( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

 
Đại Hội 2006 :

Tâm tư gửi bạn
    CungVĩnhThành

Những HC2 rời đàn
    NguyễnXuânDục

Hồi ký 36 năm ra khơi
    AnhChịHuỳnhvănBảnh

Thoáng giấc mơ qua
    ChịNguyễnNgọcChâu

Bút ký đh2006
    AnhChịNguyễnPhúcVĩnhViễn

Thuyền lại bến xưa
    TônThấtCường

Cảm nghỉ về đh2006
    20 và thân hữu


Đặc San 2006 :

Trang bìa
    TrầnTuấnĐức
Giới thiệu
    CungVĩnhThành

Những chuyện kể năm xưa
    Gia đình 20

Hiệp định ngưng bắn Paris và ...
    TrầnĐìnhTriết

36 năm ra khơi
    Chị LêvănTài

Nhớ về khóa 20
    ĐặngNgọcKhảm

Hội trùng dương
    CungVĩnhThành

Nẻo đường Thi Sách
    NguyễnvănĐệ

Hội ngộ
    ViễnHuy

Hai chuyến đi
    LêvănChâu

PCE08
    NgôThiệnTánh

Ông thần râu kẽm
    LêvănThạnh

Triệu đóa hồng
    NguyễnÁnh

Vĩnh biệt Nguyễn H. Tâm
    LưuĐứcHuyến

Nhớ anh trong tù
    LêKimCúc

Nhớ em trong tù
    HuỳnhvănBảnh

Một kiếp hải hồ
    LêvănTài

Mây tháng tám
    NgôThiệnTánh

Nam vang đi dể khó về
    HuỳnhKimChiến

Biển chiều
    CungVĩnhThành

Đi tìm mẩu xương xườn thất lạc
    NguyễnvănHùng

Thu, vỏ ốc và chuyến tàu khuya
    ThânHữu

Thầm hỏi? Nổi niềm
    VõKimMai

Lá thư bâng quơ
    VõthịĐồngMinh

Lục bát biển
    NgôThiệnTánh

Kỷ niệm vui buồn trên HQ9610
    ĐặngNgọcKhảm

Tìm tự do
    LêKimCúc

Nổi trôi
    NguyễnvănVang

Bố và con
    QuỳnhChâu

Những mảnh đời cải tạo
    HuỳnhKimChiến

Chuyện đàn bà
    NguyễnvănHùng

Đêm ngồi nghe thác đổ
    NgôThiệnTánh

Trang nhà khóa 20
    LêvănChâu

Bạn tôi
    NguyễnvănChín

Vượt thoát
    NguyễnÁnh

Bàn nhảm về chử Nôm
    NguyễnvănHùng

Chúng tôi muốn sống
    NguyễnvănChín

Trang cuối
    TrầnTuấnĐức


những chuyện kể năm xưa



Các bạn thân mến;
Bao nhiêu năm tháng trôi qua, bao nhiêu đổi thay đã xẩy đến cho cuộc đời của chúng ta. Nhưng trong tâm tưởng chắc chưa một ai trong chúng ta đã quên đi được hình ảnh của những chàng trai mới lớn, ngoài hai mươi tuổi, mắt còn sáng, môi còn tươi, ngày nào từ giã bút nghiên, lên đường theo tiếng gọi của non sông đất nước.
Rồi những buồn vui, mưa nắng dãi dầu trong quân trường, những gian nan trong chiến trận. Người theo tàu chiến bồng bềnh với sóng nước đại dương, kẻ lặn lội vùng sông lạch với những chiến đỉnh nhiều khi kề bên nỗi chết. Trong số chúng ta cũng có những người đã hy sinh cho tổ quốc, những bạn đã vĩnh viễn giã từ chúng ta khi tuổi đời còn trong lứa thanh xuân!
Theo vận nước nổi trôi, chúng ta đã đành đoạn tan hàng rã ngũ. Kẻ theo hạm đội di tản, lận đận với cuộc mưu sinh nơi đất khách quê người. Người ở lại ngậm ngùi trói thân trong vòng tù tội oan kiên. Sau đó là cả một phong trào vượt biên, bất chấp mọi hiểm nguy. Trong đó những người thuộc Hải Quân chúng ta đã đóng góp những vai trò quan trọng.
Những trang kỷ niệm sau đây đã dành cho chính những người trong cuộc kể lại cho nhau nghe. Mỗi người một cảnh ngộ, mỗi người nhìn sự việc qua một góc độ riêng của mình. Nhưng tổng hợp lại chúng ta sẽ thấy một bức tranh sinh động về một giai đoạn thương khó trong cuộc đời chúng ta nói riêng, và trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung.
Xin thân mời các bạn cùng chia sẻ những hoài niệm sau đây.
Trân trọng,
Cung Vĩnh Thành.



