( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

 
Đại Hội 2006 :

Tâm tư gửi bạn
    CungVĩnhThành

Những HC2 rời đàn
    NguyễnXuânDục

Hồi ký 36 năm ra khơi
    AnhChịHuỳnhvănBảnh

Thoáng giấc mơ qua
    ChịNguyễnNgọcChâu

Bút ký đh2006
    AnhChịNguyễnPhúcVĩnhViễn

Thuyền lại bến xưa
    TônThấtCường

Cảm nghỉ về đh2006
    20 và thân hữu


Đặc San 2006 :

Trang bìa
    TrầnTuấnĐức
Giới thiệu
    CungVĩnhThành

Những chuyện kể năm xưa
    Gia đình 20

Hiệp định ngưng bắn Paris và ...
    TrầnĐìnhTriết

36 năm ra khơi
    Chị LêvănTài

Nhớ về khóa 20
    ĐặngNgọcKhảm

Hội trùng dương
    CungVĩnhThành

Nẻo đường Thi Sách
    NguyễnvănĐệ

Hội ngộ
    ViễnHuy

Hai chuyến đi
    LêvănChâu

PCE08
    NgôThiệnTánh

Ông thần râu kẽm
    LêvănThạnh

Triệu đóa hồng
    NguyễnÁnh

Vĩnh biệt Nguyễn H. Tâm
    LưuĐứcHuyến

Nhớ anh trong tù
    LêKimCúc

Nhớ em trong tù
    HuỳnhvănBảnh

Một kiếp hải hồ
    LêvănTài

Mây tháng tám
    NgôThiệnTánh

Nam vang đi dể khó về
    HuỳnhKimChiến

Biển chiều
    CungVĩnhThành

Đi tìm mẩu xương xườn thất lạc
    NguyễnvănHùng

Thu, vỏ ốc và chuyến tàu khuya
    ThânHữu

Thầm hỏi? Nổi niềm
    VõKimMai

Lá thư bâng quơ
    VõthịĐồngMinh

Lục bát biển
    NgôThiệnTánh

Kỷ niệm vui buồn trên HQ9610
    ĐặngNgọcKhảm

Tìm tự do
    LêKimCúc

Nổi trôi
    NguyễnvănVang

Bố và con
    QuỳnhChâu

Những mảnh đời cải tạo
    HuỳnhKimChiến

Chuyện đàn bà
    NguyễnvănHùng

Đêm ngồi nghe thác đổ
    NgôThiệnTánh

Trang nhà khóa 20
    LêvănChâu

Bạn tôi
    NguyễnvănChín

Vượt thoát
    NguyễnÁnh

Bàn nhảm về chử Nôm
    NguyễnvănHùng

Chúng tôi muốn sống
    NguyễnvănChín

Trang cuối
    TrầnTuấnĐức


những chuyện kể năm xưa

Chương 4: Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang,
Giai đoạn Sinh Viên Đàn Em

       M ới ngày nào chúng ta còn là những bạch diện thư sinh, nay chúng ta đã là một tập thể lớn mạnh. Chúng ta đã nghĩ là mình đã có đủ bản năng, và bản lãnh để đối diện với những gì đang chờ đón chúng ta tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Những gì mà chúng ta đã đồng ý bỏ lại cho đời sống dân sự những cái “tà tà dân chính”, và để trực diện với “trước mặt là biển cả mênh mông, và sau lưng là núi non hùng vĩ…”:

14.- Mai Kim Phụng: Ngày tháng trôi qua vùn vụt, hết Quang Trung rồi lại tới Nha trang, Theo tàu từ Sài Gòn ra Nha Trang tôi không bị say sóng gì cả, nhưng khi lên bờ thì lại thấy đất trời quay cuồng chập chùng khoảng 15 phút sau mới hết cái cảm giác bị say, say đất như thế.

15.- Nguyễn văn Đệ: Chúng tôi được chở ra Nha Trang bằng Hải Vận Hạm HQ 406. Tàu từ từ rời bến Bạch Đằng khoảng giữa trưa. Chúng tôi náo nức nhìn phố xá Sài Gòn một lần cuối trước khi ra Nha Trang, trên bờ còn sót lại một vài tà áo dài vẫn còn lưu luyến buổi tiễn đưa mà chưa chịu về.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
(Chinh phụ ngâm khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
Hạm trưởng đem theo gia đình với một vài bóng hồng làm cho chuyến đi của chúng tôi bớt phần nào tẻ nhạt. Những người đẹp này đã đứng khóc ròng khi thấy chúng tôi bị đàn anh “quay như dế” trong mấy ngày đầu. Đến Nha Trang và ủi bãi khoảng chập tối. Tôi đứng ngay ổ súng 40 ly kép bên tả hạm phía trước mũi. Trên bờ thấy có nhiều người đi đi lại lại, đồ tiểu lễ trắng cũng có và đồ đậm mầu cũng có. Khi tàu đã thả neo lái và ủi bãi, cửa đổ bộ hạ xuống, chúng tôi xếp hàng theo như đội hình đã có sẵn ở Quang Trung, bầu trời đã chập choạng tối, khu quân trường đã lên đèn. Chúng tôi hồi hộp, im lặng ngoại trừ những tiếng hô khẩu lệnh của NHTâm cho đoàn quân với những thủ tục xếp hàng theo đội hình từ ngoài bãi biển. Một vài đàn anh có vẻ có nhiệm vụ chỉ huy và tiếp đón chúng tôi đã thấy đứng ở phía trước hàng quân, tay chống nạnh coi bộ tịch ra vẻ rất ư là đàn anh.
Theo lệnh sinh viên trực của trường SQHQ, NHTâm đã điều động chúng tôi đếm bước đi vào quân trường. Đàn anh khóa 19 đứng rải rác dọc theo đường đi. Họ im lặng quan sát, có người mặc đồ tiểu lễ đi bờ vì là cuối tuần, có người mặc đồ tím. Chúng tôi xếp hàng tại Thao Diễn trường. Thủ tục điểm quân được thi hành, và NHTâm báo cáo quân số cho sinh viên trực. Hình như đàn anh 19 Lê Rĩnh hay Trần Đức Hợp là người có nhiệm vụ đón tiếp và ra lệnh cho chúng tôi thì phải. Chỉ có khoảng hai hay ba chục sinh viên cán bộ đàn anh là chia nhau đứng chung quanh chúng tôi, còn những người khác tụ tập đứng gần, đùa giỡn rần rần với chúng tôi bằng những câu quát tháo vu vơ nghe rất tức cười, nhưng chúng tôi cố nén không dám cười. Sau một vài điều giới thiệu và căn dặn, giọng đầy uy quyền của sinh viên cán bộ đàn anh. Hình như có một hay hai anh trong số chúng tôi đã bật khóc (?) thút thít vì những giọng nghiêm nghị quát tháo om sòm của đám đông đàn anh bu quanh. Sau đó chúng tôi được điều động đi vào một tòa nhà to lớn trống trơn, sau này mới biết đó là Phạn Xá Đoàn Viên. Chúng tôi được lệnh nằm nghỉ qua đêm tại đây. Vào đây chỉ còn cán bộ đàn anh, còn những đàn anh khác tản mác đi về phòng. Mọi người được lệnh mở sac marine lấy đồ ăn ra và phải ăn cho hết, không được dấu giếm, nếu ăn không hết thì phải vứt bỏ. Đó là lệnh, ngắn và gọn, nhưng rất là cương quyết. Thôi thì bánh kẹo, thịt chà bông được lôi ra ăn, nhiều quá thì chia bớt cho những anh em không có mang đồ nhiều như tôi ăn giùm. Những vật nhọn như dao kéo đều bị tịch thu. Độ sáng của đèn trong nhà được giảm xuống, và chúng tôi được lệnh đi ngủ. Chúng tôi nằm xuống nền nhà, gối đầu trên sac marine cố dỗ giấc ngủ mà lòng đầy những lo âu. Cán bộ đàn anh còn lại khoảng năm ba người đi tuần loanh quanh chỗ chúng tôi nằm, luôn luôn nhắc nhở bằng những giọng khe khẽ nhưng đầy quyền uy “ngủ đi anh!” Sau một hồi trằn trọc vì lo âu, tôi mệt quá nên ngủ thiếp đi. Anh bạn tôi, Vương Thế Phiệt và một vài người nữa mà tôi không nhớ tên, đã lén lút giữ lại đường và bánh kẹo, trong giai đoạn bị huấn nhục đã bị phát giác, và phải chịu đựng những hình phạt thật là đắng cay vào những ngày sau đó.

