Mục Lục :
|
Món ăn Huế dưới góc độ y dược học
Món bún Huế.
Các món ăn của Huế, từ món “bát trân” chốn cung đình cho đến canh rau “tập tàng” trong giới bình dân, đều phảng phất mùi vị và hình bóng của các cây thuốc. Người Huế đã biết kết hợp các cây thuốc trong những món ăn hằng ngày một cách khá nhuần nhuyễn và khoa học.
Người xưa lập luận: từ ngũ hành sẽ có ngũ vị (cay, chua, đắng, mặn, ngọt), ngũ sắc (trắng, đen, xanh, đỏ, vàng); chúng liên quan đến hoạt động của ngũ tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận) của con người. Vì vậy, món ăn nào cân bằng được âm dương ngũ hành thì sẽ điều hòa được lục phủ ngũ tạng, từ đó giúp phòng tránh và điều trị được các bệnh tật. Các nhà nghiên cứu đã xem xét dược tính của một số món ăn đặc thù vùng Huế và nhận thấy chúng đã vận dụng khéo léo và nhuần nhuyễn quy luật âm dương, ngũ hành, kết hợp một cách khoa học các thực phẩm có tác dụng dược lý khác nhau.
Các món chè
Đậu quyên: Contal ania assamica Benth, điều trị đau thần kinh tọa cơ năng, thấp khớp, đau lưng, đau nhức thần kinh...
Đậu ván (bạch biển đậu, bạch đậu): Lablab vulgaris Sav L, bổ tỳ, giải độc, điều trị rối loạn tiêu hóa, hạ khí...
Hạt sen: Nelumbo nucifera Gaertn, điều trị di tinh, mộng tinh, tim hồi hộp, tiêu nhiều, mất ngủ...
Hoàng tinh (bình tinh, củ cây cơm nếp): Polygonatum kingianum Coll và Hemol, bổ phổi, giải nhiệt, kích thích thể dịch, bồi dưỡng cơ thể...
Khoai mài (hoài sơn, củ mài): Dioscorea Persimilis Prain và Burk, điều trị suy nhược cơ thể, ho, tiêu nhiều, di tinh, bệnh đường ruột...
Nhãn lồng (long nhãn): Euphorialongana Lamk, điều trị thần kinh suy nhược, mất ngủ, hoảng hốt...
Canh rau tập tàng
Món này được chế biến từ các loại rau hoang dại mọc quanh năm ở vùng Huế, gồm:
Cúc tần ô (cải cúc): Crysanthemum coronarium L, chứa tinh dầu thơm, nhiều vitamin A, B và C, có tác dụng điều trị ho, đau mắt, nhức đầu mãn tính.
Lá dâu tằm: Morus alba L., chứa caroten, vitamin C, cholin, adenin, chữa cảm sốt, cảm cúm, trị ho, an thần, bổ dưỡng, chống lão suy.
Lá lốt: Piper lolot, tên thuốc Đông y là Tất bát, tính ấm, vị cay, mùi thơm đặc biệt, có tác dụng điều trị phong thấp, nôn mửa, đầy hơi, tiêu chảy do lạnh. Trong lá lốt có nhiều tinh dầu tạo nên hương vị thơm ngon của bát canh rau tập tàng.
Lá mồng tơi: Brasella rubsa L, chứa nhiều vitamin A3, B3, sắt, saponin. Rau mồng tơi đỏ hay mồng tơi tía đều có tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu và nhuận tràng, điều trị đỏ mắt và viêm nhiễm.
Lá sung (lá sân): Zanthoxylum nitiolum, có nhiều tinh dầu, vị cay, có tác dụng điều trị nôn mửa, đầy hơi, đau bụng do lạnh, làm tăng hương vị cho món canh.
Lá vông nem: Erythrina india Lamk, tên thuốc là Hải đồng bì. Lá chứa alkaloid và erythrine, có tác dụng an thần, gây ngủ, sát trùng, nhuận tràng, lợi tiểu, chống dị ứng.
Rau ngót (bồ ngót): Sauropus androgynus Lour. Merr, có nhiều vitamin, muối khoáng, lipid và glucid. Tỷ lệ protid trong rau tương đương với một số loại đậu giàu đạm.
Rau má: Centella asiatica. Urb., vị ngọt, hơi đắng, tính bình; có tác dụng giải độc, giải nhiệt, thông tiểu, lợi sữa. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rau má còn có tác dụng chữa bệnh về gan và phổi.
Rau sam: Portulaca oleraceae L., chứa vitamin A, B, C, PP, glucosid, saponin, glucid, caroten, sắt, canxi. Rau sam có tác dụng kháng sinh, ức chế trực trùng E.coli, lỵ và thương hàn.
Rau khoai lang: Ipomea batatas L., có tác dụng nhuận tràng do chứa nhiều chất tẩy. Trong ngọn non dây khoai lang đỏ có một chất gần giống insulin, có khả năng điều trị bệnh đái tháo đường.
Lá bát bát trâu: Tricosanthes cucumerina L., có tác dụng nhuận tràng, kích thích tiêu hóa.
Chỉ cần 5-7 loại rau nói trên là đã đủ để có món canh; có thể kết hợp với nấm tràm, quả mướp ngọt... để làm tăng hương vị và tính bổ dưỡng.
Rau sống
Bạc hà: Mentha arvensis L., trị cảm sốt, ăn uống khó tiêu, ho, viêm nhiễm đường hô hấp trên, sát trùng da và niêm mạc.
Tía tô: Perilla frrutescens L. Breit, phòng chống cảm cúm, ăn uống khó tiêu, ngộ độc thức ăn, chữa ho, nôn mửa do ăn phải thức ăn mát lạnh.
Diếp cá: Houttuynia cordata Thunb, giải nhiệt, hạ sốt, trị lòi dom, đỏ mắt, viêm họng, khử mùi tanh.
Rau cải: Brassica juncea L., tiêu đàm, trị ho, chữa đầy bụng.
Rau mùi (ngò): Corian drum sativum L., vị cay, tính ôn, có tác dụng kích thích tiêu hóa, long đàm, tăng tiết sữa.
Chuối chát (chuối sứ, chuối hột): Musa brrachycarpa Back., kích thích tiêu hóa, trị bệnh đường ruột, phòng chống tiêu chảy.
Vả: Ficus roxburghii, Wall, kích thích tiêu hóa, phòng chống tiêu chảy.
Rau quế (húng quế): Ocimum basilicum L, chữa cảm sốt, giúp ra mồ hôi, ăn uống không tiêu, đau dạ dày, đau răng, thông tiểu tiện.
Khế: Averrhoa carambola L, vị chua và ngọt, tính bình, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, làm tiết nước bọt, trừ phong thấp, giảm đau, hạ sốt.
Rau răm: Polygonum odoratum Lour, kích thích tiêu hóa, chữa no hơi, đầy bụng, lợi tiểu, chống nôn.
Các món ăn trong ngày Tết Đoan Ngọ
Theo tập quán, người Huế thường làm thịt vịt, chè kê, bánh ú tro... trong dịp Tết Đoan Ngọ. Đây cũng là những món ăn rất có ý nghĩa về phương diện y dược học.
Thật vậy, theo triết lý y học Đông phương, trong ngày Tết Đoan Ngọ, hỏa khí (thuộc dương) của trời đất và trong cơ thể của con người đều lên đến tột bực. Muốn cân bằng âm dương để phòng tránh bệnh tật thì nên ăn thịt vịt vì vịt thuộc âm, tính mát. (theo lý luận âm dương thì thân mình vịt thấp lè tè, đi lại chậm chạp, sống dưới bùn nước nhiều hơn trên cạn nên thịt vịt có tác dụng bổ âm rất tốt).
Tháng 5 âm lịch là tháng Ngọ, thuộc hỏa, phương nam nên nằm vào quẻ Ly: “Ngoại thiệt trung không” (ngoài tuy rất nóng mà trong lại lạnh). Vì thế, khi làm món thịt vịt, phải xát kỹ với rượu gừng và ăn với nước chấm gừng để giúp chống lại cái lạnh bên trong cơ thể.
Món chè kê giúp bổ tỳ dương, góp phần bồi bổ cho những người tỳ vị hư hàn hoặc mạng môn hỏa suy kiệt do dùng nhiều món ăn, thức uống mát lạnh trong mùa viêm nhiệt. Theo lý luận của y học phương Đông, hạt kê nhỏ nên chứa nhiều năng lượng hơn các loại ngũ cốc khác, có tác dụng mạnh với tỳ vị.
