngang vào khẩu 81 làm cho chiếc trực thăng này mất thăng bằng và bị lật rơi xuống, một chút xíu nữa thì trúng ngay chiếc xuồng cao su hay xa hơn một chút nữa là trúng vào chiếc tàu của tôi! Nếu tôi nhớ không lầm thì đàn anh K.18 Lê Bá Chư là người đã chui và bơi ra khỏi chiếc trực thăng đầu tiên. Anh pilot người Mỹ bị thương và được nhân viên trên chiếc xuồng cao su cứu vớt, đưa sang tàu tôi. Chúng tôi đã chở hắn vào sông Bồ Đề, tìm chỗ trống, ủi bãi để chiếc trực thăng còn lại chuyển thương. Sau đó chúng tôi đã trở lại chỗ cũ để tiếp tục tìm cách kéo chiếc PCF bị mắc cạn ra. Trong lúc đang loay hoay kéo neo đàng trước thì bất ngờ dây kéo phía đàng sau bị chùng và bị cuốn vào một chân vịt của tàu tôi. Tôi hoảng quá, ra lệnh cho nhân viên cắt dây và chạy ra ngoài xa, bỏ lại CHP vẫn còn ở trên bờ! Ông tức giận ra lệnh cho tôi quay lại đón ông, nhưng tôi không chịu, viện dẫn lý do là tàu tôi chỉ còn một “giò”, rất khó xoay trở, rất dễ bị mắc cạn, yêu cầu CHP ra lệnh cho chiếc khác. Tối hôm đó trong cuộc họp, ông đã “sỉ vả” tôi không tiếc lời, nào là tôi “thiếu khả năng, thiếu thiện chí, thiếu…đủ mọi thứ!” Lúc đó CHT mới nói: tôi không nghĩ là ông thiếu úy Phụng thiếu khả năng hay thiếu thiện chí đâu, ông ấy chỉ có thiếu kinh nghiệm khi kéo tàu.”
Ngày hôm sau thay vì ở nhà thì tôi lại để Thuyền phó lo việc cắt dây ở chân vịt tàu mình ra, còn tôi thì theo tàu của quan Phạm văn Cần ra chỗ cũ coi xem tại làm sao mà đã không kéo chiếc PCF ra được? Tàu chạy ra tới Ngã Ba Tam Giang, vào gần vừa thấy bờ thì…”ĐÙNG” một phát, đạn nổ trúng ngay tàu. Chúng tôi đã bị trúng ngay phát súng đầu tiên của VC. Tôi bị thương ngay lúc đó, người tôi bị sức công phá nẩy văng lên, hổng sàn rồi rớt xuống! Tôi bị tức ngực, ho ra máu! Một cục máu bầm bằng đốt ngón tay út từ trong cuống họng tôi “phọt” ra theo cơn ho. Tôi bị thương nơi cổ. Tầu về căn cứ, tôi được chuyển thương lên bệnh xá, và trực thăng đưa tôi về Bệnh Viện Quân Đội ở Cần Thơ ngay chiều hôm đó.
Tại bệnh viện trong lúc chờ trống phòng giải phẫu, tôi nằm tạm trên một chiếc giường, đến khoảng 11 giờ đêm thì tới phiên tôi được lên bàn giải phẫu. Nhân viên y tá mang chiếc giường có bánh xe để chuyển vận anh thương binh là tôi vào phòng phẫu thuật. Tôi ngồi “rột” dậy, và leo xuống đất để tính leo lên nằm trên chiếc giường họ mới mang tới. Nhân viên y tá vội hỏi là tôi có đi được hay không? Tôi đã trả lời là có, và họ bèn để tôi tự túc đi lên phòng mổ. Tới phòng mổ tôi lại phải ngồi chờ xem bác sĩ mổ người khác! Tích tắc, tích tắc… hơn nửa tiếng sau mà họ vẫn thấy tôi ngồi coi tỉnh queo, không thấy có vẻ đau đớn rên la, càu nhàu chi cả nên bảo “thôi ông về phòng nghỉ đi rồi ngày mai tính!” Nhân viên bệnh viện đưa tôi đi nhận giường nằm. Ngày hôm sau bác sĩ vào khám, có hỏi tôi là đã được mổ để gắp mảnh đạn ra chưa? Tôi nói chưa… và được đi chụp hình X-Ray. Kết quả của X-Ray là phổi “tốt”! Chụp X-Ray lại nơi cổ xem sao? Vẫn không thấy tăm hơi cái miểng đạn quái ác nó nằm ở nơi nào! Khi đó tôi mới nghĩ là cái miểng đạn đã tự động được vọt ra ngoài theo cục máu bầm rồi. Vẫn còn may mà tối hôm trước nếu tụi nó cứ đè tôi ra mà mổ để tìm mảnh đạn “lạc” thì chắc là bây giờ tôi á khẩu rồi! Nghỉ được vài tháng rồi tôi trở lại đơn vị cũ ở Năm Căn.
Sau đó tôi được thuyên chuyển về Lực Lượng Thủy Bộ, phụ tá cho Thiếu tá Vinh, SQ Đại Diện HQ thuộc Sư Đoàn 21 BB đóng ở Chương Thiện. Nằm ở Chương Thiện, chúng tôi ăn đạn pháo kích của VC như cơm bữa, nhưng con người nó có số cả, Trời kêu ai thì người ấy dạ thôi. Được một ít lâu, tôi được về lại BTL/LLTB ở Bình Thủy.
Tôi được thuyên chuyển về LST HQ800 được vài tháng trước tháng 4 năm 1975. Chúng tôi có được một vài chuyến công tác là đúng nghĩa, còn lại thì chỉ toàn chỉ là di chuyển tái phối trí rồi lại tái phối trí về phía miền Nam, nay viết lại cũng thấy mà buồn!

43.- Nguyễn văn Hùng: Làm trưởng toán Biệt Hải Trâu Nước, khi không có hành quân hay công tác miền Bắc, chúng tôi thường được giao phó những “công tác” tại các mật khu Việt Cộng ở miền Nam. Mỗi khi đi công tác như thế, chúng tôi luôn luôn được trang bị vũ khí của cộng quân như AK47 và mặc quần áo đen, chân đi dép hay giầy vải. Lần đầu tiên dẫn toán đi công tác tại một mật khu Cộng Sản trong vùng Năm Căn. Nơi có tiếng là “muỗi kêu mà như sáo thổi, và đỉa lội lềnh kềnh tựa bánh canh”. Sau khi quan sát địa thế, chúng tôi chia nhau phục kích ở bờ sông. Trời mờ mờ ánh sao về sáng, sương xuống ướt đẫm lưng áo, xa xa những con vạc ăn khuya kêu lên một vài tiếng rời rạc trong màn đêm u tịch.
Khoảng chừng ba bốn giờ sáng, có tiếng mái chèo đưa đẩy, khua nước tuy nghe thấy khoan thai nhưng rõ mồn một trong đêm thanh vắng, và cũng đủ để làm cho chúng tôi tỉnh hẳn cơn buồn ngủ. Một chiếc xuồng con chợt thấy xuất hiện trong giữa đám sương mù, đang dần tiến về phía chúng tôi. Khi đến gần nơi chúng tôi đang nằm chờ, tôi nhận rõ là bọn chúng gồm có hai tên, một tên đứng chồm hổm nơi đầu mũi quan sát, và một tên ngồi phía sau chèo ghe. Nỗi sợ và sự hồi hộp nổi lên trong tôi. Mồ hôi tôi rịn ra trên trán và nơi lòng bàn tay. Miệng tôi đắng ngắt và cổ tôi khô ran. Tim tôi đập loạn xạ như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực! Ghe chúng tiến đến gần, rồi thật gần, và sau cùng tôi cũng đã ra được lệnh khai hoả, và đồng thời nghiến răng bóp mạnh cò súng. Khói súng khét lẹt làm mắt tôi cay xè, hay có lẽ sợ nhìn thấy cảnh máu đổ thịt rơi nên tôi đã nhắm chặt mắt. Tai tôi ù đi vì tiếng súng, tiếng AK nổ nghe lắp bắp như bắp rang, mắt tôi nhắm tịt chẳng còn biết đâu là đỉnh đầu ruồi hay đâu là lỗ chiếu môn nữa. Tôi bóp cò súng như điên để trấn an cơn sợ mà chẳng biết mình nhắm bắn đi đâu! Mãi đến khi người toán viên nằm kế bên tôi vỗ vào vai tôi và cho biết là chuyện đã xong rồi, tôi mới tỉnh hồn, mở mắt, và nhổm người lên quan sát.
Cảnh vật trở nên yên lặng lạ thường, khói súng còn quyện vào với màn sương đêm. Hai tên VC đã biến mất, chiếc ghe còn dập dềnh cách bờ khoảng vài sải tay. Tôi cho lệnh đàn em lội ra kéo thuyền vào. Trên thuyền chỉ thấy có một cây AK47 còn lại và một băng đạn còn nguyên, không thấy xác hai tên Việt Cộng đâu hết cả! Không biết chúng đã bị bắn hạ lọt sông, hay là chúng đã nhẩy xuống sông trốn mà bơi đi thì chỉ có Trời biết! Đó là lần đầu tiên tôi đã cầm súng và cố ý giết người, tuy là bắn vào địch quân nhưng không phải dể dàng như người ta thường nói, dĩ nhiên là những lần sau thì dễ dàng hơn, và không còn bị mất bình tĩnh như là lần đầu.