16.- Trần Ken: Ngày hôm sau, chúng tôi phải chạy vòng quanh quân trường với sac marine trên vai hai chục vòng để chào mừng quân trường, vì chúng tôi thuộc khóa 20. Cũng nhờ chúng tôi đã tập luyện mấy tháng tại TTHL/Quang Trung rồi nên cũng đỡ khổ. Tuy nhiên nơi quân trường Nha Trang thì hầu như được bao phủ toàn là cát, cát trắng mịn nhưng đã làm cản trở bước chân chạy của chúng tôi rất nhiều. Nhiều nơi chúng tôi đã phải bò mà ủi sac marine lăn trên đường. Đàn anh ăn mặc dị hợm, người thì mang áo tập võ, người thì áo bỏ ngoài quần, đầu luôn mang mũ ngược, túa ra hò hét la lối những câu nghe “chướng phè”, lôi một vài người ra khỏi hàng mà bắt nhảy “thăng thiên độn thổ” hay hít đất vài chục cái trước khi phải chạy tiếp. Chúng tôi được tập họp sau màn chạy “chào mừng quân trường.” Chúng tôi được phân tán về hai dẫy nhà tiền chế, và nơi đây sẽ là chỗ trú ngụ của chúng tôi trong suốt thời gian làm đàn em.
Tuần lễ huấn nhục có lẽ bắt đầu sau buổi cơm trưa ngày hôm sau. Vào đêm tuyên bố mở màn chương trình huấn nhục, chúng tôi được tập họp ngoài sân cát trước cửa Câu Lạc Bộ SVSQ, mọi người phải quỳ gối nghe đàn anh”truyền lệnh”. Có khoảng 20 “Đao phủ thủ” ăn mặc “lôi thôi lếch thếch” và trông không giống ai, thay phiên nhau lên mà la hét những tiêu lệnh mà chúng tôi sẽ phải thi hành trong nếp sống hàng ngày, và họ đã luôn bắt đầu bằng câu “Khóa Hai Mươi nghe đây…” Cứ mỗi lần một “Đao phủ thủ” chấm dứt câu hét là đều được nhấn mạnh đồng loạt của cả tập thể đàn anh đứng chung quanh, bằng cách lập lại mấy chữ sau cùng của câu hò câu hét đó. Tôi không nhớ được nội dung của những câu hò câu hét của đàn anh. Bị quỳ gối qúa lâu trên những hạt sạn bằng đá xanh đập nhỏ để lót đường, đầu gối tôi đau thốn, tôi giả bộ nằm vật xuống như là bị té xỉu để khỏi phải quỳ gối nữa! Nhưng có lẽ đàn anh biết được nên đã lôi tôi ra, và bắt nhẩy thăng thiên độn thổ!
Vào một trong những ngày đó, tôi không nhớ là tôi đã làm điều gì sai quấy, nhưng một đàn anh mà tôi không nhớ mặt, đã ra lệnh cho một số các bạn cùng khóa của tôi thi hành việc kéo lê tôi trên bãi cát gần Câu Lạc Bộ SVSQ. Các bạn đó đã nắm hai chân của tôi mà kéo chạy, người tôi lê trên mặt cát, tôi phải gồng mình, ngẩng đầu lên cho khỏi bị lết trên mặt đất. Sau này tôi có nghe kể lại là tôi còn bị kéo trên cả mặt của vỉ sắt nữa, nhưng tôi không còn nhớ là sự thật đã xảy ra như thế nào. Ban đầu tôi bị kéo lê ở trong vị thế nằm ngửa, tôi cắn răng gồng mình chịu đựng. Bị kéo quá lâu, tôi chịu không thấu nên đã tự xoay qua thế nằm xấp mà gồng mình chịu tiếp. Tôi không nhớ là đã bị kéo như thế đến bao lâu, nhưng thời gian có lẽ thật là lâu đối với nỗi đau đớn quá sức chịu đựng của tôi. Sau nhờ một người khóa đàn anh đã dìu tôi ra khỏi hiện trường bằng cách bắt tôi chạy theo rồi ngồi xếp bằng từng chặng một dưới bóng mát của những gốc cây rồi sau cùng anh hướng dẫn tôi chạy về phòng, và bảo tôi nằm trên giường của tôi. Trên đường về phòng, anh có cho tôi biết tên anh là Nguyễn Cư. Anh có hỏi tôi là có tập Yoga hay không là vì có lẽ anh đã thấy tôi gồng mình trong khi bị kéo. Sự thật là tôi có đọc qua nhiều sách tập luyện Yoga nhưng chưa bao giờ thực hành; có lẽ nhờ đọc sách Yoga nên tôi áp dụng phương pháp gồng mình để chịu đựng cơn đau buốt khi bị kéo sước da, và tôi nghiệm thấy việc khi gồng mình như vậy thì tôi cảm thấy bớt bị đau đớn. Dường như anh đã cho tôi biết là anh cũng có luyện tập Yoga.
Sau khi lên giường, tôi đi vào giấc ngủ mê man, và nằm mộng thấy mình được đi Nhật Bản để sửa chữa những khiếm khuyết trên mặt hay trên đầu mà tôi đã từng bị mang mặc cảm. Tôi nhớ mang máng trong cơn mê sảng, tôi có sờ đi sờ lại vào nơi cái sẹo ở phía sau ót. Cái sẹo này tóc không mọc ra được, và càng bị lộ thật là rõ nét một khi tôi hớt tóc cao. Trong khi bị phạt có lẽ bị mất nước nhiều vì mồ hôi luôn luôn vã ra như tắm, và bị lên cơn sốt vì cái nắng chang chang của buổi trưa hè, nên khi bị mê man như thế tôi đã thấy khát khô cả cổ; tôi thức giấc và mò vào trong buồng tắm tìm nước uống, nhưng vòi nước chảy ra một thứ nước vàng khè vì rỉ sét! Tôi đã không dám uống mà trở lại nằm vật xuống giường ngủ thiếp đi trong cơn sốt nặng. Tôi cũng nhớ mơ màng là dường như đã có lấy trong sac marine của mình ra chai thuốc bột peniciline mang theo, để rắc lên những vết thương trên mình trên mẩy trước khi ngủ thiếp lại. Tôi được đánh thức dậy vào giờ cơm chiều. Theo các bạn xếp hàng đi vào phòng ăn, tôi đi thất thểu như một người mất hồn và thấy rêm khắp châu thân; tôi bước đi như một kẻ mộng du! Đâu đó tôi nghe văng vẳng có tiếng la lớn của một đàn anh nói: “Khóa 20 có người bị điên!” và dường như đã có ai đó la lên “Trần Ken bị điên!” Tôi phân vân tự hỏi: “Hay là mình bị điên thật rồi chăng? Thế là đời mình tàn rồi!” Tôi cảm thấy thật xuống tinh thần. Tôi thấy thất vọng về cái cuộc đời “mạt rệp”, dang dở vì thi rớt của mình! Tâm trạng của tôi lúc đó thật là hoang mang, hụt hẫng! Dường như là sau bữa cơm chiều hôm đó, SVSQ trực đã dẫn tôi lên trình diện Đại Úy Đăng, SQ Đại Đội Trưởng. Tôi không nhớ lại những lời hỏi đáp giữa Đ/U Đăng và tôi khi ấy, nhưng tôi nhớ mang máng là mình đã có thắc mắc là mình có bị điên hay không? Đ/U Đăng có hỏi tôi là có bị thương ở đầu hay không? Rất may là tôi không có bị thương ở đầu, nhưng có lẽ trong lúc nằm sốt ngủ li bì mê man tôi đã rờ đi rờ lại nơi vết sẹo phía sau ót như đã kể bên trên, nên mọi người đã tưởng là tôi bị thương nơi đầu và bị điên chăng? Tôi có xin Đ/U Đăng cho tôi lên bịnh xá để được xức thuốc vào những nơi bị thương. Sau đó SVSQ trực lại dẫn tôi lên bệnh xá để được trị liệu, nhưng y tá trực chỉ xức thuốc đỏ vào những vết thương trên bụng, lưng và ngực của tôi mà thôi! Nếu không nhờ có bột thuốc penicillin mang theo, thì những vết trầy xước nơi bụng nơi ngực của tôi có thể đã làm độc, và để lại đầy những vết sẹo trên thân thể tôi rồi.

17.- Nguyễn văn Đệ: “Bố” tôi là đàn anh 19 Nguyễn Hữu Khiêm, Tiểu đoàn trưởng SVSQ với bốn “bệt” vàng trên cổ áo, quyền uy một cõi. Tôi nhẩy xổm hay nhẩy như con cóc vào phòng “C2” đầy hắc ám để nhận lễ Bố-Con. Nơi đây một con gà quay có quết bơ thơm lừng, vài ổ bánh mì, và nhất là một “ly cối” coca cola có quậy thêm sữa đặc có đường đang chờ tôi sau những màn hít đất “sương sương” gọi là cho có lệ. Sau những ngày hùng hục thi hành và mệt rã rượi chân tay mình mẩy với những hình phạt “thăng thiên độn thổ”, hít đất, tập họp “ba mươi giây”, những buổi sáng chạy, buổi trưa chạy, buổi chiều chạy, buổi tối chạy. Chúng tôi chạy huỳnh huỵch! Chúng tôi chạy trước khi ăn, chúng tôi chạy sau khi ăn. Chúng tôi chạy một mình, chạy một nhóm, chạy cả một trung đội, chạy cả một đại đội, chạy cả một khóa, chạy như chưa bao giờ từng được chạy như thế! Đêm ngủ, nằm mơ cũng thấy chạy, và lúc nào cũng tưởng như là đang nghe thấy tiếng còi tập họp “ba mươi giây”. Chúng tôi mệt mỏi đến phờ phạc cả người, cũng như chúng tôi thèm ngủ đến quay quắt con ngươi. Đến lúc nhận lễ “Bố - Con”, được hưởng một ly “cối” nước Coke lạnh, có quậy thêm sữa đặc thì có lẽ là cả một thiên đường thần tiên của chúng tôi. Những sự tức giận, những nỗi ấm ức, những niềm căm hờn đã được ấp ủ, chôn dấu theo những bước chân chạy bao lâu nay cứ thế mà tuồn tuột trôi đi mất tiêu theo những ngụm nước Coke mát lạnh và “ngọt lừ” chất đường từ sữa.
Đàn anh 19 Hoàng Công Dược, “ông chú” cùng phòng với Bố tôi, khuyên tôi nên nhảy ra làm một cái “chức sắc” gì đó cho nó “phẻ con gà”, nhất là làm sinh viên ẩm thực như ông ấy nữa thì thật là nhất. Tôi đã nghe lời mà nhẩy ra tranh cử chức trưởng ban ẩm thực ĐĐ1 Khóa 20 SVSQ. Tôi đã được đắc cử “ngon ơ” vì không có đối thủ, và nay nghiệm lại thì thấy lời khuyên của ông này quả là hết sức có lý. Xin cám ơn đàn anh Hoàng Công Dược đã chí tình chỉ bảo! Nhưng cũng vì được lè phè như thế, ra Nha Trang như đi chợ như vậy mà tôi đã có nhiều khi bỏ cả lớp, đến nỗi chẳng thi cả ESL nữa! Cũng vì vậy mà tôi không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội chăng, mặc dù sinh ngữ chính của tôi thời còn học trung học đã là Anh văn, và hồi còn trẻ mới mười lăm mười sáu tuổi đã được một con bé người Mỹ gốc dân Bakerfield ở ngay kế bên nhà tôi tập cho “uốn lưỡi” mỗi khi trăng lên lờ mờ trên sân thượng nhà nó!

