( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Điều trị cảm mạo bằng thuốc Nam
Cảm mạo được Đông y chia làm hai loại: cảm lạnh và cảm nóng. Ngoài việc uống thuốc, người cảm nóng cần ăn canh giải nhiệt; còn bệnh nhân cảm lạnh cần xông nước lá và ăn cháo chống lạnh.
Cảm thể lạnh
Triệu chứng là sợ lạnh, nhức đầu, không có mồ hôi, không khát nước. Nếu người bệnh không ra mồ hôi thì phải xông. Nấu nước lá xông bằng một hoặc nhiều loại lá thơm sau: chanh, bưởi, cam quýt, đại bi, long não, bạch đàn, chè đồng, dành dành, sả, hoa cây rau mùi, ngải cứu, cúc tần... Xông xong, cần lau sạch mồ hôi, thay quần áo, tránh gió. Nếu bệnh nhân đã ra mồ hôi rồi thì không xông nữa.
Thuốc uống: Lá tía tô, củ gấu mỗi thứ 12 g; hành, gừng, cam thảo đất, vỏ quýt (sao) mỗi thứ 8 g. Đổ 2 bát nước, đun sôi 5 phút, uống hết một lần. Ngày uống 2 lần.
Cháo chống lạnh: Gạo nếp 50 g, gừng tươi 8 g, hành 6 g. Nấu cháo chín, thái gừng và hành bỏ vào đánh đều, cho bệnh nhân ăn ngay, có thể thêm 1 quả trứng gà, tiêu ớt.
Cảm thể nóng
Triệu chứng là sợ gió, sợ nóng, sốt nhiều, có mồ hôi, khát nước, tiểu tiện vàng, rêu lưỡi vàng mỏng.
Thuốc uống: Bạc hà, kinh giới mỗi thứ 8 g, cam thảo đất 12 g, lá dâu, lá tre, kim ngân, lá củ sắn dày mỗi thứ 16 g. Đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, uống hết một lần, ngày uống 1-2 lần.
Canh giải nhiệt: Đậu xanh 50 g (cả vỏ), lá dâu non 16 g, lá tía tô 12 g. Nấu chín đậu xanh, thái lá dâu, lá tía tô cho vào cháo đảo đều ăn nóng cho ra mồ hôi.

Kháng sinh từ bã nho
Bã nho còn lại sau quá trình sản xuất rượu có thể trở thành vũ khí chống vi trùng gây bệnh. Các nhà khoa học Thổ Nhĩ Kỳ đã phát hiện thấy loại bã này có thể tiêu diệt hàng loạt chủng vi khuẩn độc hại.
Tuyên bố được đưa ra sau thử nghiệm trên 14 loại vi khuẩn quen thuộc, trong đó các loài gây ngộ độc thực phẩm hoặc gây bệnh nghiêm trọng như E.coli và Staphylococcus aureus.
E.coli thường xuất hiện trong thức ăn chưa chín và có thể gây ngộ độc thực phẩm. Trong một số trường hợp, nó để lại những triệu chứng đe doạ tính mạng. Staphylococcus aureus đôi khi được tìm thấy trên da người khỏe mạnh mà không gây rắc rối gì. Tuy nhiên, ở một số người khác nó có thể gây ra những bệnh nghiêm trọng, từ viêm da cho đến các bệnh truyền nhiễm máu.
Bã nho sau nấu rượu thường chứa hạt, vỏ và cuống nho, được sử dụng để tạo ra giấm. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Erciyes và Suleyman Demirel đã sử dụng hai loại nho Thổ Nhĩ Kỳ trong các thử nghiệm của mình.
Họ phát hiện thấy bã nho có thể phá hủy E.coli và Staphylococcus aureus. Nhóm nghiên cứu tin rằng việc bổ sung bã nho vào thức ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh của con người.
Hiệp hội Công nghiệp Hóa học có trụ sở tại London rất hoan nghênh phát hiện mới này. "Thế giới luôn sẵn sàng chào đón những biện pháp bảo vệ thực phẩm tốt hơn và tự nhiên hơn. Điều chúng tôi cần làm bây giờ là tìm ra một loại thực phẩm phù hợp để bổ sung bã nho vào đó. Mùi vị và hình thức của sản phẩm sau cùng sẽ phải dễ chấp nhận với người tiêu dùng", tiến sĩ Yiu-Wai Chu, thành viên nhóm công nghệ sinh học của Hiệp hội, cho biết.

Món ăn - bài thuốc cho người bị loãng xương
Dâu chín được dùng trong nhiều bài thuốc chữa "cốt nuy".