Trong lớp Hán Văn vào những năm đầu thời trung học, chúng ta thường được học những câu “chữ nho”. Trong sách Luận Ngữ, Đức Khổng Phu Tử có nói về ngài bằng những câu:
                      Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học.
                      Tam thập nhi lập.
                      Tứ thập nhi bất hoặc.
                      Ngũ thập nhi tri thiên mệnh.
                      Lục thập nhi nhĩ thuận.
                      Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ.
                      Bát thập cổ lai hy.

(Ta lúc vào tuổi mười lăm chỉ chí thú vào việc học, ba mươi phải nên người, bốn mươi đã có lòng tự tin, năm mươi đã biết được mệnh trời, sáu mươi nói lên đã nghe thấy thuận tai, bẩy mươi thì tùy theo lòng mà muốn nhưng không ra ngoài phép tắc, ít người thọ tới tuổi tám mươi lắm! Chỉ xin dám hiểu loáng thoáng như vậy.)
Vào năm 2006 này, chúng ta cùng nhau kỷ niệm 36 năm ra khơi của gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp. Chúng ta đều đã và đang trải qua cái tuổi “tri thiên mệnh”, và một số bạn cũng đã ăn mừng tuổi thọ Sáu Mươi Năm Cuộc Đời!
Tập Hồi Ký này được khởi xướng ra trong những lần họp mặt để “Mừng ngày gặp nhau đều đều” ở miền Nam California. Đã có rất nhiều kỷ niệm được nhắc lại, và tiếp tục được lập lại trong những lần họp kế tiếp hay mỗi khi có đám cưới con cái của các quan trong khóa mà không biết chán! Vậy tại sao chúng ta không cùng nhau ghi lại những kỷ niệm đó để mỗi khi buồn tình thì nhớ đến những ngày xưa kiêu hùng hay gì gì đi nữa… và nhất là mừng vẫn còn nhớ lại những kỷ niệm của chính chúng mình. Chúng ta hồi tưởng những kỷ niệm cũ, và ghi lại theo thể ký những kỷ niệm trong đời quân ngũ. Bởi vì chúng ta đã xấp xỉ “sáu bó” hay hơn rồi, và chỉ còn một cái vèo của thời gian nữa là chúng ta sẽ trở thành một đám già nua, hom hem, lọm khọm, lẩm cẩm ngay! Hồi ký này là của tất cả chúng ta. Cùng một câu chuyện, cùng một biến cố nhưng qua nhiều cái nhìn khác nhau, và dưới góc độ, tầm nhìn của mỗi người, của nhiều người.
Vậy thì, sau đây chúng ta hãy cùng kể cho nhau nghe:

Chương 1: Nhập Ngũ

                      Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
                      Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
                      (Chinh Phụ Ngâm Khúc-Bà Đoàn Thị Điểm)
       Vào năm 1969, chúng ta gồm 270 chàng trai đến từ khắp mọi vùng trên đất nước đã khởi đầu trang sử cho Khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân/Việt Nam Cộng Hòa, mang tên Đệ Nhị Hổ Cáp. Chúng ta gia nhập Khóa 20 vì nhiều lý do, nhưng phần đông là đã trôi nổi trên một năm tại Đại Học, đa số là Đại Học Sài Gòn, và đông nhất là phân khoa Khoa Học. Do đó Khóa 20 SQHQ rất đa dạng và đa hiệu. Tổng cộng có 270 người nhập khóa, nhưng cuối cùng chỉ còn 267 người trở thành sĩ quan Hải Quân. Có rất nhiều ý kiến ý cò mỗi khi có chuyện gì cần bàn cãi, nhưng chúng ta không bị phân hóa bởi những bất đồng và khác biệt, có lẽ nhờ ở cái mẫu số chung là Đệ Nhị Hổ Cáp chăng? Xin mời quý bạn cùng nghe lại chuyện những ngày đầu đời đi làm lính chiến của chúng ta:


