( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Bệnh Viêm Gan A
BS Bùi Xuân Dương

VÀI YẾU TỐ & ĐIỂM CHÍNH
1. Bệnh viêm gan A rất dễ lây qua thức ăn nước uống, nên hầu như tất cả chúng ta nếu sinh trưởng tại quê nhà đều đã bị lây bệnh này (mà không hề hay biết).
2. Bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào, và nếu có, không cần chữa tự nhiên cũng hết.
3. Bệnh có thể chích ngừa được. Thuốc rất an toàn và công hiệu.
4. Bệnh không gây ra bệnh viêm gan mãn tính, nên sẽ không đưa đến chai gan và ung thư gan như các bệnh viêm gan B, C và D.
5. Người được miễn nhiễm, khi thử máu chất đề kháng HAV-IgG sẽ dương tính. Dựa theo lịch sử y khoa, bắt đầu từ thế kỷ thứ 5 trước Chúa Giáng Sinh người ta đã mô tả những "dịch vàng da" (jaundice outbreaks) xẩy ra tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới, nhất là ở những thành phố lớn đông dân cư hoặc các trại lính chật chội. Bệnh nhân đang sống rất khỏe mạnh, bỗng dưng bị đau bụng, tiêu chảy và vàng da.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến một cơn dịch "cảm cúm" lan tràn nhanh chóng tại Đức quốc với khoảng 200 ngàn lính Mỹ và hơn 5 triệu dân địa phương bỗng dưng ngã bệnh. Lúc bấy giờ vì chưa hiểu rõ nguyên nhân một cách chính xác, họ đinh ninh rằng bệnh nhân bị ngộ nước hoặc trúng độc.
Rồi vào những năm 1930 với phẫu thuật lấy tế bào gan gọi là sinh thiết gan (liver biopsy) để khảo nghiệm dưới kính hiển vi, y khoa đã tiến một bước rất dài trong việc định bệnh viêm gan. Nhưng tới mãi năm 1973 người ta mới nhận diện được hình thù vi khuẩn viêm gan A trong cơ thể của người bệnh. Với sự khám phá này, y khoa đã tìm được nguyên nhân chính của những "cơn ngã nước" bí ẩn ngày xưa.
Vào đầu năm 1988, bệnh viêm gan A lại một lần nữa đột xuất và lan rộng một cách nhanh chóng tại thành phố Shanghai. Chỉ trong vòng 2 tháng trời, hơn 300,000 dân chúng tại đây đã bị bệnh viêm gan A, gây ra nhiều thiệt hại đáng kể.
Ngay cả trên nước Mỹ, viêm gan A đã và đang là một căn bệnh truyền nhiễm đáng ngại, với khoảng 10 đến 20% bệnh nhân viêm gan A phải nhập viện chữa trị, gây ra tổn phí hơn 200 triệu dollars vào năm 1989, tương đương với hơn 300 triệu dollars cho năm 1997.
CÁCH BỆNH VIÊM GAN A LÂY LAN
Vi khuẩn viêm gan A được tìm thấy trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu, nhưng nhiều nhất vẫn làø phân của người có bệnh. Vi khuẩn viêm gan A theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể của chúng ta. Một trong những phương thức lây bệnh khá thông thường là tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nước bọt của bệnh nhân viêm gan A trong thời kỳ ủ bệnh:
Trong thiên nhiên, vi khuẩn viêm gan A được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, nhưng vẫn nhiều nhất ở các nước chậm tiến, kém mở mang, thiếu vệ sinh. Khi vi khuẩn viêm gan A theo thức ăn hoặc nước uống xâm nhập vào cơ thể, chúng sinh sôi nẩy nở một cách nhanh chóng trong các tế bào gan. Từ đó chúng theo ống dẫn mật xuống đường ruột và theo phân đi ra ngoài.