18.- Mai Kim Phụng: Đương là một “sinh viên sĩ quan” ở Quang Trung, nhưng khi ra đến Nha Trang thì lại được đàn anh “phong cho” lên ngay chức “tân binh”… và sau đó thì cứ lăn lăn lóc lóc mà quay cuồng. Châm ngôn của tôi là lặn vô đám đông thì dễ sống hơn, nên rất hiếm khi tôi “mò” lên Câu Lạc Bộ. Trong suốt thời gian bị huấn nhục, Hùng Bò Bía nằm kế bên tôi là dân Nha Trang, vào một buổi tối khi chúng tôi đã lên giường và tắt đèn rồi, thì có một niên trưởng K.19 vào chỗ chúng tôi nằm và gọi khẽ kêu Hùng BB đi uống nước, đúng là phe đảng, đúng là có “bít tông”, quen biết với đàn anh! Nhưng Hùng BB giẫy nẩy kêu là đã uống rồi nên không đi.
Thế là hắn bị “chì chiết sỉ vả” ngay là “sao mà anh ích kỷ thế, nếu anh không khát thì anh cũng phải đi lấy về cho bạn bè anh uống với chứ!” Hùng BB nhà ta bèn tuân lệnh, rồi nửa tiếng sau hắn vẫn còn biệt tăm, cũng chưa thấy về! Khoảng một tiếng sau mới thấy hắn mò về, và không biết là hắn đã bị uống hết bao nhiêu là nón sắt nước nữa. Từ đó về sau chúng tôi đã làm như là cứ như ngủ rồi thì không còn thấy bị ai đánh thức dậy để đi uống nước nữa.
Thời gian bị huấn nhục rồi cũng qua đi. Tôi hơi bị mất tinh thần khi thấy quan Trần Mạnh Hà bị kéo lê! Sau đó tôi học làm thợ lặn, chẳng bao lâu thì chúng tôi được gắn Alpha và cho đi bờ, để rồi khi về lại bị đàn anh xúm vào sỉ vả cho đủ thứ tội… mà mình không làm! Tôi còn nhớ có những lần được “ông già” quan Hùng BB chở trên xe Jeep của ông ấy đi phố, chúng tôi đã không dám ngắm cảnh mà chỉ nhấp nhổm coi xem có thấy đàn anh nào đang đi dưới đường hay không để mà chào tay răm rắp. Ông ấy bực mình đã nói “ chúng nó không chào tao thì thôi chứ tại sao chúng mày lại phải chào chúng nó.” Tới lúc được đi phép về Sài Gòn thì các quan nhà ta đã tự động lên lon Alpha Chuẩn úy ngay tại phi trường Nha Trang. Chúng ta đã đi rong chơi khắp cả Sài Gòn với cặp lon này mà BTL/HQ cũng chả biết gì cả, thật là khẩu phục tâm phục BTL/HQ nhà ta.
Ở quân trường Nha Trang, tôi biết có hai quan chống đối việc đi bờ nhất đó là quan Tôn Thất Thái và quan Tăng văn Hiệp thì phải? Quan TTThái có cái thú vui là…đánh giầy. Đánh xong giầy mình rồi mà chưa thấy “đã” thì mang thêm giầy của quan Trần Xuân ra đánh tiếp. Riêng tôi thì có cái thú là đi tắm biển. Sáng nào cũng bỏ cả ăn sáng để đi tắm biển, khi về không có thì giờ để tắm lại nước ngọt nên cứ thế mà mặc quần áo vào, và đi học ngay. Mới đầu thì cũng thấy hơi khó chịu, nhưng sau rồi riết cũng quen đi. Lên đàn anh, tôi ở chung một phòng với Yên Bột, Hùng BB, và Nguyễn Anh. Bây giờ Nguyễn Anh đã ra người thiên cổ nghĩ cũng thấy buồn, vì chính hắn là người đã dậy tôi tập lái xe số tay bằng chiếc Dodge của đơn vị hắn ở Đồng Tâm!
Chẳng bao lâu thì đàn anh 19 ra trường, mà đàn em 21 lại chưa vào! Chúng tôi sắp lên “quan” làm đàn anh, chẳng lẽ lại còn phải làm tạp dịch nữa hay sao? Thế là chẳng có ai làm tạp dịch, thôi cũng đành ở bẩn ít lâu mà chờ đàn em vào làm luôn một thể vậy! Trong khi chờ đàn em 21 nhập trường thì chúng tôi được làm lễ gắn Alpha Chuẩn Úy. Xin cám ơn tất cả các quan đã tranh đấu với quân trường đễ cho chúng tôi được mang lon Alpha Chuẩn Úy “le lói” trong giai đoạn làm đàn anh. Có một lần trong lúc đi tuần quanh vọng gác, khoảng hơn hai giờ đêm, khi đi ngang qua khu đàn em thì thấy có ba người đàn em đang ngồi hăng hái đánh bóng giầy! Tôi thấy thương hại mà ghé lại bảo rằng là các anh cứ đi ngủ đi, chứ có đánh cho bóng vào rồi ngày mai lại bị chạy trước khi thanh tra giầy thì …trước hay sau gì rồi cũng sẽ phải bị phạt mà thôi! Bây giờ thì chịu khó đi ngủ đi, để còn lấy sức mà chịu phạt ngày mai.

19.- Nguyễn văn Đệ: Tôi thuộc trung đội 4, Đại Đội 3, trung đội trưởng là đàn anh K19 Hồ Ngọc Hoa, trung đội phó là Nguyễn Hải khi còn làm đàn em. Nguyễn Hải còn có một biệt danh là Hải ngựa, chẳng là khi còn đang học căn bản quân sự tại TTHL/Quang Trung, vì thuộc loại cao lớn nhất khóa nên anh thường được cầm cờ đi trước hàng quân của Tiểu Đoàn SVSQ/HQ, Tiểu Đoàn Trần Bình Trọng.
Trong một lần ra bãi tập, khi đoàn quân của chúng tôi và một đoàn quân của một tiểu đoàn khác cùng đang tiến đến một ngã tư giữa đường nhưng trên hai trục lộ khác nhau. Khoảng cách tới ngã tư cùng vào khoảng hơn nửa cây số, nếu đoàn quân nào tới sau thì sẽ phải dậm chân tại chỗ, đợi cho đoàn quân đến trước đi qua rồi mới được tiến bước. Mọi người thuộc cả hai đoàn quân cùng nhận ra điều đó, và cố đếm bước tiến mau để mong tới trước. Anh thủ kỳ thuộc tiểu đoàn kia dợm bước vượt nhanh về phía trước, tính qua mặt chúng tôi. Nguyễn Hải tung mình, cầm cờ phóng nhanh như tên bắn lên phía trước khi thấy tay kia cũng đang cố chạy đến ngã tư. Nhưng làm sao mà tới trước được một khi Nguyễn Hải đã như con ngựa Xích Thố phóng mình như bay để đến ngã tư, qua trước, và đứng đợi chúng tôi. Từ đó anh mang biệt danh là Hải Ngựa.
Người có “tầm vóc” trái ngược lại với Hải Ngựa trong trung đội 4 chúng tôi là Hùng Fox trong ban nhạc Khóa 20, anh có biệt danh này vì anh có một chiều cao hơi thiếu thước tấc, nên mỗi khi trung đội bị phạt chạy thì anh và những người “nùn” khác lúp xúp chạy theo, hổn hển kêu gào “đằng trước chầm chậm lại” thì mấy anh mới theo kịp. Trong Khóa 20 của chúng tôi có rất nhiều tài năng nhưng tôi không nhớ hết, riêng trung đội của tôi thì có nhớ nhiều vì gần gũi với nhau, như Nguyễn Ngọc Châu hay Châu “Phít” vì tài ăn nói có duyên của anh, hay Lê Quang Chung, biệt danh Chung Hợi lại là người được cảm tình của nhiều anh em vì tính tình hiền hậu, đứng đắn nhưng vui vẻ của anh. Anh rất hay nói chuyện vui đùa với những người quen biết anh nhiều. Anh đẹp trai, to lớn, phương phi nhưng lại có vẻ nhút nhát (?) với đàn bà. Anh hay bị quan Đinh Phú Thịnh cùng một trung đội chọc quê nhiều lần, nhưng không thấy anh giận chi cả, một phần cũng vì mồm miệng của quan ĐPThịnh khôn khéo quá, trơn như mỡ vậy. Quang đờn hay Huỳnh Minh Quang thì yêu “đờn địch” ngang với hay nhiều khi còn hơn hẳn yêu đờn bà. Trên trần, phía đầu giường anh nằm lại luôn luôn có sẵn trà, thuốc lá, cà phê hay kẹo bánh. Tối tối chúng tôi thường tụ tập tại đây, uống trà, nói chuyện trên trời dưới nước khi còn làm đàn em, ngụ tại mấy dẫy nhà tiền chế. Đàn anh K19 Hải “Mưu” cũng hay la cà chui sang tụ hội. Trong phòng tôi còn có Nguyễn Hùng Tâm, anh chứng tỏ mình có tài chỉ huy ngay từ những ngày đầu khi mới nhập trại Bạch Đằng II. Anh đã tình nguyện làm đại diện cho chúng tôi ngay từ đầu khi mà mọi người còn đang hoang mang với nếp sống mới trong đời quân ngũ. Sau này anh là Tiểu Đoàn Trưỡng SVSQ cho đến gần ngày ra trường. Cách chỉ huy của anh có vẻ kiểu anh hùng Lương Sơn Bạc nên có một số anh em đã không thích lắm. Anh lại có đệ nhị đẳng Thái Cực Đạo nên trong những ngày còn bị huấn nhục, vào ban đêm anh thường bị đàn anh lôi ra phạt liên tu liền tù cho tới khuya. Người bị phạt nhiều không kém là quan Nguyễn văn Độ. Anh là dân Thiếu Sinh Quân, và ở bên trên phòng của tôi. Đàn anh kéo qua khu tôi ở là thích lôi anh và Nguyễn Hùng Tâm ra phạt “thăng thiên độn thổ” liên tu bất tận, thành ra hầu như quên mất bọn tôi. Hai anh thi nhau nhẩy huỳnh huỵch ngoài đầu hè nhiều khi đến gần sáng, mà chẳng thấy than thở chút nào.

