những chuyện kể năm xưa
Chương 10: Tù Cải Tạo
Một chiếc cùm lim chân có đế,
Ba vòng xích sắt bước còn vương.
Cao Bá Quát.
Những kỷ niệm trong tù Cộng Sản, khốn khổ, khó khăn không bút mực nào mà tả hết được. Mời quý bạn đọc nguyên hồi ký của các quan Nguyễn văn Chín, Huỳnh văn Tài… để cảm nhận được đích thực những kinh nghiệm của những người bạn kém may mắn không ra đi được trong những ngày cuối tháng tư năm 1975, và phải hy sinh tuổi trẻ của họ trong những trại tù Cộng Sản vào những năm sau đó. Xin tóm tắt lời kể lại:
61.- Nguyễn văn Chín: Sau khi CS cưỡng chiếm miền Nam xong không lâu, chúng ra thông cáo cho tất cả quân nhân từ hàng binh sĩ đến chuẩn úy, cán bộ, dân chính các cấp nhỏ của chế độ VNCH phải trình diện học tập tại địa phương trong 3 ngày. Trong ba ngày lên phường khóm nghe chúng tuyên truyền tuyên dương về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, và láo khoét kết tội cho Quân Lực và Chính Phủ VNCH. Đúng xong ba ngày, chúng cho mọi người ra về thoải mái. Mọi người dân miền Nam thấy nhẹ thở vì VC đã làm đúng như những gì họ nói mà không ngờ đây chỉ là miếng mồi của chúng đưa ra! Khoảng một tháng sau, chúng ra thông cáo “Các sĩ quan từ cấp thiếu tá đến cấp tướng phải trình diện học tập cải tạo, mang theo theo đồ dùng và tiền bạc đủ dùng trong 30 ngày.” Rồi sau đó thông cáo tiếp theo là “Các sĩ quan từ cấp thiếu úy đến đại úy phải trình diện học tập cải tạo, mang theo đồ dùng và tiền bạc đủ dùng trong 10 ngày.” Với tính xuề xòa dễ tính của người miền Nam và kinh nghiệm của lần học tập tại phường khóm trong 3 ngày rồi được thả về của lần trước. Chúng tôi đã nghĩ và tin rằng lần này cấp úy chỉ phải đi học tập 10 ngày, còn cấp tá và tướng phải đi học tập cải tạo 30 ngày rồi được tha về, thật là hợp lý và rất “logic”! Nhưng VC đã nhập nhằng chơi chữ, và dùng đòn tâm lý để lừa lọc và hốt trọn hầu hết chúng tôi vào nhà tù cải tạo!
Nhưng 10 ngày, 20 ngày, rồi 30 ngày trôi qua cũng chẳng thấy học tập chi cả nói gì đến chuyện cho về! Hàng ngày chỉ lo nấu ăn, làm tạp dịch hay dọn chỗ ở, và nuôi hy vọng. Hai tháng rồi ba tháng trôi qua cũng không thấy động tịnh gì! Chúng chơi trò cân não, làm cho đầu óc chúng tôi bã ra, hoang mang, và vọng tưởng ngày về. Khi chúng tôi bắt đầu xì xào to nhỏ, chúng bắt đầu cho chúng tôi “lên lớp” học tập. Vì là một tập thể hỗn độn tuy cùng chung một giới tuyến, nhưng chúng tôi đa số là không biết nhau từ trước, nên VC đã gài nhiều ăng ten lẫn lộn vào trong chúng tôi một cách dễ dàng. Sau ba bài học tuyên truyền nào là đế quốc Mỹ xâm lược, ngụy quân ngụy quyền làm tay sai cho đế quốc… chúng tôi bị tự khai lý lịch. Chúng vuốt ve và chơi tiếp đòn cân não với những lời lẽ thủ đoạn, hứa hẹn vu vơ như “Cách Mạng coi theo mức độ thật thà khai báo, mức độ giác ngộ, tiến bộ học tập để cứu xét cho về…” Thế nào là đã giác ngộ, và bao giờ thì mới đủ tiến bộ để được về? Rất là mù mờ và hoang tưởng! Theo thời gian, chúng bắt chúng tôi khai đi khai lại lý lịch nhiều lần, chia loại ra từng thành phần tùy theo lời khai, để áp dụng biện pháp cho từng đối tượng, và đồng thời bắt chẹt, khai thác những khác biệt của các lần khai lý lịch vì những cái bất nhất vì vô tình hay quên lãng trong lời khai.
Những người vợ, những người cha, hay những bà mẹ người tù thì ra sao? Ngoài những cái khó khăn cực khổ của cuộc sống mới dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, những chèn ép, những hoạnh họe của công an phường khóm, và nhất là của bọn “theo đóm ăn tàn” là bọn tay sai “30 tháng Tư”. Họ còn ở trong cái cảnh đêm ngóng ngày trông mong ngày về của chồng của con. Chồng con họ đang ở đâu? Làm gì, sống chết ra sao? Không một ai biết! Không tin tức, chỉ toàn là những lời đồn đãi. Có người nói thấy họ ở vùng Biên Hòa, Long Khánh, hay Tây Ninh… Thời gian cứ lặng lờ trôi qua, 10 ngày hay 30 ngày như mọi người đã nghĩ cũng không thấy ai về! Rồi cả năm cũng chẳng thấy tăm hơi chồng con mình đâu!
Trong trại tù cải tạo, để hăm dọa và trấn áp tù nhân, VC đã ra đòn thù hung hiểm để ngăn ngừa việc nổi loạn hay chống đối là xử tử hình một vài người tù khi phạm kỷ luật như trốn trại hay cố gắng liên lạc lén lút với thân nhân mà bị phát hiện. Vụ thứ nhất xảy ra khi một người tù đã viết thư và lén nhờ người tài xế xe chở củi để đưa ra, và gửi về cho vợ anh ta là đừng nghe những gì CS nói, và đừng mong chờ anh ta trở về nữa! Nhưng than ôi, tên tài xế đã đóng kịch làm một người Quốc Gia nhưng chỉ là một tên nằm vùng, và lá thư đã được đưa ra để kết tội phản động cho anh tù cải tạo nhẹ dạ và đáng thương kia một cách không thương xót. Vụ thứ hai xảy ra cho một người tù can đảm. Anh tìm được một bộ quân phục bộ đội, mặc vào và ngang nhiên đi ra cổng chánh, nhưng anh đã không trả lời đúng mật khẩu và bị phát hiện! Biết bị bại lộ, anh đã tấn công chúng bằng những đòn Thái cực Đạo, nhưng thế cô và mất tính cách bất ngờ nên anh bị bắt! Các anh bị tử hình! VC lải nhải trên hệ thống âm thanh toàn trại về những sự chống đối, và cắt đặt một số bạn tù đi xem cảnh chúng xử bắn bạn mình để đe dọa và cảnh cáo.
Nửa năm, một năm, rồi hai năm chúng tôi vẫn ở tù mà chẳng thấy ngày về! Nỗi hoài nghi và chán chường mỗi ngày mỗi lớn. Chúng bắt đầu lai rai cho về những người tù chúng cho là có “tiến bộ”. Chúng tổ chức rầm rộ những buổi lễ thả ra lèo tèo vài ba tù nhân để làm giảm cơn phẫn nộ của thân nhân, và cố gợi lại niềm hy vọng của đám tù nhân. Chúng phát thanh đi phát thanh lại những buổi lễ này, đồng thời chúng cũng cho chuyển trại theo những thành phần mà chúng đã phân hạng qua lý lịch. Những người tù cải tạo là những người tù không có bản án, không có thời hạn nhất định! Có người bị đưa ra Bắc, có người được ở trong Nam. Nhưng ở đâu cũng là nhà tù, mà nhà tù thì đều “nhật nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Có người ở đến ba năm, năm năm, mười năm hay hơn thế nữa, và còn có những người tù vĩnh viễn đã không trở về với gia đình mà bỏ xác nơi trại tù cải tạo như bạn Nguyễn Lập Thành của chúng ta!
Thủ đoạn của CS thật là ác độc, chúng kềm chế tù nhân bằng chiến lược kiểm soát bao tử! Cho ăn thiếu dinh dưỡng, và thiếu thốn. Cái đói đã luôn là một điều dằn dặt khó chịu, và giấc mơ được ăn đầy bụng luôn là một nỗi ám ảnh tù nhân từng ngày, từng giờ một! Thiếu chất dinh dưỡng và chất vi ta min đã sinh ra phù thũng ở một số tù cải tạo, và trong số ấy có cả bạn chúng ta là quan Huỳnh văn Tài. Tình trạng sinh sống khắc nghiệt, chật chội, nóng bức, thiếu thốn, và mất vệ sinh đã sinh ra và lan tràn nhiều bệnh ngoài da. Thôi thì đủ các thứ ghẻ và lác, nào là ghẻ hòm, ghẻ ngứa, lác khô, lác ướt ……
62.- Trần Tuấn Đức: Theo lệnh “mang theo tiền bạc đồ ăn đủ dùng cho 10 ngày” của CS, tôi trình diện VC để đi học tập cải tạo. Vì đã mang tiếng là trưởng phòng Kỹ thuật Hải đồ và rất rành các trục lộ thủy đạo trên sông lạch miền Nam, nên tôi được liệt vào loại chuyên viên chuyên ngành. Chúng nhốt đám chuyên viên chuyên ngành chúng tôi tại một vùng hẻo lánh thuộc Đặc Khu Rừng Sát cũ. Trong số đó có khoảng 29 sĩ quan Hải Quân, kể cả quan 20 Nguyễn văn Gẫm nhà mình. Tôi đã ngây thơ nên chỉ mang theo một bộ quần áo, không chăn mền nên đã chịu lạnh, hơn một năm sau mới nhận được tiếp tế từ phía gia đình. Quan Nguyễn văn Gẫm đã bị ghẻ ngứa rất khó chịu. Ngứa quá, chịu không nổi, có lần Gẫm đã tính quyên sinh, nhẩy đại xuống từ một bồn nước cao. Tôi đã phải gắt lên khuyên lơn mãi hắn mới thôi. Sau này, nhờ lấy thuốc súng bôi vào nên quan Gẫm mới khỏi được bệnh ghẻ lở.
63.- Chị Trần Tuấn Đức: Nhà chúng tôi ở trong khu Hòa Hưng, cũng gần nhà Ba Má tôi. Đêm 29 tháng 04 năm 1975, anh Đức trong nhóm sĩ quan trực nên không thấy về! Bốn mẹ con chúng tôi nằm run cầm cập trong nhà vì tiếng trực thăng, tiếng súng bắn vọng về từ hướng trại Hoàng Hoa Thám của Nhẩy Dù, hay từ hướng trại Tô Hiến Thành của Bộ Binh.