Nhờ vào một lớp vỏ kiên cố, vi khuẩn viêm gan A có thể sống sót trong vòng nhiều năm với nhiệt độ đông lạnh như -20 độ C. Hoặc khi bị phơi khô, vi khuẩn viêm gan A vẫn tiếp tục giữ trạng thái nguyên vẹn trong vòng nhiều tuần lễ. Trong ao lầy các loại ốc sò có thể bị nhiễm trùng. Nếu không được nấu kỹ, chúng có thể gây ra bệnh viêm gan A. Ngay cả tắm ao hoặc hồ bơi công cộng khi không đủ chất Chlorine cũng có thể là một trong những nguyên nhân bị lây bệnh viêm gan A. Khi đun sôi thức ăn (hơn 85 độ C) trong vòng 1 phút, vi khuẩn viêm gan A sẽ bị tiêu hủy dễ dàng.
AI CÓ THỂ BỊ VIÊM GAN A?
Tại những nước chậm tiến khi người nông dân tiếp tục dùng phân người trong việc trồng trọt tưới rau, hoặc hệ thống cầu cống không được tẩy uếá cẩn thận, hoặc những nơi đông dân cư thiếu vệ sinh, bệnh lan tràn một cách tự do, nhanh chóng và dễ dàng.
Việt Nam và các nước láng giềng có tỷ lệ viêm gan cao nhất thế giới. Vì thế, hầu như tất cả chúng ta, nếu sinh trưởng tại quê nhà, có lẽ đều bị lây bệnh viêm gan A trong quá khứ mà không hề hay biết.
Các thức ăn, nước uống, cũng như bát đũa, dao thìa tại những quầy bán rong thiếu vệ sinh có thể là nguyên nhân chính đưa đến sự lan tràn bệnh viêm gan A (và E) một cách tự do và nhanh chóng.
Tuy nhiên, ngay cả trên nước Mỹ, bệnh viêm gan A tái phát từng chu kỳ như một cơn dịch (epidemic), thông thường cứ 10 năm một lần. Gần đây nhất là vào năm 1995, trên toàn nước Mỹ đã có hơn trăm ngàn người phải chữa bệnh do "dịch viêm gan A" mang lại trong vòng một vài tháng. Giữa những cơn "dịch" này, bệnh viêm gan A vẫn tái xuất thường xuyên, gây bệnh tật cho gần 100,000 người mỗi năm trên nước Mỹ. Bệnh lan tràn dễ dàng hơn từ nước này qua nước nọ, từ lục địa này qua lục địa kia, nhờ vào phương tiện di chuyển nhanh chóng và tối tân hiện nay.
Bản đồ sau đây cho thấy những tiểu bang Hoa Kỳ với những tỷ lệ của bệnh viêm gan A. Các tiểu bang như Arizona, Alaska, Oregon, New Mexico, Utah, Washington có tỷ lệ bệnh viêm gan A cao nhất nước Mỹ, với khoảng 30 đến 48 bệnh nhân trong 100,000 người, mỗi năm.
TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM GAN A
Vi khuẩn viêm gan A chỉ gây sưng gan cấp tính (acute inflammation) chứ không tạo nên những biến chứng lâu dài, như sơ gan (fibrosis), chai gan (cirrhosis), hoặc ung thư gan, như vi khuẩn viêm gan B, C, và D.
Triệu chứng của bệnh viêm gan A có thể thay đổi tùy theo lứa tuổi của bệnh nhân khi bị lây bệnh. Càng trẻ tuổi chừng nào, bệnh càng nhẹ chừng nấy. Hơn 80% trẻ em dưới 2 tuổi, khi bị lây, thường không có bất cứ một triệu chứng nào. Ngược lại hơn 80% bệnh nhân lớn hơn 6 tuổi sẽ bị bệnh viêm gan A "hành hạ" với những triệu chứng tiêu biểu từ rất nhẹ đến rất nặng. Càng lớn tuổi chừng nào, các triệu chứng của bệnh viêm gan A càng nặng chừng nấy. Và tùy theo sức khỏe của mỗi cá nhân bệnh có thể phát triển thành một trong 5 trường hợp sau đây:
1) Viêm gan "thầm lặng" (asymptomatic)
2) Viêm gan tiêu biểu (classical hepatitis),
3) Viêm gan với vàng da mãn tính (cholestatic).
4) Viêm gan "tái phát" nhiều lần (relapsing).
5) Viêm gan "ác tính" (Fulminant hepatitis).