1.- Nguyễn Xuân Dục: Hơn ba mươi năm trước, vào năm 1969 tôi còn đang vui đùa với đời trai mới lớn, và còn hồn nhiên lãng đãng với tuổi thanh xuân. Sau khi tốt nghiệp ngành Hàng Không, và đang chờ được bổ nhiệm sở, một hôm chợt có tên bạn cũ là Ngô Nguyên Trực từ Đà Lạt xuống, ghé tìm và nhờ chở ra BTL/HQ để nộp đơn xin gia nhập khóa SQ/HQ.
Tôi đã chở hắn ra Trung Tâm Tuyển Mộ Hải Quân ở số 2 đường Thi Sách. Trực vào và mang ra hai tờ đơn, tôi đã điền thử xem sao, không ngờ hai đứa đều được nhận ngay! Về nhà tôi ém nhẹm đi chuyện nộp đơn vào Hải Quân, cho mãi đến hôm phải trình diện nhập trại; Trực đến và rủ tôi đi, Ba Má tôi mới biết! Mọi người trách tôi là ngu dại vì có biết bao nhiêu người muốn được như tôi mà không được, nay tôi lại đi đâm đầu vào làm lính. Tôi phải biện minh mãi, và cuối cùng thì mọi người đành phải chịu. Những ngày đầu trình diện, chúng tôi làm thủ tục giấy tờ, bị hớt tóc “ba phân”, lãnh quân trang quân dụng, và được hướng dẫn qua trại Bạch Đằng II.

2.- Mai Kim Phụng: Các bậc cha mẹ hồi xưa khi mới có con thì cầu cho chúng ăn no chóng lớn, đến khi chúng trưởng thành đến tuổi đi lính thì lại than là “làm sao mà thằng bé nó chóng lớn thế!” Thế là bố đi lính, con đi lính, và chỉ có mẹ là không phải đi lính thôi. Nghĩ mà thương các bậc làm cha mẹ, và các bà vợ thời chiến tranh. Trước khi đi lính tôi “học đại” ở Đại Học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học, và rất có nhiều triển vọng là sẽ được thuyên chuyển tới Đại Học Thủ Đức. Tôi bèn xin phép “ông bà già” để tình nguyện đi Không Quân, làm Pilot thì bị ông bà ấy “sỉ vả” cho một “mách”… thế là tôi lại tiếp tục “tụ” ở Khoa Học. Cho đến khi Hải Quân mở tiếp khóa huấn luyện sĩ quan cho những người trai thời loạn thích mộng hải hồ thì tôi xin tiếp, và ông bà ấy im lặng “không ý kiến” nên tôi đi nộp đơn ngay. Cùng đi nộp đơn với tôi là quan Mai Ngọc Oanh, chú em con ông chú, mặc dù nó đang theo học ở Đại Học Kiến Trúc.

3.- Nguyễn văn Hùng: Sau khi giựt được mảnh bằng Tú Tài II “có dán hình”, tôi xin lập lại là “Tú Tài II có dán hình” chứ không phải loại chép sao, hay vì bão lụt, hoặc vì chiến nạn… Thuở đó, những người con gái đẹp và nhà giầu, nhưng không biết có học giỏi hay không, thường truyền miệng nhau câu “Phi đẳng cấp, bất thành phu phụ!” nghĩa Nôm là mấy anh không bằng cấp thì đừng có hòng mà rớ đến bọn em. Tôi bèn đua đòi theo chúng bạn mà xuôi Nam, ghi tên theo học trường Đại Học Sài Gòn, Phân khoa Khoa Học, chứng chỉ MPC hay là Toán Lý Hóa. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn theo học ở đây, tôi biết ngay là mình đã đi lầm đường, đành phải phụ lòng cha mẹ, và các người đẹp Nha Thành. Tôi ghi tên gia nhập khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân.