Sáng ngày 30 tháng 04, tin tức trên đài phát thanh với lời của Đại tá quyền Tư Lịnh Hải Quân kêu gọi các chiến hạm quay về. Chúng tôi biết tàu Hải Quân đã ra đi, vì trước đó ít lâu, anh Đức có mang về tờ giấy để điền tên những người thân nhân Hải Quân muốn di tản theo tàu. Gia đình Ba Má tôi vì người miền Nam, không có kinh nghiệm sống với Cộng Sản nên không cảm thấy khó khăn cho quyết định ở lại VN. Tôi quá hoang mang, không biết anh Đức đã đi theo tàu hay còn ở lại? Nếu anh Đức đã đi theo tàu thì đỡ sợ cho anh ấy, nhưng còn mẹ con tôi thì sẽ ra sao đây? Tôi còn quá trẻ dại, và ba đứa con tôi thì còn quá non nớt, tôi sẽ phải xoay trở làm sao? Nếu anh Đức còn nấn ná ở lại thì làm sao để ứng phó với hoàn cảnh mới đây? Tôi đi ra đi vào, ruột nóng như lửa đốt. Ba tôi cho đứa em chạy sang gọi tôi đưa mấy đứa con qua nhà bên ấy, không nên ở một mình ở nhà. Tôi đang còn lo cho anh Đức, không biết anh ấy như thế nào, nếu anh ấy trở lại nhà mà không thấy chúng tôi thì ra sao? Tôi chần chừ, nhưng Ba tôi bắt đứa em khác chạy qua, cương quyết bắt mẹ con tôi phải sang bên ấy vì tình hình Sài Gòn lúc đó quá hỗn độn! Bọn nằm vùng lộ mặt khi Tổng Thống Dương văn Minh yêu cầu Quân Đội Cộng Hòa buông súng đầu hàng vô điều kiện. Tiếng súng vẫn đì đẹt nổ. Người ta chạy tới chạy lui. Một vài anh lính chạy vào xóm tôi, trút bỏ đồ lính, xin quần áo dân sự để thay. Chúng tôi quyên góp chút đỉnh làm lộ phí cho những người ở xa. Ba tôi qua bên Đình Hoà Hưng thắp nhang. Đến trưa cũng chưa thấy anh Đức về hay tin tức gì! Ông lén nhìn mẹ con tôi như đau sót, và nửa như không muốn nhắc ra, hoặc nghĩ đến nếu như không thấy anh Đức về. Mấy đứa con tôi sợ hãi nên cũng không chạy giỡn như mọi khi. Những nhà không có người trông nhà bị đám người hôi của phá cửa, tràn vào khuân dọn đồ đạc. Đến chiều thì anh Đức tìm về gặp được mẹ con tôi. Tôi mừng như vớ được phao khi đang tuyệt vọng trên biển khơi. Dù tình thế sau này như thế nào thì chúng tôi cũng có vợ có chồng. Mẹ con tôi không còn thấy bơ vơ nữa. Tôi lén chùi nước mắt và đi thắp nhang nơi bàn thờ Phật Bà Quan Âm.
Ngày anh Đức đi trình diện học tập cải tạo, chúng tôi đinh ninh là anh chỉ phải đi có mười ngày như VC ra thông cáo. Từ ngày anh ấy trút bỏ bộ quân phục Hải Quân, anh ấy rất buồn và ít nói nên chúng tôi cũng không tâm sự nhiều. Tôi soạn cho anh hai bộ đồ, ít đồ ăn khô, và một ít tiền dư đủ để tiêu trong mười ngày. Mười ngày sau, đến khuya rồi mà cũng chưa thấy anh Đức về. Tôi đoán chắc là quá trễ nên anh ở lại đến hôm sau, hay là anh la cà với bạn bè và ngày hôm sau sẽ về. Nhưng năm ngày, rồi mười ngày hôm sau cũng không thấy anh về! Tôi đâm hoảng chạy lên văn phòng phường hỏi cho ra chuyện. Lên phường, tôi cùng mấy chị vợ của người đi học tập cải tạo lóng ngóng ngoài cửa chờ giải thích. Mãi sau mới thấy phường lạnh nhạt trả lời là “Trên đâu có bảo là đi học tập 10 ngày rồi về đâu, thông cáo chỉ nói là đem theo để đủ dùng cho mười ngày.” Chúng tôi té ngửa ra vì lời giải thích này! Đúng là đừng nghe những gì Cộng Sản nói, chúng gạt gẫm mình như gạt những đứa con nít! Chúng tôi căm hận nhưng đành cắn răng chịu đựng. Chúng cũng không cho chúng tôi biết là chồng chúng tôi bị giam giữ nơi đâu để tiếp tế nữa! Tối về, bà tổ trưởng trong xóm cho biết những người vợ tù cải tạo phải đi học tập vì “chồng các chị có được về sớm hay không là do thái độ của các chị có tích cực hay không!” Lớp học từ 7 giờ tối đến 9 hay 10 giờ đêm. Tôi có con nhỏ cũng không được miễn, thành ra cả bốn mẹ con cùng đi học tập luôn. Chúng tôi đến lớp cố làm ra vẻ tích cực để mong cho chồng chúng tôi sớm trở về, rồi những ngày những tháng trôi biền biệt mà cũng chẳng thấy tăm hơi hay tin tức gì! Chúng tôi đâm lơ là và chống đối ngầm bằng những câu hỏi vớ vẩn đầu voi đuôi chuột, hay rì rầm bàn tán tin tức đồn đãi nơi này nơi kia. VC đoán được những bất mãn và chống đối ngấm ngầm của chúng tôi, nên sau mấy tháng thì chúng giảm dần từ nguyên một tuần, xuống đến 4, rồi 3, rồi 2, và sau cùng thì bỏ hẳn học tập họp tổ dân phố cho chúng tôi, những người vợ, người mẹ của những người tù cải tạo.
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song.
Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai?
.
(Chinh Phụ Ngâm Khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
Đã mấy tháng rồi mà anh Đức chưa được tha về! Tôi rất lo âu, hồi hộp, phân vân! Tôi mò lên chỗ BTL/HQ cũ để nghe ngóng tin tức. Chúng tôi không dám vào hỏi mà chỉ đứng loanh quanh bên ngoài nghe ngóng tin tức từ những lời đồn đại để ôm hy vọng. Hơn một năm sau thì chúng tôi mới được phường khóm thông báo cho biết anh Đức đang bị nhốt ở đâu, và lịch trình được đi thăm nuôi tiếp tế. Tụi công an phường khóm luôn luôn quấy nhiễu, hỏi han thăm dò. Cuộc sống của chúng tôi hết sức là khó chịu. Ngay kế bên nhà tôi, có một ông hàng xóm cũng hơi lớn tuổi, trước làm công việc giao hàng cho các chợ vải, sau ngày 30 tháng 04 thì hiện nguyên hình là một tên nằm vùng đeo lon thượng úy đã làm cho chúng tôi “té ngửa”. Ngay cả bà vợ của hắn cũng bảo là không biết gì, chuyện có thật hay bà ta đóng kịch cũng không ai biết! Mỗi lần hắn thấy tôi là bảo khi anh Đức về thì biểu ảnh qua gặp “thầy Hai”.
Đến khi anh Đức được tha về thì chúng tôi sợ nhất là cảnh xét nhà lúc nửa khuya. Nhiều người đi tù cải tạo về, đến nửa đêm chúng đi xét hộ khẩu, dẫn đi “mất đất”! Vì vậy anh Đức đã phải luôn luôn thay đổi chỗ ngủ ban đêm, khi thì ở nhà, khi thì bên nội, khi thì bên ngoại. Nếp sống chúng tôi hết sức là hồi hộp và phập phồng lo sợ!
64.- Trần Tuấn Đức: Sau hơn một năm khai quang làm rẫy, tôi được VC điều động cho về tù tại chỗ ở sở thủy đạo cũ (trong vòng thành HQCX, Ty Quân Cảng cũ), để lao động trí óc thay vì lao động ngoài nông trường như chúng nói. Với cả đống hải đồ do Mỹ để lại, tôi đã giấu giếm đi được một hai cái để dành cho việc tìm đường vượt biên sau này. Có một ngày trong lúc một tên thủ trưởng VC (CHT) quản lý Sở TĐ vui vẻ, cởi mở, tôi đã “gà” cho thủ trưởng là đống hải đồ của Mỹ để lại có con dấu đỏ “ Not Navigation” (không dùng để hải hành) nên dọn dẹp sạch sẽ và bán ký lô cho Chợ Lớn để kiếm ít vốn. Thủ trưởng nghe bùi tai, đồng ý cho bán sạch đống hải đồ do Mỹ để lại. Hắn ta cám ơn tôi rối rít vì nhờ đó mà hắn “sắm” được một chiếc xe Mobillette xanh cũ, và một “chiếc đài” mấy băng tần. Hắn cho tôi dễ thở hơn, nên chiều chiều tôi ra ngồi câu bên cầu tàu trong HQCX để kiếm thêm con tôm con cá cho phần ăn ngày hôm sau. Ít lâu sau, Tư lệnh HQ/VC vào thăm, thấy tình trạng tồn trữ hải đồ không còn bao nhiêu. Hỏi ra mới biết là đã bị bán sạch! Thủ trưởng bị mất chức và được điều về Bắc, chúng tôi bị An Ninh Cục kêu lên “làm việc”, nhưng dĩ nhiên là chối “phăng đi” và không biết gì cả. Tuy nhiên cũng bị chúng tiếp tục theo dõi, và “mời” lên làm việc đều đều. Gần ba năm sau tôi được tha, nhưng vẫn bị quản thúc tại nhà, tuy nhiên tôi vẫn còn được lưu dụng cho làm việc tiếp tục ở phòng đo đạc và nhật tu hải đồ.
65.- Ngô Nguyên Trực: Tôi đi trình diện tù cải tạo, bị nhốt ở một trại lính của SĐ5BB cũ trên vùng Củ Chi, Tây Ninh. Sau ba tháng thì được chuyển về trại Long Giao, Long Khánh. Khoảng tháng 1 năm 1978, tôi được đưa về nhốt ở Thành Ông Năm dưới Hóc Môn. Đến khoảng tháng 8 hay 9 thì tôi có ý tưởng vượt ngục, trốn trại. Tôi bàn với một thằng bạn tù chung tên Trọng, lái A-37 thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân. Đa số hầu hết những người tù trốn trại vào ban đêm đều bị chúng bắt lại được, bị bắn chết hay biệt giam. Chúng tôi nghiên cứu thử vượt ngục vào ban ngày xem sao? Hàng ngày, trong giờ ăn trưa, tôi ưa ngồi quan sát mấy thằng VC trên mấy vọng gác. Tại một vọng gác gần chỗ tôi hay ngồi, tôi để ý thấy có một thằng thuộc loại lè phè, chuyên môn ra trễ và vào sớm, nhiều khi đến cả mười hay mười lăm phút, đủ thời gian để cho chúng tôi nhẩy qua ba cái hàng rào, và rất vắng người vì là trong lúc mọi người còn đang lo ngủ trưa. Trọng trong nhóm làm tạp dịch cắt cỏ ngoài hàng rào nên để ý đến đường đi nước bước bên ngoài trại tù. Tôi ghi nhớ mặt thằng VC gác lè phè này. Chúng tôi chuẩn bị một bộ quần áo dân sự, loại mỏng để có thể cuốn “gọn lỏn” trong lon Guigoz (?), và đem dấu ngoài cầu tiêu. Từ trong trại tù Ông Năm ra đến bên ngoài trại giam toàn quốc, chúng tôi phải vượt qua hàng rào kẽm gai thứ nhất cao khoảng 2 thước, một giao thông hào xâu khoảng một thước rưỡi, lớp hàng rào kẽm gai thứ hai cao khoảng 2 thước như lớp thứ nhất, một bãi đất trống rộng khoảng 10 đến 15 thước, và lớp hàng rào thứ ba cao đến khoảng 3 thước hơn. Lớp hàng rào sau cùng này có dây “bìm bịp” leo kín đặc để tránh những con mắt nhòm ngó từ bên ngoài vào. Sau đó là con đường mòn rộng khoảng một đến hai thước, và ruộng khoai mì cao quá đầu người. Những vọng gác quay mặt vào bên trong để gác tù.