Bánh ú tro làm bằng gạo nếp, có nhiều glucid và lipid hơn gạo tẻ. Khi chế biến, bánh lại được ngâm trong nước tro bếp nên làm gia tăng lượng kali, vừa có tác dụng lợi tiểu vừa góp phần làm mạnh cơ tim Theo thuyết âm dương ngũ hành, tim thuộc hỏa nên dễ bị ảnh hưởng của khí hậu nóng nực và suy yếu. Vì vậy, dùng bánh ú tro trong dịp Tết Đoan Ngọ là rất phù hợp.
Các nguyên liệu trong những món ăn kể trên được kết hợp rất khéo. Chỉ qua món rau sống, chuối chát ăn với thịt lợn luộc, ta cũng nhận thấy đầy đủ ngũ vị: cay (bạc hà), chua (khế), đắng (chuối chát), mặn (nước mắm), ngọt (vả). Các món chè cũng đầy đủ ngũ sắc: đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh, kê (vàng), đậu ván (trắng). Do đó, chúng đều có đủ điều kiện để đi vào lục phủ, ngũ tạng
.
Cháo thịt nạc - Món ăn dễ tiêu, mát, hợp với mùa hè
Cháo thịt nạc là món ăn mát, bổ dưỡng, ngon miệng, tốt với người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, nhất là những người mệt mỏi.
Nguyên liệu: gạo tẻ 200g, gạo nếp 100g, thịt nạc thăn (lợn) 200g, xương lợn 500g. Hành hoa, tử tô, gia vị, tiêu bột,v.v.
Cách chế biến:
Xương lợn rửa sạch, chặt thành miếng nhỏ cho nước vào hầm kỹ lấy nước nấu cháo. Nhớ vớt bỏ bọt khi hầm. Gạo tẻ và nếp trộn lẫn vo sạch để ráo nước. Dùng nước hầm xương để nguội đổ gạo vào nấu cháo - lượng nước vừa đủ. Thịt nạc thăn thái mỏng từng miếng, ướp gia vị như hành, tử tô, thái nhỏ. Khi nồi cháo nhừ sánh thì cho thịt ướp vào quấy đều, nêm mắm vừa ăn, đun thêm 15 phút nữa mới cho hành và tử tô vào trộn đều bắc ra - ăn nóng. Múc ra bát rắc hạt tiêu cho thơm.
Đây là món ăn vừa mát, bổ dưỡng, ngon miệng, mọi người cùng ăn trong ngày hè, tốt với người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, nhất là những người mệt mỏi.
Theo đông y, gạo tẻ có vị ngọt, tính mát, có khả năng điều hòa được tì vị, làm bổ dưỡng thân thể, trừ phiền não, dứt được nóng nảy, làm sạch mồ hôi, ngưng được cơn khát, lợi tiểu... với gạo nếp có vị ngọt, tính ấm, chất dẻo, mùi thơm, làm mạnh phổi, khỏe tì, có tác dụng chữa trị các chứng ra mồ hôi trộm, vã mồ hôi, yếu dạ, viêm dạ dày,v.v. Còn thịt lợn tính lạnh, vị mặn, ăn được phủ tạng bồi bổ kinh lạc, giàu dinh dưỡng chủ yếu là prôtêin, các amin, vitamin và khoáng chất đặc biệt là nước xương lợn hầm kỹ dùng nấu cháo. Còn có tác dụng chữa đau nhức xương, bồi bổ can xi....
Các phụ liệu, gia vị cũng tăng cường hiệp đồng tác dụng như giúp tiêu hóa. Hành có vị cay, tính ấm, thông dương, lợi khí, chữa cảm mạo... Tử tô vị cay, tính ấm, đi vào kinh phế, tâm, làm ra mồ hôi, hạ khí, tiêu đờm, chữa đầy bụng,v.v. Hồ tiêu cũng kích thích tiêu hóa...
.
Hành củ ngừa ung thư đường ruột
Hành củ giúp ngăn ngừa ung thư đường ruột.
Ung thư đường ruột là căn bệnh phổ biến song cũng dễ phòng tránh. Các nhà khoa học vừa cho hay, một chế độ dinh dưỡng "xanh" gồm các loại rau quả tươi - đặc biệt là táo, cần tây, súp lơ xanh và hành - sẽ giúp bảo vệ tổ chức tiêu hóa hiệu quả.
Viện nghiên cứu thực phẩm Anh vừa tổng hợp các công trình nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của chế độ dinh dưỡng hằng ngày. Chỉ riêng năm 2000, trong khoảng 10 triệu bệnh nhân ung thư trên thế giới thì có tới 2,3 triệu bị tổn thương ở các bộ phận tiêu hóa, họng, thực quản và dạ dày. Người ta nhận thấy chúng không hoàn toàn do biến đổi gene gây nên, và có thể được cải thiện nhờ một chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Về cơ bản, thành ruột được lót một lớp tế bào biểu mô có màng nhầy bao phủ. Lớp biểu mô này chính là thành phần đầu tiên tiếp xúc với thức ăn thô, vi khuẩn và bất kỳ thứ gì được đưa vào tiêu hóa trong cơ thể, do đó chịu sức ép lớn nhất và cũng dễ bị biến đổi theo thời gian. Thêm vào đó, lớp biểu mô lại thường xuyên được tái tạo bằng những tế bào gốc có khả năng phân chia nhanh chóng. Đây chính là những thành tố kích thích sự phát triển polyp. Thường các polyp ở dạng lành tính, song có thể mang nhiều biến đổi gene dẫn đến ung thư.
"Ung thư ruột kết và trực tràng là những dạng tổn thương tổ chức tiêu hóa phổ biến nhất trên thế giới " - giáo sư Ian Johnson, Giám đốc Trung tâm sức khỏe dạ dày, ruột của viện cho biết - "Chúng có thể coi là "căn bệnh của nhà giàu" vì phần lớn ca bệnh tập trung ở các quốc gia phát triển. Khoảng 80% nguyên nhân gây bệnh liên quan đến chế độ dinh dưỡng".
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy các chất xơ, axit folic và axit béo không sinh cholesterol, nhóm chất thực vật flavonoid và các sản phẩm lên men đường ruột như butyrate có thể giúp phòng chống ung thư đường ruột.
Các enzyme COX-2, nhóm men giúp tế bào lỗi tiếp tục phát triển, có thể bị chất quercetin thuộc nhóm flavonoid trong hành củ, táo và trà ức chế. Những chất bổ trợ enzyme giải độc được tìm thấy trong cây mùi tây, actisô, húng quế và cần tây... giúp liên kết hiệu quả các thành phần hữu ích trong rau họ cải bắp như súp lơ xanh, bắp cải. Những men này có khả năng tiêu diệt các tế bào biểu mô bị tổn thương gene.
Tóm lại, chế độ dinh dưỡng là một công cụ hữu hiệu, có thể can thiệp vào nhiều giai đoạn phát triển ung thư. Lời khuyên đáng tin cậy ở đây là ăn 5 bữa hoa quả mỗi ngày và kiểm soát trọng lượng hợp lý
.
Những chất giúp đàn ông 'khỏe' hơn
Nhân sâm giúp tăng cường sinh lực.
Các quý ông khi gặp nhau thường nhỏ to: “Còn khỏe không?” và tỏ ra lo ngại cái ngày không còn khỏe nữa. Họ cũng hay quấy rầy các bác sĩ bằng câu hỏi “có thuốc không?”. Câu trả lời là có; không ít chất giúp làm khỏe một cách tự nhiên mà ít gây độc hại cho cơ thể.
Trong phim Trực thăng cứu hộ, có một cảnh khá vui: Nhận tin cấp cứu cho một người đột quỵ trên cao ốc, đội trực thăng cứu hộ vội đến ngay. Nạn nhân là một cụ già khoảng 70 tuổi. Cụ thều thào cho biết vì sắp đi thăm bạn gái và muốn chắc ăn nên đã làm luôn 2 viên Viagra. Kết quả là không gặp được bạn gái mà gặp ngay trực thăng cứu nạn. Vì thế, muốn “khỏe”, bạn phải nhìn lại mình.