1) VIÊM GAN THẦM LẶNG
Đây là trường hợp của hầu hết các thiếu nhi khi bị lây bệnh viêm gan A. Tuy vi khuẩn sinh sôi nẩy nở nhanh chóng trong cơ thể, các bé này vẫn tiếp tục chơi đùa vui vẻ và vì thế, có thể lây bệnh của mình cho những người chung quanh một cách dễ dàng. Đây cũng là lý do mà hầu hết tất cả chúng ta, nếu sinh trưởng tại quê nhà đã từng bị lây bệnh trong quá khứ mà không hề hay biết. Đến khi đi thử máu định kỳ mới biết là mình đã có kháng thể chống lại vi khuẩn viêm gan A.
2) VIÊM GAN TIÊU BIỂU
Thường từ 15 đến 50 ngày (trung bình khoảng 28 ngày) sau khi bị lây, bệnh nhân đang khỏe mạnh bỗng dưng cảm thấy khó chịu, nóng sốt một cách đột ngột. Bệnh phát triển nhanh chóng trong vòng 24 tiếng kèm theo những triệu chứng như buồn nôn khó chịu, đau bụng, biếng ăn, tiêu chảy, đau nhức khớp xương, xuống ký. Một số bệnh nhân da và mắt trở nên vàng. Nước tiểu trở nên đậm mầu.
Hơn 90% bệnh sẽ kéo dài từ một vài ngày đến một vài tuần lễ, rồi tự nhiên không cần thuốc men gì đặc biệt bệnh cũng từ từ giảm dần trong một vài tuần kế tiếp. Triệu chứng đôi khi rất nhẹ và mơ hồ nên có thể bị nhầm lẫn với những cơn cảm cúm sơ sài. Bệnh thường không hề gây trở ngại gì đáng kể trong công ăn, việc làm hàng ngày của người có bệnh. Khác với viêm gan B và C, bệnh viêm gan A không bao giờ đưa tới viêm gan mãn tính, và sẽ không bao giờ gây ra bệnh chai gan và ung thư gan.
Nếu thử máu trong thời gian vàng da (jaundice), năng chất của gan như chất ALT sẽ tăng rất cao trong một thời gian ngắn như hình vẽ dưới đây:
3) VIÊM GAN VỚI VÀNG DA "MÃN TÍNH"
Trong trường hợp này, bệnh nhân cũng bắt đầu bằng những triệu chứng tiêu biểu kể trên. Nhưng da và mắt của họ vẫn tiếp tục bị vàng, mặc dầu năng chất gan dần dần bình thường hóa trở lại. Sự vàng da "mãn tính" này có thể kéo dài từ một đến 3 tháng. Bệnh nhân thường "trong tươi, ngoài héo" (ngược lại của "trong héo, ngoài tươi"). Tuy bề ngoài rất "vàng vọt", họ có thể cảm thấy mỗi ngày một khỏe hơn. Tuy trông họ rất "bệnh tật", vi khuẩn viêm gan A đã không còn tăng trưởng trong cơ thể của họ nữa. Vì thế họ không còn khả năng truyền bệnh cho người khác nữa. Kém may mắn thay, vì thiếu hiểu biết, những bệnh nhân này thường bị cô lập hóa và bị "nhốt" trong nhà, sống một cách biệt lập.
4) VIÊM GAN TÁI PHÁT NHIỀU LẦN
Khoảng 10% bệnh nhân viêm gan A sẽ bị tái phát nhiều lần (relapsing hepatitis). Sau khi tưởng bệnh đã lành, bệnh nhân bỗng dưng bị bệnh trở lại kèm theo những triệu chứng tiêu biểu kể trên kéo dài thêm một vài tuần lễ. Bệnh có thể tái phát một vài lần nữa trước khi hoàn toàn biến mất. Trong một số trường hợp bệnh nhân chỉ cảm thấy mệt mỏi, thiếu năng lực, chóng mệt, dễ kiệt sức, kém ăn, xuống ký trong vòng nhiều ngày tháng. Khi thử máu, chất ALT tăng lên rồi bình thường hóa trở lại theo từng chu kỳ một. Như những trường hợp kể trên, bệnh từ từ hoàn toàn biến mất và không để lại bất cứ một triệu chứng gì lâu dài.