4.- Trần Ken: Theo giấy khai sanh thì tôi sanh vào năm 1946, khai sụt mất 3 tuổi, khi cha mẹ tôi lập giấy Thế Vì Khai Sanh vào năm 1960, vì cha mẹ tôi muốn tôi tránh đi quân dịch.
Tôi đậu Tú Tài II năm 1967, và sau đó trúng tuyển vào Dược Khoa nhờ hai môn thi Anh Văn và Vạn Vật. Môn Anh Văn thì nhờ đã học qua nhiều lớp Anh văn ở Hội Việt Mỹ nên tương đối được điểm cao, còn môn Vạn Vật thì nhờ “trúng tủ” hai câu hỏi then chốt trong bài thi. Câu hỏi thứ nhất về “vi trùng truyền nhiễm” và câu hỏi thứ hai là về vấn đề “truyền giống”. Do đọc truyện “Người Vợ không bao giờ cưới” có đề cập về truyền nhiễm vi trùng bệnh phong cùi do An Khê viết, đăng trên báo Tiếng Chuông nên tôi đã tương đối hiểu biết về câu hỏi này mà trả lời trót lọt. Nhờ một tài liệu khoa học đã đọc được trước đó, và bài học trong cuốn “Toát yếu môn Vạn Vật” lớp Đệ Nhất ban A, nên tôi đã không thấy khó khăn trong câu trả lời về “truyền giống”. Tuy đã được đậu vào trường Dược, nhưng tôi lại không thấy thích hợp với môn học này vì nó đòi hỏi phải học thuộc lòng, và phải có trí nhớ tốt nhiều hơn là phải suy luận. Tôi vốn có khiếu về phân tích và suy luận, và đầu óc thì không khá về tổng hợp cũng như học thuộc lòng. Tôi đã như kẻ đứng giữa ngã ba đường vào lúc đó! Nhưng cuối cùng thì tôi cũng theo đuổi phân khoa Dược vì nghĩ rằng người ta đã phải tốn tiền hối lộ để được theo học ở đây mà mình đã được đậu, không phải tốn một “xu teng” nào, bỏ qua thì uổng quá! Tôi lại có một cái mộng lớn là sau khi thành tài thì hy vọng sẽ có thể phối hợp được giữa đông dược và tây dược.
Theo luật quân dịch vào năm 1967, sinh viên đại học được quyền học nhồi một năm nếu thi rớt mà không phải nhập ngũ vì quân dịch. Nên tôi tà tà xin đi dạy giờ thêm ở trường Tri Dụng, gần chợ An Đông để kiếm thêm tiền. Tôi muốn đỡ gánh nặng cho cha mẹ tôi, đã gởi tiền nuôi tôi ăn học trong suốt tám năm qua trọ học ở Sài Gòn, và vì nghĩ rằng nếu lỡ mà có thi rớt một năm thì cũng chẳng sao, học lại thêm một năm nữa thì thế nào cũng phải đậu mà thôi. Nhưng chẳng may cho tôi và các bạn thanh niên cùng một trang lứa đã sinh “bất phùng thời”, Cộng Sản VN phát động chiến dịch Tổng Công Kích Tết Mậu Thân! Lệnh Tổng Động Viên đã được ban hành sau đó, tất cả các nam sinh viên nếu không được lên lớp, đều phải trình diện để theo học các khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi phải quyết định dứt khoát là không đi dạy học nữa, dồn hết thì giờ để ôn luyện bài vở cho kỳ thi cuối khóa. Nhưng cuối cùng thì tôi vẫn không “qua khỏi cầu” được! Dược khoa đòi hỏi sinh viên phải học thuộc lòng các thành phần thuốc, và môn hóa học cũng đòi hỏi nhiều đến trí nhớ chứ không cần mấy đến suy luận nên rất thích hợp cho các người học ban A, chứ không hạp với những người thuộc ban B như tôi.
Tôi thuộc thành phần khóa 3/69 Thủ Đức, và hạn chót phải trình diện hình như là vào ngày 8 tháng 3 năm 69 thì phải (?) Tôi cũng đã trúng tuyển vào khóa 19 SVSQ/Hải Quân nhưng đã không trình diện đi khóa này vì vẫn kỳ vọng rằng sẽ còn có cách tránh bị động viên vào giờ phút chót. Ông Cậu ruột của tôi có đề nghị với ba má tôi là nếu muốn, ông ấy sẽ lo “xoay sở chạy chọt” cho tôi vào ngành Cảnh Sát như là con trai của ông ấy, nhưng không biết rõ là sẽ tốn hết bao nhiêu tiền! Vì không muốn cha mẹ tôi lại tốn thêm quá nhiều tiền cho tôi nữa, nên tôi đã không chịu; vào giờ chót tôi đành ghi danh xin gia nhập Khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân trước khi đến hạn kỳ phải trình diện Thủ Đức có mấy ngày. Thôi thì đành làm nhánh lục bình vậy:
                      Bông lục bình trắng, điên điển mầu vàng
                      Điên điển mọc ở đất làng
                      Lục bình trôi nổi như chàng Hải Quân.
                     