44.- Nguyễn văn Đệ: Mùa hè năm 1972 tôi được thuyên chuyển từ Hạm Đội về BTL/Vùng 3 Sông Ngòi đóng tại CCHQ Long Bình gần chân cầu Long Bình, Biên Hoà. Chiều chiều trên đường về Sài Gòn, khi đi ngang khu Nghĩa Trang Quân Đội, tôi hay nhìn vào vì thích xem pho tượng Tiếc Thương ngồi buồn, nhìn ra đường, và được dựng ngay ở phía ngoài cổng nghĩa trang. Chiến trường đang hồi đỏ lửa nên những lá cờ “Tổ quốc ghi ân” phủ lên những ngôi mộ mới vàng rực lên đầy một ngọn đồi. Cứ như thế, tuần lễ sau là đã thấy màu cờ vàng hực lên, phủ đầy thêm ngọn đồi kế tiếp; Và đồi kế tiếp…!
Từ đầu năm 1973, BTL/HQ/Vùng 3 Sông Ngòi có thêm 3 chiến đỉnh thặng dư cấp số từ các Giang đoàn Xung phong gửi về. Từ đó các sĩ quan cấp úy thuộc BTL/HQ/V3SN đã phải thay phiên nhau chỉ huy 3 chiến đỉnh đi tuần trên sông Biên Hoà, loanh quanh gần cầu tầu của CC Long Bình (Hoa Kỳ) vào ban đêm để tránh đặc công thủy CS đánh mìn cầu tầu, chiến đỉnh, hay các xà lan đạn neo trên sông hoặc chính cầu Long Bình trên xa lộ Biên Hoà! Chúng tôi thường cho chiến đỉnh chạy lòng vòng mấy tiếng vào buổi tối trước khuya, rồi cột tầu vào mấy xà lan trống đạn neo trên sông ngủ qua đêm, để hôm sau còn sức mà làm việc tham mưu. Thằng em nào đang gác “quart” đúng vào lúc con nước đứng sẽ thẩy xuống sông vài trái MK3 để tránh đặc công thủy “mò” đến gài mìn.
Ngày ký hiệp định Ba Lê năm 1973, đúng phiên tôi làm SQ trực và phải chỉ huy mấy chiến đỉnh! Bẩy giờ chiều, sau khi cơm nước và điểm danh xong, chúng tôi xuống tầu đi tuần. Tôi họp mấy anh em thuyền trưởng lại, bàn và ra lệnh đêm hôm đó phải đi tuần đến quá giờ nước đứng, khoảng nửa đêm mới được về cột neo. Khoảng hơn một giờ khuya, sau khi dòng sông đã đổi thành con nước ròng, chúng tôi chạy đến một xà lan trống đạn để neo ngủ. Chúng tôi kín đáo cột chiến đỉnh vào phía khác bên với bên cầu tầu Long Bình để tránh ánh sáng chói loà từ những ngọn đèn pha trên cầu tầu hắt ra. Nằm trên bệ sắt phía trước phòng lái của chiếc chiến đỉnh monitor, tôi đang sắp sửa thả hồn vào giấc điệp thì một tiếng nổ long trời lở đất đã xẩy ra. Chiếc xà lan rung mạnh, và kêu lên răng rắc! Sức chấn động và sóng dội đẩy nhẹ tầu chúng tôi ra xa. Thằng em đang trực gác giật bắn mình, nả một băng M16 vào khu đất hoang, bờ sông phía trước mặt, ngay khu mấy ngọn đồi BS Tín! Thuyền trưởng cũng chưa kịp ngủ, nhẩy vội lên phòng lái, rồ máy và cho tháo dây cột tầu. Tôi cho “tương bừa” thêm mấy quả MK3 xuống sông cho chắc ăn, liên lạc với hai chiếc kia, và báo cáo tình hình về Trung tâm Hành quân. Chiếc xà lan bị trúng mìn, vào nước nghiêng qua một bên, nhưng không chìm. Thế là chúng tôi hú hồn, và mất ngủ luôn đêm! Té ra là bọn đặc công thủy VC đã điều nghiên giờ giấc tuần tiễu của chúng tôi, và cho gài mìn để mong đánh đắm tàu tuần. May mắn thay cho chúng tôi là đã đi tuần đến quá giờ đổi con nước, nên chiếc xà lan đã chuyển hướng và đưa mặt có gắn mìn qua phía hướng vào cầu tầu Long Bình, đối diện với hướng chúng tôi cập tầu để nghỉ. Nếu chúng tôi về sớm như mọi khi thì đã cột tầu tại ngay nơi chúng gài mìn, và trúng kế của bọn chúng. Lỗ thủng trên xà lan do sức công phá của trái mìn thì to bằng chiếc chiếu lớn, nhưng không đủ làm cho xà lan chìm vì chiếc xà lan có nhiều ngăn chắn nước.
45.- Nguyễn Minh Cảnh: Sau khóa học Người Nhái ở Mỹ về, em nhận nhiệm sở ở Vùng 1 và hậu cứ nằm ở Duyên Đoàn 14, Cửa Đại thuộc Tiểu Khu Quảng Nam. Vùng hoạt động của toán em đi từ Quảng Ngãi ra đến tận vùng của Duyên Đoàn 11, Quảng Trị. Em đóng ở Vùng 1 là lâu nhất, bằng với thời gian ở cả Vùng 2, 3, và 4 cộng lại. Em thích đi công tác vì đỡ phãi bị tiêu tiền, mà lại có thêm tí tiền còm chứ chẳng phải gan dạ gì cả. Em yêu đời lính vì làm đời lính thì chẳng còn phải lo lắng gì “sốt” cả, vả lại nghĩ rằng sống chết thì nó có số cả, đến cả giầy dép, quần áo cũng còn có số nữa là.
Bây giờ thì em đã tới thời kỳ “sám hối” rồi, và tối tối trước khi leo lên giường (run run) nằm xuống kế bên “mẹ nó” thì em đều phải có “màn lâm zâm” đọc kinh.

46.- Viết theo lời kể của quan Trần Đức Chấn (San Diego): HC2 Chấn có một thời gian đã từng phục vụ ở Giang Đoàn 28 Xung Phong hoạt động trên sông lạch, vòng đai phía Nam của Thủ Đô Sài Gòn (Tôi không nhớ tên con kinh hay con sông này, mong các quan đã từng phục vụ nơi đây bổ túc). Trong đêm ngưng bắn, ký Hiệp định Ba Lê năm 1973, để tránh rủi ro và có chỗ an toàn nghỉ ngơi, giang đỉnh thuộc GĐ28XP đã kéo về cặp kế một đồn Địa Phương Quân khi chập tối, trong khu vực hoạt động để nghỉ ngơi. Bất ngờ Cộng quân đã tấn công đồn ĐPQ khi quá nửa đêm. Các giang đĩnh của GĐ28XP đã được lệnh kéo ra giữa sông, xếp hàng ngang, và những khẩu 50 ly và cối 81 trên giang đỉnh đã được sử dụng để trực tiếp yểm trợ tối đa cho đồn ĐPQ. Sáng ra, đồn ĐPQ này chỉ bị thiệt hại nhẹ, và xác VC nằm phơi thây đầy nơi ngoài hàng rào phòng thủ. VC đã định nuốt sống đồn ĐPQ, nhưng không may cho chúng là các chiến đĩnh của GĐ28XP với hỏa lực khủng khiếp đã bất ngờ về nằm nghỉ bến nơi ấy, nên đã cho chúng nếm mùi thất bại chua cay.

47.- Nguyễn văn Hùng: Trong một lần công tác tại Năm Căn, tất cả 4 toán Biệt Hãi chúng tôi cùng đi chung, và có cả CHT/BH. Một chiếc ghe có ba tên VC đã lọt vào ổ phục kích của chúng tôi. Thuyền của chúng đi cách bờ khoảng 5 thước. Tôi cầm cây AK47 khua khua trên đầu để làm hiệu cho chúng ngừng lại và xin nhờ chở qua sông. Ghe VC ngừng lại nhưng không ghé vào! CHT ra lệnh khai hoả, và hơn 30 khẩu súng nhắm vào chúng mà nhả đạn thả giàn. Chúng tôi còn thẩy cả MK3 xuống sông để ngừa bọn chúng nhẩy xuống nước hầu mong tìm đường tẩu thoát. Chiếc ghe VC bị lỗ chỗ đầy vết đạn, một khẩu K54 bị bắn bể báng nằm trên ghe, nhưng không thấy xác địch đâu hết, kể cả không một vết máu để lại! Như thế thì quả thật là con người ta đều có số cả, không dễ gì mà bắn cho người ta chết khi chưa chưa tới số chết.
Trong một lần phục kích khác ở vùng sông Ông Đốc, Cà Mâu. Chúng tôi đã ngủ quên mất tiêu cả giờ về vì nằm quá lâu mà không thấy động tịnh gì hết cả! Đến khi trời mờ mờ nhá nhem sáng, thì có một người đàn ông trung niên đến gọi chúng tôi dậy mà hỏi là sao mà giờ này mà còn nằm nơi đây? Giống y như cái cảnh Bố Đường đến đánh thức mình dậy như hồi còn ở trong quân trường vậy. Vì chúng tôi mặc quần áo đen, mang AK47 nên hắn mới lầm tường tụi tôi là đồng đội của hắn nên mới lầm to đến như thế. Sau này nhờ khai thác hắn mà Quân Đoàn IV đã giải cứu được một số anh em QL/VNCH từ một trại tù của VC trong vùng.