5) VIÊM GAN ÁC TÍNH
Khoảng 0.3% bệnh nhân sẽ rơi vào trạng thái này. Tuy hiếm hoi, nhưng một khi xẩy ra bệnh nhân có thể thiệt mạng một cách nhanh chóng. Trường hợp này thường đến với bệnh nhân lớn tuổi mang sẵn trên người nhiều bệnh tật kinh niên khác. Tóm lại, tuy vi khuẩn viêm gan A được xem là vi khuẩn "hiền" nhất so với các loại vi khuẩn viêm gan khác, mỗi năm trên nước Mỹù khoảng 100 người thiệt mạng vì bệnh viêm gan A. Hơn nữa, tuy đa số bệnh nhân có thể tự phục hồi một cách nhanh chóng, một số bệnh nhân kém may mắn hơn (từ 11 đến 22%) phải nhập viện để chữa trị với chi phí từ $1,817 đến $2,459 cho mỗi bệnh nhân.
CÁCH ĐỊNH BỆNH VIÊM GAN A
Thử máu vẫn là phương pháp duy nhất để định bệnh viêm gan. Trong thời gian cấp tính, kháng thể HAV- IgM sẽ tăng cao. Nếu dưới kính hiển vi điện tử, người ta có thể nhận diện được hình thù của vi khuẩn viêm gan A trong máu và phân. Các vi khuẩn này chỉ trong một thời gian ngắn sẽ bị cơ thể tiêu diệt hoàn toàn, và bệnh nhân sẽ được miễn nhiễm suốt đời. Người được miễn nhiễm (immune) bệnh viêm gan A, sẽ có một số kháng thể (gọi là HAV-IgG) di chuyển khắp nơi trong cơ thể. Các kháng thể này sẽ là những "cảm tử quân" bảo vệ chúng ta trước sự xâm nhập của vi khuẩn viêm gan A.
Một khi bị hồi phục, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống lại bệnh viêm gan A gần như suốt đời.
Tuần tới chúng tôi sẽ thảo luận về cách chữa tị và chích ngừa viêm gan A. Kính mời quý vị đón đọc.
Tháng 6 vừa qua, Hội Ung Thư Việt Mỹ tổ chc họp báo, phát động cuộc vận động chống viêm gan và ung thư gan trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Theo Tung Tâm Gan Á Châu tại Đại Học Stanford, ung thư gan là nguyên nhân gây tử vong vì ung thư đứng hàng thứ hai cho người Việt. Tỷ lệ viêm gan B trong cộng đồng người Việt cao hơn người Da Trắng gấp 17 đến 20 lần, tùy theo các trung tâm khác nhau. Cuộc Vận Động Chống Viêm Gan và Ung Thư Gan 2004 của Hội Ung Thư Việt Mỹ nhằm khuyến khích mọi người gốc Việt làm những việc sau: 1) thử nghiệm xem mình có mang bệnh Viêm gan B hoặc/và C hay không, 2) nếu chưa nhiễm vi khuẩn B, thì nên yêu cầu bác sĩ chích ngừa viêm gan B, 3) nếu chẳng may đã nhiễm vi khuẩn B hoặc/và C thì cần phải đến bác sĩ để xem có cần theo dõi hoặc chữa trị viêm gan, hoặc truy tầm ung gan thường xuyên hay không; đồng thời bệnh nhân nên hỏi bác sĩ về chích ngừa viêm gan A.
Hội Ung Thư Việt Mỹ chân thành cám ơn BS Bùi Xuân Dương đã cho phép Hội trích những bài viết trong tập sách "Sống Với Bệnh Viêm Gan" nhằm phổ biến các kiến thức về bệnh này đến cộng đồng của chúng ta.
Để biết thêm chi tiết về các chương trình phục vụ của Hội Ung Thư Việt Mỹ hoặc về Cuộc Vận Động Chống Viêm Gan và Ung Thư Gan 2004, xin đồng bào liên lạc Hội Ung Thư Việt Mỹ, 11770 Warner Avenue, Suite 113, Fountain Valley, CA 92708, phone: (714) 751-580, email: info@vacf.org or webpage UngThu.org.