Nếu người gầy yếu mà “chuyện ấy” khỏe thì đó là do trời đãi. Vốn trời cho thì cứ tận hưởng, nhưng đừng lạm dụng vì thuốc bổ mà quá liều cũng dễ dẫn đến... bổ ngửa (ngã ngửa). Nếu người khỏe mà “chuyện ấy” yếu, có thể dùng Viagra hoặc thuốc khác theo chỉ định của bác sĩ để “khỏe” trong những thời điểm cần thiết. Các thuốc nhóm này thường chống chỉ định với người đang dùng thuốc nhóm nitro (chống đau thắt ngực). Cần có các xét nghiệm trước khi dùng thuốc để đánh giá chức năng tim mạch ở bệnh nhân.
Nếu người gầy yếu và “chuyện ấy” cũng yếu theo, không nên dùng các thuốc trợ dương nhân tạo như viagra. Bạn hãy tưởng tượng, nếu gắn máy xe Dream lên sườn xe đạp thì sẽ nguy hiểm như thế nào khi máy chạy. Tốt nhất là sử dụng các thuốc loại tự nhiên để nâng cao tổng trạng.
Các thuốc làm “khỏe” tự nhiên
- Sinh tố E: Cần thiết cho hoạt động tình dục, chống oxy hóa, bảo vệ thành mạch. Liều dùng 30 UI/ngày.
- Kết hợp B1-B6-B12 liều cao: Trị đau nhức thần kinh cơ bắp, thấp khớp và suy dinh dưỡng do nghiện rượu, vì những người nghiện rượu thường bị suy yếu tình dục. Mỗi viên thuốc chứa 125-250 mg B1, 125-250 mg B6, 1.000 mg B12.
- Sinh tố C: Theo một nghiên cứu tại Đức, ngoài các công dụng đã từng biết, vitamin C còn là chất kích thích tình dục nhờ khả năng làm giảm stress và sự lo lắng trong quan hệ lứa đôi. Liều 500-1.000 mg/ngày làm gia tăng sức bền thành mạch, tăng tính đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng, cần cho những người lao động mệt nhọc.
Dạng thường dùng hiện nay là viên ngậm, viên sủi bọt. Dạng viên nén chỉ dùng nếu không bị loét dạ dày. Liều thông thường là 500-1.000 mg/ngày. Trong thực đơn hằng ngày, nên ăn nhiều rau quả giàu vitamin C như cam, chanh, bưởi… Trường hợp mệt mỏi nhiều, có thể dùng vitamin C liều cao (1.000 mg/ngày) kết hợp với kẽm (5-15 mg/ngày), sắt (50-100 mg/ngày) để góp phần chuyển hóa năng lượng tự nhiên, chống mệt mỏi.
- Nhân sâm: Dùng cho người cao tuổi và không bị cao huyết áp. Nhân sâm có tác dụng kích thích cơ chế miễn dịch của cơ thể, nâng cao khả năng phòng bệnh, tăng cường sinh lực và khả năng tình dục, bảo vệ gan chống các tác nhân độc hại, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, chống mệt mỏi, căng thẳng, lo âu.
Thuốc bổ loại “once a day”: Kết hợp các nhóm sinh tố A, B, C, D với các acid amin và khoáng vi lượng, nhất là magiê, để chống stress. Mỗi ngày dùng một viên. Stress là một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh “trên bảo dưới không nghe”
.
Rượu vang, bằng hữu và sức khoẻ
Thỉnh thoảng tôi vẫn có cái thú vui được ngồi uống rượu với anh em văn nghệ sĩ và cựu quân nhân. Các vị này uống rất hào, đúng là "tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu." Gặp được bạn tâm giao cùng uống, cổ nhân coi ngàn chén còn là ít thì lũ chúng ta có xá gì dăm bảy chai whisky hay cognac mà không cạn hết cho đời lên men!
Tuy nhiên cái lối uống đó rất không nên. Họ khuyến thúc nhau, thi đua nhau uống thật nhiều, thật mau bằng những tiếng "dzô, dzô" đầy hào hứng. Dzô tức là phải nốc một hơi cạn chén. Uống càng nhiều càng chứng tỏ mình là tay tửu lượng cao, và càng được bạn bè nhìn bằng con mắt thán phục. Uống như thế thì có vẻ giống tác phong của những tay hào khách giang hồ cỡ Kiều Phong hay Lệnh Hồ Xung thật đấy, nhưng rất có hại cho sức khỏe. Cháy gan, lủng bao tử là cái chắc.
Chúng ta biết rằng gan là bộ phận có chức năng gạn lọc và loại trừ những độc tố trong đồ ăn thức uống trước khi chúng thấm nhập vào dòng máu. Nhưng gan cần phải có đủ thì giờ mới có thể làm được công việc đó một cách hữu hiệu. Nếu ta uống rượu từ từ, vừa uống vừa nhấm nháp hương thơm vị đượm của ly rượu một cách khoan thai, nhất là có kèm theo một vài món ăn, thì chất alcohol trong rượu vừa ngấm vào cơ thể là đã được buồng gan đốt đi phần lớn. Lượng alcohol còn lại chỉ vừa đủ để làm ta say một cách nhẹ nhàng thoải mái. Tửu hứng vừa đủ như vậy sẽ cho ta cảm giác lâng lâng thích thú, sảng khoái yêu đời, câu chuyện tán dóc với bạn bè cũng trở thành ý nhị đậm đà hơn.
Trái lại, nếu ta dzô dzô một lúc dăm bảy ly rượu mạnh đại khái như cognac, whisky hay bourbon, loại nào cũng có nồng độ alcohol từ 80 đến 90 độ proof, tức khoảng 40% hoặc 45% cồn nguyên chất, ta sẽ cảm thấy trời đất quay cuồng, mặt mày choáng váng, nôn nao khó chịu. Lý do là vì gan đốt không kịp nên một khối lượng rượu quá lớn thâm nhập được vào dòng của máu ta rồi tác động lên não bộ, khiến cho ta không còn tỉnh táo nữa. Khi lượng rượu trong máu lên tới mức 0.1 thì những khả năng trí tuệ như nhận thức, suy luận, phán đoán, phân tích v.v. đều bị lệch lạc hoặc suy giảm. Nếu ta lái xe vào lúc đó, ta sẽ rất dễ gây tai nạn. Chính vì vậy mà luật lệ ở hầu khắp các tiểu bang trên nước Mỹ đều quy định rằng nếu một người lái xe bị cảnh sát chận lại và khám phá thấy là lượng rượu trong máu của người đó lên tới mức 0.08 thì không cần biết khả năng trí tuệ có suy giảm hay không, người đó vẫn bị kết án về tội say rượu lái xe và có thể bị rút bằng lái.
Khổ một nỗi là trong những bữa nhậu của đám anh em "hào khách giang hồ," chúng ta thường có khuynh hướng uống cho đã, rồi lại còn thách đố nhau cạn hết ly này đến chén khác để xem tửu lượng ai cao hơn. Vào những dịp được anh em rủ rê uống thi đua như vậy, tôi thường tuyên bố thua cuộc ngay từ lúc mới bắt đầu. Tôi vẫn phải mượn mấy câu thơ của cụ Nguyễn Khuyến để tự mô tả cái tửu lượng yếu kém của mình:
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ dăm ba chén đã say nhè !
Thực ra, theo quan niệm của tôi thì chúng ta uống rượu phần chính là để thưởng thức hương vị thơm ngon của rượu chứ không bao giờ nên uống cho say nhè. Uống mà đến nỗi không còn phân biệt được rượu ngon hay rượu dở, nốc ly rượu vào chỉ cảm thấy đắng ngắt trong miệng, sáng hôm sau thức dậy vẫn còn bị đầu nhức mắt hoa, ngây ngất khó chịu cả ngày thì còn gì là thú vị nữa!
May mắn thay, cái khuynh hướng chung ở nước Mỹ này cũng như trong giới "hào khách giang hồ" của chúng ta trong vòng vài chục năm qua là giảm bớt mức tiêu thụ rượu mạnh và chuyển sang thưởng thức rượu vang. Mới đây, nhân một dịp tình cờ ghé lại tiệm Quảng Đà ở San Jose vào một buổi tối, tôi đã rất vui khi được gặp lại mấy người bạn cũ ở đó sau nhiều năm xa cách. Điều khiến tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là thấy các vị này đang quây quần nhậu nhẹt bên mấy chai vang đỏ chứ không phải cognac hay whisky như thông lệ. Họ kéo ngay tôi vào bàn tiệc rót rượu mời uống và ca ngợi rượu vang California hồi này ngon không kém rượu Pháp.