48.- Nguyễn văn Đệ: Vào năm 1974, tôi phục vụ tại Giang Đoàn 22 Xung Phong, hoạt động tại ngay Đặc Khu Rừng Sát thuộc Vùng 3 Sông Ngòi với chức vụ sĩ quan hành quân. Đặc Khu Rừng Sát bao gồm hai thủy trình huyết mạch từ Sài Gòn ra biển là sông Long Tào và sông Soài Rạp cùng những vùng phụ cận. Đây là một vùng đầm lầy, đất tân bồi với những cây tràm cây đước mọc chằng chịt. Nước lên thì ngập tràn mênh mông, còn khi nước xuống thì phơi ra những bãi sình lầy đen ngòm, vòng vo những con lạch quanh co uốn khúc.
Trong một cuộc hành quân phối hợp với TĐ-359 ĐPQ vào khoảng cuối tháng 9 năm 1974, chúng tôi đã được lệnh xâm nhập càn quét một mật khu VC trong vùng. Tăng phái cho GĐ22XP gồm có Toán Hải Kích với 6 giang đỉnh do quan Nguyễn Minh Cảnh làm Chỉ Huy Trưởng, và 4 chiếc trung vận đỉnh (LCM-6) thuộc GĐ27XP do quan Nguyễn Hoàng Liêm chỉ huy. TĐ 359 ĐPQ đã được quân xa của Quân Vận chở đến Phước Lễ từ mấy hôm trước, và họ có nhiệm vụ phải lội bộ truy kích tiêu diệt VC và lần ra đến Tắc Ông Kèo, hướng đổ vào sông Long Tào thì sẽ được các chiến đỉnh của Hải Quân đón về. Nhiệm vụ của chúng tôi thấy ra thì có vẻ dễ dàng và nhanh chóng, nhưng Tắc Ông Kèo lại là một vùng mà VC đã coi là khu vực bất khả xâm phạm của chúng. Nếu giang đỉnh của Hải Quân mà xâm nhập là chắc chắn sẽ bị dàn chào bằng những dàn hoả lực dữ dội của các chốt các điểm của Cộng Quân đóng dọc theo bờ sông.
Sáng sớm ngày đón quân, quan NMCảnh và NHLiêm chui qua giang đỉnh Monitor chỉ huy của chúng tôi để họp lần chót, TĐ 359 ĐPQ đã kéo quân ra đến bờ Tắc Ông Kèo từ chiều ngày hôm trước, đóng quân trải dài dọc bờ sông. Nhiệm vụ đã được chia ra là sáu chiếc giang đỉnh của Toán Hải Kích sẽ tiên phuông dẫn đường, kế đó là chiếc monitor cuả GĐ22XP, các trung vận đỉnh (LCM 6) của GĐ22XP và GĐ27XP sẽ nối đuôi theo sau. Hai cặp truy kích đỉnh (RPC) và tiểu giáp đỉnh (FOM) chia nhau chen vào giữa đoàn trung vận đỉnh, các tiểu vận đỉnh (LCVP) sẽ đi sau cùng. Các giang đỉnh sẽ vận chuyển cách nhau khoảng từ năm đến mười thước. Các chiến đĩnh của Toán Hải Kích sẽ tiến sâu quá khỏi chỗ đóng quân trong cùng của ĐĐ3 thuộc TĐ359ĐPQ, bắn vào những bụi rậm đáng nghi trên bờ, trong khi đó ba chiếc trung vận đỉnh sẽ vượt lên, ủi bãi, và đón Đại Đội 3ĐPQ. Đồng thời ba chiếc trung vận đỉnh khác cũng sẽ ủi bãi ngay chỗ đóng quân của Đại Đội 2ĐPQ nằm giữa, và hai chiếc quân vận đỉnh còn lại cùng ba chiếc tiểu vận đỉnh ủi bãi ngay chỗ Đại Đội 1ĐPQ còn lại ở phía ngoài cùng. Các giang đỉnh còn lại sẽ “lình xình” (tiếng của HQ Th/Tá Nguyễn Bê, CHT/GĐ22XP) theo hàng dọc, phía ngoài giữa sông để yểm trợ. Sau khi đón xong Đại Đội 3 ĐPQ các trung vận đĩnh này sẽ lùi tầu, quay mũi, hai máy tiến “full” chạy ra ngoài. Kế đến là ĐĐ2ĐPQ, và sau cùng là ĐĐ1ĐPQ. Các giang đỉnh của Toán Hải Kích khi rút lui ra thì sẽ trở thành đi đoạn hậu, và rải đạn vào những bụi rậm trên bờ để tránh VC đánh tập hậu.
Chúng tôi bắt đầu rời sông lớn, và chuyển hướng theo đội hình hàng dọc tiến vào Tắc Ông Kèo. Tôi thường hay ngồi trên chiếc truy kích đỉnh (RPC) mỗi khi đi hành quân, vì chiếc này có hai máy, xoay trở nhanh, tương đối thấp so với tầm bắn của B40, và trang bị một hoả lực mạnh với khẩu 50 ly kép nằm trước mũi. Nhưng lần này, vì hành quân lớn nên có cả CHT đi theo, và ông đã dẫn theo đàn anh khóa 18 Nguyễn Chung mới tân đáo đi cùng để biết thêm về vùng hoạt động, nên tôi phải cùng ngồi chung trên chiếc Monitor. Đại úy Chung ngồi bên trái CHT, còn tôi ngồi bên mặt và cầm ống liên hợp liên lạc với các giang đỉnh. TSI/TT Thà liên lạc hàng ngang với TT Hành Quân cũng như với ĐPQ theo lệnh CHT. HSI/TP Sơn, tài xế CHT, thủ cây ĐL30 nằm phía bên tả. Giang đỉnh của quan NM Cảnh nằm ngay phía trước chiếc monitor của chúng tôi, và thấy quan Cảnh ngồi vắt vẻo trên thành phòng lái, tay cầm ống liên hợp lè nhè chỉ huy mấy thằng em giang đỉnh chạy làng tàng phía trước. Lính Hải kích thật là chuyên nghiệp và nhanh nhẹn khi vào vùng hành quân, họ cuốn gọn các giường chiếu lên, những tấm vải bạt căng chung quanh chiến đỉnh để che mưa cũng được cuốn lên gọn ghẽ. Mọi người đứng khơi khơi trên nóc giang đỉnh, những khẩu 50 ly được hạ thấp nòng, hướng xeo xéo vào phía bên bờ sông. Chẳng phải như ở những Giang Đoàn Xung Phong đóng gần Sài Gòn như chúng tôi, quân số dưới giang đỉnh luôn thiếu hụt và đa số thì lè phè.
Chúng tôi vượt qua chỗ tạm đóng quân của ĐĐ1ĐPQ không thấy có gì xẩy ra, tôi ra lệnh cho ba chiếc trung vận đỉnh tăng vận tốc, vượt lên để sẵn sàng ủi bãi đón ĐĐ3ĐPQ. khi đi ngang một trong những con lạch nhỏ nằm giữa chỗ đóng quân của ĐĐ2 và ĐĐ3ĐPQ thì tôi thấy nổ một cái ầm thật to, và chiếc giang đỉnh của quan Cảnh rung rinh mạnh, và xịt khói đen ngòm. Nhổm mình nhìn vội vào bờ phía bên trái thì tôi cũng thấy một ánh lửa vừa loáng lên từ phía bụi cây phía trong bờ, ngay đầu con lạch con, và một tiếng nổ ầm sau đó, tầu tôi rung rinh, chao đảo thật mạnh. Một làn hơi thật nóng tạt mạnh vào người, vào mặt tôi! Tôi thấy tối sầm mắt lại. CHT la lên tôi bị trúng đạn rồi! Mặt tôi nóng ran như bị phỏng bởi chảo mỡ đang sôi, tôi lấy tay vuốt mặt, cố mở mắt ra. Mắt tôi mờ đi vì máu. Mắt trái đau nhức, cồm cộm rất khó chịu! Mắt phải tôi nóng nhưng nhìn rõ mọi vật. Tay tôi bụm mắt trái, ra lệnh ba chiếc trung vận đĩnh tiếp tục vượt lên đón ĐĐ3ĐPQ. HSI/TP Sơn đang tiếp tục nhả đạn vào những bụi cây bên bờ, Các giang đỉnh của Hải Kích cũng đang rải đạn vào những bụi cây nằm phía cửa con lạch. Tụi VC đã im tiếng súng. Đại úy Chung có vẻ bị thương nặng, ống quần dưới chân anh nhuộm đầy máu đỏ, một bàn chân anh coi như thấy máu thịt lẫn lộn. CHT thấy có vẻ nặng hơn, hai ống quần đầy máu, mặt nhợt nhạt, ngồi dựa lưng vào vòng trụ phòng lái. Tôi nhìn xuống thấy chiếc bàn ăn dầy mặt, nặng nề nằm ngay phía dưới chỗ chúng tôi ngồi, đã hứng hết miểng đạn cho chúng tôi, bị nát bấy, một vài mảnh gỗ còn lềnh bềnh dưới sông, đôi dép của tôi để trên ấy văng đâu mất tiêu. Ống thoát hơi từ phòng ngủ phía dưới, nằm chếch ngay phía dưới chiếc bàn ăn, trúng đạn trực tiếp bị vạt ngang, văng mất nắp, “toe loe” miệng lỗ. Tôi thấy mắt tôi rất khó chịu, chân tôi tê chồn, lốm đốm vài vết máu, ống quần lỗ chỗ một vài chỗ thủng vì miểng đạn. TSI/TT Thà đang liên lạc xin trực thăng tải thương. Tôi kêu Tr/Úy Điệp, sĩ quan trưởng khối giang đỉnh đang hiện diện trên chiếc tiểu giáp đỉnh nằm phía sau lên thay thế quyền chỉ huy.
Trực thăng của đặc khu đến tải thương. Tầu chúng tôi ủi bãi, trong lúc những chiếc khác đang tiếp tục đón quân. Tôi khấp khểnh leo lên bờ, và cố chạy ra chiếc trực thăng. HSI/TP Sơn sau khi đưa CHT va Đ/Úy Chung ra trực thăng xong trở lại đón tôi, anh nói: “ông thầy để tôi cõng”, và anh đùa bảo: “ông thầy yên chí, thằng nhỏ không sao”. Tôi rờ rờ bóp bóp nơi đũng quần để kiểm soát lại cho chắc ăn, và cảm thấy không bị đau. Cám ơn anh hết sức, nay vẩn chưa có dịp để được đền ơn anh.
Cũng từ dạo ấy, tôi và đàn anh K.18, HQ Đ/Úy Nguyễn Chung đã trở thành thân thiết gắn bó như anh em ruột vậy. CHT HQ Thiếu tá Nguyễn Bê (K.14) sau khi điều trị vết thương xong, đã trở về “nắm” Ban Thuyên Chuyển Sĩ Quan thuộc TQT/HQ (?) nếu tôi không lầm. Nhờ đó sau khi ra khỏi thặng số vào tháng 2 năm 1975, tôi được về làm Phòng Tư/BTL/HQ, còn Đ/U Chung về Phòng Năm/BTL/HQ. (Xin một lời cám ơn CHT đã nhớ đến đàn em.) Đàn anh K.18 Nguyễn Chung và tôi lại tiếp tục “cặp kè” đi chơi chung trong những ngày hấp hối sau cùng của Sài Gòn, và cũng như sau này trên con đường tỵ nạn thênh thang tại Hoa Kỳ.