Y Học: Suy Thận, Ung Thư Buồng Trứng
Bác Sĩ Trần Mạnh Ngô

Làm Hư Một Loại Gene Tăng Cao Tuổi Thọ
Hai Khoa học gia tên là You-June Fei và Vadivel Ganpathy tại Đại Học Y Khoa Georgea nghiên cứu gene Indy của một loại sâu tên là C. elegans.
Gene Indy có nhiệm vụ sinh ra một phương tiện chuyển động năng lượng tới tế bào và do đó vận chuyển đồ ăn cho tế bào. Nhưng có những loại đồ ăn gây nguy hại cho cơ thể như choleterol và các chất béọ Giảm tác dụng của vận chuyển từ gene Indy tức là giảm hiện tượng sinh hóa sẽ khiến tuổi thọ tăng cao và đời sống khỏe mạnh hơn.
Riêng trong cơ thể đời sống con người có nhiều gene chỉ đạo nhưng chỉ có gene Indy ảnh hưởng tuổi tho.
Các khoa học gia cho rằng chừng nào lọai bỏ được gene Indy khỏi cơ thể thì con người mới có thể khỏe mạnh hơn và tăng cao tuổi thọ.
Bệnh Đường Ruột Hiếm Có Do Miễn Dịch Chất Bạch Đản Gluten Trong Đồ Ăn Khoảng 3 triệu người Mỹ bị bệnh đường ruột tên là Celiac Disease nhưng phần lớn họ không biết mình bị bệnh. Ðây là một thứ bệnh trầm trọng do thiếu chất bạch đản gluten trong đồ ăn đặc biệt trong những loại hạt như mì, lúa mạch và lúa mạch đen.
Những ai bị bệnh tiểu đường loại I, bệnh mongolism hay có bệnh tự miễn dịch dễ bị loại bệnh đường ruột này.
Khi ăn đồ ăn có chất gluten sẽ gây một thứ kháng thể làm hư màng ruột và khiến một số đồ ăn khác không hấp thụ được qua ruột. Do đó sinh tố hay vài thứ đồ ăn dinh dưỡng không thể hấp thụ được qua ruột nên đã gây bệnh thiếu sinh tố, bệnh loãng xương, và đôi khi, rất hiếm, có thể bị ung thư ruột.
Triệu chứng bệnh celiac gồm có tiêu chảy, đau bụng, hơi hay sình bụng và mất cân lượng. Tuy nhiên có người không bị những triệu chứng đường ruột kể trên nhưng lại bị bệnh ngoài da như nổi ngứa, thiếu máu, người không lớn lên được, lùn, chậm trễ nẩy nở tuổi dậy thì, hiếm muộn, và hư men răng.
Trước kia, xác suất cho biết có 1 triêu người Mỹ bị loại bệnh này. Nhưng bây giờ họ tiên đoán có hơn 3 triệu người bị bệnh đường ruột celiac. Có thể coi đây là phương pháp thử nghiệm giúp truy tầm bệnh dị ứng gluten.
Người bị bệnh không những phải sắp xếp những đồ ăn thức uống không chứa chất gluten mà còn phải thận trọng khi ăn uống trong các tiệm ăn.
Hiện Cơ Quan Y tế Hoa Kỳ đang phát động một chương trình giúp các y sĩ lưu ý loại bệnh đường ruột celiac disease do dị ứng chất bạch đản gluten trong đồ ăn. (Celiac Disease Foundation and National Institute of Health)
Thuốc Trị Cao Mỡ Statins Giảm Bệnh Tim Mạch và Còn Giảm Nguy Cơ Suy Thận Bs Vasilios Athyros tại Đại Học Aristoleian, Hy Lạp, cùng các đồng nghiệp nghiên cứu 1600 bệnh nhân bị bệnh tim và có chức năng thận bình thường. Tất cả bệnh nhân đều dưới 75 tuổi. Phân nửa bệnh nhân uống Lipitor. Phần lớn uống 20 mg Lipitor mỗi ngày. Phân nửa bệnh nhân chỉ ăn uống kiêng cữ và tập thể dục. Trong số bệnh nhân này, khoảng 133 bệnh nhân uống và loại thuốc hạ cholesterol khác.
Kết quả cho thấy suy thận thường sẩy ra ở bệnh nhân khi về già. Suy thận tăng trưởng nhanh hơn khi bệnh nhân bị bệnh tim. Đo chức năng thận bằng cách theo dõi thận thải creatine và các chất bã khác.