Đây là một sự kiện rất đáng mừng bởi vì rượu vang là một thứ đồ uống tuyệt hảo, thơm ngon, đậm đà mà lại nhẹ nhàng bổ ích cho cơ thể. Lượng alcohol của nó chỉ vào khoảng từ 12% cho đến 14%, so với rượu mạnh là từ 40% cho đến 45%. Do đó, nếu ta có vui bạn vui bè mà quá chén nhậu hết nửa chai rượu vang thì cũng không đến nỗi say lắm, nhưng nốc vào nửa chai rượu mạnh thì tai hại là cái chắc.
Rượu vang - nếu uống một cách điều độ, vừa phải, tức là không quá ba ly cỡ 4 ounces cho đàn ông và hai ly cho đàn bà mỗi ngày - lại còn có lợi cho sức khỏe của ta nữa.
Ký giả truyền hình nổi tiếng Morley Safer, người phụ trách chương trình "60 Minutes" được rất nhiều khán giả theo dõi trên đài CBS, nhân một chuyến đi nghỉ hè ở miền núi Pyrénées bên Pháp vào năm 1991, đã quan sát thấy một hiện tượng nghịch lý mà ông gọi là "the French Paradox." Ông nhận thấy là dân chúng địa phương - phần lớn sống bằng nghề chăn nuôi gà vịt và sản xuất foie gras, tức là gan béo lấy từ những con vịt hoặc con ngỗng được nuôi cho thật mập - nên thức ăn hằng ngày của họ cũng chứa rất nhiều chất béo, chất cholesterol. Những thứ này một khi được đưa vào cơ thể thì dễ đọng lại trong các mạch máu, làm tắc nghẽn sự tuần hoàn của máu và gây ra rất nhiều chứng bệnh về tim mạch, đôi khi đưa tới những cơn đột quỵ.
Mở rộng tầm quan sát ra xa hơn nữa, ông Safer thấy rằng dân chúng Pháp nói chung tiêu thụ rất nhiều bơ, sữa, fromage, paté, saucisse, thịt mỡ, v.v. Khối lượng chất béo xấu, thuộc loại saturated fat mà họ ăn vào bụng nhiều gấp ba lần khối lượng tiêu thụ ở Mỹ. Ấy thế mà tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch và chết vì đột quỵ ở Pháp lại chỉ bằng 1/3 so với dân Mỹ. Tại sao lại có tình trạng nghịch lý như vậy?
Vốn là một ký giả chuyên điều tra những chuyện ly kỳ bí ẩn, ông Safer bèn mở cuộc nghiên cứu để tìm hiểu xem nguyên nhân nào đã giúp cho dân Pháp sống khỏe mạnh - và sống lâu là đằng khác - bất chấp những đồ ăn độc hại đó. Sau khi tham khảo ý kiến của các nhà dinh dưỡng, các bác sĩ chuyên về tim mạch, và thâu thập các dữ kiện về lối sống cũng như chế độ ăn uống của dân chúng ở cả hai nước, ký giả Safer báo cáo trong chương trình "60 Minutes" vào tháng Mười Một năm 1991 rằng ngoài một vài nguyên nhân phụ như dân Pháp vận động nhiều hơn, ít ngồi một chỗ coi TV hơn, thì nguyên nhân chính là vì dân Pháp uống rượu vang một cách thường xuyên và đều đặn, nhất là rượu vang đỏ.
Kể từ hồi đó, các chuyên gia nghiên cứu của những cơ sở có uy tín như các trường đại học Harvard, Johns Hopkins, v.v. tiếp tục đưa ra thêm nhiều kết quả mới chứng tỏ sự liên hệ giữa việc uống rượu vang vừa phải và những lợi ích cho sức khỏe. Chẳng hạn, họ tìm thấy rằng những người uống rượu vang đều đặn từ một đến sáu ly mỗi tuần lễ được giảm bớt nguy cơ bị lên cơn đau tim đến 25%, và giảm bớt nguy cơ bị đột quỵ đến 34% so với những người không uống rượu. Họ cũng thấy rằng các hợp chất trong rượu vang như flavonoids, tannin... là những chất antioxidants có khả năng chống lão hóa. Các hóa chất khác trong rượu vang có thể đưa tới việc chữa trị bệnh ung thư tuyến tiền liệt, làm chậm bớt sự chai cứng động mạch và giúp ngăn chặn bệnh tiểu đường.
Trong cuộc Hội Nghị Quốc Tế lần thứ nhì về sự liên hệ giữa rượu vang và sức khỏe của hệ thống tim mạch, với sự tham dự của gần 150 bác sĩ và chuyên gia nghiên cứu từ nhiều nước khác nhau trên thế giới, được diễn ra tại Nam California hồi tháng Hai, 2004, một thông điệp chung đã được đưa ra, đó là: "Các y sĩ nên bắt đầu phổ biến cho mọi người biết rằng việc uống rượu vang vừa phải và đều đặn có thể đem lại những lợi ích lớn lao cho sức khỏe." Họ nêu ra một loạt những công trình thử nghiệm trong vòng mười mấy năm qua, mà kết quả đã chứng tỏ là uống rượu vang một cách điều độ có thể giúp ngăn chặn được những cơn đột quỵ, giảm bớt nguy cơ bị một số bệnh ung thư và nhiều chứng bệnh khác, đặc biệt là bệnh về tim mạch.
Ông Tedd Goldfinger, giám đốc Sáng Hội Vùng Sa Mạc Bảo Vệ Sức Khỏe Của Trái Tim (The Desert Heart Foundation) ở Tucson, Arizona nói:
"Hiện có một sự bột phát các cuộc khảo cứu mới, cho thấy những ích lợi được chứng minh rõ rệt của rượu vang. Các bác sĩ cần phải thông báo những điều này cho bệnh nhân của họ được biết."
Vào cuối cuộc hội nghị, bác sĩ Donald Thomas, một chuyên gia về bệnh suyễn và đường hô hấp ở Maryland, cho biết: "Với những kết quả vừa được công bố, tôi sẽ cảm thấy vững tâm thoải mái hơn khi khuyến nghị các bệnh nhân của tôi nên uống rượu vang một cách vừa phải."
Nếu liệt kê ra đây tất cả những cuộc nghiên cứu của các học viện có uy tín, chứng tỏ sự lợi ích cho sức khỏe do rượu vang đem lại thì bài viết này sẽ dài quá cỡ. Để kết luận, ta chỉ cần nhớ rằng nếu ta thay đổi lối uống từ kiểu thi đua dzô dzô những ly rượu mạnh sang việc thưởng thức một vài ly rượu vang cùng với món ăn thích hợp trong những bữa tiệc vui với bằng hữu, ta sẽ gia tăng được sự thích thú và đồng thời còn có triển vọng ngăn ngừa bệnh tật và thăng tiến sức khỏe cho mình.
Rượu thuốc bổ dương, cường tinh
Nhiều loại rượu thuốc có tác dụng bổ thận, tráng dương.
Theo dân gian, Anh hùng tửu có thể trị 9 "chứng xấu" của cánh mày râu: dương đạo suy yếu, yếu đuối không phấn chấn được, phấn chấn được mà không đủ, đủ mà không thực, thực mà không cứng, cứng mà không tuân theo, tuân theo mà không được lâu, lâu mà không có tinh, có tinh mà không có con.
Cách chế Anh hùng tửu: Sơn thù, cẩu tích, đương quy, kỷ tử, thỏ ty tử, nhân sâm mỗi thứ 15 g, mạch môn 30 g, tắc kè 1 đôi, rượu trắng 2.000 ml. Các vị thuốc thái vụn, ngâm với rượu trong bình kín, sau 3 tuần có thể dùng được. Uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.
Đây là loại rượu thuốc bổ dương cường tinh được lưu truyền lâu đời trong dân gian. Trong đó, nhân sâm đại bổ nguyên khí; đương quy và kỷ tử bổ huyết; mạch môn bổ âm; sơn thù, cẩu tích, thỏ ty tử và tắc kè bổ thận dương. Tám vị phối hợp cân đối với nhau vừa bổ khí huyết vừa bổ âm dương, đặc biệt là thận dương, nên trợ dương cường tinh là rất tốt. Trong Đông y, trợ dương dược tửu là một lĩnh vực hết sức phong phú. Các loại rượu thuốc đơn giản dưới đây sẽ giúp các đấng mày râu có thêm một vũ khí để phòng chống các trục trặc trong đời sống tình dục như bất lực, xuất tinh sớm, di tinh, giảm sút ham muốn...