(Ca dao chế biến)

5.- Ngô Nguyên Trực: Đang theo học tại Đại Học Đà Lạt, khoa Chính Trị Kinh Doanh, sau vụ Tổng Công Kích hồi Tết Mậu Thân của VC, tôi bị đâm ra “dư tuổi” để được hoãn dịch vì lý do học vấn! Thấy chương trình quảng cáo tuyển mộ SQHQ trên đài phát thanh hay truyền hình, tôi về Sài Gòn và nộp đơn xin gia nhập khóa 20 SQHQ. Tôi ghé nhờ một tên bạn học cũ ở trường trung học Võ Trường Toản là Nguyễn Xuân Dục chở đi nộp đơn, rốt cuộc rồi hắn cũng theo tôi gia nhập HQ luôn!

6.- Nguyễn văn Đệ: Tôi đã được quan Đỗ Ngọc Viêm, ông anh họ của tôi, rủ rê nộp đơn xin theo học Hải Quân khi đã có triển vọng phải nhập ngũ khóa 6/69 Thủ Đức. Di cư năm 1954, tôi theo gia đình của bà cô ruột vào Sài Gòn một mình. Cha mẹ và các anh chị em tôi không đi thoát hay đã chọn phương cách ở lại. Trong tâm tư, tôi đã luôn lo sợ bị vướng vào tình cảnh anh em ruột ở hai bên giới tuyến khác biệt, và bắn giết nhau một cách vô tình và vô nghĩa! Tôi gia nhập Hải Quân vì đó là một phương thức tương đối có một xác suất đỡ rủi ro vướng vào hoàn cảnh anh em ruột chúng tôi trực diện bắn giết nhau nhất.
Thế là hai anh em chúng tôi nộp đơn, những tưởng lại phải thi cử để chen chân vào, nhưng bất ngờ Hải Quân họ nhận hết ráo trọi bất kỳ cao quá khổ như quan Nguyễn Hải hay Nguyễn Hoàng Liêm, “mem mém” thiếu thước tấc như quan Vũ Lùn hay HTDzân, mập mạp như quan Hai Néo, đen đủi như Khanh Xi-ra hay Sơn Đen, cổ rụt như Dzũng Rùa, “già nua” như NVXuân Già hay ĐHTrí Già, lạch bạch như HLVịt (xin mở một dấu ngoặc ở đây, quan Hồ Ái Việt không có lạch bạch một “tí ti ông cụ” nào mà còn nhẩy Tango và Valse hết sức là lả lướt, nhưng vì tên “Vịt” mà các bạn đặt cho anh thấy có vẻ gợi hình như cái dáng đi lạch bà lạch bạch của chú vịt. Cũng như trường hợp ông bạn cùng chung một tiểu đội với tôi từ thuở quân sự học đường là quan Võ văn Hai ở trên! Tôi chỉ xin nêu lên đây một vài thí dụ để qúy bạn nhớ lại thuở xa xưa mà thôi), nghe nói có bạn tú tài ban A, hình như có cả tú tài ban C nữa (?), và Hải Quân thường chỉ dành ưu tiên cho những người có bằng tú tài ban B. Lúc bấy giờ Hải-quân nhận “tuốt tuột” như vậy có lẽ vì đã làm trai ở trong trời đất thì mọi người trai Việt Nam đều đã được hun đúc bởi những bài học:
                      Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái,
                      Cái công danh là cái nợ nần,
                      Nặng nề thay hai chữ quân thần,
                      Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ.
                     