Chương 5: Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang,
Giai đoạn Sinh viên đàn anh.
       Sợi dây tình cảm đã nối chặt chúng ta hơn mỗi ngày một chắc chắn hơn. Chất liệu “Đệ Nhị Hổ Cáp” đã hòa vào trong máu chúng ta, đã luân lưu trong tim trong mạch chúng ta. Tập thể Khóa 20 đã hoàn toàn lớn mạnh, trổ hoa khi lên làm đàn anh, mang lon Alpha Chuẩn Úy. Những thành tựu về thể thao như bóng bàn với Trương văn Hiếu, Mai Tất Đắc, Trịnh Công Đoàn… Với điền kinh việt dã như Huỳnh văn Tài, Nguyễn Hải… Với tiếng hát ngọt ngào của Nguyễn Thế Trác, cao ngút ngàn của Đỗ Thanh Vẽ, độc đáo của Trần Kim Hoàng, những bản nhạc ngoại quốc đương thời kích động của Lưu An Huê… và ban nhạc khóa 20 gồm có Huỳnh Minh Quang (Quang đờn), Phạm văn Hùng (Hùng Fox), và tay trống Phan Thiết Dũng (Dũng Rùa) đã làm mưa làm gió khắp miền duyên hải Vùng Hai Chiến Thuật. Trong dịp Lễ Phật Đản năm 70, chiếc xe hoa đại diện Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang của Nguyễn văn Quan “Quan Già” thiết kế với ánh đèn phát ra như ánh hào quang tỏa ra từ bức tranh Bụt đã làm dân Nha Thành không tiếc lời khen ngợi. Chiếc nhẫn của khóa 20 là một thành công tốt đẹp với bản vẽ kiểu của Lưu Quốc Bảo, và thêm đây là những kỷ niệm đáng nhớ của chúng ta.

20.- Nguyễn văn Hùng: Tôi không nhớ là vào thời điểm nào thì chúng tôi đã được thực tập hải hành ngoài khơi với chiếc Lương Vận Hạm HQ541.
Súp lê một còn huyên thuyên nói,
Súp lê hai nửa đứng nửa ngồi,
Súp lê ba tàu ngang Hòn Lớn,
Tay vịn song sắt tắc lưỡi kêu trời…
(Ca dao chế biến)
Khi tầu rời Cầu Đá, chúng tôi thay phiên nhau đi quart, còn lại thì tụm năm tụm ba đứng trên boong tầu mà tán hưu tán vượn, cùng ngắm mỏm Chutt nơi có em Jackie với sắc đẹp lồ lộ của một người con gái lai tây mới lớn đang lui xa dần về phía sau, hay ngắm trời mây non nước mà thả hồn về nơi quê nhà yêu dấu. Chúng tôi cười đùa rất ư là vui vẻ. Con tầu rẽ sóng, nhẹ nhàng tiến ra cửa biển để lại những chùm hoa biển, hai hàng trắng xóa phía sau. Trời nắng ráo, trong xanh, lãng đãng vài cụm mây trôi lững lờ trên cao. Khi chiến hạm ra đến gần Hòn Lớn thì gió thổi mạnh, ngọn cờ trên kỳ đài bay phất phới, reo lên những tiếng vui tươi, phần phật trong làn gió sớm mai.
Những ngọn sóng bạc đầu đã bắt đầu làm con tầu trồi lên hụp xuống theo một chu kỳ chầm chậm và đều đặn một cách rất ư là khó chịu. Tôi thấy nhộn nhạo trong bụng, kiếm chỗ ngồi để cho đỡ mệt và tránh những làn gió biển lạnh. Các bạn tôi cũng đã tìm chỗ ngồi. Chúng tôi ngồi bệt xuống sàn, không còn nói năng cười đùa như trước nữa, mặt mày căng thẳng và xanh mướt. Con tầu vẫn trồi lên hụp xuống lao đao theo từng con sóng. Bụng tôi cồn cào vì say sóng. Nước miếng, nước rãi cứ ứa ra đầy miệng. Tôi chập choạng bước ra bên hông tầu và nôn thốc nôn tháo xuống biển. Những miếng đồ ăn sáng nay đã được tống ra khỏi cửa miệng tôi ào ào, mạnh mẽ như gớm ghiếc cái thằng tôi. Bụng tôi thắt lại. Mắt tôi đẫm mờ đi vì cơn nôn mửa. Nước rãi, nước miếng theo thức ăn ứa phun ra khỏi miệng khỏi mũi tôi. Tôi lấy tay áo chùi đại ngang miệng cho xong, bò về lại chỗ ngồi, và cảm thấy khoẻ hẳn hơn lúc trước khi ói. Bạn tôi, nhiều đứa cũng đang làm như thế. Đầu tôi nhức, tai tôi ù đi, chỉ muốn nằm vật xuống sàn. Chúng tôi ngồi rũ ra, rã rượi như những con “gà rù” sắp chết. Bụng tôi thắt lại từng hồi. Nước mắt nước mũi cứ ứa ra. Những chất chứa trong bao tử của tôi cứ dâng thốc lên cổ. Tôi cố nuốt nước miếng, đè xuống. Nước rãi liên tiếp tuôn ra trong miệng ở hai bên hàm. Ruột gan tôi như đang bị ai xoắn lại, quặn thắt bao tử. Tôi bò lết ra bên thành tầu. Tay tôi bấu chặt vào hàng dây cáp an toàn quanh tầu, cằm tôi bạnh ra, miệng há hốc rộng mở, tôi cúi gập người nôn ọc nôn oẹ ra, thỏa mãn như chưa bao giờ được nôn mửa như thế, và như đang cố tống khứ những cơn say sóng đang dầy vò thân tôi ra khỏi tôi vậy! Tôi mệt quá, và nằm luôn tại chỗ.
Đại úy Tâm la mắng và ra lệnh bắt tôi phải đi lên phía mũi tầu, chỗ ổ neo để tập làm quen với sóng với gió. Sóng với gió lúc nào chẳng có ngoài khơi, cần gì mà làm quen với lại không quen, tôi ngần ngừ nhưng cũng phải tuân lệnh. Tôi loạng choạng lần mò tiến lên mũi tầu. Các bạn tôi cũng nửa nằm nửa ngồi la liệt trên boong, nơi ổ súng. Tới mũi tầu, tôi thấy từng cơn sóng lớn như muốn úp chụp lấy thân con tầu của chúng tôi. Mũi tầu được đưa lên cao rồi thụp xuống tận đáy ngọn sóng! Bọt biển tung toé bắn cả lên mũi tầu. Tôi nằm xụm xuống đống giây để trước mũi, và tôi đã ói như điên ngay tại chỗ ổ neo mà chẳng kịp bò ra bên mạn tầu. Ối cha mẹ ơi, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi mới thấy say sóng biển nó khủng khiếp đến như thế. Trước kia khi còn thuở học sinh tôi cũng đã có mấy lần theo bạn bè đi ghe du lịch ra đảo chơi thì cũng chỉ thấy hơi hơi khó chịu một chút chứ đâu có khó chịu quá mà ói mửa ra cả mật xanh mật vàng như bây giờ! Bụng tôi quặn lại từng cơn! Tôi đã ói sạch sành sanh những gì đã có trong bao tử, kể cả mật xanh mật vàng thế mà tôi vẫn còn muốn ói từng hồi. Tôi muốn thí mạng cùi, nhẩy đại xuống biển để tránh cơn say sóng này, nhưng mà người tôi cứ rũ rượi ra, như chết tiệt mà không sao nhúc nhích lên được! “Ôi biển cả giờ đây ta mới biết; Mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta”. Câu thơ của đàn anh 19 truyền lại trong những ngày huấn nhục nay nghe sao mà thấm thía quá vậy. Đại úy Tâm thấy tôi tội nghiệp quá nên có sai quan Mai Kim Phụng thì phải (?) lên mũi tầu dìu tôi đi xuống. Tôi đã biết ngay là mình chọn lầm quân chủng sau chuyến hải hành thực tập này.