Một số loại dược tửu bổ dương khác:
1. Nhung hươu tửu
Nhung hươu 30 g, kỷ tử 30 g, rượu trắng 1.000 ml. Nhung hươu thái vụn đem ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7-10 ngày là có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-20 ml.
Công dụng: Tráng dương tư âm, dùng cho những người mắc chứng bất lực, khó thụ thai do chất lượng và số lượng tinh trùng suy giảm, giảm sút ham muốn và khoái cảm tình dục.
Nhung hươu vị ngọt mặn, tính ấm nóng, có công năng đại bổ nguyên dương, sinh tinh, cường gân. Kỷ tử vị ngọt, tính mát, có công dụng dưỡng âm nhuận táo, bổ can ích thận, dùng phối hợp để tăng cường công năng bổ dưỡng và điều hòa bớt tính nhiệt táo của nhung hươu, khiến cho loại rượu này vừa bổ dương lại vừa dưỡng âm, có thể sử dụng rộng rãi cho mọi đối tượng.
2. Tiên mao tửu
Tiên mao 100 g, rượu trắng 2.000 ml. Tiên mao thái vụn, đựng vào túi vải rồi đem ngâm rượu, sau 10 ngày có thể dùng được. Nếu chế tiên mao theo cách cửu chưng cửu sái (chín lần đồ và phơi) thì tốt nhất. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-20 ml.
Công dụng: Ôn bổ tỳ thận, cường gân cốt, trừ hàn thấp, dùng cho người bị liệt dương, tinh lạnh, tiểu đêm nhiều lần, lưng đau, gối mỏi, suy giảm khả năng tình dục.
Đây là loại bổ dương dược tửu được ghi trong y thư cổ Bản thảo cương mục. Theo dược học cổ truyền, tiên mao vị cay hơi đắng, tính ấm, có công dụng ôn thận dương, cường gân cốt, chuyên dùng để trị chứng dương nuy tinh lãnh (liệt dương, tinh dịch lạnh lẽo).
3. Dâm dương hoắc nhục thung dung tửu
Dâm dương hoắc 100 g, nhục thung dung 50 g, rượu trắng 1.000 ml. Hai vị thuốc thái vụn rồi đem ngâm với rượu, sau chừng 7-10 ngày là có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15-20 ml.
Công dụng: Bổ thận tráng dương, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, dùng cho người bị suy giảm khả năng tình dục, di tinh, liệt dương, muộn con, đau lưng, viêm khớp...
Kinh nghiệm dùng rượu dâm dương hoắc (còn gọi là rượu tiên linh tỳ) để bổ dương cường tinh đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian. Loại rượu này cũng đã được ghi nhận trong y thư cổ Thọ thế bảo nguyên và Nhật hoa tử bản thảo. Theo dược học cổ truyền, cả hai vị dâm dương hoắc và nhục thung dung đều có tác dụng bổ thận tráng dương. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài công năng cải thiện hệ thống miễn dịch, có lợi cho tim mạch và chống lão hóa, hai vị này còn có khả năng thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và nâng cao năng lực hoạt động của tuyến sinh dục. Loại rượu này có mùi vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn, công hiệu rõ ràng nên được nhiều người ưa dùng.
4. Trường sinh bất lão tửu
Thỏ ty tử, nhục thung dung, đỗ trọng, sơn thù, kỷ tử, bạch linh, nữ trinh tử, tỏa dương mỗi thứ 15 g; ngưu tất, ngũ vị tử, nhân sâm, xạ tiền tử, mạch môn, xương bồ, sinh địa, sà sàng tử mỗi thứ 5 g; long nhãn 30 g, đại táo 120 g, cam thảo 3 g, nhục quế 2 g, rượu trắng 2.000 ml. Các vị thuốc thái vụn, phun rượu cho ướt đều rồi đem chưng cách thủy trong 30 phút, sau đó phơi nắng cho khô, cho tất cả vào lọ ngâm với rượu, sau 2-3 tháng là có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-20 ml.
Theo kinh nghiệm của cổ nhân, đây là loại rượu có tác dụng vạn năng, uống sau 3 giờ sẽ thấy hiệu quả cụ thể, uống được 1 tuần sẽ thấy được sự kỳ diệu. Công năng này có được do những vị bổ thận trợ dương (thỏ ty tử, nhục thung dung, ngưu tất, đỗ trọng, nữ trinh tử, tỏa dương) và bổ khí (nhân sâm và đại táo), bổ âm (mạch môn và ngũ vị tử), bổ huyết (sinh địa và long nhãn), bổ mệnh môn hỏa (nhục quế và sà sàng tử). Tất cả các vị thuốc phối hợp tương hỗ tạo nên công dụng trợ dương rất đặc sắc của Trường xuân bất lão tửu.
5. Thiên khẩu nhất bôi tửu
Nhân sâm 24 g, thục địa 15 g, kỷ tử 15 g, dâm dương hoắc, bạch tật lê, viễn chí, đinh hương mỗi thứ 9 g, trầm hương 3 g, lệ chi nhục 7 g, rượu trắng 1.000 ml. Các vị thuốc thái vụn, ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7-10 ngày là có thể dùng được. Uống mỗi ngày 1 chén nhỏ, nhấp môi từ từ từng ít một, nói như cổ nhân là phải uống nghìn lần mới hết một chén rượu (thiên khẩu nhất bôi).
Công dụng: Bổ thận tráng dương, sinh tinh dưỡng huyết, ích khí định thần, làm đen râu tóc và kéo dài tuổi thọ. Loại rượu này được lấy từ y thư cổ Tập nghiệm lương phương, đặc biệt thích hợp cho lứa tuổi trung lão niên mà thận khí đã suy yếu, khí huyết suy nhược, tinh lực giảm thoái, khả năng sinh hoạt tình dục giảm sút. Trong thành phần, cổ nhân đã khéo léo phối hợp các vị thuốc có tác dụng bổ khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương với các vị thuốc có công năng làm ấm tỳ vị và thận. Những vị này tương hỗ, chế ước lẫn nhau, làm cho tinh thần phấn chấn, chữa được chứng liệt dương, kéo dài tuổi thọ.
Cỏ seo gà chữa viêm đường tiết niệu
Những người bị viêm đường tiết niệu có thể lấy cỏ seo gà 30 g, lá mã đề 20 g, rau sam 20 g, cam thảo đất 16 g; sắc uống ngày một thang.
Cỏ seo gà có nhiều tên gọi như phượng vĩ thảo, hùng kê thảo, kê cước thảo, kim kê vĩ... Đây là loại cây nhỏ sống nhiều năm, lá mọc thành chùm xòe ra như đuôi gà; thường mọc ở nơi ẩm thấp, ven khe, bãi đất hoang; được dùng toàn cây để làm thuốc.
Theo Đông y, cỏ seo gà vị đắng nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, giảm đau, mát huyết, cầm máu. Nó thường được dùng để chữa lỵ, viêm tử cung, viêm dạ dày, ruột, viêm đường tiết niệu, cảm mạo, phát sốt, viêm họng, khí hư bạch đới, băng lậu, trúng độc, ung thư... Sau đây là một số bài thuốc:
- Chữa viêm họng: Cỏ seo gà 30 g, bồ công anh 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Hoặc: Cỏ seo gà 30 g, bồ công anh 20 g, lá húng chanh 12 g, lá rẻ quạt 6 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Chữa đái ra máu: Cỏ seo gà 30 g, lá trắc bá sao đen 20 g, hoa hòe sao đen 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa lỵ: Cỏ seo gà 30 g, lá mơ lông 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Hoặc: Cỏ seo gà 30 g, rau sam 30 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa viêm tử cung: Cỏ seo gà 30 g, rễ củ gai 20 g, cỏ xước 20 g, bồ công anh 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ung thư ruột, ung thư tử cung: Cỏ seo gà 60 g tươi hoặc 30 g khô. Sắc uống ngày một thang.