(Nợ Nam Nhi - Nguyễn Công Trứ)

7.- Phan Ngọc Long: Tôi chào đời năm 1946 tại Nam Định, di cư vào Nam năm 1954 và trên vai không quên vác theo cọng rau muống. Đang theo học tại Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, ban Công Chánh, tôi yêu mộng hải hồ nên một hôm đẹp trời tự nhiên nổi hứng, bèn “xếp bút nghiên theo việc kéo neo”. Gia nhập khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân vì sự mong muốn, nhất định, và tự lựa chọn, không vì “quân dịch quân giếc” chi cả.
Các bạn HC2 đầu tiên tôi gặp và chơi chung tại Bạch Đằng II là quan Heo Dầu Nguyễn Xuân Dục, Phạn Xá Nguyễn văn Đệ, Ngô Nguyên Trực Đà Lạt, và Nguyễn Hữu Hải (đã giã từ HC2 trong thời gian bị huấn nhục tại Nha Trang.)

8.- Mai Kim Phụng: Tôi tuy trông ốm yếu gầy còm nhưng khi khám sức khỏe thì “qua cầu một cái vèo.” Một vài người có hỏi nhỏ tôi là hồi sáng ăn cái gì mà cân nặng đủ ký thế? Tôi nói là chỉ mới có độc một ly cà phê uống vội thôi, các vị ấy nghe thấy vậy thì bỏ đi “nước một” vì tưởng là tôi đã …giấu nghề!

Chương 2: Bạch Đằng II

       Trong tháng Ba và Tư năm 1969, chúng ta trình diện BTL/HQ để được chính thức trở thành những sinh viên sĩ quan Hải Quân Khóa 20. Tất cả đều tạm trú tại trại Bạch Đằng II, và trên tạm trú nổi HQ 9600 cặp bến ngay tại cầu C, nằm phía trước cổng trại BĐ II. Thượng Sĩ Nhất Quản Nội Trưởng Thinh và Trung Úy Nghiệp là những người đầu tiên đã chỉ huy chúng ta.

9.- Nguyễn Xuân Dục: Ngày đầu trình diện, chúng tôi làm thủ tục giấy tờ, lãnh quân trang rồi được đưa qua trại Bạch Đằng II. Qua đến đây, chúng tôi thấy có khoảng bốn trung đội đang đứng so hàng thẳng lối dưới sự điều động của Nguyễn Hùng Tâm. Chúng tôi gồm có Ngô Nguyên Trực, Nguyễn Minh Cảnh, Ngô Viết Hùng, Tô Ngọc Diệp, Phan Ngọc Long, Tôn Long Thạnh, Trương văn Hiếu, Lưu Ngọc Quang, tôi và Nguyễn Hữu Hải (đã đào ngũ ngay khi đi bờ lần đầu tiên ở Nha Trang để gia nhập Cảnh Sát) thành một tiểu đội riêng biệt, và NNTrực làm trưởng toán. Khi các bạn khác tuần tự trình diện thì quân số của chúng tôi tăng lên đến đủ số cho một trung đội, và chúng tôi thành Trung Đội “Fulro” vì đứng biệt lập. Sau nữa thì các bạn Tô Ngọc Điệp và Nguyễn Minh Cảnh đã được tách ra coi những trung đội mới khi có thêm quân số.
Trong lúc chờ đợi để nhập khóa, hàng ngày chúng tôi sau buổi tập họp điểm danh vào buổi sáng thường được chia nhau đi bờ tùy theo phân đội. Phân đội Tả gồm các trung đội 2, 4, 6 và phân đội Hữu gồm có các trung đội 1, 3, 5. Vì thời gian chờ đợi quá ư rảnh rỗi, nên chúng tôi thường đi chơi chung với nhau thành từng nhóm. Nhóm chúng tôi thường đi chơi chung với nhau gồm có Ngô Nguyên Trực, Lưu Ngọc Quang, Phan Ngọc Long, Lưu An Huê, Nguyễn Hữu Hải, Tôn Long Thạnh, Nguyễn văn Đệ, Huỳnh Hữu Lành và Nguyễn Xuân Dục. Chúng tôi la cà hầu hết các tiệm kem tại trung tâm Sài Gòn, khi thì rạp ciné Eden, khi thì sở thú… Sau đó HHLành có bạn gái nên phải túc trực thường xuyên tại quán bán vải nên không còn đi chơi chung nữa.
Tôi vẫn còn nhớ vào một buổi chiều khi không còn chỗ nào đi chơi nữa, và tài chánh cũng không còn, tôi bèn rủ cả bọn ghé vào nhà một người quen trên đường Trần Hưng Đạo. Chúng tôi được tiếp đón nồng hậu, và chuyện trò vui như ngày Tết với cô con gái chủ nhà, tuy cô ta mới mười sáu “trăng tròn lẻ” hay mười bẩy tuổi “bẻ gẫy sừng trâu” nhưng duyên dáng và rất khéo léo gợi chuyện. Sau hôm đó thì bỗng thấy bạn PNLong có vẻ như mất hồn:
                      Trúc với mai, mai về nhớ trúc,
                      Trúc ra về, trúc nhớ mai không?
                     