49.- Nguyễn văn Hùng: Sở PVDH chỉ xâm nhập Bắc Việt thường là vào ban đêm, và sau khi Mỹ đã oanh tạc ban ngày. Tôi về Sở PVDH và làm trưởng toán Biệt Hải đã lâu nhưng chưa có dịp ra Bắc vì Mỹ đã ngưng oanh tạc Bắc Việt một thời gian dài. Mãi đến cuối năm 1972 khi Hoa Kỳ muốn Việt Cộng phải nghiêm chỉnh trong bàn Hội Nghị Paris, và cố đạt được thỏa hiệp bằng với bất cứ giá nào, họ mới tiếp tục oanh tạc Bắc Việt. Tôi ra Bắc công tác chỉ có hai lần. Lần đầu tiên, sau khi nhận lệnh hành quân, biết là toán của tôi sẽ đi công tác vào đêm hôm đó. Tôi dốc tiền túi, nhậu một trận tơi bời hoa lá. Tôi đã tưởng chừng như là mình đang sắp làm một Kinh Kha tráng sĩ, một kẻ đang mang một sứ mạng sẽ ra đi mà không mong ngày trở lại, sắp vượt sông Dịch Thủy sang Tần thi hành công tác như trong truyện thuyết của Tầu vậy. Cầm ly bia lạnh, uống hết ly đầy, rồi rót cho đầy một ly cạn. Công tác, hề, Nam nhi chi chí, phó mặc cho số Trời vậy. Tôi say khướt và lè nhè dặn dò anh bạn cùng khóa Bạch Xuân, nằm phòng kế một bên của tôi ở khu SQ độc thân: Này “Cao Tiệm Ly” Bạch Xuân bằng hữu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn (Chinh phụ Ngâm Khúc-Đặng Trần Côn), nếu tôi là kẻ đã ra đi và không trở về thì xin anh làm ơn thu góp đồ đạc của tôi giao lại và báo cho gia đình tôi biết”, trước khi ngủ “khì” được vài tiếng đồng hồ trước giờ đi công tác.
Toán chúng tôi chia nhau ra ba hay bốn người lên một trong bốn chiếc PT trong lần công tác này. CHT/sở PVDH cũng đi theo trong chuyến này, và cũng là lần đầu tiên của ông ra Bắc như tôi vậy. Trong khi hải hành, chúng tôi có nhiệm vụ tiếp đạn cho nhân viên cơ hữu khi hữu dụng. Khi ra đến vùng công tác, tầu chuyển hướng chạy vào bờ để thả toán Biệt Hải chúng tôi. Khi đó thì bất ngờ, trong bờ cũng có một chiếc tầu của VC chạy ra. Ông CHT vì thiếu kinh nghiệm, sợ bắn lầm tầu của quốc gia đệ tam quốc tịch, nên đã ra lệnh đánh đèn hỏi “WHAT SHIP”, thế là chúng khai hỏa bắn sối xả vào tầu chúng tôi. Hạm trưởng chiếc PT tôi đang hiện diện là người thâm niên và kinh nghiệm nhiều nhất nên đã ra lệnh tất cả mọi tầu bắn trả. Nhưng chỉ có ba chiếc kia là khai hỏa, còn sao mà lạ quá, chiếc của tôi thì nín khe! Tôi chồm lại, lắc vai anh xạ thủ khẩu Beauford 40ly trước mũi, Hạ sĩ /TP Cường. Không thấy anh nói năng gì cả, cứ chúi mũi mà ôm lấy khẩu súng! Tôi giật mạnh vai anh một lần nữa. Anh ta đổ ập xuống sàn tầu như một thân cây chuối ngả! Anh đã bị trúng ngay một trong những phát đạn đầu tiên của tầu địch và đã hy sinh vì nhiệm vụ. Chiếc PT tôi đi phải đổi hướng quay ra, chỉ còn ba chiếc kia tiếp tục bắn chìm chiếc tầu VC trước khi cùng chuyển hướng quay lại về miền Nam. Sáng ra, xét lại thì thấy một viên đạn 12 ly 6 của VC đã chạy dọc theo nòng súng, xẹt ngang ổ đạn, đâm vào ngực, trúng tim HS/TP Cường làm anh chết ngay lập tức. Mặc dù anh đã cẩn thận mặc áo giáp, nhưng anh đã không gài nút, và viên đạn đã không phải xuyên qua làn áo giáp mà trúng anh. Chuyến công tác này của toán Biệt Hải chúng tôi coi như đã bị hủy bỏ, tuy những chiếc PT Hải Tuần đã đánh chìm một tầu VC ngay trên miền đất của chúng.
Ba ngày sau, chúng tôi lại được lệnh tiếp tục thi hành công tác ra ngoài Bắc một lần nữa. Chuyến đi này suông sẻ, nhưng khi ra đến vùng hoạt động, chuẩn bị xuống xuồng cao su để bơi vào bờ thì bất ngờ nhận được lệnh hủy bỏ cộng tác. Không biết lý do gì, nhưng lệnh trên thì phải thi hành. Đó là hai lần tôi phải công tác ra Bắc, nhưng không một lần nào tôi đã phải bị ướt chân vì không phải bơi vào bờ. Nhưng cũng nhờ có vậy mà tôi mới còn sống được đến ngày hôm nay.

50.- Nguyễn văn Vang: Vào năm 1974, tôi phục vụ tại Duyên Đoàn 42 ở Phú Quốc thuộc vùng 4 Duyên Hải. Duyên Đoàn 42 nằm trên một ngọn đồi cát của Bãi Xẹp, phía Tây Nam của An Thới và cách BTL/V4DH chừng hơn một cây số. Nhiệm vụ của chúng tôi là tuần tiễu sát bờ, trà trộn vào với những toán ghe đánh cá của ngư dân, trách nhiệm an ninh vòng quanh đảo Phú Quốc. Duyên Đoàn 42 có một số ghe Kiên Giang, Yabuta, và đặc biệt là ghe xi măng do Hải Quân Công Xưởng đóng. Ghe xi măng thì nặng nề, khó xoay chuyển nhất là khi sóng to gió lớn! Vào khoảng gần cuối năm 74, một chiếc ghe xi măng của Duyên Đoàn bị đụng đá ngầm và bị chìm ở Bắc Đảo Phú Quốc. Đây là một vùng nằm sát biên giới với Cam Bốt, mất an ninh, cấm đánh cá, và có quyền được tác xạ tự do. BTL/V4DH đã biệt phái một chiếc LCM đến để tìm cách trục vớt chiếc ghe xi măng này lên nhưng vô hiệu vì không có phương tiện trục vớt và chiếc ghe xi măng này quá nặng nề cũng như đã bị chìm sâu dưới mặt nước chỉ còn nhô lên cái cột cờ chừng cỡ một gang tay. Trong hơn một tuần túc trực tại chỗ ghe bị nạn để giữ an ninh, chúng tôi đã rơi vào tình cảnh thiếu thực phẩm, ngoại trừ gạo, một ít nước mắm, và vài trái ớt hiểm! Nước uống thì còn đủ dùng cho hơn một tuần. Vì là khu vực cấm đánh cá nên ngư dân không bén mảng thế là không có thêm nguồn cung cấp cá tôm! Số lựu đạn MK3 cũng chỉ có giới hạn để phòng hờ chống đặc công thủy vào ban đêm, nên đã không dám dùng để đánh cá. Tuy nhiên với mấy trái ớt hiểm dầm nước mắm Phú Quốc chính gốc cũng làm cho đám trai trẻ chúng tôi “ngốn” cơm không đến no căng bụng.
Có một đêm, khoảng gần nửa đêm, bỗng chúng tôi nghe thấy tiếng máy ghe đuôi tôm vọng ra từ phía trong bờ Bắc Đảo! Tôi vội ra lệnh cho anh em tắt đèn, giữ im lặng, và từ từ kéo neo di chuyển tàu ra xa bờ để tránh xa tầm đạn của chúng. Chúng tôi báo cáo về BCH/ZĐ, TTHQ để xin chỉ thị, và xin một chiếc PCF đang tuần tiễu tại vùng Bắc Đảo đến yểm trợ. Mọi người trong nhiệm sở tác chiến. Tiếng máy ghe đuôi tôm đã im bặt, chỉ còn tiếng nước vỗ vào mạn ghe của chúng tôi. Chúng tôi dương mắt ngó mông lung về hướng có tiếng ghe đuôi tôm mong phát hiện một cái gì, nhưng chỉ thấy một màn đêm đen quánh! Tim tôi đập nghe thình thịch. Chúng tôi đang rình địch, và biết rất rõ là chúng cũng đang rình rập chúng tôi. Khoảng hai tiếng sau, chúng tôi nghe thấy tiếng máy ghe đuôi tôm trở lại ở hướng cũ, có lẽ chúng đã tưởng tụi tôi đi rồi chăng? Chúng tôi được lệnh khai hỏa từ TTHQ. Tôi ra lệnh bắn, và mọi người đều hướng mũi súng về phía có tiếng máy ghe đuôi tôm mà nhả đạn. Cây đại liên 50 nả từng hồi năm bẩy viên một. Tôi cũng “ria“ từng loạt M16, những lằn đạn lửa sẹt ngang trong đêm đen vào phía bờ. Mùi thuốc súng và tiếng đạn nổ làm tôi quên đi nỗi sợ ban đầu. Tiếng máy ghe đuôi tôm đã im bặt từ mấy phút ban đầu. Tôi cho anh em ngừng bắn, và chờ nghe xem có thêm tiếng động nào nữa hay không, nhưng chỉ còn tiếng gió và tiếng sóng. Chúng tôi mất ngủ nguyên đêm. Cũng ngay đêm đó, một trung đội địa phương quân tại xã Hàm Ninh đã được vận chuyển đến và đổ bộ lên vùng bắc đảo để truy kích, và lục soát. Kết quả sáng ngày hôm sau cho biết là có vết máu để lại, ngoài ra không thấy vết tích của ghe hay người. Chiếc ghe xi măng đã được phá hủy và nằm yên nghỉ tại bắc đảo sau khi đã được tháo gỡ những gì cần thiết. Đó là lần đầu tiên tôi “đụng trận” với VC, và thực sự nhả đạn về phía địch quân.