Khi nào nên dùng thuốc nhuận tràng?
Dù bị táo bón, bạn cũng không nên tùy tiện dùng thuốc nhuận tràng vì loại thuốc này không giải quyết được tình trạng táo bón thường xuyên do ăn uống phản khoa học, căng thẳng thần kinh hoặc thiếu vấn động.
Thuốc nhuận tràng chỉ có tác dụng điều hòa nhanh tình trạng chuyển vận phân trong ruột. Nó được dùng trong một vài trường hợp để giúp chống lại tình trạng táo bón nhẹ. Trên thị trường có rất nhiều nhóm thuốc nhuận trường với chỉ định, cách dùng, liều lượng và thời gian dùng thuốc rất khác nhau, cần có hướng dẫn cụ thể của thầy thuốc.
Một số người khi bị táo bón có khuynh hướng lạm dụng thuốc nhuận trường và thuốc xổ. Thực ra, hai nhóm thuốc này chỉ có tác dụng ngắn hạn và chỉ nên dùng trong 2-3 ngày. Nếu dùng quá lâu, chúng có thể gây ảnh hưởng không tốt lên màng nhầy ruột.
Một số thiếu nữ sợ béo thường lạm dụng thuốc nhuận tràng để thải nước ra ngoài, giúp giảm cân. Hậu quả là ruột trở nên lười biếng, dẫn đến táo bón. Bệnh này dần trở thành mạn tính và sẽ trầm trọng thêm khi tuổi cao. Nếu táo bón chỉ xảy ra ở phần thấp do phân đóng cứng ở hậu môn, gây trở ngại việc tống xuất phân ra ngoài thì chỉ cần bơm glycérine làm trơn hậu môn; bệnh nhân có thể dễ dàng đi tiêu sau 10-15 phút. Còn nếu lạm dụng thuốc nhuận tràng thì có thể làm ruột bị viêm trầm trọng hơn.
Giải pháp tốt nhất và lâu dài để chữa trị chứng táo bón nhẹ là sử dụng các thực phẩm giàu chất sợi. Các chất này không bị tiêu hóa và sẽ giữ nước, làm mềm và xốp phân, giúp phân di chuyển dễ dàng và bài tiết ra ngoài. Chất sợi có nhiều trong gạo, ngũ cốc toàn phần, rau các loại và trái cây khô. Cần nhai kỹ khi ăn để nghiền nhỏ thực phẩm và giúp các men tiêu hóa trong dạ dày và ruột được tiết ra đầy đủ. Hạn chế thực phẩm kích thích như trà, cà phê, thuốc lá, nước có ga; uống nhiều nước trong ngày (1.5 lít).
Việc tập thói quen đi tiêu mỗi ngày vào một thời điểm nhất định cũng giúp phòng táo bón. Nếu cứ cố nhịn khi có nhu cầu, lâu ngày bạn sẽ bị táo bón mạn tính.
Ngoài ra, để phòng chống táo bón, bạn cần thay đổi nếp sống với nhịp sống quân bình hơn, ăn uống đúng giờ giấc, giảm tức giận, bất mãn, xóa đi các ưu phiền và tham gia luyện tập thể dục. Chơi các môn thể thao nhẹ cũng là phương thuốc góp phần điều trị chứng bệnh này.
DS. Trương Tất Thọ.
Cảnh báo về 10 nhóm bệnh ảnh hưởng đến chất lượng tình yêu
Tim mạch là nhóm bệnh đầu tiên được kể đến trong các yêu tố gây suy yếu về tình dục. Trong đó, cao huyết áp chiếm 1/7 trong các trường hợp rối loạn cương dương. Bệnh này có thể làm biến đổi tình trạng mềm dẻo của động mạch, gây trở ngại trong việc cung cấp máu cho dương vật.
Các bệnh mạch vành chỉ liên quan đến đời sống tình dục khi những động mạch đưa máu tới dương vật bị đóng lại. Trong trường hợp này, sự cương cứng sẽ giảm sút rõ rệt.
Một vài loại thuốc điều trị bệnh tim mạch cũng có thể ảnh hưởng đến sự cương cứng. Nếu rơi vào trường hợp này, cần đổi thuốc hoặc áp dụng một chế độ điều trị dành cho những người bị rối loạn cương dương.
Một số nhóm bệnh khác gây suy yếu về tình dục:
1. U tuyến tiền liệt:
Ðó là những khối u lành tính phổ biến ở đàn ông (khoảng 40% nam giới trên 50 tuổi mắc phải). Chất lượng tình yêu giảm sút thể hiện bởi các rối loạn đường tiết niệu kèm theo khối u tiền liệt tuyến.
2. Mãn kinh:
Trong thời kỳ mãn kinh, đường sinh dục phụ nữ có nhiều thay đổi như khô âm đạo, giảm đàn hồi, khiến cho việc giao hợp trở nên đau đớn, làm giảm khoái cảm. Ngoài các biện pháp bôi trơn, việc “hoạt động” đều đặn cũng có thể giúp cho đường âm đạo được... thông thoáng hơn.
3. Mất cân bằng nội tiết tố:
Cũng giống như phụ nữ ở tuổi mãn kinh, đàn ông cũng chịu cảnh “hiu hắt” với sự sút giảm sản xuất nội tiết tố testosterone, dẫn đến giảm ham muốn tình dục, giảm sút khối lượng cơ và tỷ trọng xương, thay đổi tính khí và kém năng lực. Sau khi xét nghiệm định lượng, một liều điều trị nội tiết tố bổ sung có thể cải thiện tình hình. Tuy nhiên, liệu pháp này có thể làm phát triển ung thư tuyến tiền liệt và rụng tóc.
4. Ung thư:
Sự ham muốn tình dục ở người bị ung thư thường giảm sút theo tình trạng stress như buồn phiền, âu lo do tiến triển của bệnh và sự giảm sút thể lực. Sự mệt mỏi, mất thăng bằng nội tiết tố sẽ kéo theo sụt giảm khoái cảm; kèm theo đó nỗi lo sợ không thỏa mãn được người bạn đời. Ðiều này gây khó khăn cho việc leo tới đỉnh. Các liệu pháp dùng thuốc hay phẫu thuật trị ung thư cũng dẫn đến đau đớn khi cương cứng và quan hệ. Mặt khác, sự cắt bỏ một vài cơ quan (vú, dịch hoàn...) có thể làm cho bệnh nhân bị trầm uất và ngăn cản việc đạt đến khoái cảm.
5. Tiểu đường:
Thực ra, bản thân bệnh này không ảnh hưởng đến cuộc sống tình dục. Nhưng nếu không được điều trị, bệnh nhân sẽ bị rối loạn thần kinh kéo theo rối loạn cương dương. Với những người bị tiểu đường tuổi từ 20 đến 60, rối loạn cương dương chiếm tới 30% và lên đến 50% trong lứa tuổi 50-60.
6. Cắt bỏ tử cung, buồng trứng:
Phụ nữ có thể phải cắt bỏ buồng trứng khi bị ung thư và nó sẽ dẫn đến sụt giảm khoái cảm. Các liệu pháp nghiên cứu là sử dụng testosterone (nội tiết tố nam được tổng hợp với liều thấp).
Thủ thuật cắt bỏ tử cung không phải lúc nào cũng gây ra rối loạn hoạt động tình dục. Phụ nữ bị khối u ở tử cung thường đau đớn trong quan hệ. Nhưng sau khi phẫu thuật, họ thường hết đau nhức, gia tăng ham muốn, gia tăng tần số quan hệ và cường độ khoái cảm. Chỉ có một bất tiện, đó là tình trạng khô âm đạo.
7. Thủ thuật “stomie”:
“Stomie” là thủ thuật tạo lỗ thông nhân tạo ra ngoài da cho ruột non hay niệu quản khi bị ung thư ruột già hay bệnh lý ở bàng quang. Khoảng 70% bệnh nhân được tạo ống thông nhân tạo nhận xét rằng đời sống tình dục của họ bị giảm sút. Thủ phạm chính là mô xốp của dương vật trao đổi oxy kém, làm giảm năng lực cương cứng. Cần rèn luyện sớm theo chỉ dẫn của bác sĩ cho đến khi bắt đầu xuất hiện các phản xạ cương cứng tự nhiên.