21.- Nguyễn văn Đệ: Trong lần thăm viếng Căn cứ quân sự Đại Hàn, ngay từ sáng sớm chúng tôi được chở bằng xe GMC đi để bắt đầu cuộc thăm viếng. Có lẽ vì bí mật quân sự nên chúng tôi, những sinh viên Sĩ quan, đã không được Bộ Chỉ Huy quân trường chia sẻ hay tiết lộ chương trình cùng giờ giấc thăm viếng. Chúng tôi chỉ được biết là ngày hôm đó sẽ được đi thăm viếng CCQS Đại Hàn, và không được chuẩn bị hay mang theo nước uống! Trời nắng chang chang, với cái nóng kinh hồn của mùa hè miền Trung, chương trình thăm viếng được trải dài với nhiều tiết mục và dồn dập nhiều nơi trong một thời gian ngắn ở căn cứ Đại Hàn. Chúng tôi cũng chưa từng được học hỏi, chỉ bảo, hay hiểu biết về cách thức ăn uống tự chọn (self-serve), một số các quan đã quên mang theo tinh thần tự trọng, và nhất là cơn khát nước đến khô cổ đã làm cho chúng tôi rối loạn hàng ngũ. Vào buổi trưa, khi được đãi ăn, ngay khi xuống xe, một số đông chúng tôi đã chạy ào đến và bu túm lại nơi quầy nước để uống mà chẳng hề quan tâm đến tiếng còi của quan SVSQ trực nhật. Đáng lý ra là chúng tôi phải tập họp xếp hàng rồi lần lượt đến uống.
Khi về lại quân trường, tập họp nơi Thao diễn trường, HQ Thiếu-tá Hà Ngọc Lương, giáo sư môn Lãnh Đạo Chỉ Huy và cũng đồng thời là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hải quân, đã lặng người đi vì cơn giận đến cả mười phút. Ông đi tới đi lui trước hàng quân, chúng tôi đứng thế nghiêm và im lặng như ngậm tăm vì biết đến điều có lỗi của mình. Khoảng mười phút sau, Ông đứng lại và quát lên:” Đồ mất dậy…”. Ông đã dùng những lời nghiêm nghị, cay đắng để chửi chúng tôi, nhưng tôi chỉ nhớ được ba chữ đầu. Ông đã đau thật là đau, và đã cảm thấy nhục nhã vì cái cảnh chen lấn, vô kỷ luật của bọn chúng tôi trước mặt những quân nhân nước bạn. Riêng tôi thì đã thấm ngay từ lúc đó, và sau này khi ra đời, tôi đã không bao giờ quên được cái hình ảnh ngày hôm đó và luôn nhớ mang theo mình câu tự trọng.

22.- Nguyễn văn Hùng: Khi Lực Lượng Người Nhái (LLNN) vào tuyển người, tôi đã hăng hái ghi tên ngay, và được chọn vì biết bơi kha khá. Trong bụng tôi rất mừng vì biết là trong tương lai mình sẽ không phải gặp lại cái cảnh bị say sóng ói mửa như khi thực tập hải hành ngoài khơi nữa, và nhất là mình vẫn còn tiếp tục được là một Sĩ quan Hải quân. Vài tuần lễ sau thì có Sở Phòng Vệ Duyên Hải (PVDH) lại cũng vào tuyển người. Sau khi nghe thuyết trình về tổ chức và những hoạt động của đơn vị này, tôi vội có ý định gia nhập đơn vị này ngay. Vì có cơ hội lãnh nhiều tiền hơn, và có vẻ “le lói” hơn vì có những hoạt động ra Bắc, tha hồ mà nói phét khi về thành phố. Sở PVDH chỉ nhận rất ít người nên phải rút thăm. Tôi là người may mắn đã bốc được một thăm nhận tuyển.

23.- Nguyễn Minh Cảnh: Hồi học ở lớp Đồng ấu, em có được học truyện “Lục súc tranh công” khoái tỷ quá “chời”, nhất là lời tranh công của con bò. Sau này LLNN vào tuyển, em lại nghĩ đến truyện ngụ ngôn “Con nhái muốn to bằng con bò nên cố nín hơi, và phành bụng ra cho to bằng con bò”. Vả lại Bố em “vưỡn” thường chửi em là “Mầy học gì mà dốt như con bò vậy!” Thành ra em nhào “dzô” liền tù tì vì lực lượng này chỉ cần đến sức khoẻ, không cần biết chữ nhiều, và em được nhận. Đúng là chó “ngoáp” phải ruồi nên em đã được cho đi học bên Mỹ, dưới San Diego. Cùng khoá có Phan Ngọc Lựu, Long Yoga hay Long Mực và Lê văn Từ thuộc đàn anh K-19.

Chương 6: Thực Tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ

       S au khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, chúng ta được chuyên chở về Sài gòn bằng HQ 406. Một số đủ điểm ESL, được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ.