Theo dõi bệnh nhân trong 3 năm thì thấy, bệnh nhân nào uống Lipitor, giảm phế thải creatine khoảng 5%. Hơn nữa, bệnh nhân uống Lipitor tăng chức năng thận 12%.
Ngoài ra, bệnh nhân uống Lipitor giảm phân nửa tử vong nguy cơ cơn đau tim vì bệnh tim mạch.
(Bàn thêm: Statins giảm cholesterol trong máu, đặc biệt giảm cholesterol xấu là nguyên nhân gây nguy cơ bệnh tim mạch. Trong những nghiên cứu gần đây cho thấy Statins còn giảm nguy cơ hay liên hệ vài bệnh khác như ung thư, phong thấp loại rheumatoid arthritis, bệnh xơ cứng thần kinh và ngay cả bệnh lãng quên Alzheimer nữa.
Uống Statins giảm nguy cơ suy thận trong nghiên cứu kể trên là một khám phá mới.
Theo Bs Athyros thì có lẽ Statins giảm cholesterol xấu trong máu tức là giảm cholesterol xấu bám vào thành mạch máu và là nguyên nhân khiến động mạch thận thông suốt hơn.
Statins tăng trưởng chức năng thận là một khám phá hay nhưng tất nhiên cần phải kiểm chứng thêm).(Journal of Clinical Pathology, July 2004)
Nghiên Cứu Triệu Chứng Ung Thư Buồng Trứng Để Hy Vọng Chẩn Đóan Bệnh Sớm Hơn Bs Barbara A. Goff tại Đại Học Y Khoa Washington ở Seatle cùng các đồng nghiệp nghiên cứu 1709 phụ nữ tại 2 Trung Tâm Y Khoa từ July 2001 tới January 2002 và khám phá 128 phụ nữ có bướu buồng trứng. Kết quả cho thấy 78% phụ nữ có ít nhất 2 triệu chứng trong số: 45% bị đau lưng, 34% thấy mệt mỏi, 27% bụng lình bình, 24% bị táo bón, 22% đau bụng, và 16% có triệu chứng đường tiểu.
So sánh vơí trường hợp bình thường, phụ nữ bị ung thư buồng trứng có những tỉ số tăng 7.4% triệu chứng bụng lớn ra, 3.6% bụng lình bình đầy hơi, 2.5% tiểu són, và 2.2% đau bụng dưới.
So sánh với bệnh nhân có bướu hiền buồng trứng hoặc phụ nữ sức khỏe bình thường thì phụ nữ bị ung thư buồng trứng có nhiều triệu chứng trầm trọng hơn. Triệu chứng thông thường có lập đi lập lại 20 tơí 30 lần mỗi tháng.
Tóm lại, 43% phụ nữ bị ung thư buồng trứng có những triệu chứng như bụng đầy hơi lình bình, bụng như lớn ra, và những triệu chứng đường tiểu so với những bệnh nhân khác trong khi khám bệnh tại 2 Trung Tâm Y Khoa kể trên chỉ được 8%. (Bàn thêm: Ung thư buồng trứng phụ nữ có tỉ lệ tử vong cao trong 5 năm và nếu khám phá bệnh quá trễ bênh nhân chỉ sống được 29-30%. Nếu khám phá sớm hơn bệnh nhân có tỉ lệ sống sót cao hơn, 70-90%. Nói chung thì truy tầm ung thư buồng trứng thường quá trễ, vì rất khó chẩn đoán.
Những triệu chứng trong nghiên cứu kể trên có thể là những kim chỉ nam giúp truy tầm ung thư buồng trứng sớm hơn hay nghi ngờ bệnh nhân bị ung thư buồng trứng trong thời gian sớm hơn). JAMA 291: 2705, 2004
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.
Điện Thoại: (714) 547-3915
E-mail: Tran.Ngo@verizon.net
Diễn Đàn Y Khoa: http://groups.yahoo.com/group/DienDanYKhoa/

Bệnh phong thấp

Bệnh phong thấp hoặc sốt phong thấp là một bệnh toàn thân gây tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt là ở khớp xương, tim, hệ thần kinh, da, tổ chức dưới da.