Trong Đông y, loãng xương thuộc phạm vi chứng "cốt nuy" có liên quan tới 3 tạng là thận, tỳ và can; trong đó, tạng thận có vai trò đặc biệt quan trọng. Về trị liệu, ngoài việc dùng thuốc, châm cứu, tập khí công dưỡng sinh, người xưa còn sử dụng nhiều món ăn - bài thuốc độc đáo.
1. Thể bệnh thận âm hư tổn: Lưng đau gối mỏi, hay buồn nhức các đầu ngón tay và chân, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực chộn rộn không yên, môi khô miệng khát, thích ăn đồ mát, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ.
- Đậu đen 500g, sơn thù, bạch linh, đương quy, tang thầm, thục địa, bổ cốt chi, thỏ ty tử, hạn liên thảo, ngũ vị tử, kỷ tử, địa cốt bì, vừng đen, muối ăn mỗi thứ 10 g. Đậu đen rửa sạch, ngâm nước ấm trong 30 phút; các vị thuốc khác đem sắc kỹ 4 lần, mỗi lần chừng 30 phút. Trộn 4 loại nước lại với nhau, cho đậu đen và muối vào sắc kỹ bằng lửa nhỏ cho đến khi cạn kiệt. Lấy đậu đen ra phơi hoặc sấy thật khô, đựng vào lọ kín dùng dần; mỗi ngày ăn 20-30 g. Công dụng: Bổ thận dưỡng can, cường gân tráng cốt.
- Tang thầm tươi (quả dâu chín) 2.500 g, thục địa, hoài sơn, hoàng tinh mỗi thứ 50 g, thiên hoa phấn 100 g. Tang thầm rửa sạch, ép lấy nước cốt; các vị thuốc khác đem sắc kỹ lấy 500 ml dịch chiết rồi hòa với nước dâu, tiếp tục cô nhỏ lửa cho đến khi thành cao đặc. Đựng thuốc trong bình thủy tinh kín miệng để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa canh. Công dụng: Bổ can thận, dưỡng khí huyết, làm mạnh gân cốt.
2. Thể bệnh can thận âm hư: Thể trạng gầy yếu, hay hoa mắt chóng mặt, thị lực giảm sút, tai ù điếc, lưng đau gối mỏi, móng tay và móng chân khô giòn, dễ bị chuột rút, tâm trạng phiền muộn, trong lòng hay bức bối không yên, lòng bàn tay và bàn chân nóng, có thể có gãy xương, miệng khô họng khát, lưỡi đỏ, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ.
- Tang thầm 30 g, kỷ tử 30 g, gạo tẻ 80 g. Các vị thuốc rửa sạch đem nấu với gạo thành cháo, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Tư âm, bổ can thận.
- Bột bạch linh, bột mỳ, bột xương dê, bột mẫu lệ và đường trắng lượng bằng nhau trộn đều, cho lượng nước vừa đủ, nhào thật kỹ, chế thêm mỡ và muối rồi nặn thành những chiếc bánh nhỏ, nướng chín, dùng làm đồ ăn điểm tâm hằng ngày. Công dụng: Bổ tỳ thận, làm mạnh gân cốt.
- Quy bản 100 g, vỏ trứng gà 100 g, đường trắng 50 g. Quy bản và vỏ trứng rửa sạch, để ráo nước rồi sao giòn và nghiền thành bột, cho thêm đường trắng, trộn đều, ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 5 g. Công dụng: Bổ thận, kiện tỳ, làm mạnh gân xương.
3. Thể tỳ thận dương hư: Toàn trạng mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng đau gối mỏi, ăn kém, chậm tiêu bụng chướng, đại tiện lỏng hoặc nát, có thể có phù nhẹ hai chân, nam giới liệt dương, di tinh, nữ giới kinh nguyệt không đều, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt.
- Chim sẻ 5 con, kỷ tử 20 g, đại táo 15 g, gạo tẻ 60 g. Chim sẻ làm thịt, bỏ lông, chân và phủ tạng rồi đem hầm với kỷ tử và gạo tẻ thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Bổ thận, ôn dương, ích tinh, làm mạnh gân xương.
- Cá ngựa (hải mã) 50 g, dương vật và tinh hoàn bò 500 g, đan sâm 500 g, hoàng kỳ, a giao, hạch đào nhân, đường phèn mỗi thứ 250 g. Tinh hoàn và dương vật bò rửa sạch, thái miếng; cá ngựa sao khô tán thành bột mịn; a giao tẩm rượu sao phồng; hoàng kỳ và đan sâm sắc kỹ lấy nước cốt. Cho tất cả vào cô nhỏ lửa thành cao đặc, đựng vào lọ thủy tinh kín miệng để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa canh. Công dụng: Bổ thận, tráng dương, ích tinh, cường gân, tráng cốt.