24.- Cung Vĩnh Thành: Tôi tốt nghiệp Khóa 20 SQHQ Nha Trang với hạng thứ 70 trong tổng số 167 Sĩ quan ngành chỉ huy. Điểm ESL Anh văn là 73, đủ điều kiện để được đi thực tập trên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Trong khoảng gần hai tháng trước ngày đi, vào mỗi buổi sáng hàng ngày, những Sĩ quan sẽ đi thực tập phải trình diện tại Câu Lạc Bộ Nổi trong BTL/HQ để phòng Quân huấn dặn dò những việc nên và không nên làm trong lúc đi thực tập. Chúng tôi cũng phải đi chích chủng ngừa tại Viện Pasteur, xin visa nhập cảnh những quốc gia tại Á Châu mà chúng tôi có thể sẽ được ghé thăm, đổi tiền tại Ngân Hàng Quốc Gia, may quần áo ở một tiệm may thuộc vùng Phú Nhuận.
Ngày 18 tháng 9 năm 1970, năm tân sĩ quan gồm có quan Trương Đình Quí, Phan Xuân Sơn, Trương Minh Lộc, Nguyễn Chánh Tâm, và tôi đã đáp máy bay quân sự Hoa Kỳ đến Clark Air Base, Phi Luật Tân để bắt đầu cuộc thực tập hải hành với chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Chúng tôi đã được chuyển vận bằng xe buýt đến căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay để trình diện thực tập trên chiến hạm USS White Plains AFS-4. Đây là một chiến hạm thuộc loại phụ trách chuyển vận và tiếp tế nhu liệu cho các chiến hạm khác đang hoạt động trong vùng của Đệ Thất Hạm Đội kể cả Hàng Không Mẫu Hạm. Vì thế cho nên chúng tôi đã thường xuyên phải gặp gỡ các chiến hạm khác bất kể ngày hay đêm để tiếp tế cho họ. Trong những lần như vậy, tôi đã thường hay lên phòng vô tuyến để liên lạc với những chiến hạm đang nhận tiếp tế xem là có ai trong khóa mình hiện cũng đang thực tập ở trên đó hay không? Trong suốt thời gian thực tập, chúng tôi đã được ghé thăm nhiều bến bờ như Hồng Kông, Đài Loan, Phi Luật Tân, và cả Việt Nam nữa. Sau năm 1975, vào thời điểm phong trào vượt biên lên cao độ thì USS White Plains cũng đã có thực hiện vài lần vớt người trên biển Đông, và nó đã có hậu cứ tại San Diego.
25.- Trần Ken: Toán đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội chúng tôi gồm có năm người là Đàm Thanh Tâm, Đỗ Minh Hào, Lê văn Lộc, Võ văn Hai, và tôi. Chúng tôi lên đường bằng phi cơ quân sự Hoa Kỳ tại phi trường Tân sơn Nhất, ghé qua một phi cảng quân sự của Hoa Kỳ tại Nhật sau khoảng tám giờ bay. Chúng tôi được chuyển máy bay để đến Clark Air Base ở Phi Luật Tân, và được đưa bằng xe buýt về căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ ở Subic Bay.
Sau khi hoàn thành những thủ tục cần thiết, chúng tôi được đưa đến Dương vận hạm USS 1167 (hay có thể là USS 1169 mà tôi không nhớ rõ) hiện đang cập bến tại chỗ. Mỗi anh em chúng tôi đều có một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ làm sĩ quan hướng dẫn đi kèm. Sĩ quan hướng dẫn của tôi là thiếu úy John Clark, đã chỉ dẫn cho tôi mọi chi tiết sinh hoạt trên chiến hạm.
Ngay ngày đầu tiên tại Subic bay, chúng tôi đã gặp một vị sĩ quan Hải Quân Việt Nam đang chờ lãnh tàu tại đây. Ông ta cho biết là trong mấy ngày trước có một vị sĩ quan VN đã bị bọn du đãng Phi gí dao ăn cướp ngay nơi một cầu tiêu công cộng ngoài phố! Chúng tôi đâm ra “lạnh cẳng” mà không dám “đi bờ” trong mấy ngày đầu. Nhưng sau một vài bữa chúng tôi đã bắt đầu thấy ngán món ăn Mỹ nên đâm “liều” mà “mò” ra phố khi không có phiên trực. Gần căn cứ có một quán cơm cơm của người Phi, và tôi là một khách hàng thường xuyên ở đây vì họ có một món gà kho rất gần gũi với món ăn của người mình. Khi ăn cơm ở đây, tôi rất nhớ đến mẹ tôi và những món ăn mà bà thường hay làm. Tôi vốn có nước da bánh mật là do nơi bà cố ngoại của tôi gốc người Miên. Cũng nhờ vậy mà khi đi bờ dạo phố bên Phi, tôi đã không hề bị làm khó dễ hay bị đối xử như với người ngoại quốc vì làn da bánh mật này.
Khoảng một tuần lễ sau thì chiến hạm USS 1167 được lệnh trở về bến chính là Yukosuka bên Nhật. Là một trong hai căn cứ Hải Quân lớn nhất của Mỹ nằm trên đất Nhật, Yukosuka nằm trên đảo Honshu, và cách Tokyo khoảng hai đến ba tiếng đi xe lửa. Từ Yukosuka đến Tokyo, xe lửa có ghé qua hai ga chính là Kamakura và Yokohama. Kamakura là một trong những cố đô của Nhật, nơi có rất nhiều chùa chiền và đền thờ thần đạo; còn Yokohama là một thương cảng chính của Nhật, và là cửa ngõ của Tokyo. Vì được có cơ hội thực tập trên chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ, và ghé thăm những bến bờ nằm ngoài lãnh hải Việt Nam nên tôi đã cố không bỏ lỡ cơ hội, luôn luôn tranh thủ đi bờ mỗi khi tàu ghé bến. Thứ nhất là đi ngoạn cảnh cho thỏa lòng ham thích, và thứ hai là ra ngoài căn cứ để tìm những món ăn hợp khẩu vị. Tôi rất thích món tempura hay đồ biển lăn bột chiên, và món yaki tori hay thịt gà ướp nước sốt đặc biệt đem xâu que nướng bếp than ăn khá ngon miệng. Đi chơi về khuya ăn món bình dân nóng hổi là bánh canh Udon, vừa túi tiền mà lại đầy bụng. Tôi cũng lặn lội vào cả những khu chợ để xem sinh hoạt chợ búa của người Nhật, và thưởng thức những bữa cơm bình dân trong chợ. Một đôi khi tôi cũng hay ghé quán chuka-ryori, tiệm ăn Trung Hoa, để ăn mì xào hay bánh xếp.
Như người xưa thường nói “tha hương ngộ cố tri”, tôi bắt liên lạc được với một người bạn thuở còn niên thiếu là anh Hàn Đức Quang lúc bấy giờ đang theo học tại Đại Học Keio ở Tokyo. Khi tàu về bến, chúng tôi thường hay lên Tokyo vào chiều thứ Bẩy, ngủ qua đêm tại phòng trọ của anh Quang, và ngày Chủ Nhật anh đã dành thời giờ qúy báu cuối tuần của anh để dẫn chúng tôi đi chơi. Chúng tôi được đi thăm vườn Đông Ngự Uyển, công viên Ueno, Tháp Tokyo, khu bán đồ điện tử, khu thương mại lầu Ginza, khu ăn chơi Shinjuku, và dự tiệc mừng ngày Quốc Khánh VN, 26 tháng 10 năm 1970, tại tòa Đại Sứ VN tại Tokyo. Ông Đại Sứ VN Nguyễn Triệu Dân và nhân viên Tòa Đại Sứ đãi chúng tôi món chả giò và có cả nước mắm.
Người Nhật rất hiếu khách. Trong một dịp đi chơi, tình cờ chúng tôi quen biết với gia đình một cô sinh viên người Nhật tên Michiko mang họ Hosoya. Cha của nàng là ông Todayoshi, một cựu sĩ quan Hải Quân Hoàng Gia Nhật, đã tiếp đãi chúng tôi tại nhà ông bằng món quốc hồn quốc túy Nhật là món sushi. Món này đã làm cho anh bạn chúng ta là Lê văn Lộc đã ói ra cả mật xanh lẫn mật vàng sau miếng đầu tiên vì không quen mùi tanh của đồ biển. Cũng chính gia đình Hosoya này đã chuyển giùm tôi lá thư đầu tiên về Rạch Gía cho mẹ tôi báo tin là đã tới được bến bờ tự do sau khi chúng tôi đến được Kuantan, Mã Lai Á vào cuối tháng 5 năm 1978. Còn cô Michiko cũng đã thành lập gia thất vào ngày 1-10-1977.
Có một lần tàu chúng tôi ủi bãi tiếp tế cho căn cứ TQLC Hoa Kỳ tại Niwakuni gần núi Phú Sĩ nổi tiếng của đất Phù Tang. Vì tàu ghé ngắn hạn nên chúng tôi không có dịp thăm viếng núi này, nhưng chúng tôi đã được ngắm cảnh núi Phú Sĩ lúc chiều tà hoàng hôn, và lúc mặt trời mọc từ xa trên chiến hạm. Phải nói là tuyệt đẹp như hình chụp trong những tấm card postal, làm tôi liên tưởng đến nhân vật Hiệp Sĩ Mù, trong những phim Nhật mà tôi đã có dịp xem, tuy bị mù nhưng chỉ mơ là được đi “ngắm” cảnh Phú Sĩ Sơn lúc mặt trời mọc. Tại Niwakuni, chúng tôi được gặp các bạn cùng khóa là Lâm Quốc Hùng và Kha Tư Tiếp đang thực tập trên dương vận hạm USS 1169 (hay USS 1167). Than ôi thật là bùi ngùi, vật đổi sao dời, nay thì LQHùng và KTTiếp đã ra người thiên cổ.
Tàu chúng tôi cũng có ghé tiếp tế cho căn cứ TQLC/Hoa Kỳ tại Okinawa. Trong khi chờ tàu xuống hàng, tôi đã có dịp ghé thăm thành phố Naha ngay gần đó. Gần căn cứ có những thứ ăn chơi của các chàng trai GI hào hoa nhưng xa nhà. Tôi đã có “thử qua cái mục ấy” vì muốn tránh bị các bạn chê là “cù lần”, và cũng muốn thử qua cho biết mùi đời cái món massage với người đẹp “đạp đạp” trên lưng. Cái mục “ấy” thì vì là lần đầu nên chỉ một cái “vèo” là xong và chưa kịp thấy thích, còn cái mục massage thì chẳng “chấm mút” gì được hết cả như người ta thường nghĩ!

26.- Mai Kim Phụng: Thấm thoát rồi cũng đến ngày ra trường, chúng tôi về phép Sài Gòn để chờ ngày đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội. Cùng đi chung với tôi có quan Ngô văn Long, và cả hai chúng tôi đều thuộc loại “kha khá” tiếng Anh nên mỗi khi nói chuyện với Mỹ thì thật là mỏi tay! Đến kỳ lãnh lương thì hai thằng đâm sợ mà không dám ký nhận vì thấy nó trả lương cho mình nhiều quá. Tụi Mỹ thấy tụi tôi lắc đầu quầy quậy lại tưởng là bọn tôi chê ít! Bèn phân bua là tụi nó chỉ có thể trả lương cho tụi tôi bằng lương của một thiếu úy mà thôi. Chúng tôi bèn cắn răng mà ký vào…để chịu “thiệt” vậy. Tới ngày gần về thì tầu ghé Nhật, chúng tôi xin Hạm trưởng cho phép chúng tôi đi Tokyo. Ông ta okay liền, và nhắc nhở chúng tôi phải về tàu cho đúng ngày để còn trở về VN. Tại Tokyo chúng tôi trú ngụ tại nhà của một anh bạn của tôi là anh Đỗ Thông Minh, lúc đó đang du học tại Tokyo. Cũng nhờ thế mà chúng tôi có được người hướng dẫn đi chơi. Đi đâu chúng tôi cũng dùng xe điện, thật là tiện lợi, còn nếu đi xe taxi thì chỉ có từ chết tới bị thương thôi! Nhậu nhẹt thì về nhà tự nấu nướng lấy, nhưng rất vui. Cuộc vui nào rồi cũng tàn, chia tay anh ĐT Minh, chúng tôi về đến tầu vào khoảng hai giờ sáng. Lính gác đánh thức viên sĩ quan nhân viên dậy, hắn cằn nhằn là làm sao mà chúng tôi đã về trễ thế! Hắn có cho lính đi tìm chúng tôi ở ngoài phố mà không gặp. Chúng tôi chống chế là đã về trước lúc điểm danh 8 giờ sáng cơ mà còn kêu ca nỗi gì! Hắn nói là chúng tôi phải rời tầu lúc 1 giờ sáng để đi Tokyo, và từ đó sẽ bay về VN. Chúng tôi đã khiếu nại là chưa được lãnh lương! Hắn đánh thức tên sĩ quan phát lương dậy để thanh toán tiền lương cho chúng tôi, hối chúng tôi về phòng sửa soạn hành trang vào khoảng nửa tiếng nữa sẽ có xe đưa ra phi trường Tokyo. Hắn nhắn vói theo là tụi mày không phải trả tiền ăn kỳ này, lại thêm một cái may nữa, đã “ăn chùa” được hai tháng. Khi tới phi trường thì chúng tôi có gặp lại Nguyễn Hùng Tâm và một số bạn khác mà tôi đã không nhớ tên. NH Tâm có rủ rê chúng tôi ở lại chơi thêm một vài tuần nữa, nhưng ai cũng “rét” nên chỉ có một mình Tâm ở lại.