Bệnh thường có những đợt cấp tính, tái phát, và các giai đoạn ổn định, nên tùy theo từng giai đoạn diễn tiến của bệnh có tổn thương chính nằm ở cơ quan nào, tiến triển đến giai đoạn nào mà gọi tên cho phù hợp như: thấp khớp cấp, thấp khớp tái phát, thấp tim cấp, thấp tim tiến triển, thấp tim tái phát, di chứng van tim hậu thấp. Trong các biến chứng của phong thấp thì biến chứng trên tim là trầm trọng hơn cả, để lại di chứng suốt đời.
Vì có nhiều giai đoạn tiến triển và tổn thương ở những cơ quan nên phong thấp rất đa dạng.
Nguyên nhân?
Bệnh này là do một loại vi khuẩn có tên là streptococcus tan huyết nhóm A gây ra tại đường hô hấp trên như viêm họng, amygdales, viêm mũi-xoang gây ra.
Bệnh phong thấp thường gặp ở lứa tuổi nào?
Bệnh phong thấp là bệnh thường gặp ở trẻ em nhưng di chứng tim nặng và kéo dài đến tuổi người lớn.
Lứa tuổi thường gặp của bệnh này là 5-15 tuổi. Bệnh này thường gặp ở những nước đang phát triển, kể cả Việt Nam với tỷ lệ mắc bệnh khoảng 1-2%.
Các yếu tố thuận lợi dễ mắc bệnh này là gì?
Khí hậu lạnh và ẩm, vệ sinh môi trường cá nhân kém, sống đông đúc chật hẹp. Biểu hiện bệnh này như thế nào?
1. Viêm khớp: là biểu hiện thường gặp nhất, có ở 75% các bệnh nhân phong thấp ở giai đoạn cấp tính. Viêm khớp thường xảy ra sau 1-2 tuần bị viêm họng với sốt, đau họng, nuốt đau, họng bị đỏ, sần sùi, 2 amidan to, đỏ nhưng có khi không có viêm họng đi trước.
Viêm khớp biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Thường là viêm nhiều khớp; khớp lớn: khớp gối, khuỷu, vai, cổ tay, cổ chân; di chuyển từ khớp này qua khớp khác rất nhanh, đôi khi có tràn dịch với nước trong, nhưng không bao giờ hóa mủ, tự khỏi sau 5-15 ngày, không để lại di chứng, không biến dạng khớp, không cứng khớp, không teo cơ, không giới hạn cử động kéo dài, chỉ trừ lúc khớp đang viêm, bệnh nhân có thể không đi được do đau trong vài ngày rồi tự lành dù không điều trị.
2. Viêm tim: là biểu hiện nặng nhất ở trẻ em, có thể gây tử vong nếu nặng và thường để lại di chứng tạo thành các bệnh van tim hậu thấp.
Viêm tim từng xảy ra trong đợt thấp lần đầu hay lần thứ hai, có thể xuất hiện một mình hoặc kèm theo các triệu chứng khác ở khớp, da, thần kinh. Thấp tim đợt cấp có thể gây Viêm nội tâm mạc, cơ tim, màng ngoài tim hay cả 3 lớp cùng một lúc.
- Ðể có ý niệm về tiên lượng, có thể chia ra ở các mức độ:
. Viêm tim nhẹ
. Viêm tim trung bình
. Viêm tim nặng
3. Múa vờn: xảy ra ở khoảng 10-15% các bệnh nhân bị thấp. Múa vờn có thể là một triệu chứng đơn độc của phong thấp hoặc có thể phối hợp với nhiều triệu chứng khác.
Ðây là biểu hiện của thần kinh trung ương, thường xảy ra chậm 2 - 6 tháng sau khi bị viêm họng, khi đó các triệu chứng khác của phong thấp đã hết. Bệnh bắt đầu từ từ, trẻ đang bình thường, bắt đầu có những động tác vụng về như cầm đồ vật hay bị rớt, viết chữ xấu đi, không thẳng nét; trẻ trở nên ngớ ngẩn, học kém hơn bình thường.