- Xương sống chó 200 g, đẳng sâm, thỏ ty tử, thục địa mỗi thứ 10 g, gia vị vừa đủ. Xương chó rửa sạch, chặt nhỏ; các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng; tất cả cho vào nồi hầm nhừ, chế đủ gia vị, dùng làm canh ăn hàng ngày. Công dụng: Bổ thận ôn dương, ích khí dưỡng huyết, cường gân tráng cốt.
- Tôm nõn 50 g, trứng gà 1 quả, rau hẹ 200 g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, rau hẹ cắt đoạn, phi thơm hành mỡ rồi cho rau hẹ và tôm vào xào to lửa, khi gần chín đập trứng vào đảo đều một lát là được, dùng làm thức ăn hàng ngày. Công dụng: Bổ thận, ôn dương và làm mạnh gân cốt.

Bạc hà chống ung thư
Một chiết xuất trong lá bạc hà có thể trị ung thư bằng cách triệt phá các mạch máu nuôi khối u. Đây sẽ thành phần chính của một loại thuốc "thông minh", có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây ảnh hưởng đến mô lành.
Hiện nay, tính hiệu quả của chiết xuất lá bạc hà đã được khẳng định trên các tế bào ung thư phổi và vú của người trong phòng thí nghiệm. Chiến lược tấn công của chiết xuất này là vô hiệu hóa huyết mạch cung cấp oxy và dưỡng chất cho khối u. Kẻ bị bỏ đói sẽ không thể phát triển và dần dần bị tiêu huỷ.
Theo Trưởng nhóm nghiên cứu Alan McGown, Đại học Salford (Anh), thế mạnh của chiết xuất bạc hà so với các liệu pháp truyền thống là khả năng nhận biết mục tiêu tấn công - chỉ những mạch máu nuôi tế bào ung thư mới nằm trong tầm ngắm. Các huyết mạch của mô lành gần như không bị nguy hại.
"Sẽ còn nhiều việc phải làm trước khi liệu pháp thông minh này được thẩm định trên cơ thể người bệnh", McGown cho biết. Nếu thành công, đây sẽ là một giải pháp tối ưu trong điều trị các dạng ung thư ở cả người lớn và trẻ em.

Cây rau khúc làm thuốc
Loại cây này thường mọc hoang ở nơi đất ẩm, hoặc được người dân trồng để làm bánh khúc. Dân gian thường dùng rau khúc để chữa cảm sốt, viêm họng, tăng huyết áp, chấn thương...
Rau khúc còn có tên gọi là khúc nếp, thử khúc thảo... Đây là cây cỏ sống hằng năm, cao 20-30 cm. Thân đứng, có lông mịn. Lá mọc so le, hình bầu dục, hai mặt có lông mịn. Cụm hoa mọc ở ngọn thân. Quả bé hình trứng.
Một số bài thuốc Nam có rau khúc thường dùng:
- Chữa cảm sốt: Rau khúc 30 g, gừng tươi 5 lát, hành 2 củ. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ho, viêm họng: Rau khúc 30 g, củ rẻ quạt 5 g, diếp cá 50 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa hen suyễn: Rau khúc 30 g, lá bồng bồng 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Chữa tăng huyết áp: Rau khúc 30 g, lá dâu 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày.
- Chữa chấn thương đụng dập: Rau khúc lượng vừa đủ, giã nát, băng đắp nơi sưng đau.
- Chữa rắn cắn: Lá rau khúc tươi giã nát, đắp rịt vào chỗ rắn cắn
Để chữa ung nhọt đã vỡ mủ, lấy lá rau dền gai giã nát hoặc nhai nát, đắp lên ung nhọt. Còn nếu bị viêm da mủ, lấy toàn cây rau dền gai rửa sạch, giã nát, đắp lên tổn thương.
Cây dền gai (tên khoa học amaranthus spinosus) vị ngọt, nhạt, tính hơi lạnh, được dùng để lợi tiểu, điều kinh, chữa viêm đường hô hấp, long đờm, giảm ho, dùng ngoài chữa mụn nhọt, chốc lở. Theo sách Thảo dược Quảng Đông, cây có tác dụng chữa rắn cắn. Có thể dùng rễ, thân, lá, hạt để làm thuốc.