27.- Lê văn Long: Ra trường được xếp hạng “top 10” ngành chỉ huy, chỉ sau các cao thủ Lưu Đức Huyến, Mai Tất Đắc, Đỗ Minh Hào, Nguyễn Minh Cang, Huỳnh Minh Quang. Được đi thực tập trên chiếc khu trục hạm DDG 14, USS BUCHANAN thuộc Hạm Đội 7 ở vùng Thái Bình Dương, cùng đi chung trên chiến hạm có quan Đinh Minh Nhuận
Chiến hạm này dùng làm bản doanh cho một ông tướng Tư Lệnh Task Force cho nên thủy thủ đoàn khá vất vả vì phải di chuyển khắp cùng mọi nơi. Bắt đầu lên tàu ở ngoài khơi Đà Nẵng, tham dự các cuộc hải kích phía Bắc từ Cửa Việt ra đến Hải Phòng… ghé qua các hải cảng hoặc căn cứ như Subic Bay, Hong Kong, Singapore, Yankee Station với các hàng không mẫu hạm USS 66 America, USS 38 Shangrila, USS 34 Oriskany, các tàu tiếp tế… và lập đi lập lại không ngừng.
Tôi và Đinh Minh Nhuận cũng đã được dịp lên trên cả ba chiếc hàng không mẫu hạm nói trên để thăm cho biết người biết ta!! Trước khi gần hết thời hạn thực tập, Ông Tướng ra lệnh cho Hạm Trưởng chạy rất xa về hướng Nam, băng qua khỏi lằn Xích Đạo (vĩ tuyến zero) rồi quay ngược về phương Bắc, không biết để làm gì?, thì ra Ông Tướng muốn cho thủy thủ đoàn của DDG 14 đứt đuôi con nòng nọc. Nghe các Sĩ Quan trên tàu nói là truyền thống của Hải Quân Hoa Kỳ, các thủy thủ khi chưa vượt qua lằn Xích Đạo thì vẫn còn là con nòng nọc chưa đứt đuôi và khi đã băng qua Xích Đạo rồi mới cắt bỏ được cái đuôi con nòng nọc. Xin các quan nào biết rõ về truyền thống của Hải Quân Hoa Kỳ hãy bổ túc cho các Hổ Cáp 2 biết chính xác hơn.
28.- Ngô Thiện Tánh: Trời nắng chang chang có đến cả trăm độ F. Phi trường Đà Nẵng như bốc khói, ĐNViêm và tôi nhảy xuống khỏi chiếc C-130 sau khi hạ cánh và vào bến đậu. Không có xe đưa vào, chúng tôi đành đu theo cái rờ mọt kéo hàng để vào phòng nghỉ. Ở đây có máy lạnh. Cái nóng tháng 7 như đổ lửa bên ngoài đã không còn làm cho chúng tôi khó chịu.
Chưa kịp móc điếu thuốc ra khỏi bao, tôi bỗng nghe như có tiếng rít xé không khí bay đến, và những tiếng la hoảng hốt vang lên “..pháo kích, pháo kích..”. Ầm ầm, tiếng nổ rổn rảng rớt đằng phía trước như rách cả màng nhĩ. Khi mở mắt ra mới thấy khói đụn lên có ngọn cách đó không xa. Đồ đạc văng tung toé mọi nơi. Viêm lồm cồm ngồi dậy nói với tôi:” Người Anh Em chào đón tụi mình đến Đà Nẵng đây mà !!”
Chúng tôi phải đáp máy bay từ Sài Gòn đi Đà Nẵng để lên chiến hạm của Đệ 7 Hạm Đội Hoa Kỳ. Theo như chương trình họ sẽ bốc chúng tôi ở một điểm nào đó ngoài khơi Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng đã nhộn nhịp với đủ quân binh chủng từ giữa thập niên 60. Chúng tôi đến Đà Nẵng đúng vào lúc cao điểm của cuộc chiến, đầu thập niên 70.
Đây là thời điểm của những yểm trợ hải pháo, của những phi vụ oanh kích, phản kích, và dĩ nhiên là cả pháo kích. Trong làn khói bụi mù mịt của một thành phố đang lên cơn sốt đó, chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau khi biết rằng hành lý của chúng tôi đã thất lạc đâu đó ở tận phi trường Tân Sơn Nhất!
Không thể làm gì hơn, ĐNViêm và tôi rủ nhau đi bát phố. Đà Nẳng chan hòa những màu áo trận. Nhiều nhất là hoa dù. Chúng tôi chen vào một cửa hàng nhỏ ven đường. Cô bán hàng tươi cười sau khi trả tiền thối lại cho chúng tôi. Cô bán cho chúng tôi một cặp voi nhỏ bằng sứ xanh. Cặp voi rẻ tiền nhưng đầy đủ ý nghĩa, Viêm nói với tôi như vậy, sau khi hết đi lên rồi đi xuống con phố đầy bụi của Đà Nẵng. Tìm đâu cho ra món quà xứng đáng để làm quà cho chiến hạm mà tụi tôi sắp sửa đi thực tập bây giờ bây giờ. Mãi rồi chúng tôi cùng đồng ý vào cửa tiệm của cô gái có nụ cười tươi như hoa này. Cô gái có nước da bánh mật, mặc chiếc áo màu hoa cà. Thứ màu tím dịu dàng quyến rũ khiến cả hai chúng tôi như bị hớp hồn. Cho nên khi nàng hỏi các Anh từ đâu đến Đà Nẵng thì chúng tôi đã khai hết. Nàng nói:”..còn quê Em ở Hòn Cọp, từ lâu rồi đã vào đất liền sinh sống làm ăn. Tiệm này của Dì Canh, dì em đang buôn bán ngoài nớ. Ngoài nớ tức là vùng xa lắm. Lâu lâu dì về mang thêm hàng rồi lại đi”. Nàng tưởng là lính Hải Quân nên chắc rằng chúng tôi biết được tất cả những gì ngoài khơi, kể cả Hòn Cọp của nàng. Nàng có biết đâu rằng chúng tôi mới ra trường, chưa một lần hải hành thật sự. Cho nên trong khi nàng thao thao về Hòn Cọp, thì cả Viêm và tôi cứ gật gật đầu và chỉ biết cười tình.
Trả tiền xong, Viêm và tôi tìm sang tiệm phở bên cạnh kêu hai tô đặc biệt. Ăn liền một lúc hai tô, tôi nói với Viêm:” Mày nhớ ăn cho đã, lên tàu Mẽo không có mấy món này đâu!” Tôi chỉ đoán mò vậy thôi mà trúng. Sau này khi tàu về Subic của Phi Luật Tân, chúng tôi vội vã đón xe đò từ Olongapo đi Manila. Tại đây, chúng tôi tìm ra một tiệm ăn Thái với món cá chiên giòn ăn với xoài xanh. Ngon nhất phải nói là nước mắm. Giọt nước mắm thần sầu làm cho những vị giác của chúng tôi bừng sống dậy sau những ngày lênh đênh trên biển cả.
Tuần lễ thứ nhất trôi qua lẹ làng. Cảm giác hơi bỡ ngỡ. Đầu tiên khi tôi đưa tay chào Quốc kỳ của Hoa Kỳ đằng sau lái và bắt tay hai Sĩ quan ra đón chúng tôi ở hạm kiều. Từ đây họ đưa chúng tôi vào phòng khách của chiến hạm. Tôi không nhớ đã nói những gì trong buổi gặp gỡ với họ. Cũng quên hẳn tên của hai Sĩ quan ra đón. Chỉ nhớ chắc chắn một điều làm Viêm thất vọng không ít là không thấy mặt hạm trưởng. Viên hạm phó rất điềm đạm chuyện trò với chúng tôi một chút rồi cũng lặn mất. Chúng tôi nhờ hắn chuyển đến hạm trưởng cặp voi sứ màu xanh mua ở Đà Nẳng. Trái với điều mong ước, họ dường như chẳng tha thiết gì với món quà mà chúng tôi đã lụm cụm mang theo.
Đó là giai đoạn đầu khó khăn nhất của chúng tôi. Kế đó là bữa cơm tối. Ngồi chủ tọa là hạm phó. Tôi chờ mãi vẫn không thấy hạm trưởng xuất hiện. Trước mặt là một cái đĩa lớn với đủ bộ dao nĩa lỉnh kỉnh. Ngồi kế hạm phó bên tay phải là viên Đại úy Hải hành, bên trái là viên Thiếu tá Tuyên úy. Kế theo nữa cứ theo thứ tự cấp bậc thâm niên mà ngồi. Tôi đoán như vậy, vì bên phải tôi là một trung úy, bên trái tôi là Viêm, kế theo Viêm là một Trung úy nữa. Chúng tôi được gọi là Aspirant, ngồi sau chót. Đó là chức vụ nhỏ và kém thâm niên nhất trong bàn ăn. Bàn ăn trải khăn màu trắng toát cùng màu với bộ khăn ăn dầy cộm. Mọi thứ đều ngăn nắp và quá ư là sạch sẽ.