Chương 9: 1975

Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu,
Gặp thời thế, thế thời, thời phải thế.
Ngô Thời Nhiệm
       Đầu năm 1975, VC đánh chiếm Phước Long. Tháng 3 năm 1975, lệnh trực tiếp từ Thổng Thống Thiệu yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn 1 cho “di tản chiến thuật” rút lui khỏi Quân Đoàn 1. Ngày hôm sau, 14 tháng 3 năm 1975 lại cho lệnh “di tản chiến thuật” khỏi Quân Đoàn 2. Không một kế hoạch cho “di tản chiến thuật” để phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị, không một chuẩn bị cho “di tản chiến thuật” để tránh sự đột ngột hấp tấp, không một lịch trình thời gian cho “di tản chiến thuật” để tránh sự hỗn loạn, không một thứ tự lớp lang cho “di tản chiến thuật”, và nhất là không một thông tin liên lạc cho các đơn vị kể cả đại đơn vị như sư đoàn… về “di tản chiến thuật”. Mọi người nghe qua tin đồn, và ùn ùn bỏ chạy khỏi Vùng 1! CS tiến chiếm không kịp những vùng quân ta bỏ ngỏ, rót theo trọng pháo vào dân, vào quân đang hoảng hốt rút lui vì không có lệnh lạc, không có chỉ huy! Quân đoàn 2, theo lệnh rút lui hối hả xuống vùng bờ biển qua con đường tử lộ, đã bị Cộng quân chận đánh cho không một lối thoát. Vùng 1 Chiến Thuật đã thật sự hoảng loạn và sụp đổ. Vùng 2 Chiến Thuật đã bị bẻ gẫy hoàn toàn. Rồi ngày cuối tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn rơi vào tay VC.


51.- Đỗ Ngọc Viêm: Đã hơn ba mươi lăm năm biền biệt, ký ức như những đóm lửa văng ra từ lửa than ngún cháy, tôi vẫn nhớ tuy rằng vẫn cố quên đi cái làng nhỏ nơi xóm Rớ nghèo nàn, tọa lạc trong khoảng giữa vùng biển Nha Trang và Đại Lãnh. Vùng ven biển nơi Duyên Đoàn 25 trú đóng, đơn vị sau cùng của tôi, chỉ huy bởi mười hai vị sĩ quan, và vài ba chục người lính!
Được lệnh di tản, hay không muốn nói là tháo chạy ngay khi chưa kịp thấy bóng quân thù! Chúng tôi thật quá nghèo nàn cả về tinh thần cũng như vật chất; Riêng cá nhân tôi tự nhận thấy là mình đã quá hèn mạt, những kiêu hãnh của những ngày huấn nhục trong quân trường đã không còn tồn tại, những kiến thức thâu góp được trong trường đã trở thành những sự chua xót! Đưa vợ và đứa con nhỏ mới sinh ba tháng xuống ghe xong, tôi trở lại ném quả lựu đạn sau cùng cho nổ tung căn nhà nơi mà đứa con gái đầu lòng của tôi đã sinh ra. Nghiến chặt hàm răng, lòng lạnh băng như sắt nguội, tôi nhìn quanh doanh trại lần cuối! Sau cùng tôi đã gào to lên lệnh “Rút!” Nước mắt khô, lòng nguội lạnh, đầu óc trống rỗng, tôi đứng trên thuyền nhìn về phía ba làng Đông: Đông Hà, Đông Hòa, và Đông Hải. Nhìn như nhìn vào một buổi chợ chiều ngày ba mươi Tết, tôi hạ nòng súng, xuôi tay và quay nhìn ra biển!
Bãi cát vàng vùng Đại Lãnh, Bãi Dài, Đèo Cả, và Suối “Cống” nơi mà tôi và người vợ mới cưới đã có nhiều lần từng tắm dưới chân đường đèo khi còn được biệt phái chỉ huy toán đóng quân trên đỉnh đồi vụt trở lại trong ký ức. Tôi chỉ thấy sự nghèo đói, khốn nạn, và không thấy có tương lai! Lòng trôi đi theo thuyền, biển yên, gió lặng, cảnh chợ chiều đã tan. Chúng tôi yên lặng lênh đênh trên biển trong những ngày dài “Di tản chiến thuật” từ Gánh Thiềng, Hương Sơn, Hòn Rùa, Hòn Khoai nứt đôi, Hòn Một, Hòn Tre… Bao nhiêu hòn tôi đã đi qua và những “Mũi” tôi đã đi đến như Mũi Dinh, Mũi Né, Cà Ná… Những cái tên dân dã tôi đã nhớ, bấy giờ đều là hư không, chúng tôi đã trở thành những kẻ bại trận! Ôi đau thương và bi đát! Mọi sự hư không đều đã trở về với hư không. Từ đất Bắc vào Nam đã là hư không, đời Hải Quân đã là hư không, mọi sự chỉ là hư không! Không nơi nào có thể đặt để được niềm tin. Mọi sự dưới Trời chỉ là hư không!
Về đến Cát Lái, tôi chỉ còn là một sinh vật bò đi tìm cái sống! Vào đến bến tàu Thủy Xưởng, gặp lại người bạn “Nhái” cùng khoá, đến nhìn thấy tôi còn sống thì yên lặng bỏ đi! Hoan “cà lăm” chuyện trò đôi câu giúp đỡ. Một người khóa đàn em giới thiệu gia đình của mình với đứa con tóc đen mun xù chĩa. Lòng tôi vẫn lạnh ngắt, và tôi vẫn còn như một con sinh vật đang bò tìm sự sống! Đi, chạy, nằm, ngồi, và vô tư tưởng cho chiều ngày 29 tháng 4, được lệnh rời Cát Lái, im lặng vô tuyến, ngu xuẩn mù mờ, tôi lại đi như một sinh vật tìm sự sống! Tôi ngồi trên ghe xi măng với vợ, với con. Chúng tôi như những con giun con dế đang đi tìm sự sống. Trên trời, hai chiếc L 19 đang bay là đà bị bắn rớt tại hướng Nhà Bè (lại một cái tên dân dã!) Đêm ra đến cửa Vũng Tàu, tôi mắt mờ tai điếc, chỉ thấy chung quanh tôi là những đống, khối đen xì! Chẳng biết gì cả, chẳng biết là cái gì.
Tờ mờ sáng ngày 30 tháng 4, mọi người, mọi tàu bè đã đi hết!
Tôi được gọi ra chia tàu, và cho quyết định tối hậu. Tôi lấy chiếc ghe gỗ Yabuta, phủ chiếc mền cũ lên trên hình lá cờ “Victor” vẽ trên mui, dấu khẩu đại liên M 60 xuống dưới khoang, và ghe đầy người. Tôi dẫn ghe về ngược hướng Sài gòn. Một hai chiếc “skimmer” đang trên đường chạy ra cửa biển, thấy chúng tôi đang quay ngược chiều trở lại Sài Gòn đã bắn chỉ thiên và ra hiệu cho chúng tôi quay trở ra. “Mất hết rồi, đi đi!” họ đã gào to lên cho chúng tôi nghe. Lừng khừng chẳng biết làm gì, tôi từ từ cho ghe thả trôi.
Chiếc tàu “què” HQ 402 lừ đừ đi ra từ hướng Sài Gòn. Tàu đầy người, và như có ý ngưng chờ. Tôi cho ghe tấp vào, đưa đứa con nhỏ lên như một đòn bánh tét, đẩy vợ lên như một khúc gỗ, và sau cùng tôi đã bò lên như một con sâu! HQ 402 đã được tự đánh chìm tại Côn Sơn, tôi và gia đình được tiếp lên “thằng” 11, phun khói đen đặc như xe lửa. Nhưng giun dế đã được lên chỗ an toàn, kể cả một “lèm bèm” Tướng và một “cao bồi” Tá! Nhưng mọi sự vẫn là hư không, như một luồng gió thổi, tư tưởng ấy vẫn mãi ở trong tôi! Cho đến ngày nay, sau hơn ba chục năm rồi, nó vẫn còn trong tôi!
For there is a hope of a tree
If it be cut down
That it will sprout again
And that the tender branch
Thereof will not cease!
(Job 14:7)

52.- Ngô Nguyên Trực: Tháng 11 năm 1974, tôi được tân đáo Hạm Đội, HQ 11. Từ đầu năm 1975, chúng tôi đi công tác liên miên hết Vùng 1 rồi lại đến Vùng 2, cho đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 mới về đến Sài Gòn, và bị cấm trại 100%. Chiều ngày 29, tôi định về thăm nhà nhưng không được phép, khoảng 7, 8 giờ tối, Hạm Trưởng HQ Thiếu Tá San (San Xẹo) về tàu và cho tập họp nhân viên, ai muốn đi theo tàu thì đi, ai muốn ở lại thì ở! Ông dẫn theo một gia đình, nói của một người bạn gởi theo! Nhân viên ngỡ ngàng và bất mãn vì làm sao về kịp để đưa gia đình di tản theo tàu? Mấy giờ thì tàu sẽ rời bến, không biết! Sài Gòn đang trong cơn dẫy chết ngoài kia! Khoảng 10 giờ tối tàu tháo dây, tôi quá bất mãn và tức giận Hạm Trưởng nên đã nhẩy qua chiến hạm kế bên, và leo lên bờ mà không đi theo. Đêm hôm đó tôi vào trong HQCX để tìm chỗ ngủ qua đêm. Ngày 30, tôi thay đồ dân sự, ra khỏi cổng BTL/HQ. Anh em Quân Cảnh HQ 201 vẫn đứng gác sau hàng rào kẽm gai, bên ngoài người ta bu đông nghẹt. Tôi kêu một chiếc xe Honda ôm để về nhà ở đường Lê văn Duyệt. Nhà tôi khóa trái cửa, không biết cha mẹ tôi đi đâu? Sau này mới biết là cả nhà đã được thằng em ruột tôi chạy về kéo xuống Nhà Bè di tản theo chiếc LCM-8 của đơn vị nó, một Giang Đoàn Xung Phong vào ngày 29 rồi. Tôi chạy xuống nhà ông Nội tôi ở dưới Gia Định và bị kẹt luôn.