Trước ngày lễ Noel năm 1978 khoảng một tuần, thằng VC lè phè gác phiên từ 8 giờ sáng đến buổi trưa 12 giờ, đúng giờ chúng tôi đang nghỉ ăn trưa. Tôi và Trọng quyết định hành động ngay khi thằng gác này sách súng đi vào khi chưa có người khác ra thay thế. Đúng 11 giờ 45, hắn đi vào như dự đoán, tôi và Trọng đã lảng vảng ở khu cầu tiêu để sẵn sàng lấy lon Guigoz, và chuẩn bị hành động. Chúng tôi bận xà lỏn và cởi trần như mọi khi để tránh khỏi bị nghi ngờ hay gây sự chú ý của những tên antenna. Nhưng khi chúng tôi ra đến sát hàng rào thì mặt thằng nào thằng nấy xanh lè, lóng ngóng mãi mà không dám nhẩy! Chuyến vượt ngục này đành phải hủy bỏ vì mất cơ hội thời gian tính. Một tuần sau, cũng lại đến phiên thằng VC lè phè gác phiên buổi sáng như lần trước. Chúng tôi lại mon men ra định làm lại chuyện vượt ngục. Tôi để Trọng nhẩy trước vì nó rành đường bên ngoài. Nhưng cuối cùng Trọng cũng lại lóng ngóng, lừng chừng mà không dám nhẩy! Ngày Chủ Nhật 26 tháng 12 năm 1978, chúng tôi không phải làm việc, sân trại giam vắng vẻ, và may quá thằng VC lè phè lại đảm nhiệm phiên gác buổi sáng. Lần này tôi quyết chí thực hiện dù Trọng có dám nhẩy rào hay không tôi cũng mặc. Đúng như dự định, chưa đến 11 giờ 45, thằng VC gác đã xách súng đi vào, vừa khuất mặt hắn là tôi phóng lên leo qua hàng rào thứ nhất, Trọng cũng vội vã phóng theo. Chúng tôi không ngoảnh mặt nhìn lại phía sau, vượt qua giao thông hào, rồi hàng rào thứ hai. Chúng tôi chạy như bay qua mảnh đất trống như có gắn cánh vào chân, thẩy vội cái lon Guigoz ra ngoài trước, và lấy đà phóng mình leo lên hàng rào thứ ba. Hàng rào thứ ba này có dây bìm bịp leo kín, nên chúng tôi không liệu chừng được những chỗ có gai mắt kẽm gai, nên nhiều khi gai đâm cả vào bàn tay. Chỉ còn một sải tay ngắn nữa là tôi đã leo lên tới đầu bờ rào. Bất ngờ đầu tôi đụng phải hàng kẽm gai mái nhô ra và quay ngược vào phía trong! Chúng tôi thành như treo “toòng teeng” trên ngọn. Không còn sức để dùng hai tay kéo cả thân mình lên khỏi phần mái nhô ra này để leo qua khỏi bờ rào. Chúng tôi đành phải nhẩy xuống! Tôi không bỏ cuộc, dùng hai cánh tay, gồng mình nâng hàng kẽm gai sát đất lên cho Trọng dùng thế “bò hỏa lực” chui ra. Sau đó Trọng đứng tấn, gồng mình kéo cao hàng dây kẽm này lên cho tôi chui ra. Bên ngoài hàng rào vắng tanh. Chúng tôi lủi ngay vào khu ruộng khoai mì. Nhìn lên vọng gác thấy thằng VC gác mới đã đứng trên đó từ bao giờ! Nhưng hắn quay mặt vào phía bên trong sân trại tù nên không thấy chúng tôi.
Chúng tôi mặc quần áo vào, rồi chôn ngay lon Guigoz, và đi xa khỏi trại tù. Trọng hồi hộp quá nên đi như muốn chạy, tôi phải bảo nó đi từ kẻo người ta nghi. Chúng tôi đi dọc bờ đê, không dám hỏi đường những người bộ hành trên đường. Gặp con đường nhựa, thấy có xe đò loại Daihatsu cũ chạy đường SàiGòn/Hóc Môn/Tây Ninh. Chúng tôi ngoắc đại một chiếc và nhẩy lên xe. Xe ít người. Định thần, nhìn lại thấy hai cánh tay tôi bị trầy trụa với những vết máu coi rất lồ lộ vì mặc áo cụt tay. Một cô bé khoảng mười lăm mười sáu tuổi cùng đi trên xe, để nhè nhẹ chiếc nón cô đang mang lên tay tôi. Tôi cầm lấy, che hai cánh tay lại, khẽ hỏi nhỏ cô là xe đi đâu? Tây Ninh! Hoảng hồn, chúng tôi kêu bác tài tốp xe lại vì quên giấy tờ. Anh tài chửi thề bực bội “Mè, mấy cha đi xa mà không mang giấy tờ! Bộ muốn chết hả?”. Tuy nhiên anh tài cũng ngừng xe cho chúng tôi xuống. Tôi trả nón cho cô bé, và không quên cám ơn. Trọng mặc chiếc áo dài tay, và hắn dùng hai bàn tay để kéo dây kẽm gai lên nên chỉ bị thương ở lòng hai bàn tay mà thôi. Chúng tôi lủi ngay vào bụi mía ven đường, trao đổi cái áo, và đón xe đi ngược đường để về Sài Gòn.
Khoảng 4 giờ chiều, xe về đến bến xe ở Ngã Bẩy gần trong Chợ Lớn. Chúng tôi đi bộ ra khỏi bến xe, đến ngồi ở một chiếc xe bán nước mía. Uống một ly nước mía cho hoàn hồn, và tự thưởng cho mình vì đã vượt ngục thành công. Tiếng những cục đá lạnh va chạm vào thành ly kêu “loong coong” nghe như những tiếng hoan ca mừng vui cho sự tự do của chúng tôi. Những ngụm nước mía ngọt lịm, thơm thơm mùi quýt, sau bao ngày xa cách nay chúng tôi mới được thưởng thức lại. Sau ly nước mía, chúng tôi ngồi thừ, suy nghĩ cho thực tế đang đối mặt. Chúng tôi không thể về lại nhà được! Chúng tôi sẽ ngủ ở đâu? Ai sẽ chứa chấp chúng tôi trong lúc này? Đến tối rồi mà chúng tôi cũng chưa có được giải pháp nào thỏa đáng. Sau cùng, Trọng đề nghị về nhà cô “đào ruột” người Minh Hương của hắn ở gần bến đò Hậu Giang trong khu Chợ Lớn Mới. Chúng tôi kêu xe Honda ôm chạy về đó, và may quá mẹ nàng và mấy chị em nàng đồng ý cho chúng tôi trú ngụ qua đêm. Ngôi nhà cao năm tầng, chúng tôi trốn trên lầu cao nhất. Cả đêm tôi hồi hộp, lo lắng, trằn trọc không ngủ được! Nhất là có thằng đại úy công an trong vùng đã mê và kết cô em gái út ở nhà, khuya về “đóng đô” nơi tầng dưới. Bà mẹ trấn an, các cháu đừng có lo, nếu nó hỏi thì nói là hai đứa là cháu, dậy học dưới Long An lên chơi. Cũng nhờ hắn “bao che” và “bảo bọc” cô út như vậy nên không sợ có ai làm phiền xét nhà bất tử ban đêm.
Cứ như thế chúng tôi nay thì trốn chỗ này, mai thì trốn chỗ khác, có khi nằm ngủ ngay cả ở ngoài chợ Bến Thành lẫn với đám ăn xin. Chúng tôi chạy được giấy tờ giả mạo làm công nhân viên đi công tác, là nhờ được một người bà con của Trọng làm hiệu phó cho một trường học dưới Long An nên có con dấu của trường. Tôi được nhiều người móc nối lái tàu ra đi vượt biên, nhưng không thành hay bị bể giữa chừng. Đến tháng 4 năm 1979 thì tôi làm tài công lái ghe vượt biên từ Trà Vinh và đến Mã Lai sau mấy ngày trên Biển Đông.
66.- Huỳnh văn Tài: Chúng tôi bị nhốt ở trại Bùi Gia Phúc, thuộc tỉnh Phước Long (còn gọi là Bà Rá) nằm ở kế biên giới với Cam Bốt. Tôi, Hà Mạnh Hùng, và Dũng (Khóa 1-OCS) đã bàn luận nhiều lần, cùng có quyết định sẽ vượt ngục và trốn trại. Chúng tôi chuẩn bị kỹ lưỡng, đang cố gắng để dành cơm phơi khô. Chúng tôi nhờ gia đình làm giấy tờ giả mạo là công nhân viên nhà nước, gởi lên theo những lần đi thăm nuôi. Khoảng đầu tháng 7 năm 1979, Nguyễn văn Độ vừa mới được chuyển trại về cùng chung chỗ với chúng tôi, gấp rút ngỏ ngay ý định muốn trốn trại trong vòng một tuần lễ. Chúng tôi nhờ ở vùng này khá lâu nên rành đường đi nước bước, do đó có thể chỉ cho Độ mọi thứ cặn kẽ. Rồi ngày quyết định cũng tới, Độ vượt ngục và trốn trại một mình. Nhiều anh em khác trốn trại, bị bắt lại, bị chúng tra tấn đánh đập rất tàn nhẫn đến nỗi mặt mày sưng húp không thể nhận ra được, sau đó thì bị biệt giam và chỉ được ăn mỗi ngày một chén cơm cùng tí muối. Hơn tuần lễ sau thì chúng tôi nhận được tin là Độ đã an toàn về được tới Sài Gòn. VC áp dụng các biện pháp an ninh gắt gao hơn, siết chặt lại sự canh phòng và kỷ luật. Chúng tôi thấy cần phải ra đi càng sớm càng tốt, dù quá nguy hiểm vì sự canh phòng nghiêm nhặt của VC. Chúng tôi định sẽ đi về hướng biên giới Thái-Miên, cách trại tù khoảng trên 200 cây số đường chim bay. Thời gian dự trù là hai tháng. Lương thực mang theo là cơm phơi khô, ít muối, tí đường, thuốc chống muỗi, cái võng, la bàn, cái rựa, và tấm bản đồ nhỏ từ vĩ tuyến 17 xuống phía Nam. Khi vác balô vào thì đồ đạc mang theo quá nặng, tôi đứng lên không muốn nổi! Vì vậy chúng tôi bỏ ý định ban đầu, mà quyết định phải trốn về Sài Gòn rồi mới tìm đường vượt biên sau.
Vào lúc mười hai giờ khuya ngày 14 tháng 7 năm 1979, chúng tôi ba đứa gồm Hà Mạnh Hùng, Dũng (OCS), và tôi cắt hai lớp hàng rào trại giam để trốn ra. Âm thanh của cái rựa chặt vào những thân tre lồ ồ nghe “rốp rốp” giữa đêm khuya thanh vắng, làm cho chúng tôi hết sức phập phồng lo sợ sẽ bị phát giác. Dù đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng những điểm chuẩn để định vị trí trong đêm tối, nhưng chúng tôi vẫn bị lạc! Chúng tôi đi lòng vòng trong rừng mà chưa biết lối ra. Thình lình, Hà Mạnh Hùng nắm áo kéo tôi lại và ra hiệu bảo ngồi xuống vì Hùng nghe thấy tiếng chân người đang trờ tới. Tai tôi không được thính lắm vì ảnh hưởng của tiềng nổ trái lựu đạn lúc mới bị đi tù. Vừa ngồi xuống, không đầy một phút sau, bóng dáng hai thằng VC đi tuần ngang qua, chỉ cách nơi chúng tôi ẩn nấp không quá hai thước! Thật là hú hồn hú vía! Khi tụi nó đã khuất dạng đi xa rồi, tôi bàn lại với anh em là mình không nên đi tiếp nữa, vì không xác định được vị trí. Nếu cứ tiếp tục đi lòng vòng thì thế nào cũng đụng VC đi tuần, và sẽ bị địch phát hiện. Chi bằng tạm núp nghỉ, chờ đợi trời vừa mờ sáng rồi mình sẽ đi tiếp, và đi cho thật nhanh. Nếu chẳng may gặp VC hay đồng bào Thượng thì mình sẽ từ từ đi chậm lại, và dò xét coi xem phản ứng của bọn chúng ra sao, có ý nghi ngờ gì mình hay không? Nếu thấy nghi thì ba người sẽ theo ba ngả, phóng đại vô rừng, rồi tới đâu hay tới đó. Trời vừa mờ mờ sáng, khoảng năm giờ, chúng tôi nghe tiếng kẻng đánh báo thức, và bọn VC đang tập thể dục. Chúng tôi nghe rõ tiếng hô đếm 1, 2, 3, 4 của bọn chúng. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã đi gần hết đêm mà không đi xa khỏi trại tù được là bao nhiêu! Chúng tôi chỉ cách trại chừng khoảng một trăm thước là cùng. Chúng tôi hoảng hồn, rảo bước thật nhanh như chạy để trốn tránh càng xa vùng nguy hiểm chừng nào càng tốt chừng nấy.