Một số bài thuốc Nam thường dùng
- Rắn cắn: Hạt rau dền gai 5 g (1 muỗng đầy), phèn chua 0,5 g. Cả hai thứ đem giã nát, chia hai phần, một phần để uống, chiêu thuốc với rượu hoặc nước ấm (rượu dẫn thuốc nhanh hơn). Phần còn lại đem đắp lên vết cắn. Cần kết hợp với hút nọc rắn tại vết cắn.
- Ung nhọt chưa vỡ mủ, đau nhức: Rễ rau dền gai giã nát, đắp lên ung nhọt, có tác dụng làm nhanh vỡ mủ.
- Bỏng: Thân, lá cây rau dền gai rửa sạch, giã nát, đắp lên vết bỏng.
- Ho đờm: Thân, lá cây rau dền gai 50-100 g, giã nát, vắt lấy nước uống. Hoặc dùng thân, lá cây rau dền gai 50 g, lá bồng bồng 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Hoặc dùng thân, lá cây rau dền gai 50 g, lá húng chanh 16 g, vỏ rễ dâu tằm 16 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Viêm họng: Thân, lá cây rau dền gai, lượng vừa đủ, thêm một ít muối hạt, 1-3 lát gừng tươi. Tất cả nhai nát, nuốt nước dần. Ngày nhai ngậm 1-2 lần.
- Chữa lỵ: Thân, lá cây rau dền gai 100 g. Sắc uống ngày một thang. Hoặc dùng thân, lá cây rau dền gai 50 g, rau sam 30 g. Nấu canh ăn ngày 1-2 lần.

Cam thảo đất chữa mề đay
Theo Đông y, cam thảo đất vị ngọt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, giảm ngứa, cầm tiêu chảy, chữa cảm sốt, ho. Nó thường được dùng chữa một số bệnh như dị ứng mề đay, rôm sảy, eczema, lở ngứa. cảm mạo, ho hen..
Cam thảo đất còn có nhiều tên gọi khác như cam thảo nam, dạ cam thảo, thổ cam thảo, tứ thời trà..., thường mọc hoang ở nhiều nơi, được dùng toàn cây để làm thuốc, cụ thể là:
- Ung thư phổi phát sốt, ho hen, tiểu tiện không lợi: Cam thảo đất 60 g, sắc uống ngày một thang.
- Ung thư sinh phù thũng: Cam thảo đất 50 g, xích tiểu đậu 30 g, long quỳ 30 g, đại táo 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Mụn nhọt: Cam thảo đất 20 g, kim ngân hoa 20 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Dị ứng, mề đay: Cam thảo đất 15 g, ké đầu ngựa 20 g, kim ngân hoa 20 g, lá mã đề 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Sốt phát ban: Cam thảo đất 15 g, cỏ nhọ nồi 15 g, sài đất 15 g, củ sắn dây 20 g, lá trắc bá 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Tiểu tiện không lợi: Cam thảo đất 15 g, hạt mã đề 12 g, râu ngô 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ho: Cam thảo đất 15 g, lá bồng bồng 10 g, vỏ rễ cây dâu 15 g. Sắc uống ngày một thang.
- Lỵ: Cam thảo đất 15 g, lá mơ lông 15 g, cỏ seo gà 20 g. Sắc uống ngày một thang.

Cây hương nhu tía chữa cảm
Ở Việt Nam có 2 loại hương nhu: trắng và tía. Cả 2 loại đều có tác dụng chữa bệnh nhưng hương nhu tía được coi là tốt hơn.
Hương nhu tía còn có tên gọi là é rừng hay é tía. Đây là loại cây nhỏ, cao khoảng 1,5-2 m, thân vuông, thân và cành thường có màu tía, có lông quặp, lá mọc đối có cuống dài thuôn, hình mác hay hình trứng, dài 1-5 cm, mép lá khía răng cưa, hai mặt lá đều có lông. Hoa màu tím mọc thành chùm, xếp từng vòng từ 6-8 chiếc thành chùm. Lá và hoa vò ra có mùi thơm đinh hương.
Hương nhu thường mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng cũng được trồng làm thuốc ở quanh nhà. Người ta có thể trồng hương nhu bằng hạt hoặc bằng gốc giống vào mùa xuân, hạt hương nhu dùng làm giống được thu hái ở cây có quả từ năm thứ hai trở đi và hạt phải gieo ngay mới mọc. Cây hương nhu ưa ẩm, đất mùn, đất bùn ao và ánh nắng, rất thích hợp ở các bờ mương, bờ ao.