53.- Tôn Thất Cường: Sau khi từ Vùng 1 chạy vào và được tập họp tại CC/YTTV/Cát Lở (Vũng Tàu), tôi gặp lại người bạn cùng khóa là HQ Tr/Úy Lê văn Tài. Tôi được tạm trú tại Chi An Ninh 31 của HQ Tr/Úy Trương văn Tính để làm việc. Vài ngày trước khi Vũng Tàu bị mất, tôi và LVTài dự trù leo xe đò để về Sài Gòn, vì chị Tài sắp tới ngày sanh. Hôm về thì tôi bận điện thoại với với HQ Trung Tá Đinh Công Chân từ Sở nên bỏ lỡ mất chuyến xe cuối cùng trong ngày. Tối hôm đó, cầu Cây Khế bị giựt mìn sập, như vậy phương tiện đường bộ Sài Gòn-Vũng Tàu hoàn toàn bị cắt đứt, và tôi bị kẹt luôn ở lại Cát Lở! Lính Nhẩy Dù rút về Vũng Tàu, đi ngang qua cổng rất trật tự và nghiêm nghị, dân chúng đi lẫn vào trên đường di tản.
Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, một trung đội ĐPQ trên đường di tản về Vũng Tàu đã tình nguyện ở lại tử thủ CC/YTTV/CL với chúng tôi. Họ được giao cho canh giữ vòng ngoài của căn cứ. Về sau đa số những người lính này cũng đã được di tản theo tàu của Hải Quân. Khoảng 7 giờ tối, HQ Thiếu Tá Nguyễn Công Hội CHP/YTTV/CL ra cổng chánh. Hỏi tôi, sĩ quan duy nhất đứng ngoài cổng :” Anh cho tập họp đơn vị. Anh có được mấy người ?” Tôi nói :”Một người”. Ông ngạc nhiên, tôi tiếp: “Tôi thuộc Ty 1, từ Vùng 1 di tản vào.” Ông nói: “Anh tập họp anh em ở đây lại, chia nhau gác cổng chánh, anh làm trưởng toán. Anh tên gì?” Tôi vội đáp “Tôn Thất Cường”. Ngay lúc đó, địch pháo kích vào căn cứ nhưng không việc gì. Một vài người lính tuôn chạy, Thiếu tá Hội chĩa súng về phía họ, la to: “Cấm chạy, chạy tôi bắn.” Nhờ thế mà trấn an được lính, và không ai dám bỏ vị trí phòng thủ nữa. Ông quay qua tôi và nói: ”Anh Cường, tôi không bỏ anh đâu”. Tôi cảm phục tinh thần chiến đấu, và câu nói đầy tình người này của ông.
Ngoài cổng chánh, chúng tôi gồm có 6 Quân Cảnh Hải Quân 201, một toán người nhái khoảng trên 10 người, và khoảng 10 người thuộc các đơn vị di tản về. Tôi cho lập danh sách và chia phiên gác. Ngoài những người đương phiên gác, chúng tôi nằm cạnh những hố cá nhân đã đào sẵn, và may mắn là chúng tôi đã trải qua một đêm không bị pháo kích. Tôi phụ trách liên lạc truyền tin trong đêm. Danh hiệu cuối cùng để liên lạc truyền tin là: “Lôi Đạt” cho CC/HQ/Vũng Tàu, “Xích Bích” cho BTL/V3ZH, và “Thiên Nga” cho CC/YTTV/Cát Lở.
Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, tôi tháp tùng Đại tá Vương Hữu Thiều, CHT/CCTV/Đà Nẵng và một vài người nữa đi về hướng Vũng Tàu để quan sát tình hình. Đi dọc đường thì chúng tôi thấy VC pháo kích vào BTL/V3/ZH và CC/YTTV. Sau cuộc pháo kích, chúng tôi vào một quán café ven đường để dùng nước giải khát.
11giờ45 sáng chúng tôi vào tới BTL/V3/ZH để Đại Tá Thiều vào họp.
12giờ45 BCH/CCYTTV lại bị ăn pháo kích của địch. Chúng tôi trở về CC/YTTV/CL. Trước khu gia binh trại Yên Thế, một hố sâu do đạn pháo kích tạo thành. Gia đình binh sĩ trong trại Yên Thế đã được di tản. Một chiếc xe GMC đã được điều động nằm ngang, án ngữ ngay trước cổng chánh. Từ trên sân thượng của phòng Nhì, HQ Trung tá Trịnh Minh Thơ CHT/CC/YTTV/CL đang quan sát và điều động toán phòng thủ phản pháo vào những vị trí nghi ngờ bằng hai khẩu BKP cơ hữu. Tinh thần anh em HQ rất cao độ. Tôi gặp HC2 Lưu Quốc Bảo đang ngồi cạnh cây súng M16 tại tầng dưới. Đến 1giờ05 trưa ngày 29 thì bên ta ngưng tác xạ, nhưng sau đó lại phản pháo tiếp, lai rai cho đến chiều. Đến khoảng sau 5 giờ chiều thì Trung Tá Thơ cho lệnh rút lui toàn bộ bằng đường biển. Tôi nhẩy xuống một chiếc PCF đang cập sẵn ngay ở cầu tàu. Đang loay hoay tìm chỗ, bất ngờ một họng súng Colt 45 đã lên đạn chĩa ngay cổ họng tôi, và kèm theo một tiếng quát chắc nịch “Đi đâu, đi đâu???” Tôi chỉ cần nhúc nhích cây M16 trên tay là có lẽ tên Đại Úy này sẽ nhả đạn vào tôi ngay lập tức! Tôi vẫn còn nhớ hắn có một vết sẹo dài ở cổ, và đã đứng túc trực sẵn ở sân tàu từ trước. Tôi cảm thấy uất nghẹn và cay đắng vì cùng chung một màu áo mà hắn đối xử với nhau như vậy! Một ý nghĩ chợt thoáng qua trong đầu, và tôi đang còn bàng hoàng thì một tiếng nói sau lưng tôi “Đi với moi, Bốn”. Đại Tá Thiệu đang đứng ngay sau lưng tôi và lên tiếng kịp thời. Vị đại úy này mới chịu hạ nòng súng và cất vào bao. Lần đầu tiên tôi được trực diện với HQ Trung Tá Trịnh Minh Thơ, và vì cảm phục sự can trường và tinh thần chiến đấu của ông nên tôi đưa tay chào tay và lên tiếng hỏi “Trung tá là người rút lui sau cùng?” Trung tá Thơ gật đầu đáp lại “Tôi là người rút sau cùng.”
Chúng tôi ra đến cửa Vũng Tàu và chuyển sang chiếc Duyên Vận Hạm cùng loại HQ-454. Thân nhân những quân nhân HQ đã được di tản lên trên chiếc này từ trước. Những ai không muốn đi thì theo chiếc PCF quay về! Địch vẫn tiếp tục pháo kích vào thị xã Vũng Tàu và các chiến hạm đang thả trôi ngoài biển. Trên trời trực thăng bay ra hướng biển khơi. Trời tối dần. Khoảng 6 giờ 15 tối, tàu chúng tôi cập HQ-802, chỉ có Đại Tá Thiều và một quân nhân HQ bị thương là được lên HQ-802. Chúng tôi chạy ra khơi, trước mặt chúng tôi là các chiến hạm HQ-5, HQ-802, HQ-400 đang di chuyển chầm chậm, và sau lưng chúng tôi hướng 6giờ là HQ-457. Trung Tá Thơ vẫn chưa có quyết định rõ rệt là sẽ cho tàu đi về đâu! Nhưng chúng tôi cứ theo hướng các trực thăng bay ra ngoài biển khơi. Chúng tôi bắt gặp một số tàu buôn to lớn, chung quanh đang bu đầy ghe và một số chiến đỉnh. Trên những chiếc tàu buôn này đều có TQLC Mỹ đứng gác và giữ an ninh. Chúng tôi cặp vào chiếc tàu buôn đầu tiên gặp là chiếc GreenVille Victory, và leo lên. Tôi có hỏi thăm tin tức Thiếu Tá Hội, và có người nói rằng ông ta đã di tản theo một chiếc PCF, nhưng đã bị lính trên bờ bắn chìm! Tôi thấy thương cảm cho ông ta. Nhưng cách đây vài năm, HC2 Tô Phước Hồng đã cho biết là ông ta vẫn còn sống và hiện ở bên Houston, Texas. Thật là vui mừng khi biết được tin vui này. Vì lý do chiếc GreenVille Victory chở quá đông người tỵ nạn, cho nên những người tỵ nạn chúng tôi từ CC/YTTV/Cát Lở cùng với Trung Tá Thơ đều được chuyển qua chiếc TeleColorado, và chính chiếc này đã đưa chúng tôi đến đảo Guam để làm lại cuộc đời mới.