Ðến giai đoạn toàn phát, trẻ hay hốt hoảng, lo lắng, nói năng khó khăn, nói không thành câu, viết khó, chữ viết xiêu vẹo, không ngay hàng, vẽ khó, làm những động tác khéo léo bằng tay khó khăn, đi đứng loạng choạng muốn ngã, nghiến răng, sức cơ trở nên yếu rồi không đi được.
Khi bệnh nặng, trẻ có những động tác bất thường, tay chân múa may, quờ quạng. Hai tay không giữ yên được, luôn luôn có những động tác bất thường, không chính xác, biên độ rộng, không nhịp nhàng. Các cơ hay bị tổn thương nhất là ở mặt và 2 tay. Múa vờn thường được khởi phát bởi xúc động về tâm lý, tăng mạnh bởi các kích thích từ bên ngoài, gắng sức, mệt mỏi và lắng dịu khi trẻ ngủ. Múa vờn thường kéo dài cả mấy tuần, mấy tháng, có khi cả năm nhưng không để lại di chứng.
4. Nốt cục dưới da: là những hạt tròn, cứng, di động, không đau, sờ được ở những xương nhô ra và có da mỏng như khủy tay, cổ tay, cổ chân, bàn chân, da đầu vùng chẩm, xương bả vai, gai xương chậu, xương sống xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần rồi hết, không để lại di chứng. Ngày nay, các nốt cục dưới da này ít gặp, chỉ thấy ở khoảng 1% số bệnh nhân phong thấp.
5. Hồng ban vòng: là triệu chứng ngoài da điển hình của phong thấp nhưng cũng hiếm gặp khoảng dưới 5%. Ðó là các đốm màu hồng, ở giữa nhạt màu hơn, có bờ tròn xung quanh, thường thấy ở ngực, gốc tứ chi, không có ở mặt và niêm mạc. Hồng ban thường di chuyển, không ngứa và thường để lại di chứng.
Bệnh này cần phải làm xét nghiệm gì?
- Soi cấy tìm vi trùng.
- Ðịnh lượng kháng thể trong máu.
- Xét nghiệm làm công thức máu.
- Ðo điện tim.
- Chụp X quang tim phổi.
- Siêu âm tim.
Ðiều trị bệnh phong thấp như thế nào?
Tất cả bệnh nhân bị phong thấp cấp cần nằm nghỉ tại giường, hoặc nằm bệnh viện để được khám hàng ngày nhằm phát hiện kịp thời các triệu chứng viêm tim xảy ra trong 2 tuần đầu. Khi theo dõi, cần chú ý phát hiện diễn tiến ở khớp, tim có to thêm không, và mạch có nhanh lên không: đó là các triệu chứng bệnh nặng thêm. Tùy theo mức độ của bệnh mà bác sĩ có chỉ định dùng thuốc như:
- Pénicilline
- Erythromycine (nếu dị ứng pénicilline)
- Aspirine
- Corticoid
Phòng ngừa bệnh này như thế nào?
Phòng ngừa bệnh này bao gồm: phòng ngừa không cho bị viêm họng, xoang, đường hô hấp trên. Nếu đã mắc bệnh thì phải điều trị tích cực tránh diễn biến bất lợi của bệnh sau này.
Phòng ngừa tiên phát và phòng ngừa thứ phát.
Phòng ngừa tái nhiễm vi khuẩn gây bệnh phong thấp (đặc biệt là thấp tim):
- Benzathine Pénicilline (chích)
- Hoặc uống Pénicilline, cách này không tốt bằng chích, vì dễ bị giảm tác dụng bởi thức ăn, dịch tiêu hóa, trẻ quên uống.
- Nếu dị ứng với Pénicilline, thế bằng: Erythromycine hoặc Sulfadiazine.
- Tùy theo mức độ của bệnh mà thời gian phòng ngừa thay đổi từ 1 đến 5 năm.
Phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (phòng ngừa thứ phát)
Ở những bệnh nhân có di chứng van tim hậu thấp, khi giải phẫu, nhổ răng, bị thương có rách da chảy máu cho:
- Pénicilline, uống hoặc chích thịt, trong ngày giải phẫu và 3 ngày sau.
- Nếu dị ứng Pénicilline thì thuốc thay thế là Erythromycine
- Nếu phẫu thuật ở đường ruột hoặc tiết niệu, nên thêm Strep-tomycine hoặc Gentamycine.