8. Bệnh ở cột sống:
Các bệnh ở tủy sống sẽ kéo theo sự suy giảm hoạt động của hệ sinh dục và tiết niệu, giảm cực khoái. Người bệnh cần được tập luyện với sự hỗ trợ của các nhà chuyên môn, kích thích tạo cương cứng, sử dụng các bộ phận giả hoặc chích thuốc... Bị liệt do chấn thương cột sống không có nghĩa là bị tước bỏ mọi khả năng trong đời sống tình dục.
9. Viêm khớp:
Các bệnh khớp thường gây trở ngại trong sinh hoạt tình dục. Tuy nhiên, tùy theo vị trí các khớp bị đau, bệnh nhân có thể khắc phục bằng các kinh nghiệm riêng tư như dùng gối, nệm hoặc các tư thế thuận lợi để giảm đi đau đớn và vẫn giữ được ham muốn.
Dược thiện cho người bị di chứng tai biến mạch máu não
Vị thuốc xuyên khung.
Trong Đông y, di chứng tai biến mạch máu não được trị liệu bằng nhiều biện pháp kết hợp (theo quan điểm “chỉnh thể thi trị”), trong đó có việc sử dụng các món ăn - bài thuốc.
Một số món dược thiện điển hình:
1. Thể khí hư huyết ứ: Bị bệnh lâu ngày, liệt bại hoặc tê bì nửa người, cơ thể mỏi mệt, ăn kém, nhiều lúc có cảm giác như thiếu không khí để thở, sắc mặt trắng nhợt, hay vã mồ hôi, chất lưỡi nhợt tối, có những điểm ứ huyết, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn to.
- Thịt thỏ 250 g, hoàng kỳ 60 g, xuyên khung 10 g, gừng tươi 4 lát. Thịt thỏ rửa sạch, loại bỏ mỡ, thái miếng; xuyên khung và hoàng kỳ rửa sạch. Tất cả cho vào nồi hầm chừng 2 giờ cho thật nhừ, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày, thường 2 ngày làm 1 lần. Công dụng: ích khí hoạt huyết, thông kinh lạc.
- Đẳng sâm 15 g, đương quy 15 g, lươn 500 g. Các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng; lươn làm sạch, cắt khúc. Tất cả cho vào nồi cùng với các gia vị như hành củ, gừng tươi... rồi hầm lửa nhỏ chừng 1 giờ cho nhừ. Nêm đủ mắm, muối, chia ăn vài lần trong ngày, thường 2 ngày làm 1 lần, 15 lần là một liệu trình. Công dụng: ích khí hoạt huyết, thông kinh lạc.
- Đẳng sâm, đào nhân, trà mạn mỗi thứ 15 g, sấy khô, tán vụn, trộn đều, mỗi lần lấy 3 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: bổ khí, hoạt huyết, hóa ứ, thông kinh mạch.
- Tôm nõn 200 g, hoàng kỳ 50 g. Đem hoàng kỳ sắc kỹ lấy nước rồi cho tôm nõn vào nấu thành canh, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn hàng ngày. Công dụng: ích khí, thông kinh, hoạt lạc.
- Hoàng kỳ 100 g, địa long khô (tẩm rượu) 30 g, hồng hoa 20 g, xích thược 20 g, đương quy 50 g, xuyên khung 10 g, đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn, sao qua) 15 g, bột ngô 400 g, bột mì 100 g, đường trắng lượng vừa đủ. Hoàng kỳ, hồng hoa, đương quy, xích thược và xuyên khung đem sắc kỹ lấy nước. Địa long tán thành bột, trộn đều với đường trắng, bột ngô và bột mì rồi cho nước vào nhào kỹ, nặn thành những chiếc bánh nhỏ, đặt đào nhân lên trên, bỏ vào lò nướng chín là được, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 2 cái. Công dụng: ích khí hoạt huyết, thông kinh lạc.
2. Thể can thận suy hư: Liệt nửa người, gân mạch co quắp, duỗi khớp khó khăn, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, tinh thần trì trệ, quên nhiều, chất lưỡi đỏ, rêu mỏng, đại tiện không thông thoáng ...
- Hoàng kỳ 30 g, đại táo 10 quả, đương quy 10 g, kỷ tử 10 g, thịt lợn nạc 100 g. Thịt lợn rửa sạch, thái miếng. Các vị thuốc rửa sạch, cho vào nồi hầm cùng với thịt lợn thật nhừ, bỏ bã hoàng kỳ và đương quy, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày, có thể dùng liên tục trong 1 tháng. Công dụng: tư bổ can thận, ích khí.
- Đỗ trọng 30 g, ngưu tất 15 g, xương sống lợn 500 g, đại táo 4 quả. Đại táo bỏ hạt, đỗ trọng và ngưu tất rửa sạch, xương lợn chặt miếng, trần qua nước sôi cho hết huyết dịch, tất cả cho vào nồi hầm kỹ chừng 2-3 giờ, chế đủ gia vị, dùng làm canh ăn hàng ngày. Công dụng: bổ can thận, làm mạnh gân cốt.
- Rùa 3 con (mỗi con nặng chừng 250 g), đường phèn lượng vừa đủ. Cắt tiết rùa cho vào bát, bỏ đường phèn và một chút nước, quấy đều rồi cho lên bếp đun cách thủy, ăn nóng, mỗi ngày 1 lần, 7 lần là một liệu trình. Công dụng: tư âm, dưỡng huyết, thông mạch.
- Kỷ tử 30 g, thận dê 1 quả, thịt dê 50 g, gạo tẻ 50 g. Thận dê và thịt dê rửa sạch, thái miếng, cho vào nồi cùng với kỷ tử và gạo tẻ ninh thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: bổ can thận, thông mạch.
- Kỷ tử 30 g, cúc hoa 10 g. Hai thứ hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, u ống thay trà trong ngày. Công dụng: tư âm bổ thận, giáng áp, dùng làm nước uống hằng ngày cho bệnh nhân bị di chứng trúng phong rất tốt.
3. Thể tỳ hư đàm trệ: Liệt mềm nửa người, hình thể béo trệ, mệt mỏi như mất sức, ăn kém, chậm tiêu, sắc mặt vàng nhợt, nói khó, thường có hội chứng rối loạn lipid máu, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt bệu, có vết hằn răng ...
- Ý dĩ, bạch biển đậu, hoài sơn mỗi thứ 30 g, củ cải trắng 60 g, gạo tẻ 60 g. Củ cải rửa sạch, cắt miếng, đem nấu với ý dĩ, bạch biển đậu, hoài sơn và gạo tẻ thành cháo, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày, 7 ngày là một liệu trình. Công dụng: kiện tỳ, trừ thấp.
- Nhân sâm 10 g, rau hẹ 12 g, trứng gà bỏ lòng đỏ 1 quả, gạo tẻ 50 g. Nhân sâm thái vụn, sắc kỹ lấy nước rồi cho gạo tẻ vào ninh thành cháo, khi chín bỏ lòng trắng trứng và rau hẹ vào, chế thêm gia vị, ăn nóng. Công dụng: ích khí, trừ đàm.
- Trám tươi 500 g, uất kim 250 g, bột minh phàn 100 g, bạch cương tàm 100 g, mật ong lượng vừa đủ. Trám đập nát, bạch cương tàm tán vụn. Đầu tiên, đem trám và uất kim sắc kỹ với 1.000 ml nước trong 1 giờ rồi lọc lấy nước thứ nhất, lại cho tiếp 500 ml nước sắc cô lấy nước thứ hai. Hòa hai nước với nhau, cô lửa nhỏ cho đến khi còn 500 ml rồi cho bột cương tàm, bột minh phàn và mật ong vào cô thành cao, để nguội, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 ml. Công dụng: trừ phong, hóa đàm, khai kết.
- Thiên ma 10 g, óc lợn 1 bộ. Thiên ma thái vụn, cho vào bát sứ cùng với óc lợn rồi đem hấp cách thủy cho chín, chế thêm gia vị, ăn nóng. Công dụng: trừ phong, khai khiếu, thông mạch. Những người bị rối loạn lipid máu không nên dùng bài thuốc này.
Đậu tương có thể làm dày niêm mạc tử cung
Hạt đậu tương.
Theo một nghiên cứu của Italy, những phụ nữ uống viên đậu nành liên tục trong vòng 5 năm có nguy cơ bị tăng sản màng trong dạ con - hiện tượng lớp niêm mạc trong tử cung dày lên, dễ dẫn đến ung thư.