Chúng tôi quyết định phải đi lần theo đường mòn cho nhanh cho lẹ. Chúng tôi bàn, nếu dọc đường lỡ có bị chận lại thì sẽ nói là “chúng tôi đi đốn cây” khi còn ở gần trại, hay “được lệnh đi khiêng heo cho tiểu đoàn” khi đã xa trại. Chỉ cần qua mấy trận mưa, và có ít người lai vãng là những con đường mòn quen thuộc dẫn về hướng Phước Long, mà chúng tôi đã ghi nhận, nay đã bị cỏ cây che khuất gần hết. Đã hơn một năm rồi chúng tôi không trở lại con đường này nên hầu như đã quên mất lối! Chúng tôi phải vất vả và khó khăn lắm mới mò ra được đường về Phước Long. Gần đến tỉnh, chúng tôi trốn vào một khu vườn bắp của dân cư, cởi bỏ đồ tù và mặc vào những bộ quần áo mang theo coi như là những công nhân. Ra đến tỉnh Phước Long thì cũng đã gần mười hai giờ trưa. Khi mò đến bến xe đò thì chuyến xe độc nhất chạy về Sài Gòn đã khởi hành từ 10 giờ sáng rồi! Dũng nóng lòng muốn thoát ngay khỏi Phước Long, nên đã lấy chuyến xe đò vào Dak-E (một xã lân cận). Tôi và Hùng quyết ở lại. Hai đứa bàn với nhau đi một vòng chung quanh khu bến xe để xem tình hình và địa thế.
Chúng tôi dự tính, khi trời vừa xập tối là sẽ lao vào núp trong một bụi rậm, gần một ngôi chùa để nương nhờ Đức Phật phò hộ qua đêm nếu không có xe về Sài Gòn. Trời còn sớm, nên tôi và Hùng trở lại bến xe đò xem xét tình hình, và hy vọng vào giờ chót còn có chuyến xe nào hay không. Khi đến chỗ bán vé thì nếu muốn đăng ký (ghi tên) thì phải đưa giấy tờ, ai đưa trước thì sẽ được đi trước nếu có chuyến. Giữa giờ tuyệt vọng như thế thì một tin vui chợt đến. Một chuyến xe đò từ Sài Gòn lên Phước Long khoảng hai giờ chiều, và chuẩn bị quay về liền ngay trong ngày. Nơi quầy bán vé thông báo, bảo mọi người xếp hàng để chuẩn bị lên xe. Họ kêu tên từng người, đóng tiền rồi lên xe. Chúng tôi chờ đợi được kêu tên mình, trong lòng thật là hồi hộp, thầm cầu mong Trời Phật phò hộ cho tên mình được kêu. Khi nghe đúng tên, chúng tôi vội trả lời “có mặt” như mọi người. Chúng tôi leo lên xe ngồi, mọi sự coi bộ xuôi chèo mát mái. Phải chi Dũng đừng có hốt hoảng mà đi trước thì giờ này chúng tôi ba đứa vẫn đi chung với nhau rồi! Xe lăn bánh, chúng tôi thở phào ra nhẹ nhàng. Xe chạy gần đến Phước Bình, lơ xe nói với hành khách là mọi người sẽ phải xuống xe, công an đọc tên người nào theo danh sách tài xế đưa, xét giấy tờ xong thì người ấy sẽ được lên xe đi tiếp! Thần kinh chúng tôi căng thẳng. Tôi bàn với Hùng là hai đứa sẽ đứng xa xa, coi xem mấy thằng công an làm gì? Những hành khách khác phản ứng ra sao? Nếu thấy gì bất trắc thì sẽ lặn luôn.
Chúng tôi rất lo lắng trong lòng vì chế độ ăn ở thiếu thốn trong tù làm cho sắc diện của chúng tôi xanh xao vàng vọt và khác biệt hơn những người dân thường. Nhất là trong bụng đang hồi hộp, âu lo vì sợ bị phát hiện. Thời gian lúc đó sao mà dài như vô tận! Sau cùng rồi cũng đến lượt chúng tôi. Hùng được kêu tên trước, rồi ngay liền đó là tới tôi. Khi nghe tiếng chúng tôi trả lời “có mặt”, hắn nhìn mặt chúng tôi một lúc rồi mới đưa lại giấy tờ bảo lên xe. Mừng hú vía, nhưng chúng tôi ráng làm mặt tỉnh cố không lộ vẻ hớn hở, leo lên xe. Xe chạy hơn một tiếng nữa thì tới gần Đồng Xoài, tài xế lại nói “mọi người hãy ngồi yên chỗ để công an làm việc.” Chúng tôi lại một phen nữa hú hồn. Tới trạm kiểm soát Đồng Xoài. Xe từ từ ngưng bánh, thằng công an đi tới từ từ, ngừng lại ngó mặt từng người khá lâu qua khung cửa kiếng xe. Chúng tôi đang ở thế cỡi lưng cọp, đành phó mặc cho số phận. Thời gian nặng nề chầm chậm trôi qua, nhưng may quá, cuối cùng rồi nó cũng khoát tay ra hiệu cho xe chạy. Thêm một phen nữa hú vía! Chúng tôi rất mừng khi nghe hành khách bàn tán là xe sẽ về thẳng Sài Gòn mà khỏi ghé Bình Dương.
Gần 7 giờ tối, xe đò về đến Sài gòn, lòng chúng tôi rạo rực, rưng rưng nước mắt khi nhìn thấy lại thủ đô Sài Gòn thân yêu sau hơn bốn năm trời xa cách. Sài Gòn của chúng tôi ngày xưa nhộn nhịp rình rang, nay coi điều hiu buồn bã, đường phố vẫn đông người nhưng sao thầm lặng quá, đa số người ta đi lại bằng xe đạp, một vài chiếc xe gắn máy chạy qua chầm chậm… Tôi và Hùng xuống xe đò lòng vừa mừng vừa lo. Chúng tôi ghé một xe bán bánh cuốn dọc đường, kêu hai dĩa bánh cuốn và hai chai bia lớn gọi là để ăn mừng đã được về đến Sài Gòn. Chúng tôi ăn ngon lành và đã thèm, vị ớt cay làm tê đầu lưỡi, và nước mắm dấm tỏi thấm vào từng kẽ răng chúng tôi. Từng ngụm bia lạnh mà sau mấy năm đã tưởng là quên mất, được chúng tôi trân trọng nhấm nháp. Chúng tôi phân vân tự hỏi, chẳng biết giờ này Dũng nó đang ở đâu? Chỉ biết cầu mong Trời Phật phò hộ cho Dũng cũng mò về được đến Sài Gòn bình an suông sẻ như chúng tôi. Sau khi ăn uống xong, chúng tôi chia tay, và hẹn là sẽ nhờ người nhà liên lạc sau. Tôi kêu xe Honda ôm về nhà một người bà con thân thiết. Lòng tôi thầm khấn nguyện và cám ơn Trời Phật đã phò hộ cho mình được thoát nạn. Hôm đó tôi đã có được một đêm thật yên lành, và một giấc ngủ thật êm đềm. Đấy là giai đoạn đầu của cuộc tranh đấu đi tìm “TỰ DO” của chúng tôi. Chúng tôi đã trốn thoát khỏi được trại tù của CS, nhưng chúng tôi chưa thoát khỏi được sự kềm kẹp và truy lùng của bọn chúng. Chúng tôi sẽ còn phải tiếp tục phấn đấu đi tìm con đường vượt biên để đến được một đất nước tự do, mà nơi ấy giá trị con người được tôn trọng.
Chương 11: Chuyện Vượt Biên
Những kỷ niệm vượt biên nhiều khi quá buồn, quá nhiều mất mát cho một số các bạn trong số chúng ta. Xin được chia xẻ những giây phút ngậm ngùi với các bạn đã chịu sự khổ đau và mất mát, nhất là với các bạn đã bỏ mình trên đường đi tìm tự do. Chỉ xin nhắc lại sau đây kỷ niệm vượt biên không buồn:
67.- Lê văn Long: Có thể nói tôi là người có số may mắn nhất khóa đã vượt thoát khỏi lưới tù cải tạo của VC, là một trong những “boat people” sớm nhất, và có thể là người đầu tiên của ĐNHC đi vượt biển trốn tù.
Cuộc hành trình trốn tránh VC thật là gian nan và nguy hiểm. Sau ngày 16 tháng 6 năm 1975, những thành phần nào bị ghép vào tội phản động mà bị bắt, nhất là bị bắt tại địa phương nữa thì hậu quả thật là khó lường. Ở địa phương, có rất nhiều hung thần, lỡ mà lọt vào tay bọn chúng thì chúng sẽ có được dịp tận tình trả thù, và sẵn sàng treo bản án lên ngực mình. Trên đường đi tìm đường vượt biên, tôi bị bắt tại một nút chận của bộ đội chính quy VC ở Phan Rang, gần mũi Cà Ná vào khoảng 11 giờ đêm! Không hiểu vì sao mà tôi lại trốn thoát đi được, chỉ có ơn trên chớ tôi không có tài nào thoát được. Có một việc may mắn trùng hợp nữa là qua khỏi nút chận này đến một bãi biển thuộc mũi Cà Ná, tôi theo ghe đánh cá ra đảo Catwich, nơi đây là định mệnh của tôi, số gặp may khi ghe cặp vào một chiếc ghe khác, tôi gặp anh Trần Vĩnh Trung Khóa 15 HQ. Trước khi thấy NT Trung thì thấy có mấy chiếc ghe khác nữa và ghe nào cũng có treo cờ VC, tưởng là các ghe đánh cá thông thường, sau khi nhìn biết được mặt người quen trên ghe kia mới biết ra toàn là ghe ngụy trang đi vượt biên hết. Nhờ có niên trưởng Trung và ghe của anh đã có chuẩn bị đầy đủ dầu cặn, lương thực, nước uống nên chúng tôi sau khi bàn tính, đã quyết định lên đường đi Philippine, mục tiêu là Subic Bay.
May mắn kế tiếp trong lúc cơn bão đang hoành hành, để ghe khỏi bị trôi giạt xa mục tiêu lên hướng Bắc, chúng tôi đã đổi hướng Đông Nam về phía đảo Mindanao, dự tính khi ra khỏi trận bão sẽ đổi lại góc độ đi Subic Bay (xin miễn nói góc độ chính xác). Trọn nguyên một ngày và một đêm chịu đựng với sóng gió đến sáng hôm sau có chiếc tàu Đan Mạch phát hiện và cứu vớt chúng tôi. Câu chuyện kế tiếp còn rất dài….tưởng rằng câu chuyện vượt biển của mình đáng được viết ra, sau này càng nghe thấy nhiều câu chuyện khác rất thương tâm và bi thảm gấp trăm ngàn lần nên không muốn nói thêm mà chỉ muốn nói lên lời cảm ơn.
Cảm ơn tất cả do ơn trên sắp đặt thuận chiều, như có từng mắt dây xích móc nối với nhau một cách liên tục, từ lúc trốn đi tù, lúc bị bắt trở lại, gặp NT Trần Vĩnh Trung, được viên sĩ quan đi phiên người Thái Lan thấy chiếc ghe đang bị lâm nguy trong cơn bão, đã báo cáo và xin ông Thuyền Trưởng tàu Đan Mạch cứu vớt sau khi đã bị ông Thuyền Phó người Anh phớt tỉnh Ăng Lê từ chối, đã đưa đến một kết quả thật là may mắn. Tất cả đều là những ân nhân cứu mạng, kể cả tên nón cối nếu không có mi đã quắc mắt nhìn và thốt lời hăm dọa thì ta chưa chắc đã liều mạng tiếp tục trốn chạy để được có cuộc sống tự do như hiện nay.
Sau gần 30 năm mất liên lạc với nhau vì lý do sinh kế, thay đổi địa chỉ v.v. . . tôi và niên trưởng Trần Vĩnh Trung cuối cùng đã tìm gặp được nhau vào năm 2004 tại San Jose, California. Ngày 28 tháng 5 năm 2006 chúng tôi lại có dịp hội ngộ vào đêm đại hội của Đệ Nhị Song Nam 40 năm ra khơi tại nhà hàng Sea Food Paracel (còn được gọi là Câu Lạc Bộ Hoàng Sa) ở thành phố Garden Grove thuộc Orange County miền nam California và đây là hình ảnh chụp chung với gia đình của NT Trung.