Dùng hương nhu tía làm thuốc cần thu hái lúc cây đang ra hoa vì lúc này có tác dụng tốt nhất. Hương nhu tía vị cay ấm, dùng toàn cây (trừ rễ), có thể dùng tươi hoặc phơi khô trong râm mát. Sử dụng hương nhu tía để chữa cảm nắng, làm ra mồ hôi, đau bụng đi ngoài, đau đầu, giảm sốt. Mỗi lần dùng 6-12 g, nếu nấu nước xông thì dùng liều gấp 3 lần. Chú ý không sắc lâu quá 15 phút, không dùng kéo dài đối với người suy nhược cơ thể nặng, đã ra mồ hôi nhiều.
Theo kinh nghiệm dân gian, có thể dùng hương nhu tía chữa hôi miệng theo cách sau: lấy 10 g hương nhu sắc với 200 ml nước, dùng để súc miệng và ngậm. Khi bị cảm mạo, lấy hương nhu tán nhỏ, mỗi lần dùng 8 g pha với nước sôi hay dùng rượu hâm nóng mà chiêu thuốc, ra được mồ hôi là khỏi bệnh.

Thuốc từ cây bạch hoa xà
Bạch hoa xà còn có tên là bạch tuyết hoa, đuôi công, đuôi công hoa trắng, cây lá đinh, thiên lý cập, bách tuyết hoa, bạch hoa đơn, tên khoa học Plumbago zeylanica L. Loại cây này có thể chữa nhiều bệnh như cao huyết áp, mụn nhọt, táo bón, chấn thương...
Bạch hoa xà là cây cỏ sống hàng năm, hoa màu trắng mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá. Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi; dân gian thường dùng lá và rễ cây làm thuốc.
Theo Đông y, bạch hoa xà vị đắng, chát, tính hơi ôn, có độc; có tác dụng khử phong, giảm đau, tán ứ, tiêu thũng, giải độc, sát trùng. Rễ có vị đắng chát, gây nôn. Toàn cây trị tràng nhạc, bạch huyết, bế kinh, tăng huyết áp; sắc nước rửa chữa viêm tuyến vú, viêm hạch cấp, nấm, nhọt, rò hậu môn... Theo giáo sư Đỗ Tất Lợi, rễ cây dùng tươi tốt hơn để lâu; lá tươi có tác dụng kích thích gây bỏng da nhưng nếu nấu chín có thể ăn được.
Một số bài thuốc thường dùng:
- Tăng huyết áp: Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá dâu 20 g, hoa đại 12 g, quyết minh tử (hạt muồng) 16 g, cỏ xước 12 g, ích mẫu 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Mụn, nhọt sưng tấy: Lá bạch hoa xà đắp cách 2-3 lớp gạc ngay trên mụn nhọt, có tác dụng làm tan nhọt. Chỉ nên đắp 30 phút. Nên cẩn thận vì có thể gây bỏng da nếu không đắp cách gạc. Nếu bị bỏng, cần dùng dung dịch acid boric loãng rửa vết bỏng.
- Táo bón: Lá bạch hoa xà nấu canh với giấm hoặc chanh để ăn (có thể xào). Uống 1 bát canh, sau 1 giờ là đi ngoài được, người không mệt. Nếu muốn thôi đi ngoài, vò lá với nước lạnh, uống 1/2 chén.
- Phong thấp: Rễ bạch hoa xà 12 g, dây đau xương 12 g, thổ phục linh 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Sưng đau do chấn thương: Rễ hoặc lá bạch hoa xà giã với cơm thành bột nhão, đắp lên chỗ sưng đau.
- Bong gân sai khớp: Rễ bạch hoa xà 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Có thể dùng rễ bạch hoa xà ngâm rượu làm thuốc xoa bóp.
- Chốc lở: Lá bạch hoa xà giã nát, đắp lên tổn thương sau khi đã rửa sạch, nếu thấy nóng thì phải bỏ ra.
- Đau gan, đau dạ dày: Rễ bạch hoa xà 12 g, nhân trần 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ghẻ: Rễ bạch hoa xà sắc lấy nước, dùng nước này để bôi ghẻ.
- Chậm kinh: Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá móng tay 40 g, củ nghệ đen 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Khi thấy kinh phải ngừng uống ngay.
- Tê thấp: Bột rễ bạch hoa xà trộn với dầu vừng, xoa bóp (kinh nghiệm của Ấn Độ).
Chú ý: Phụ nữ có thai cấm dùng bạch hoa xà vì có thể làm ra thai