Nguyên nhân có thể do đậu tương có chứa chất phytoestrogen, chuyên kích thích sự tăng sinh của các tế bào có đính cảm thụ thể với hoóc môn oestrogen, trong khi tử cung lại là nơi tập trung phần lớn loại tế bào này - tiến sĩ Vittorio Unfer đến từ Đại học Perugia cho biết.
Để tìm hiểu hiện tượng này, nhóm nghiên cứu đã phân tích các mẫu xét nghiệm sinh thiết từ tử cung của 376 phụ nữ mãn kinh. Số người này được chỉ định ngẫu nhiên sử dụng viên đậu tương hoặc giả dược trong vòng 5 năm. Mẫu sinh thiết được thu thập vào 3 giai đoạn: khởi đầu, sau 30 tháng và kết thúc nghiên cứu.
Kết quả cho thấy, mặc dù không có mẫu sinh thiết nào có dấu hiệu ung thư, song gần 4% số phụ nữ thuộc nhóm sử dụng đậu tương đã bị chứng tăng sản màng trong dạ con. Trong khi đó, không một ai trong nhóm giả dược mắc bệnh.
Số liệu cho thấy nguy cơ phát triển chứng dày niêm mạc tử cung là không đáng kể và cũng chưa có ai tham gia nghiên cứu thực sự bị ung thư. Tuy nhiên, phát hiện trên đã nhen nhóm mối nghi ngờ về tính an toàn của phytoestrogens trong đậu tương đối với sức khỏe dạ con.
Canh lạc - dược thiện cho người sốt xuất huyết
Các món canh dưới đây có tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể và phòng chống xuất huyết. Chủ vị là hạt lạc xay nát hoặc giã nhỏ, gọi là “nhuyễn lạc”, kết hợp với một số loại rau.
1. Đối với trường hợp chưa xuất huyết
- Rau ngót rửa sạch, vò nát 60-100 g, nhuyễn lạc 30-50 g, nấu thành canh ăn.
- Gan lợn tươi ép cho ra hết máu, rửa sạch, băm nhỏ 20-30 g; rau ngót rửa sạch, vò nát 60-100 g; nhuyễn lạc 30-50 g. Nấu rau ngót với lạc thật chín rồi cho gan lợn vào đảo đều, đun sôi 5 phút là được.
- Đậu xanh cả vỏ, vỡ đôi 50-60 g, nhuyễn lạc 30-50 g, nấu canh ăn.
- Rau dền (xanh hay đỏ, hoặc dền cơm) rửa sạch thái nhỏ 60-100 g, nhuyễn lạc 30-50 g. Nấu chín lạc rồi mới cho rau dền vào, đun sôi 10 phút là được.
- Rau mồng tơi rửa sạch, thái nhỏ 60-100 g, nhuyễn lạc 30-50 g. Nấu chín lạc rồi mới cho rau mồng tơi vào, đun sôi 10 phút.
- Rau sam tươi rửa sạch, thái nhỏ 60-100 g, nhuyễn lạc 30-50 g. Nấu chín lạc rồi mới cho rau sam vào, đun sôi 10 phút.
- Hoa thiên lý rửa sạch 30-50 g, nhuyễn lạc 30-50 g. Nấu chín lạc rồi mới cho hoa thiên lý vào, đun sôi 5 phút.
- Lá non thiên lý 60-100 g rửa sạch thái nhỏ, nấu canh cùng nhuyễn lạc.
2. Với bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết:
- Quả mướp ngọt già gọt vỏ 100-150 g, xắt khúc 2 cm, nhuyễn lạc 30-50 g. Nấu 2 thứ với nhau, đến khi lạc thật chín thì vớt mướp ra nghiền, bỏ xơ, lấy nước và hạt. Cho nước, mướp và hạt mướp vào nồi canh đun sôi, đập 1 quả trứng gà vào, quấy cho sôi đều 5 phút là được.
- Ngó sen tươi tước vỏ, rửa sạch, thái mỏng 20-30 g, nhuyễn lạc 30-50 g, nấu canh ăn.
Chú ý: Cho nước, mắm muối vừa miệng người ăn (hơi nhạt một chút) và đủ ăn một bữa. Kiểm tra kỹ để loại bỏ lạc mốc hoặc chớm mốc trước khi làm nhuyễn lạc. Người có tiền sử dị ứng với lạc thì không dùng các bài thuốc trên.
Phương thức lọai bỏ mập phì
FOUNTAIN VALLEY.- Chìa khóa có thể chặn lại việc gia tăng số lượng trẻ em mập phì nằm trong chính những dụng cụ gọt vỏ cà rốt. Mới nghe thì có vẻ lạ tai. Nhưng Bác Sĩ Peter LePort quan sát một đứa trẻ dùng dao cạo vỏ ca-rốt và xắt củ cà rốt ra từng lát mỏng. Ðứa trẻ này đang cho ta thấy rằng nó đang học hỏi cách suy nghĩ độc lập và những thói quen tốt: Chẳng hạn như việc dùng rau quả và tránh những thực phẩm có quá nhiều calorie. Nói để trẻ em có thể nghe theo và tập thành thói quen là điều khó.
Tờ OC Register đã có một bài báo nói như vậy khi viết về Bác Sĩ Peter LePort. Bởi vì vị bác sĩ này có một phương pháp tiếp cận với trẻ rất khác thường. Vào Tháng Chín năm ngoái, ông dự trù mở một trường tiểu học ở Fountain Valley, hoặc ở Irvine, nơi mà trẻ con được khuyến khích phối hợp ý niệm sinh học và dinh dưỡng vào đời sống của chúng.
Bác Sĩ LePort đã mua 3 trường mẫu giáo Montessori, một tại Huntington Beach, một tại Fountain Valley và một tại Irvine trong 4 năm vừa qua. Tại những trường mẫu giáo này, trẻ nhỏ đã học cách tự quản và “suy nghĩ ra sao”. Trường Mẫu Giáo K-8 sp tới là một thể loại của các trường Montessori mà thôi.
Bác Sĩ Peter LePort tuyên bố: “Tôi luôn luôn nói với bệnh nhân rằng tôi phải sửa chữa các vấn đề tâm lý bằng giải phẫu. Thế mới ngược đời”.
Gần 20% học sinh tại các trường công quá mập hay mập phì, gấp đôi con số thời gian hai thập niên trước. Người ta đổ lỗi cho việc chính quyền quận hạt đã bỏ chương trình thể dục và cho học sinh chọn ăn uống những loại thực phẩm không tốt cho sức khỏe.
Tuy nhiên, Peter LePort nghĩ theo một hương khác. Ông kết luận qua những điều ông đã chứng kiến trong công việc giải phẫu của ông rằng, trẻ con không phải mập phì vì chung quanh chúng quá nhiều “fast food”. Chúng cũng không quá mập vì chúng xem truyền hình quá nhiều. LePort tin rằng, những đứa trẻ mập phì bởi “chúng không bao giờ được học làm cách nào không bị mập phì”.
Bác Sĩ LePort nhấn mạnh: “Bạn không thể nói với các con bạn là đừng ăn thực phẩm không có ích cho sức khỏe vì đó là một sai lầm. Nhưng các con bạn không hiểu tại sao đấy là một sai lầm. Chúng cần phải tự suy nghĩ và tìm ra kết luận”.
Những nhà nghiên cứu dường như hậu thuẫn cho ý kiến của Bác Sĩ LePort. Khoảng 41% những đứa trẻ mập ở trường mẫu giáo sẽ tiếp tục mập phì khi trưởng thành. Vì thế Bác Sĩ Peter LePort chủ trương phải dạy từ nhỏ những trẻ sơ sinh cho chúng hiểu dần dần tại không không ăn những loại thực phẩm làm cho con người dễ bị mập mà phải “có thói quan dùng những thực phẩm như hoa cỏ, rau quả nhiều hơn thịt, cheese, nghĩa là phải thay đổi được thói quen ăn uống của trẻ nhỏ, ăn những gì và không nên ăn những gì.”
Theo lời LePort, nếu không có thói quen uống ngày từ nhỏ, lớn lên các em sẽ mau chóng chấp nhận thói quen fast food đầy dầu và chất béo khác. Huấn luyện từ nhỏ, các em sẽ biết cách gạt những thức ăn không có lợi cho sức khỏe của chúng.
|