68.- Trần Tuấn Đức: Sau khi được tha về và bị quản thúc tại nhà, tôi đã được rất nhiều “móc nối” để đưa tàu vượt biên. Tuy nhiên có rất nhiều tổ chức vượt biên thấy được, nhưng chỉ cho một mình tôi làm tài công lái tàu ra đi mà thôi. Họ đồng ý trả tiền để cho vợ tôi và ba đứa con ở lại Việt Nam. Dĩ nhiên là tôi không nhận những điều kiện này vì một lý do rất đơn giản là tôi rất yêu vợ và thương ba đứa con trai của tôi. Ngoài ra cũng có rất nhiều những tổ chức lường gạt, đa số là do VC đứng ra móc nối. Trong xóm tôi có một tên VC đã rỉ tai với gia đình tôi về tổ chức vượt biên, hắn có quyền có thế, và chương trình tổ chức coi có vẻ hết sức bài bản và chu đáo. Tuy tôi không có ý đi chuyến này vì điều kiện không hợp, nhưng tôi đã tin, và giới thiệu cho chị Nguyễn Hữu Thiện tham gia. Gia đình chị Thiện ở ngay đầu ngõ nhà Mẹ tôi, anh Thiện đã đi được từ năm 1975, chị Thiện và các cháu còn kẹt lại ở nhà. Chị ấy đã tin tôi, và giao vàng cho Mẹ tôi để đóng lệ phí cho hắn. Bất ngờ hắn trở mặt, và lảng tránh chuyện vượt biên! Tôi bị mắc quai, làm sao mà dám đòi lại số vàng từ thằng VC! Rất nhiều trường hợp đã xẩy ra, nhiều người đã trắng tay mà cũng phải ngậm đắng nuốt cay, có khi chúng trở mặt chụp mũ về tội ”vượt biên”, hoặc “ngụy quân phản động”…Tôi thật sự rất áy náy trong lòng với gia đình Nguyễn Hữu Thiện.
Khoảng cuối Thu năm 1978, tôi đã được một thằng em đơn vị cũ là hạ sĩ cơ khí HQ móc nối cho một chuyến vượt biên. Tôi đồng ý đi gặp chủ tàu, và đi xem chiếc ghe dài độ hơn 16 mét (50 feet) với máy GM-671 còn rất tốt ở gần Cồn Phụng, dưới Mỹ Tho. Ông ta có vẻ thành thật, chủ đích muốn đưa cả nhà ông ta gồm trên ba mươi người ra đi, và đồng ý cho tôi đưa gia đình đi theo mà không tốn tiền, tôi cũng không quên xin ông chủ tàu cho tôi thêm một chỗ nữa cho người em trai đang còn trong tuổi nghĩa vụ, và tôi hứa là tôi sẽ nhận trách nhiệm này. Chuyến đi lại thuộc loại bán chính thức nên tương đối dễ thành công tuy giá rất đắt là 10 lạng vàng cho một người Hoa, và 14 lạng cho một người Việt kể cả tiền mua bãi cho VC. Tôi đã yêu cầu chủ tàu cho mướn thêm một trung sĩ cơ khí HQ còn trẻ Hà Kim Khanh, biết rành loại máy GM671 mà tôi quen biết để lo việc máy móc. Vì một lý do nào đó nên anh đã tình nguyện ra đi một mình, để lại vợ và hai con. Chủ tàu đồng ý cho anh ta đi. Sau một tháng thử máy và thực tập vận hành cho ngọt ngào thì tôi bất ngờ gặp được HQ Trung úy CK Đỗ Khắc Mạnh, thủ khoa CK khóa 19 SQHQ. Tôi bèn móc nối, và đồng thời sau khi nghe tôi trình bầy vấn đề máy móc, chủ ghe cũng đồng ý để cho đàn anh K.19 ĐKMạnh đem vợ và ba con đi theo không tốn tiền. Tôi bỏ việc luôn ở sở Thủy Đạo, xuống ở hẳn Mỹ Tho vì công an cứ tiếp tục kêu lên làm việc. Vợ tôi phải khai với công an phường khóm khi bị hỏi, là tôi đã bỏ đi vùng kinh tế mới, và không biết ở đâu! Chúng tôi lo thay thế và nhét nhựa trai vào những chỗ nối bên lườn tàu, chạy thử máy trên sông Tiền Giang, huấn luyện thêm cho con cháu ông chủ tàu và một số các thanh niên trong chuyến đi thành như một thủy thủ đoàn. Được giao cho trách nhiệm mang theo 180 người gồm cả nam nữ, cụ già và trẻ em. Các thợ mộc đã được trưng dụng để biến cải bên trong lòng tàu. Ngoài khoang phòng lái, khoang sau, khoang hầm máy, khoang chứa nước và dầu, chúng tôi biến cải phần còn lại thành hai tầng và trên mui. Các khoang đều có ống thông hơi bằng những ống nhôm đường kính 15 inches. Để giữ sự cân bằng cho ghe, nên trên mui chỉ dành riêng cho thủy thủ đoàn và rất hạn chế cho bà con lên.
Vì là một chuyến vượt biên bán chính thức có chung tiền cho công an nên chúng tôi rất an toàn và chỉ ở riêng tại Mỹ Tho và vùng phụ cận mà thôi. Tôi được lệnh bảo mật chuyến đi, và bị cấm chỉ léo hánh về Sài Gòn, hay ra khỏi địa hạt Mỹ Tho. Tôi gặp quan Đỗ văn Đức tại công viên Lạc Hồng, Mỹ Tho. Tuy hai đứa không nói chuyện nhiều hay hỏi han vớ vẩn, nhưng cùng nhận hiểu chuyện gì đang toan tính hay xẩy ra cho bạn mình, chẳng cần phải nói ra, chỉ thầm chúc cho nhau thành công, và như vậy là đủ rồi. Vợ và con tôi tiếp tục bị gây khó khăn và làm phiền bởi công an phường xóm tại nhà ở Sài Gòn, nên ông chủ ghe đã lén đưa xuống Mỹ Tho, và cho tạm ở khách sạn để tôi yên tâm làm việc. Chúng tôi lợi dụng những ngày tháng chờ đợi nên rảnh tay cho công việc tu bổ, huấn luyện, và chuẩn bị cho chuyến hải hành cuối cùng… Những cố gắng và siêng năng, chăm chỉ của T/Sĩ Khanh đã làm cho tôi ngậm ngùi, khi nhìn vợ con anh đã hy sinh để cho Khanh vượt biên một mình. Cuối cùng tôi cũng đã lèo lái, rỉ tai ông chủ ghe nhiều lần, và sau đó ông chủ tàu vì lòng nhân đạo nên cũng đã chấp thuận cho vợ và hai con của Khanh đi cùng. Chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ một chiếc la bàn từ của PCF, ống nhòm, hải đồ của tôi mang theo, 40 can nước ngọt, dầu và nhớt máy. Tôi cũng không quên đem theo một can rượu nếp than cho anh em uống cầm chừng khi làm việc. Tôi cho mua thêm 8 thân nứa lớn, rỗng ruột, dài khoảng từ mười đến mười hai thước, để chia ra cột kèm theo hai bên lườn ghe dùng làm phao nổi phụ cho tàu, và đồng thời có thể dùng làm phao đào thoát khi cần. Tôi không quên lấy sơn vẽ sẵn hai lá cờ November và Charlie, và cho trổ nóc ghe để làm thành một phòng lái có mái che mưa nắng với chiếc ghế ngồi cột dây như chiếc ghế xích đu cho tài công thoải mái, để có thể lái bằng chân, và nóc ghe ngang tầm ngực như chiếc bàn làm point, có gắn chiếc la bàn từ. Chúng tôi lùng mua được ba trái sáng phòng thủ (loại bằng nhôm) của quân đội VNCH ngày xưa dùng để làm một loại vũ khí sử dụng như một loại hoả tiễn khi cần thiết nếu chẳng may gặp phải tàu hải tặc. Những vũ khí thô sơ cầm tay này, được dấu kỹ, và chắc chắn rằng chúng tôi sẽ dùng nó để bắn một cái “phụt”, chính xác vào hầm máy của bọn cướp biển nếu chẳng may tàu chúng tôi bị chúng rà rà cập sát để cướp bóc.
Vào một ngày đầu tháng 5 năm 1979, chúng tôi được lệnh chuẩn bị ra khơi. Xế chiều mọi người được chở bằng ghe nhỏ, điểm danh, và lên tàu chuẩn bị ra khơi. Ghe dự trù và xin phép cho có 180 người, nhưng giờ chót kiểm điểm lại thấy có tới 240 người! Bọn công an đã lén đưa thêm 60 người của chúng nữa, nhưng không thể hủy bỏ hay làm điều gì khác hơn là tiếp tục chuyến đi vậy! Ghe nhỏ của công an dẫn chúng tôi ra đến đồn công an sau cùng ngoài cửa sông Cửa Tiểu, rồi bảo chúng tôi neo lại chờ chúng lên trình giấy. Chừng mười lăm phút sau, hắn ra bờ sông khoát tay ra hiệu cho chúng tôi kéo neo và ra khơi. Cồn phù sa làm neo cắn mạnh, chúng tôi loay hoay mãi mà không làm sao kéo neo lên được, tôi vội ra lệnh chặt dây và bỏ lại neo. Trời đã gần nửa khuya, chúng tôi lần mò ra được đến phao số một, tôi quay tàu và giữ hướng 150 độ chạy thẳng ra hải phận quốc tế. Giữ hướng độ này khoảng được gần một nữa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi phát hiện có một hai chiếc tàu ở hướng ba bốn giờ đang tiến về phía chúng tôi.
Tôi suy nghĩ nhanh, và cho đổi hướng tàu cho chạy cùng một hướng với chúng. Tôi cố gắng giữ cho những tàu lạ luôn nằm thẳng hàng ở phía sau đuôi chúng tôi bằng cách nhận diện luôn thấy đèn hiệu tả đỏ hữu xanh của chúng. Biển êm, máy tốt, tàu tôi lướt nhẹ trên làn sóng lăn tăn. Tôi cẩn thận ghi chi tiết thời gian mỗi khi tầu đổi hướng. Sau hai tiếng đồng hồ thì chúng mất hút ở phía sau, không còn thấy tăm hơi đâu nữa. Chúng tôi đoán có lẽ là bọn công an đã báo cho tàu tuần của bọn chúng tính chận chúng tôi lại để ăn lẻ. Tôi ráp nối lại những chi tiết trong nhật ký hải hành, điều chỉnh tay lái, và lấy lại hướng 150 độ để tiếp tục ra phía hải phận quốc tế. Tôi cho đo phỏng định thì vận tốc của chúng tôi khoảng từ 5 đến 6 gút. Tôi đã phân chia cho cho những người được huấn luyện trước đi phiên như một quart hải hành trên chiến hạm khi xưa. Nhân viên cơ khí kiểm soát dầu nhớt, đằng mũi luôn có hai người dùng ống nhòm thường xuyên quan sát, và hai bên mạn tàu là hai nhân viên an ninh giữ trận tự để tránh cảnh nhốn nháo hốt hoảng có thể gây ra tình trạng mất thăng bằng cho tàu ngoài biển. Chúng tôi làm việc rất quy củ và trật tự.
Đêm ra khơi, trời trong, nhiều sao, và vầng trăng khuyết hạ tuần tháng Tư Âm Lịch nằm chênh chếch trên cao. Biển thật êm như đi trong hồ, gió nhè nhẹ thổi, sóng vỗ nhẹ vào bè nứa hai bên mạn tàu tạo ra những âm thanh êm ấm. Những hạt nước biển bị hất tung lên từ mũi tàu, lấp lánh phản chiếu ánh trăng khuya tạo ra như những hạt lân tinh trong đêm tối trời rồi tan nhanh vào màu biển xậm, và sâu thẳm muôn trùng. Hít một hơi đầy lồng ngực, tôi nghe mùi biển mặn làm tôi tỉnh táo tinh thần hơn, thấy mình kiêu hùng hơn, và cảm thấy mình tự thắng hơn sau 24 giờ trên chuyến hải hành sau cùng này! Ngồi trên mui tàu, tôi tận hưởng cái vị khô và quyến rũ của điếu thuốc trên môi, óc tôi miên man với những kỷ niệm cũ trong đời quân ngũ, những ngày huấn nhục quân trường. Tuổi đời mới 30 đã làm cho tôi rất tự tin trong chuyến đi định mệnh này, và cũng không quên cầu xin Trời, Phật, Thượng Đế ban bình an cho 240 mạng sống trên con tàu mỏng manh đang trên đường vượt biển này.