54.- Mai Kim Phụng : Tối hôm 29 tháng 4 năm 1975, HQ 800 đang thả neo trên sông Đồng Nai, khúc gần Nhà Bè thì thấy CCHQ Cát Lái bị pháo kích dữ dội, Thành Tuy Hạ bị trúng đạn phát nổ và cháy lớn. Các giang đỉnh tại CCHQ Cát Lái chạy túa ra ngoài, một số cập vào tàu tôi, nhiều người leo lên trong số đó có quan Nguyễn Hùng Tâm. Tôi đưa Tâm vào cabin tôi ở, lúc đó mới biết là Tâm có dẫn theo võ sư Hàng Thanh và hai người bạn nữa, và họ gọi nhau là tứ huynh đệ. Mọi người cùng vào tạm trú trong cabin của tôi. Đêm hôm đó tàu tôi kéo neo và chạy ra Côn Sơn.
Tới sáng khi tàu tới gần Côn Sơn thì được biết là cuộc chiến đã tàn! Tại đây, một số anh em theo một số tàu quay về lại Sài Gòn, tôi cũng xách đồ tính lên chiếc coastguard của “mục sư” Dũng đi về thì Tâm đã cản tôi lại. Tâm nói: “mầy về bây giờ, mầy có nghĩ là mầy sẽ làm khổ cho gia đình mầy hay không? Trong khi vợ con mầy lại chưa có!” Tôi dùng dằng do dự, tâm hồn tan nát! Đi thì sẽ đi đâu? Làm sao mà sống? Tương lai mịt mờ và vô định! Nhưng sau cùng tôi đã nghe theo lời khuyên của Tâm, và đi theo chiến hạm mà không quay lại về Sài Gòn nữa. Còn một ít tiền VN, tôi gom lại đưa hết cho Dũng để hắn đi về. Bây giờ nghĩ lại thấy cũng buồn, Nguyễn Hùng Tâm đã ra người thiên cổ, những gì còn lại chỉ là những kỷ niệm giữa anh em bạn bè và dĩ vãng mà thôi.

55.- Cung Vĩnh Thành: Ngày 29 tháng 4 năm 1975, tình hình Sài Gòn đang đi dần vào cơn dẫy chết! Trên trời trực thăng Mỹ tới tấp bay vào Sài Gòn đón những người mà họ muốn đón như nhân viên sở Mỹ, hay có liên hệ…Trên đường phố nhiều người chạy ngược chạy xuôi để tìm đường thoát, nhưng quái lạ sao mà không hỗn loạn! Các cửa tiệm và nhà phố đóng cửa. Vòng đai BTL/HQ và khu HQCX vẫn được cấm trại 100% từ nhiều ngày trước, nay đã được thả lỏng từ sau buổi trưa. Chiều hôm đó tôi về nhà ở bên Tân Định lần cuối và trở lại ngay vào cùng buổi chiều. Phía ngoài hàng rào cổng BTL, người ta bu đen như kiến để mong được chen vào! QCHQ 201 và những nhân viên gác cổng vẫn đang làm việc một cách tích cực. Không hiểu tại sao mà tôi đã không leo xuống chiến hạm mà tôi đã từng phục vụ là HQ 473, mà tôi đã theo chiếc Khu Trục Hạm HQ 01 để di tản ra điểm tập trung tại Côn Sơn. Tại nơi đây, HQ 473 là một trong những chiến hạm đã được chỉ định quay về lại Sài Gòn và mang theo những người không muốn ra đi. Khi đoàn tàu của Hạm Đội HQ/VNCH chuẩn bị vào Subic Bay của Phi Luật tân, tôi đã leo lên đài chỉ huy để nhìn lại cảnh cũ mà tôi và 4 bạn cùng khóa vẫn thường làm khi còn đang thực tập trên USS White Plains thuộc Đệ Thất Hạm Đội thủa nào. Cảnh cũ vẫn như xưa nhưng tâm tư tôi thì hoàn toàn khác hẳn!
Cảnh đấy, người đây, luống đoạn trường.
(Thăng Long Thành Hoài Cổ- Bà Huyện thanh Quan)

56.- Lê Trọng Lực: Năm 1975, tôi đang được biệt phái theo học tại Trung Tâm Kỹ Thuật Quốc Gia Phú Thọ. Ông anh ruột của tôi làm hoa tiêu cho Hải cảng Đà Nẵng, được móc nối và đang lênh đênh ngoài khơi, chờ giờ “G” để vào đón đại gia đình, và trong số ấy có cả tiểu gia đình của tôi để di tản theo tàu. Giờ “G” đến quá bất ngờ và quá nhanh, ông ấy đã không kịp đón đại gia đình, và cả cái tiểu gia đình của chính ông ấy nữa! Ngày 30 tháng Tư năm 1975, khoảng một đại đội Thủy Quân Lục Chiến đã đón tiếp VC bằng những màn chận đánh rất đẹp và hết sức ngoạn mục ngay tại khu khách sạn mà gia đình tôi tạm trú. Các anh em TQLC đã gây thiệt hại cho VC một cách rất đáng kể. Để tránh bị địch quân bao vây và tràn ngập, các anh em TQLC đã kéo lên cố thủ trên một ngọn đồi nằm gần kế bên. Tôi và một số người khác rút lui lên đồi theo chung với các anh em TQLC.
Hết đạn, chúng tôi bị VC bắt sống tại mặt trận! Một hai anh em TQLC tuy bị bắt nhưng vẫn kiêu hùng, chửi bới bọn CS ác ôn. Các anh đã bị lôi ra xử bắn một cách không thương tiếc ngay trước mặt mọi người! Toán tù binh chúng tôi gồm có khoảng ba bốn chục người, trong số đó có một vị bác sĩ quân y TQLC, tuy đã ra được đến tàu ngoài biển, nhưng đã theo ghe lội ngược trở lại để săn sóc thương binh. Chúng tôi bị nhốt tại trại Cây Dừa, Vũng Tàu. Nhập trại tù binh tôi đã thấy quan Trương Đình Quí hiện diện trong trại rồi, không biết đã bị bắt ở đâu? Sau khoảng ba tuần, chúng tôi được đưa về trại Suối Máu, Long Giao. Chúng tôi bị liệt kê vào loại “phản động” nên những người thuộc diện tù trình diện cải tạo đã không dám giao thiệp hay lai vãng với chúng tôi, nhiều khi có cả bạn bè nữa!

57.- Nguyễn Đăng Khúc: Trước khi di tản chiến thuật khỏi Phú Cường, CHP HQ Đ/Úy Kính nắm quyền CHT GĐ24XP. Đêm 27 và 28 tháng 4 năm 1975, CC/HQ/Long Bình bị pháo kích của VC, Đ/Úy Kính bị thương và được tải thương về Bệnh Viện Hải Quân, tôi được “đôn” lên làm XLTV/CHT GĐ24XP. Ngày 29 tháng 4, chúng tôi được lệnh bỏ CC/HQ/Long Bình, các giang đoàn đặt dưới sự chỉ huy của TMT/BTL/V3SN trong cuộc “di tản chiến thuật”. Đến khuya đêm 29, chúng tôi về đến Nhà Bè. Khoảng 11 giờ đêm, TMT/BTL/HQ/V3SN lấy một chiếc PBR vào Căn Cứ Nhà Bè họp, nhưng đến khoảng 1 hay 2 giờ sáng thì thấy chiếc PBR trở ra với khẩu lệnh của TMT là toàn quyền để cho các CHT quyết định! Chúng tôi bàn bạc suy tính, không biết phải làm gì, không có lệnh lạc chi, không còn ai chỉ huy nữa, thôi thì cách hay nhất là để bảo toàn lực lượng, cùng kéo về bến Bạch Đằng, chia nhau cập bến ở Câu Lạc Bộ nổi và các cầu tầu trong BTL/HQ, và chờ sáng ngày hôm sau xem sao!
Khoảng 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, tôi được lệnh lên họp ở BTL/HQ dưới sự chủ tọa của Đại Tá Tấn (An Ninh HQ), quyền Tư Lệnh HQ. Chúng tôi được lệnh lãnh thêm đầy đủ dầu, gạo, đạn dược và chờ lệnh. Vì nhân viên quản kho đã không hiện diện tại chỗ, nên được lệnh bắn vỡ ổ khoá! Khoảng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong lúc tôi đang ngồi ký giấy phép cho nhân viên đi bờ trên một chiếc giang đỉnh cập ở Câu Lạc Bộ nổi, và sự vụ lệnh cho một nửa số nhân viên ở lại để lãnh đồ tiếp liệu thì HQ Đại Tá Phú, Đ/Úy Tuấn, một sĩ quan OCS và là bà con của Đ/T Phú, và một số người nữa chạy xuống nói “tan hàng rồI” và rủ tôi chạy. Tôi lấy một chiếc PBR và mọi người kéo xuống. Chúng tôi mở máy, tháo dây và chạy ra hướng Vũng Tàu. Trên sông Sài Gòn, chúng tôi bắt gặp một chiếc tàu đánh tôm Việt Đức cũng đang hướng mũi ra biển. Họ thấy tàu chúng tôi lố nhố có đầy sĩ quan HQ, nên giảm tốc độ để cho chúng tôi cập vào. Té ra là trên chiếc này đầy người nhưng thiếu hoa tiêu. Nhân viên cơ hữu chỉ còn lại một vài người “thợ vịn”, và một anh thợ máy cùng một cô thư ký của hãng Việt Đức. Những người còn lại chỉ là gia đình họ. Họ đồng ý giao quyền chỉ huy việc lèo lái con tàu lại cho chúng tôi. Trên đường ra biển chúng tôi cũng vớt thêm nhiều người tỵ nạn trên những ghe xuồng trong sông nên dân số trên tàu cũng lên đến hơn một trăm người. Trên sông Long Tào, tàu chúng tôi bị trúng một quả đạn của VC vào ngay dàn radar! Tàu vô sự nhưng radar bị bất khiển dụng.
Bốn năm ngày sau, chúng tôi đến Tân Gia Ba nhưng không được cập bến! Nơi đây, tôi đã thấy sự hiện diện của một số tàu buôn VN khác như chiếc Trường Thành… và một số ghe thuyền tỵ nạn. Chúng tôi được tiếp tế thực phẩm và dầu nhớt để ra đi tìm nơi khác, sau hai hay ba ngày năn nỉ chính quyền địa phương mà không được tỵ nạn. Bẩy ngày sau chúng tôi đến Subic Bay. Thay vì giao tàu cho HQ Hoa Kỳ để hội nhập vào dòng người VN tỵ nạn đã đến từ trước, thì chúng tôi lại nghe bùi tai lời bàn của những nhân viên hãng Việt Đức là cứ tiếp tục điều khiển con tàu, và giao trực tiếp lại cho hãng Việt Đức để hy vọng sẽ được lãnh thưởng! Không có số phone của hãng bên Đức, nên cô ký đã phải gửi báo cáo theo đường con rùa bưu điện. Sau bốn hay năm ngày được HQ Hoa Kỳ tu bổ và tiếp tế, chúng tôi tiếp tục lèo lái chiếc tàu đánh tôm Việt Đức đi Guam, tuy dàn radar vẫn bất khiển dụng vì thiếu phụ tùng thay thế! Đa số những người tỵ nạn trên tàu đã rời tàu, ngoại trừ nhân viên cơ hữu và các sĩ quan HQ. Mười một ngày sau chúng tôi đến Guam. Vì thiếu chất tươi đã lâu, nên tôi bị táo bón nặng nề, nên đã phải bỏ tàu mà lên nhập trại tỵ nạn trên đảo.