(Ca Dao)
Sau cùng thì PNLong đã “thú tội” là cô bé con chủ nhà đã làm anh ta ngây ngất vì “nàng” có dáng đi, tiếng nói, giọng cười giống “y chang người yêu cũ” của mình. Sau đó thì chuyện gì phải đến đã đến, tôi và NNTrực đã trở thành những con thoi đưa thư cho “đôi trẻ”. Cũng vì đôi trẻ này mà sau này tôi đã thành “người tù” đầu tiên của Khóa 20 tại quân trường Nha Trang.

10.- Mai Kim Phụng: Khi đi trình diện ở Bạch Đằng II xong thì tôi cũng chả được cấp phát quân phục gì cả nên cuối tuần… “về phép” chẳng có một ai tin là mình đã đi lính rồi! Không biết lệnh lạc từ đâu đến mà tôi nghe nói ai mà không có quân phục mầu vàng thì không được chuyển ra Tạm Trú Hạm. Tôi tuân lệnh… “đàn anh” răm rắp nên cho đến giờ phút này cũng vẫn chưa được biết là cái nếp sống ở Tạm Trú Hạm nó ra làm sao nữa! Vô Bạch Đằng II được vài ngày thì quan Nguyễn văn Yên “Bột” cũng nhập trại. Sở dĩ tôi chú ý đến hắn là vì chỉ thấy hắn đi ăn rồi nằm “thuỗn” người ra, mấy chú rệp hoạt động du kích tích cực gần bên mà hắn cũng cứ tỉnh bơ coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, rất là hòa bình.

11.- Trần Ken: Trong thời gian tạm trú ở Bạch Đằng II, chúng tôi khá rảnh rỗi, chỉ phải làm tạp dịch lai rai thôi nên đã có khá nhiều thời gian rong chơi “Đi Bờ”. Trong Khóa chúng tôi có cả thẩy bốn anh mang tên Lộc, nhưng riêng anh TMLộc thì quá thành công trong chuyện bồ bịch, và nhất là chăn bắt “bò lạc”, vì vậy anh đã có biệt danh là “Lộc Bò Lạc” để phân biệt với những anh Lộc khác. Có một dạo tôi đã “thèm” để được “giỏi” như anh TMLộc. Tình cảnh Anh Lộc BL đúng như là:
                      Sáng về con Hai nó cắt
                      Con Ba nó đột
                      Con Tư nó lược
                      Con Năm nó viền
                      Con Sáu nó kết nút
                      Con Bẩy nó đơm khuy
                      Sáng ngày ra anh vừa mới cất bước ra đi
                      Con Tám nó kéo
                      Con Chín nó trì
                      Mười ơi để vậy còn gì áo anh.
                     
(Ca dao)
Riêng tôi thì thường đi chơi chung với bạn Lê văn Thảnh và Đàm Thanh Tâm. Hai bạn LVThảnh và ĐTTâm có bạn gái làm y tá ở Tân Định, và hình như chị LVThảnh là người đẹp y tá từ dạo ấy thì phải. Anh Đàm Thanh Tâm cũng là một tay chơi volleyball có hạng trong khóa chúng tôi.