Tôi ngồi im nhìn thẳng giống như những ngày còn làm đàn em ở quân trường. Tôi đoán họ đang chú ý xem xét tư cách của Sĩ quan Việt Nam như thế nào. Hầu bàn có hai hay ba Thủy thủ người Phi. Họ chuyền thức ăn cũng theo thứ tự khởi đầu từ hạm phó. Tôi cứ chờ họ làm gì thì mình cứ làm theo như vậy. Khi viên Tuyên úy chấm dứt lời nguyện thì bắt đầu bửa ăn. Thức ăn dọn lên trông thì ngon mà ăn thì dở ẹc. Tôi thì dễ ăn nên cứ đớp túi bụi, còn Viêm thì cứ ngồi thừ người ra. Tôi nhớ khi tới món trái cây tráng miệng họ dọn ra cho mỗi người một đĩa lê trắng. Đây là loại trái cây đóng hộp rồi ướp lạnh. Tôi khen ngon. Viên Trung úy ngồi cạnh tôi hỏi tôi ở nước mày có loại trái cây này không? Tôi trả lời có nhưng chắc ở miền Bắc lạnh lẽo, chứ ở miền Nam thì không có. Những chuyện đại loại như thế, vô thưởng vô phạt cho đến cuối bữa ăn.
Ngày kế chúng tôi bắt đầu đi phiên. Vì là dân Chỉ huy cho nên chổ chính tôi thực tập là Đài Chỉ huy. Vậy mà tôi vẫn không thấy mặt Hạm trưởng. Tàu cắt sóng lướt nhanh về phía trước. Tôi nhìn ra chung quanh chỉ thấy biển và sóng. Dòm vào hải đồ mới biết vẫn còn ngoài khơi Đà Nẵng. Đi phiên ngày hôm đó gồm có một sĩ quan trưởng phiên, một phụ tá, hai quan sát viên, và tôi. Thích nhất là vì nhiệm vụ chưa phân định rõ rệt nên tôi được quyền chạy đù chổ mà không ai dám đụng tới.
Chiến hạm thuộc loại tàu dầu mang tên USS NAVASOTA. Nhiệm vụ chính là tiếp tế dầu cho các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội đang tuần tiểu ở Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ thực tập về hải pháo, hải hành, vận chuyển, giám lộ, phòng tai,.. đủ hết. Hình như chúng tôi được trả 20 đô la một kỳ lương. Không nhớ rõ vì vào thập niên 70, độc thân và còn quá trẻ, chuyện tiền bạc không thành vấn đề với tôi. Chỉ mong sao tàu đi công tác lẹ lẹ rồi về bến để đi bờ. Những bến bờ xa lạ mà trong trí tưởng tượng của tôi là thiên đàng.
Tuần lễ thứ nhất trôi qua mập mờ lặng lẽ. Bấy giờ tôi không quan ngại lắm về hải hành vì tôi vẫn chưa có đủ ý niệm rằng suốt cuộc đời tôi sẽ phải gắn liền với con tàu và biển cả. Tại sao phải thế? Đi lính với tôi là một tình cờ của thời cuộc. Có nhiều lần tôi vẫn tự hỏi nếu không có lệnh tổng động viên thì tình thế sẽ ra sao? Tôi vẫn còn lang thang vọc nắng, hay nơi những bục giảng đường! Hoặc đang rong chơi ở một vùng biển bờ nào đó. Tôi vẫn luôn tìm hiểu, cố xác định cái vị trí hiện hữu của tôi trong cõi đời này. Nó như một lời tự hứa mà tôi phải hoàn tất. Bao giờ thì mới hoàn tất đây? Tàu bắt đầu nhảy sóng. Trong vịnh nó là một con kình ngư vĩ đại, ra khơi tôi mới thấy nó chỉ như là một con cá lòng tong. Con cá con đang cố trườn mình tới phía trước. Cứ mỗi lần nó cố ngóc đầu lên là cả một khối bọt trắng xóa khổng lồ đổ ụp xuống. Nó chìm lỉm trong đó, ngoắc ngoải khoảng vài giây rồi lại vượt lên. Khi vượt qua được cái đầu, bấy giờ cái mình mới nhoài tới được một chút. Cả một nửa thân trước con tàu bỗng chới với đổ xập xuống vì khoảng trống phía dưới và phía trước. Tôi gọi đó là “thung lũng tử thần” vì có nhiều lúc tôi những tưởng như là con tàu không thể nào ngóc lên nổi nữa. Đài chỉ huy rung lên chào chạo, và cũng nghiêng chúi về phía trước. Hay thật, mấy thằng đi phiên trông như cái mền rách nhưng vẫn bám lấy thành tàu. Còn tôi thì đang ở trong cơn hải hùng của mưa bão giữa biển khơi.
Tôi thấy con tàu tiến tới một vùng không nhất định. Nó chao đảo như một người say rượu. Khi ngọn sóng quá lớn, cả thân tàu như chìm vào hố thẳm. Tôi có cảm tưởng như rơi vào quãng không. Bỗng nhiên sức rơi đó bị chận lại, và ầm...ầm... tiếng dội vang lên từ phía dưới đánh bật con tàu trở ngược lên. Tôi cảm thấy muốn nôn tháo ra vì cảm giác buồn nôn ở miệng. Nước miếng tuôn ra trước, kế theo là nước dãi. Rồi cả bên dưới cái cằm nó như cứng đơ lại, không giữ nổi nữa, một luồng nhễ nhại từ dưới bao tử dâng thốc lên, rồi trào ra khỏi miệng ra như suối. Tôi nhắm ngay bên dưới đài chỉ huy mà nôn thốc nôn tháo. Bao nhiêu món ngon từ bửa ăn tối, coi như cho cá ăn hết. Tôi cứ nửa mê nửa tỉnh như thế cho đến khi thấy mình nằm trong một căn phòng nghe phảng phất mùi cà phê. Tôi bật ngồi dậy, và vội phóng ngay đến phòng rửa mặt để tống khứ cho hết những gì còn sót lại trong miệng. Bấy giờ tôi mới nghe loáng thoáng tiếng cười nói của một nam, một nữ. Sao lạ thật trên tàu mà làm gì lại có đàn bà. Tôi gắng nghe kỹ một tí nữa cho thật rõ, rồi mới tiến về phía có tiếng động. Ở đó qua làn ánh sáng mờ ảo tôi thấy ĐNViêm đang tình tứ bên cạnh người đẹp. Nhìn kỹ hơn nữa tôi mới thấy người đẹp coi thấy quen quen. Hình như chúng tôi đã gặp nhau ở đâu đó không xa lắm. Có lẽ trên bờ. Cô em Hòn Cọp? Nhưng tại sao nàng lại ở đây? Không lẽ tàu chúng tôi đang mắc cạn! Nghìn câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu làm tôi rất nôn nao muốn biết sự thật. Nhưng không hiểu sao tất cả như phim câm. Tôi không còn nghe thấy tiếng động nữa chỉ có tiếng rì rào của lớp sóng vỗ nhẹ nhàng vào mạn tàu. Mơ chăng? Tôi bấm mạnh vào làn da tay để xem thử tôi có cảm giác gì không. Tôi không có cảm giác gì cả. Vậy thì đúng rồi tôi đang mơ ngủ. Giấc mơ kỳ lạ thật. Không lẽ mọi người đều mê ngủ cả sao? Tôi cố ngóc đầu dậy nhưng bất lực. Bóng dáng của cô gái cũng từ từ biến mất một cách mờ ảo kỳ diệu. Còn ĐNViêm?
Viêm cho tôi biết đó là Hòn Cọp, một hòn đảo nằm ngoài khơi Quảng Bình. Tàu đang trực chỉ Vịnh Bắc Việt từ Đà Nẵng để cho bọn tôi sáng mắt về một cuộc thực tập vận chuyển tiếp tế của hạm đội Hoa Kỳ. Chẳng may tàu gặp bão, lại là một cơn bão lớn. Tàu phải đào thoát vì mắc cạn. Tôi hỏi Viêm: “Thế còn cô gái, tại sao nàng lại ở đây?” Viêm cười híp cả mắt ra chiều bí mật, rồi đưa một ngón tay lên miệng khẽ suỵt bảo tôi đừng làm động vì nàng đang ngủ. Tôi định hỏi hắn thêm vài điều nữa thì tiếng còi bỗng vang lên…Tiếng còi dứt với một tràng vỗ tay và tiếng la ó vang lên như vỡ chợ. Tụi Mỹ vừa mới xong một xuất phim. Tôi không nhớ phim gì nhưng phải tình tứ và lãng mạn lắm. Tuần lễ đầu tiên đã dạy bọn tôi một bài học về đời sống của thủy thủ Mỹ trên biển cả. Sau này khi trở về trình diện Hạm đội và theo dấu cuộc sống của thủy thủ Việt Nam, tôi mới thấy một trời một vực. Người thủy thủ Việt Nam đi Hạm đội nhất là những thủy thủ tuần dương có cuộc sống tương tự những nhà tu


( Xin xem tiếp chương 7,8,9 )