Đến chiều ngày hôm sau, sau khi đã đi được khoảng gần ba mươi sáu tiếng, chúng tôi đã thấy thấp thoáng những tàu buôn chạy hướng Bắc Nam. Tôi cho kéo cờ N-C lên (S.O.S), và cho ghe hướng thẳng tới những tàu buôn hay tàu đánh cá của các quốc gia bạn, và nhất là của Đài Loan, nhưng đều bị họ đổi hướng và chạy mất! Tôi nhờ một người Hoa ghi chữ “cần cấp cứu” bằng tiếng Hán thật to rồi dương lên cho có thể đọc được qua ống nhòm nhưng không ăn thua! Khoảng xế chiều, chúng tôi thấy một tàu đánh cá mang cờ Đài Loan, chúng tôi lại tiếp tục làm như những lần trước, trương cờ, dương bảng kêu cứu bằng chữ Tàu, và những người không nhiệm vụ phải xuống dưới khoang để tránh nhốn nháo. May thay, lần này chiếc tàu Đài Loan không quay đầu chạy như những chiếc khác. Ban chỉ huy chúng tôi họp khẩn cấp để đưa ra một chương trình hành động. Cơ khí sẽ quay bơm nước biển vào để làm cho giống như nước sắp ngập hầm máy, nhưng sẵn sàng phải bơm nước ra khi không thấy hiệu nghiệm. Một ít nhớt sẽ được đổ vào dầu cho phun khói đen, và cho máy kêu những tiếng lạ. Mọi người sẽ ùa leo lên tàu đánh cá một khi thuyền trưởng bị khuất mắt khi xuống xem xét hầm máy trong ghe để làm chuyện đã rồi.
Khi ghe cập vào tàu đánh cá, tôi và ông chủ ghe nhẩy lên lên tàu đánh cá để gặp thuyền trưởng báo cáo tình trạng “bi đát” của ghe chúng tôi. Trong lúc chủ tàu nói chuyện với thuyền trưởng, tôi liếc mắt vào hải đồ của họ thì thấy chúng tôi đã đi rất đúng hướng và gần tới Nam Dương. Ông thuyền trưởng cho biết là chúng tôi đã gần đến bờ, nên tiếp tục đi, và nếu cần thì ông ấy sẽ cung cấp thêm cho thực phẩm và nước ngọt. Riêng tàu của ông ta đã đánh đủ cá và đang trên đường về Đài Loan. Chúng tôi nằn nì tình trạng sắp ngập nước của ghe chúng tôi, và xin ông hãy qua xem xét coi. Ông đồng ý qua xem. Trong lúc ông ta đang lội lõm bõm dưới hầm máy để thẩm xét tình trạng của ghe chúng tôi, thì bên trên boong mọi người leo ùa qua tàu Đài Loan. Ông leo trở lên thì mọi sự đã rồi đúng như chúng tôi toan tính. Sau cùng ông đành cho chúng tôi chọn một trong hai giải pháp với một điều kiện duy nhất là phải sửa chữa chiếc ghe để có thể sử dụng được. Thứ nhất ông sẽ cho chúng tôi vào gần đến Mã Lai Á thì xuống ghe và tự chạy vào bờ. Thứ hai là theo tàu ông, khi gần đến Hồng Kông thì xuống ghe và cũng tự chạy vào bờ. Tôi nhanh trí chọn giải pháp thứ hai là đi lên hướng Bắc về phía Hồng Kông, vì tin đồn về VN trước đó là Mã Lai đang xua đuổi, không nhận thêm người tỵ nạn. Chiếc ghe được sửa chữa và kéo theo phía sau tàu đánh cá. Ngày hôm sau, có một bà cụ người Hoa khoảng hơn 60 tuổi trong đám tỵ nạn chúng tôi đã bị qua đời vì “trúng gió”. Thuyền trưởng đã yêu cầu chúng tôi mang thân xác bà cụ xuống ghe để tránh điều “súi quẩy” cho tàu. Chúng tôi đành tẩn niệm bà cụ trên ghe, cầu xin linh hồn người qúa cố sớm được siêu thoát, và cho thủy táng xác bà cụ sau đó. Khi đi ngang qua đảo Hải Nam thì một cơn bảo đã nhận chìm chiếc ghe của chúng tôi, chiếc ghe đã được dòng theo con tàu đánh cá! Chúng tôi không còn phương tiện để tự lái vào Hồng Kông, vị thuyền trưởng đầy lòng nhân ái đó đành phải chở chúng tôi về bến Cao Hùng, Đài Loan, dù biết rằng ông sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tới Cao Hùng, chúng tôi được chở đến một trại gia binh dùng làm trại tỵ nạn, và nơi đây đã có khoảng mấy trăm người đã đến trước chúng tôi. Chuyến đi vượt biên của chúng tôi tương đối thành công, và an toàn. Trong trại tỵ nạn, chúng tôi nghe thấy nhiều chuyện vượt biên gặp nạn cướp biển, và đói khát… Chúng tôi chỉ biết khấn cầu, cám ơn Trời Phật đã phò độ cho chúng tôi đi đến nơi, và không phải trải qua những giây phút khủng khiếp hãi hùng như những chuyến tàu vượt biên bất hạnh khác.
69.- Huỳnh văn Bảnh: Sau khi được thả ra khỏi trại tù Cộng Sản, tôi được móc nối làm tài công lái tàu vượt biển đi từ Vũng Tàu. Tàu vượt biển của chúng tôi chỉ là một chiếc ghe đánh cá nhỏ, nhưng khi đi thì chứa cả gần trăm người. Trên đường ra Vũng Tàu, chúng tôi bị tụi công an nó vây bắt, nên phải bỏ hết cả đồ đạc mà chạy lấy thân. Ngoài bộ quần áo trên người, chúng tôi không còn gì, ngoài đứa con gái mới sinh vừa tròn một tháng tuổi. Chúng tôi rời VN vào cuối tháng Mười nên đúng vào mùa biển động! Ra khỏi cửa Vũng Tàu là ghe chúng tôi gặp biển động mạnh. Sau gần bốn ngày chịu trận sóng ngang, chơi vơi vật lộn với tử thần, lênh đênh giữa đại dương bát ngát, mọi người trên ghe mệt lả, rũ rượi như sắp chết, con gái tôi hôn mê trong vòng tay mẹ nó. Đến ngày thứ tư thì biển chợt êm lại, không sợ ghe bị nhận chìm bởi những cơn sóng dữ nữa, tôi cho đổi hướng xuôi Nam, trực chỉ Malaysia. Chúng tôi đi lọt vào tỉnh Kuching thuộc Malaysia. Cảnh sát Malaysia chở chúng tôi về tạm trú qua đêm trong phòng thể thao của một trường trung học địa phương. Chính quyền Malaysia khi đó đã không cho chúng tôi tỵ nạn, nên sáng hôm sau đã cho chở chúng tôi về lại ghe, và chỉ đường bảo tôi lái xuống Nam Dương. Tôi suy nghĩ nhanh là nếu tiếp tục đi nữa thì rất nguy hiểm, và không biết sẽ ra sao? Vội bảo anh thợ máy đâm thủng đáy tàu cho ghe chìm. Nhờ thế nên chúng tôi đã được cho vào trại chuyển tiếp chờ Cao Ủy Tỵ Nạn.
70.- Trần Đức Chấn (San Diego): Ba tôi là một sĩ quan Hải Quân, năm 1958 ông đang là Quận Trưởng Dương Đông ngoài Phú Quốc thì bị ám sát và mất tại đây! Đô Đốc Trần văn Chơn khi đó đang chỉ huy một đơn vị Hải Quân tại Kiên Giang đã cho ghe chở quan tài của Ba tôi từ Phú Quốc về Long An để ma chay và chôn cất. Vào năm 1973, tôi phải vào BTL/HQ để bổ túc hồ sơ hay xin giấy tờ để bổ túc hồ sơ gì đó, tôi đã gặp anh Chấn đang là một sĩ quan làm việc tại Phòng Tổng Quản Trị HQ, và quen biết với ảnh từ dạo đó. Khi Việt Cộng chiếm được miền Nam, anh Chấn đi tù còn tôi thì tìm đủ mọi cách để vượt biên. Tưởng rằng hai cuộc đời chúng tôi mỗi người một ngả, nhưng con tạo xoay vần, và khi anh Chấn ra khỏi tù thì tôi cũng vẫn còn bị ở lại, chưa đi thoát được. Đúng là cái duyên cái số. Các em tôi lần lượt đều đã vượt thoát được khỏi VN và định cư tại Hoa Kỳ. Anh Chấn sau khi ra tù Cải Tạo xong thì có trở lại tìm tôi. Tôi nhất quyết không muốn sống dưới chế độ Cộng Sản, quyết chí tìm đường vượt biên, nên chưa muốn lập gia đình vội. Còn anh Chấn thì lừng khừng chưa muốn chuyện vượt biên. Vào năm 1982, trong một lần vượt biên, một người em bà con của tôi bị chết trên đường vượt biển khi ghe bị lật trong khi chưa ra được đến ngoài biển khơi! Chuyến này đã làm cho tôi chùn chí, và quyết định thành lập gia đình với anh Chấn vì anh ấy chờ tôi cũng đã lâu rồi.
Chúng tôi thành hôn năm 1983, và về sống với bên Nội tại Giồng Trôm, Cát Lái. Tuy đã có đứa con trai đầu lòng nhưng chúng tôi cũng vẫn tìm cách vượt biên mỗi khi có cơ hội. Đã bao nhiêu lần chúng tôi tìm cách vượt biên nhưng đều bị thất bại, khi thì bị “bể”, khi thì bị “động”! Khi tôi sắp sanh cháu thứ hai vào năm 1985 thì anh Đỗ Minh Hào có liên lạc và giới thiệu cho anh Chấn làm tài công lái ghe vượt biên. Đúng hôm tôi sanh, anh Chấn được tin phải xuống ghe để khởi hành đi vượt biên ngay. Năm giờ sáng, tôi sanh cháu gái, anh Chấn ngồi chờ bên ngoài. Anh nắm chặt tay tôi, ôm đứa con gái còn đỏ hỏn vừa mới sanh ra. Chúng tôi không nói nhiều vì cũng tưởng như những lần trước, ra đi rồi lại trở về bến cũ. Bẩy giờ sáng, anh đã cùng chú em trai từ giã ba má và đứa con trai đầu lòng, ra điểm hẹn để xuống ghe. Không ngờ lần này anh lại lái ghe vượt biển đi thoát. Một vài tuần sau, chúng tôi đã được anh Hào đánh điện báo tin là anh Chấn đã đến được bến bờ tự do. Anh Chấn rất chịu khó, vừa đi làm vừa đi học và xong bằng BSEE tại SDSU, lại vừa lo bảo trợ mẹ con tôi.
Bẩy năm sau, 1992, mẹ con tôi mới được trùng phùng với anh Chấn theo diện đoàn tụ gia đình. Chúng tôi có thêm hai cháu nữa sau ngày đoàn tụ và lập nghiệp tại San Diego. Tưởng rằng hai đứa chúng tôi sẽ được vui vầy tình nghĩa vợ chồng cho đến ngày răng long đầu bạc, không ngờ anh Chấn bị bạo bệnh khi chưa đến tuổi sáu mươi! Ảnh phải nghỉ làm ở hãng Hughes để ở nhà chữa bệnh. Chúng tôi có nhiều thời gian để sống cho nhau hơn. Anh Chấn rất thương bạn bè, ảnh kể chuyện không biết mệt về những kỷ niệm thời còn ở quân trường Hải Quân và khi còn ở trong quân ngũ. Mỗi khi có bạn cùng khóa đến thăm là ngày hôm đó ảnh rất vui mừng như ngày lễ hội. Ảnh rất cảm động khi thấy mấy anh bạn cùng khóa ở tận trên Los đã chịu khó lặn lội xuống thăm ảnh khi bịnh tình trở nặng.