Chương 3: TrungTâm Huấn Luyện Quang Trung

       Vào khoảng đầu tháng 05 năm 1969, Khóa 20 được đưa lên TTHL Quang Trung để học khóa Căn Bản Quân Sự. Được chia ra làm 2 Đại-đội (?) thuộc Tiểu-đoàn Trần Bình Trọng, mang bảng tên mầu đỏ, chúng ta đã được huấn luyện và thực tập như một người lính Bộ Binh. Cũng có đi bãi, cũng có tập bắn, và nhất là cũng có “chà láng” những công sự phòng thủ chung quanh doanh trại, tuy không được say mê và hăng hái như những người bạn Bộ Binh. Ba tháng quân trường, chúng ta chia nhau từng miếng thịt, quả trứng kho, hay tí muối mè trên những bãi tập. Những tấm hình chụp làm kiểng để kỷ niệm làm cho chúng ta gần nhau hơn. Những buổi thăm viếng chia sẻ cho nhau những miếng bánh, cái kẹo làm cho chúng ta cảm thông với nhau nhiều hơn.
12.- Mai Kim Phụng: Hồi thụ huấn ở Quang Trung thì có ông sĩ quan cán bộ đi theo là chuẩn úy CB tên Rượi, đã từng học chung một lớp với tôi ngày xưa nên dùng tôi làm liên lạc viên, và ngủ chung cùng một bunker. Tuy thế cũng hơi khó nói chuyện, nên ngày hôm sau tôi đã xin ra “tiền đồn” cho nó vui hơn. Ngày đầu “đi kích đêm”, chúng tôi đã chọn được một chỗ coi có vẻ bằng phẳng mà cắm lều. Thật là không may cho bọn chúng tôi vì nơi ấy là chỗ trũng nước, và đêm hôm đó thì mưa to nên lều của chúng tôi bị ngập nước, và chúng tôi đành phải ngủ ngồi cho qua đêm! Lần sau thì có “kinh nghiệm” hơn, nên chúng tôi đã chọn một cái gò cao để cắm lều. Đêm hôm đó cả bọn chúng tôi chỉ có một thế nằm duy nhất là nằm sấp mà thôi, nằm ngửa hay nằm nghiêng đều không được vì mặt đất chỗ dựng lều nó cong vòng.

13.- Nguyễn văn Đệ: Lên TTHL/Quang Trung, tôi tiếp tục làm thư ký Đại Đội cùng Trần Đông Phước. Chúng tôi lè phè chia nhau ở nhà với danh nghĩa “trực đại đội” mà không phải đi bãi nhiều như các anh em cùng khóa. TĐPhước người miền Nam, hiền lành và ít nói, nhưng tán đào thì đáng làm sư phụ của tôi. Tôi không hiểu anh “thả dê” như thế nào mà mấy em bán nước ngọt tại đó mê anh như điếu đổ! Tôi được “ăn ké” chè đậu xanh và đậu đỏ bánh lọt thường xuyên. Hôm nào đi gác đêm bên đài phát tuyến là anh lại rủ tôi chui vào nhà một quan chức trong khu, nơi có mấy cô con gái xinh thật là xinh để xin ngủ nhờ trong nhà thay vì phải chăng lều ngủ ngoài tuyến gác.
Nếu tôi nhớ không lầm thì Nguyễn Hải là người đầu tiên đã “diện” đồ tím đi bờ. Với bộ đồ tím HQ, gắn lon Alpha và mũ mão với những đường giây kim nhũ vàng chóe, làm cho mấy anh bộ binh đứng gác cổng hoảng hốt bồng súng lên chào “rùm rụp”, mà chẳng dám hỏi giấy phép xuất trại của “quan” chi cả. Với hệ thống tự chỉ huy, các svsq thay nhau làm sinh viên trực để điều động hàng quân, báo cáo quân số, và những sinh hoạt trong ngày… Quan Vũ Huy Tự hay “cụ Tự”, một người hiền lành và trông rất đạo mạo. Hôm anh làm SVSQ trực, khi điều động hàng quân anh đã hô khẩu lệnh “thao R_I_Ễ_N …nghỉ” với giọng nói “ngọng” đặc rệt của miền quê thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Mọi người cười lên ầm ỹ, nhưng anh vẫn tiếp tục những khẩu lệnh phải làm mặc cho ai cười thì cười. Qua trận cười đó thì chúng tôi tuân lệnh anh răm rắp vì thấy anh nghiêm chỉnh quá.


( Xin xem tiếp chương 4,5,6 )