58.- Nguyễn văn Đệ: Đang đi “mình ên” lơn tơn trên bãi biển Gap-Gap nơi đảo Guam, thấy ngược chiều có một tên đen đủi, mập tròn, cổ rụt, quần áo luộm thuộm vì dài quá khổ và được sắn lên nhiều lần nơi ống chân và cánh tay! Hắn cũng đang lom lom ngó tôi vì bộ quần áo được phân phát khi lên bờ ở Subic Bay mà tôi đang mặc cũng chẳng giống ai! Nó vừa rộng và vừa lòi rốn, ngắn tũn ngắn tĩn so với thân hình cao lỏng khỏng của tôi. Chợt nhận ra hắn chính là tên Dũng Rùa, Phan Thiết Dũng, một người cùng trong Trung Đội 4 với tôi khi còn ở quân trường, và là tay trống trong ban nhạc Khoá 20 ngày nào. Chúng tôi cùng mừng húm, lôi nhau ngay vào một căn lều trống ở gần đấy, thoát y và trao đổi với nhau những bộ đồ đang mặc trên người trước khi hàn huyên những chuyện khác. Sau khi đã mặc vào người những bộ đồ vừa trao đổi xong thì quần áo của chúng tôi đã được coi tàm tạm hơn, không còn luộm thuộm hay cũn cỡn như trước nữa. Sở dĩ có những tình trạng như trên là vì sau khi đã bàn giao chiến hạm lại cho HQ Hoa Kỳ ở Subic Bay, khi lên bờ chúng tôi đã được phân phát cho những bộ quần áo dân sự cũ để tắm rửa và thay thế cho những bộ đồ quân nhân đang mặc trên người. Ngoài bộ quân phục trên người, chúng tôi đã ra đi với hai bàn tay trắng đúng nghĩa, với một tinh thần chán chường của người lính thua trận, và một tâm hồn rướm máu của một người Việt Nam vừa mới bị bứng bật gốc ra khỏi đất nước thương yêu của mình. Những người quân nhân Hoa Kỳ khi phân phát quần áo cho chúng tôi, họ chỉ lượm đại một cái quần và một cái áo chứ chẳng cần để ý đến kích thước người nhận. Họ cũng đã không quên nhắc chúng tôi hãy vứt lại quần áo cũ trên người vào cái thùng rác để ngay ngoài cửa phòng tắm. Có lẽ là mùi hôi vì đã được mặc hơn mười ngày, hay vì họ không muốn chúng tôi mặc quân phục trong trại tỵ nạn, hoặc vì cả hai. Chúng tôi đã làm theo như một cái máy mà chẳng có thắc mắc gì cả!

59.- Lê văn Long: Tôi ra trình diện ở địa phương theo lệnh của Cao Đăng Chiếm, và được chỉ định đi đến trường Kỹ Thuật Phú Thọ ngày 14 tháng 6 năm 1975, trễ nhất là ngày 16, sau ngày này nếu không đi trình diện sẽ bị ghép vào tội phản động. Vào thời điểm này tội phản động chỉ bị hành xử có một cách, bản án xử bắn! Ở ngay tại Sài Gòn ít có ai thấy rõ, nhưng đi ra khỏi ngoại ô một chút là ai cũng thấy rõ điều này. Trong các lần đi tìm đường vượt biên một cách cầu may trước khi hết hạn phải ra trình diện để đi tù cải tạo, chính tai tôi đã nghe thấy những tiếng súng săn đuổi những người trốn lánh, hay tận mắt thấy những tử thi mang trên ngực bản án “thằng này phản động”. Tôi đã thấy và phải “rất tin” rằng VC đã nói thật, và chúng sẽ làm thật những điều răn đe này. Vì vậy tôi đã đi trình diện đúng ngày.
Sau khi bị bắt khai lý lịch, và ghi xuống nguyện vọng là về sau này, lúc học xong cải tạo, sẽ xin làm nghề gì? Tên nón cối sau khi xem qua trang giấy khai lý lịch của tôi trong quyển sổ bìa cứng dầy của hắn, rồi quắc mắt nhìn tôi và hỏi:” Anh có mang theo hình vợ con không?” Tôi ngạc nhiên và thấy có một điều gì không ổn, hắn còn nói thêm “Coi chừng anh đi không có ngày ra…” Tôi cảm thấy hơi nao núng, và càng tin lời của tên này vì biết chắc bọn đao phủ thủ VC đã từng làm thật là thà “giết lầm còn hơn tha lầm” những ai khác chính kiến với bọn chúng. Tia nhìn của tên nón cối này rất đáng sợ, và tôi vẫn còn nhớ rất rõ ánh mắt ấy dù đã cách đây hơn ba mươi năm! Tôi đang có sẵn ý định trốn tránh và điều này càng làm cho tôi thêm có ý định liều mạng và cương quyết tiếp tục tìm đủ mọi cách trốn thoát dù có bị kết vào tội phản động. Trước sau gì cũng chết, và đi tù mà không có ngày ra là chết chắc.

60.- Trần Tuấn Đức: Vào cuối tháng 4 năm 1975, Sài Gòn cấm trại 100%. Chúng tôi được chỉ thị thiết lập những công sự phòng thủ bằng bao cát trước cửa công sở trong vòng đai của Hải Quân Công Xưởng. CHT/Sở Thủy Đạo rất khắt khe trong việc cấm trại, nên đa số chúng tôi đều bị kẹt lại sau năm 75, kể cả CHP là HQ Đ/Úy Nguyễn Công Uông (K15). Đêm 29 tháng 4, các sĩ quan của Sở TĐ bị cấm trại và được lệnh thiết lập vòng đai phòng thủ; Khi hoàn tất thì đã quá trễ, các cổng ở BTL/HQ đến HQCX, chốt chặn đường Cường Để, và cổng sau Cầu Thị Nghè đều hỗn loạn! Chúng tôi liều mình “bất tuân thượng lệnh”, phân chia ca trực, chia nhau từng toán để về nhà, thu xếp gia đình. Nhưng đành bó tay chuyện thoát khỏi những cổng này! Người ta càng ngày tràn vào càng đông, xe cộ vứt bỏ bừa bãi. Cuối cùng một số anh em đành phải trở lại nhiệm sở mà không về nhà được! Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, gặp quan Nguyễn Hữu Thiện trong HQCX nhờ gửi hai đứa em trai trong lúc bận rộn lo sửa chữa HQ 402. Sau khi Tổng Thống DVM ra lệnh đầu hàng vô điều kiện CS. Chúng tôi hoang mang! Chúng tôi hoảng hốt! Chúng tôi mất hướng và vô định! Một vài sĩ quan còn lại của Sở Thủy Đạo đã chia tay tan hàng! Giây phút hoang mang, nửa muốn đi và nửa muốn ở lại đã luôn quay cuồng trong đầu óc tôi! Không thấy hai người em trai của Thiện đâu nữa, có lẽ đã “mò” đi tìm Thiện rồi! Quyết định nếu ra đi thì đã quá trễ đến với tôi, tôi đã không thể bỏ lại gia đình, cha mẹ, và vợ con thương yêu của tôi bơ vơ ở lại… Rướm nước mắt, và ngậm ngùi trút bỏ bộ quân phục, cấp bậc mà tôi đã từng khoác lên với lòng hãnh diện của quân chủng bấy lâu nay, và thay đổi thường phục. Tôi chạy xe Honda về nhà. Sài Gòn náo loạn trong cơn dẫy chết! Bọn đeo khăn đỏ súng ống tua tủa, chạy xe hơi, xe gắn máy đầy đường. Bọn côn đồ du đãng trở thành ăn cướp cạn… Tôi bị kẹt cứng ở nhà vào đêm 30 tháng 4, mà nếu có đi thì cũng không biết là sẽ đi đâu nữa!


( Xin xem tiếp chương 10,11,12 )