71.- Ngô Nguyên Trực: Vào tháng 4 năm 1979, tôi được móc nối lái tàu đi từ Trà Vinh-Vĩnh Bình, chủ tàu đã lo xong ghe, dầu nhớt, nước uống, và chiếc la bàn. Tôi lo đường đi nước bước, và ra đi càng sớm càng tốt. Những hải đồ bán rất mắc! Tôi la cà ở mấy chỗ bán hải đồ cũ ở Sài Gòn, làm bộ như muốn mua, đo đường và hướng độ, rồi cố ghi nhớ cho thật rành rọt. Một tuần sau chúng tôi lên đường, tôi cho Trọng đi cùng vì không có đem theo một ai. Ghe chúng tôi thuộc loại nhỏ, chỉ có 30 người, thuộc loại đi chui, và tôi chỉ được biết ghe có mấy tiềng đồng hồ trước khi đi. Chúng tôi rời Trà Vinh khoảng lúc chín hay mười giờ đêm chạy ra cửa Long Toàn. Ra khỏi cửa biển, tôi quay mũi ghe theo hướng 150 độ, chạy thẳng rời xa bờ biển VN cho đến chiều ngày hôm sau thì quay mũi theo hướng 245 độ để xuống Mã Lai. Ba ngày sau, chúng tôi thấy bờ. Chúng tôi kéo tấm khăn trắng lên làm cờ.
Thấy người lố nhố trên bờ. Mọi người trên tàu reo lên mừng rỡ, nhốn nháo lao nhao hướng về phía đảo nhỏ. Chúng tôi đã đến được bến bờ bình yên rồi, không còn phải lo sợ sóng to gió lớn, không còn phải phập phồng với nạn hải tặc trên biển, niềm mơ ước của chúng tôi đã sắp thành hiện thực. Mọi người van vái cám ơn Trời Phật đã cứu độ chúng tôi. Tới gần mới thấy có khoảng một tiểu đội TQLC quần áo rằn ri, đang xếp hàng ngang trên bờ, nhắm súng chĩa vào hướng chúng tôi! Tôi cho tàu giảm tốc độ, và từ từ tiến lại. Họ nhắm bắn dọa một loạt đạn M-16 bay qua đầu chúng tôi. Tôi cứ tiếp tục cho tàu từ từ tiến vào, và đồng thời vẫy cờ trắng lia lịa. Để đáp lại toán TQLC Mã Lai hạ nòng súng và bắn thẳng vào chúng tôi, tôi la to “mọi người nằm xuống, nằm xuống”. Đạn rơi lỗ chỗ trên mặt nước, và một vài viên trúng cả vào ghe. Tôi hoảng hồn quay ghe ra, chúng bắn với theo. Thằng bé bẩy tuổi, con ông chủ ghe bị trúng đạn vào đùi, máu tuôn ra. Tôi cho ghe chạy lòng vòng trên biển, mọi người trên ghe buồn bã nhưng không thất vọng, khoảng đến xế chiều thì gặp một chiếc ghe đánh cá Mã Lai. Họ không biết tiếng Anh, và chúng tôi không biết tiếng Mã, thế là ngôn ngữ quốc tế “khua tay múa chân” đã được đem ra sử dụng. Họ chỉ hướng đi về phía một hòn đảo nhỏ và “xì sồ xí số” một hồi, chúng tôi đoán là ở trên đảo ấy có trạm y tế. Tôi cho ghe chạy về hướng đó, khi đến gần thấy một chiếc tàu cảnh sát Mã Lai chạy ra chận chúng tôi lại, miệng la “GHÔ-GHÔ” và bằng tiếng Việt lơ lớ “Đi, Đi… mao”. Chúng tôi lại bế thằng bé bị thương lên, và chỉ vào cháu, miệng la “HEO…HEO…” rất là thảm thiết. Họ cập tàu lại, cho ông chủ ghe bế đứa con bị thương đi theo lên bờ để băng bó vết thương. Một hai người cảnh sát, súng ống lăm lăm, ở lại với chúng tôi gác thuyền vì sợ chúng tôi làm ẩu ủi đại vào bãi. Sau đó họ chỉ cho chúng tôi hướng đảo Bidong. Tôi cho tàu chạy về hướng đó. Khoảng 10 giờ đêm, khi đến gần đảo chúng tôi thấy có ghe cảnh sát ra đuổi, không cho vào! Tôi cho ghe chạy ra ngoài biển khơi lại, sau cùng đành ghé vào một hoang đảo nhỏ nghỉ tạm qua đêm. Ngày hôm sau tôi lại cho ghe chạy vòng vòng, mon men tìm cách chạy vào bờ đảo Bidong. Một chiếc ghe cảnh sát chận chúng tôi lại, viên thuyền trưởng biết chút ít tiếng Việt, leo qua với giọng lờ lợ hỏi “Aai laái, aai laái?” Mọi người chỉ vào tôi. Hắn lặng lẽ tiến lại phía tôi, móc khẩu P38 đeo xệ ngang hông, lạnh lùng lên đạn và dí sát vào phía sau ót tôi rồi nói “Đii ra ngooài…; Cấm dzôô; Kkông taao baắng.” Mọi người im thin thít, tôi tuy bất mãn với cái thái độ bất nhân của tên cảnh sát, nhưng ngậm tăm, gật đầu “ô kê, ô kê”. Chúng tôi lại mất thêm một ngày chạy vòng vòng ngoài biển khơi. Vì không có tấm hải đồ nên tôi không dám chạy xa bờ sợ bị lạc.
Ghe chúng tôi đã bắt đầu bị vào nước hầm máy, dầu cũng sắp cạn, thì may quá thấy trên một hòn đảo nhỏ cách Bidong khoảng 2 hay 3 chục hải lý thấy có lố nhố người ta. Tôi cho ghe đến gần. Thấy có khoảng gần một trăm người dân đứng xa xa trên bờ đưa tay ngoắc ngoắc, ra hiệu kêu chúng tôi vào, và khoảng chừng một tiểu đội TQLC/Mã Lai súng ống lăm lăm đang xua tay cho chúng tôi không được vào. Tôi giảm tốc độ, nhưng không thấy đám TQLC này có vẻ quyết liệt lắm, và nghe trong đám đông đứng xa chỗ mấy cây dừa có người la “dzô đại đi”, nên tôi đoán họ cũng là những người tỵ nạn, nên quyết định cho ghe ủi đại vào bãi cát. Chúng tôi leo xuống ghe, và chạy ùa cả lên bãi cát. Toán lính Mã Lai chĩa súng vào chúng tôi, bắt ngồi xuống. Tên trưởng toán biết tí tiếng Anh và chút ít tiếng Việt. Hắn hỏi “tài công đâu?” Mọi người lại chỉ về phía tôi. Hắn lẳng lặng đi ra phía sau lưng tôi, và bất ngờ giáng cho tôi một báng súng M-16 vào lưng. Hắn hỏi “mang gì?”, tôi ngớ ra. Hắn dộng cho tôi thêm một hai báng súng vào lưng nữa. Hắn lên đạn. Tôi đoán là hắn đòi vàng, vội nói tôi không có gì nhưng mấy người kia có. Hắn bỏ tôi đi qua mấy người kia lột đồng hồ, nhẫn, dây đeo, và lục lọi moi vàng. Trong lúc hắn đang lúi húi làm hỗn sờ mó mấy cô gái, tiếng lao nhao trong đám đông trên bờ có người nói “đục chìm ghe đi không nó đuổi”. Tôi bị kềm bởi họng súng của người lính Mã Lai nên hối ông chủ ghe xuống ghe giựt “lỗ lù” cho nước vào làm chìm ghe. Thằng trung sĩ trưởng toán sau khi gom góp đồng hồ, cà rá, dây đeo vàng bạc mà nó thấy được, dặn mấy cô bé trên ghe, tắm rửa sạch sẽ rồi lên lều nó trình diện để nó “hỏi cung”! Tôi dặn mấy cô là đừng chống cự, nó giết thiệt thân, ghi nhớ mặt thằng nào làm bậy để khai trình Cao Ủy LHQ.
Chúng tôi được ở lại chung với những người tỵ nạn trước, họ là những người đã vẫy cho chúng tôi vào. Chúng tôi lấy lá dừa làm lều ở tạm như mọi người, một tuần sau có ghe của Cao Ủy qua chở về BiDong. Cậu Bảnh “quần đỏ” và Lưu Ngọc Quang đã lên đó trước từ hồi nào và đang chờ để “đón tiếp” tôi.
Chương 12: Người Tỵ Nạn Việt Nam
Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối,
Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm.
(Chinh Phụ Ngâm Khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
Vì Cộng Sản chúng ta đã bị bứng bật gốc ra khỏi Việt Nam, đi tỵ nạn tại các quốc gia tự do trên khắp thế giới! Những chính phủ và dân chúng tại những quốc gia cưu mang này đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta, và những người tỵ nạn Việt Nam khác đến đất nước họ. Họ không đòi hỏi chúng ta gì hơn ngoài nhiệm vụ của một người công dân nước họ và một sự cố gắng. Xin trân trọng cám ơn đất nước và dân chúng của những quốc gia đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta. Chúng ta cũng không quên nơi chôn nhau cắt rốn Việt Nam của chúng ta, nơi đồng bào của chúng ta vẫn chưa được biết thế nào là TỰ DO và DÂN CHỦ.
72.- Huỳnh văn Bảnh: Sau khi đục thủng đáy thuyền, không còn cách gì bắt chúng tôi trở lại ra khơi được nữa, nên chính quyền địa phương của tỉnh Kuching, Malaysia đã cho chở chúng tôi về tạm trú trong trại chuyển tiếp. Trại chuyển tiếp này thiếu thốn đủ mọi thứ căn bản tối thiểu như cầu tiêu, nên những người đi trước đã phóng uế bừa bãi. Chung quanh trại đầy phân người, và mùi hôi thối toả ra nồng nặc! Đêm nằm trên sàn xi-măng lạnh trơn, không mền, không một tấm khăn trải, gió rít lên từng cơn ngoài kia, tôi gồng mình chịu lạnh, cởi chiếc áo sơ mi độc nhất đang mặc trên người đắp thêm cho đứa con gái một tháng tuổi đang nằm run trong vòng tay ôm chặt như cố truyền hơi ấm cho con của mẹ nó. Sau ba ngày tạm trú tại trại chuyển tiếp, chúng tôi được chính quyền Malaysia chở sang trại tỵ nạn Paulo Bidong.
Paulo Bidong là một hòn đảo nhỏ của Malaysia, được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ dùng làm trại tỵ nạn cho những thuyền nhân VN. Ba phần tư đảo là núi, và chỉ còn một phần tư là tương đối bằng phẳng như bình nguyên. Vào thời điểm này, trên đảo đã có hơn năm chục ngàn người tỵ nạn. Tàu chở chúng tôi ra đảo, không ai tiếp đón, không người hướng dẫn, không ai tiếp tế. Quá đói và quá lạnh, hai vợ chồng chúng tôi ôm đứa con còn đỏ hỏn, ngồi ở gần trạm cảnh sát Malaysia trên đảo để chịu trận. Nhưng may quá, gặp được Lưu Ngọc Quang, và Quang đã cho chúng tôi một lon cơm ăn đỡ dạ. Quang đi một mình và cũng đang ở nhờ trong một căn chòi nhỏ của một gia đình quen nên không thể nào cho chúng tôi tạm trú qua đêm được! May quá có một anh bạn trẻ tuy không quen biết, nhưng thấy tình cảnh khốn khổ của chúng tôi nên anh đã cho vợ và con tôi vào tạm trú trong căn chòi của anh, còn tôi và anh ấy nằm ngủ ngoài hiên căn chòi.
Sáng hôm sau chúng tôi mới được Cao Ủy Tỵ Nạn cấp phát cho một tấm “tăng” để căng lều, gạo, và cá mòi hộp. Tôi lên núi, chặt cây, tha về cất chòi trên một vũng xình còn xót lại và chưa có người “xí phần”. Cây lớn tôi dùng làm cột, kèo, mái thì bằng tấm tăng được phát cho. Cây nhỏ tôi dùng làm vách và giường ngủ. Tôi lùng kiếm thùng cạc tông rỗng, gỡ ra làm đệm nằm cho đỡ đau lưng. Ngày này qua tháng nọ, chúng tôi chỉ được ăn cơm với cá mòi hộp nên riết rồi cũng ngán quá xá! Bà xã tôi ăn riết cá mòi chịu không nổi, nên chỉ ăn cơm với muối, làm gì có sữa cho con bú! Trên đảo cũng có những nơi bán đồ ăn tươi do tàu đánh cá Malaysia chở sang bán, nhưng chúng tôi chỉ có hai bàn tay trắng nên lấy gì để mua. Chúng tôi đành hy sinh, đau khổ mà bán đi chiếc nhẫn cưới để có ít tiền mua thêm thức ăn tươi, nhất là cho bà xã của tôi cố ăn mà có sữa nuôi con.
Điều kiện sống trên đảo thật là khốn khổ và mất trật tự, không có đến cả cái cầu tiêu công cộng, nên phóng uế bừa bãi và rất tự do! Đàn bà con gái cũng vậy, cứ tụt quần, ngồi ngay ngoài bãi mà tiểu tiện hay đại tiện ngay trước mặt nhiều người, không còn biết e ngại hay mắc cỡ nữa! Nước ngọt không đủ dùng nên tắm rửa hay giặt giũ là đi xuống biển, nhiều khi phải gạt những đống phân người sang một bên để lấy chỗ mà tắm rửa hay giặt giũ một cách tỉnh bơ! Chúng tôi từ chối đi định cư bên đất Úc, nên chắc chắn là sẽ phải nằm trong trại tỵ nạn rất lâu. Tôi định kế lâu dài nên ra sức đào một cái giếng ngay bên trong cái chòi của tôi để có nước tắm rửa và để dùng. Sau này tôi lại chịu khó mỗi ngày vác 30 thùng 25 lít nước từ bãi trước khu nhà tôi, để ra khu bãi sau đổi cho mấy quán café đặng lấy tiền mua thêm thực phẩm tươi cho gia đình. Mỗi thùng 25 lít nước như vậy tôi đổi được 1 đồng tiền Malaysia. Có bạn chọc giỡn là đã mất nước rồi, qua đây còn bán nước nữa hay sao? Tôi đâu có bán nước, tôi chỉ đổi nước lấy tiền nuôi vợ con thôi.
Vài tháng sau có thêm một số bạn thuộc khóa 20 cũng đến được như quan Nhan Thanh Toàn, Đoàn Hữu Lượng, Ngô Nguyên Trực… Các bạn này phải làm chòi trên núi để ở vì hết đất nơi dưới vùng đất bằng. Chiều chiều, các bạn hay xuống dưới chòi tôi để tắm và nói chuyện cho quên sầu đời. Sau này tôi cũng rủ và kéo thêm được Nhan Thanh Toàn cùng vác nước đi đổi lấy tiền làm kế sinh nhai chung với tôi. Sau gần 10 tháng ở trên đảo Bidong, gia đình tôi đã được gọi đi định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi được đưa sang ở thêm một tháng nữa trong khu nhà thờ tạm trú để làm thủ tục khám sức khoẻ và chờ đi đinh cư. Chúng tôi đã được một nhà thờ Tin Lành tại Rochester, New York bảo lãnh, và chúng tôi đã làm cư dân tại đây từ dạo đó cho đến ngày hôm nay.
73.- Phan Ngọc Long: Ngày 29 tháng 04 năm 1975 chúng tôi vẫn bị cấm trại 100%, CHT đi đâu mất tiêu, chẳng lệnh lạc gì cả! Tối đến khoảng 7 hay 8 giờ tối, cúp điện tối om, quân nhân HQ và người ta leo lên các chiến hạm. Bên ngoài cổng BTL/HQ dân chúng còn bu đông nghẹt. Các tàu chiến từ từ tháo dây và rời bến để “tránh pháo kích”, tôi hốt hoảng leo xuống một chiến hạm nằm trong vòng rào BTL, và ra đi theo tàu như trong một giấc mộng. Lên đảo Guam, gặp lại được vợ con do bạn Nguyễn Xuân Dục đem đi theo hộ. Xin cám ơn bạn Dục.
Chúng tôi ở trại tỵ nạn IndianTown Gap, Pensylvania. Nơi đây tôi gặp lại các bạn cùng khóa như Nguyễn Đăng Khúc, Đinh Minh Nhuận, Đinh văn Chính, Nguyễn văn Đệ, Lê Phụng, Đỗ Thanh Vẽ… Gia đình chúng tôi được bảo trợ về “định cư” trong một nông trại nhỏ ở vùng Danien Buffalo tại tiểu bang New York. Hàng ngày bà xã tôi phụ giúp bà chủ nhà lo dọn dẹp, nấu ăn, và làm những việc vặt vãnh trong nhà. Tôi theo ông chủ ra đồng làm việc. Công việc đồng áng, nhất là ở bên Mỹ này tôi không quen nên tối về thì chân tay rã rượi, hai lòng bàn tay sưng rộp lên. Trời vào lúc cuối mùa Hạ, đầu mùa Thu nên dài lê thê. Bốn giờ sáng đã thấy ánh mặt trời lên, đêm đến mười giờ vẫn còn ánh nắng! Nhà nông làm theo ánh nắng mặt trời mà không theo chế độ bấm thẻ. Chúng tôi làm một tuần, rồi hai tuần, rồi ba tuần cũng không thấy chủ nhà gọi lên nói chuyện tiền bạc! Tôi liên lạc được với một người bạn của ông anh rể định cư ở gần trại tỵ nạn IndianTown Gap. Ông ấy rủ tôi bỏ Danien Buffalo để về đó, xin vào một hãng dệt làm “ca” nhì như ông ấy. Tôi nghe bùi tai, bèn gởi vợ con ở lại với gia đình người bảo trợ, và theo xuống chỗ người quen, đi làm ca hai ở một hãng dệt. Ngày đầu tiên đi làm, cái đơn cũng không biết điền, gặp được ông bạn vàng cùng khóa Nguyễn văn Sáng. Tôi mừng quá tưởng vớ được chiếc “phao hướng dẫn” vì dầu sao ông ấy cũng biết rành tiếng anh tiếng u. Nhưng nghe xong những điều ông bạn vàng chỉ bảo, tôi đang hoang mang, và càng nghe những điều chỉ bảo thì càng thêm đâm hoảng hơn! Sợ quá đành phải bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo ấy mà tự lần mò lấy một mình.
Vài tháng sau tôi đã có đủ tiền để mướn được một cái apartment hai phòng trong khu bình dân tại tỉnh AllenTown-Pensylvania để đón vợ con xuống. Trời đã bắt đầu vào mùa Đông, lá trên cây đã rụng sạch, sáng sớm đi làm đã thấy thở ra hơi như khói, ban đêm đã phải mở sưởi. Tôi hàng ngày vẫn đạp chiếc xe đạp cọc cạch mua ở một tiệm bán đồ cũ đi làm. Buổi chiều khi đạp xe đi làm còn thấy đỡ khổ, nhưng khuya về thì thật là tội nghiệp. Trời lạnh căm căm, đường đi vắng ngắt, lâu lâu một chiếc xe hơi chạy vù qua làm giật cả mình. Những khi có sương mù đầy đặc, không thấy đường bị xập hố là đau xoắn đít. Đi qua những chỗ vắng vẻ, chỉ sợ mấy ông Mỹ đen say rượu uà ra làm khó dễ thì phiền, nên thường phải cong đít mà đạp cho lè lẹ. Tưởng đâu đã yên thân, không ngờ hãng dệt hết việc và cho nghỉ.
Để tránh tình trạng không có tiền đóng tiền nhà, tôi xoay ra đi làm liền cho một hãng chuyên môn đi đào đường để đặt ống nước hay làm đường! Tối về thì chân tay rã rượi, nằm trên giường mà không biết chân mình nằm ở nơi đâu, và tay mình nằm ở nơi nao nữa! Tiếng Anh của tôi dạo này đã bập bẹ được đôi chút. Tôi quyết định đi học lại vào ban ngày, và kiếm việc làm ban đêm. Nhờ căn bản ở VN, sau năm năm miệt mài, tôi học thi lại được bằng GED (Trung học tráng niên), và sau đó thì BSEE. Tuy bận rộn nhưng cuối tuần chúng tôi vẫn thường đón tiếp các bạn HC2 từ nơi khác ghé thăm. Khi thì các bạn Đệ, Khúc, Dũng từ Iowa, hay Chính, Lê Phụng ở gần ngay kế bên… Chúng tôi lai rai với những món nhậu tuy đơn sơ nghèo nàn nhưng đầy ắp tình thân.
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1981, tôi được nhận cho phỏng vấn tại một hãng ở vùng gần Los Angeles. Tới phi trường LAX, tôi lật sổ niên giám điện thoại tìm người quen. Bắt liên lạc được với bạn cùng khóa Ngô Bá Nhẫn. Bạn Nhẫn đã chở tôi đi thăm phố Bolsa lần đầu tiên. Hồi đó phố Bolsa cũng chưa được sầm uất cho lắm, nhưng tôi đã rất vui vì mình như một người nhà quê ra tỉnh, và nay vẫn không quên những kỷ niệm này. Tôi đã nhận làm việc với hãng Hughes, sau này đổi lại là Raytheon từ đó đến nay là 24 năm. Trong thời gian làm việc tôi phải di chuyển đi nhiều nơi như Los Angeles, Fresno (CA), Virginia-Washington DC, Dallas-Texas. Nơi đâu tôi cũng gặp lại được các bạn HC2, và tình thân không bao giờ phai mờ. Qua những chương trình hợp tác giữa các hãng xưởng với các đại học, tôi cũng hoàn tất xong được cái bằng MSEE. Tuy thế các con tôi vẫn chê tôi nói tiếng Anh nghe còn quá ngọng nghiụ.
Nhắc đến những khó khăn, bỉ cực, và những thành công thì phải nói đến những sự hy sinh của các bà vợ. Xin cám ơn bà Ngô thị Kim Liên, người vợ quá cố của tôi đã biết lo lắng cho gia đình trong suốt 31 năm, tạo dựng nên một mái gia đình với một nền tảng căn bản vững chắc. Các con gái Vân và Tiên đã tương đối thành công trên đường đời, và cháu trai Bảo đã xong phần trung học. Tôi cũng xin cám ơn bà Trần Thu Thủy, người vợ hiện tại của tôi đã lo lắng nâng đỡ tôi trong lúc tinh thần tôi bị kiệt quệ. Đã vun xới cho gia đình chúng tôi, hiểu biết, cảm thông và vui vẻ với các cháu gái, và đã chăm lo khuyến khích cho cháu Bảo thành công trong lãnh vực học vấn tại Virginia Tech.
Các bạn;
Qua 12 chương, 73 chuyện kể năm xưa của 23 bạn trong khóa 20, và hai chị Trần Tuấn Đức và Trần Đức Chấn mà các bạn vừa mới đọc qua, hẳn là các bạn đã thấy hình bóng của chính mình thấp thoáng đâu đó trong những câu chuyện. Nhân số của cả khóa 20 chúng ta có đến 267 người mà chỉ mới có 24 bạn và hai chị đóng góp vào những câu chuyện này thì thật có nên cho là quá ít ỏi chăng?
Không đâu, đó mới chỉ là khởi đầu những câu chuyện kể của chúng ta. Những chuyện kể này sẽ được cho vào trang nhà của Khóa 20, và chúng ta sẽ tiếp tục viết tiếp theo và đóng góp thêm vào. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ thấy đầy ắp những câu chuyện kỷ niệm của đời làm người đi biển của hầu hết các bạn cùng khóa 20, và những kỷ niệm đầy yêu thương của các chị nữa.
Mong lắm thay.
NguyễnvănĐệ.
(Trách nhiệm góp nhặt)
|
|