( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :

Dưa bở làm thuốc

Để chữa chứng nhiệt, phiền khát, tiểu tiện rít, không thông thoát, đại tiện táo bón, có thể lấy quả dưa bở 250 g, bỏ vỏ, ăn cả hạt. Thuốc có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân, lợi niệu.

Thịt quả dưa bở vị ngọt, tính hàn, có công năng thanh nhiệt, giải phiền khát, lợi tiểu. Đây là loại quả bổ dưỡng, giải khát rất tốt trong mùa hè nóng bức.

Cuống dưa bở tính hàn, vị đắng, có độc; có công năng gây nôn, tống các thứ tồn tích trong dạ dày ra, lợi thủy. Trung y ngay từ thời Nhà Hán đã biết dùng cuống quả dưa bở để thúc nôn phong đàm và thức ăn không tiêu trong dạ dày ra. Y học hiện đại cũng khẳng định rằng, trong cuống quả dưa bở có chất melotoxin, loại thuốc đặc hiệu quan trọng thúc nôn, hạ thủy, làm tiêu tan hoàng đản.

Sau đây là vài bài thuốc từ dưa bở:

- Chống ngứa, chữa mề đay: Lá cây dưa bở nấu lấy nước tắm.

- Chữa mụn trứng cá và có vết sắc tố, làm da nhẵn mịn: Quả dưa bở, táo tàu mỗi thứ 250 g rửa sạch, bỏ vỏ, bỏ hạt, cho thêm 150 g cà rốt đã luộc nhừ, tất cả nghiền cho thật nhuyễn, chia ăn 2 lần trong ngày. Thuốc có tác dụng nhuận phế, kiện tì, dưỡng da rất tốt.

- Chữa đau khớp đầu gối: Hạt dưa bở 100 g, ngâm trong ít rượu trắng, 10 ngày sau lấy ra nghiền nát, mỗi lần ăn 10 g, uống thêm chút ít rượu, ngày 3 lần. Thuốc có tác dụng trừ phong, hoạt huyết.

Chú ý: Những người tì vị hư hàn, bụng trướng tức, đại tiện phân loãng không ăn loại dưa này. Những người bị xuất huyết, thể chất hư nhược thì không được uống các loại nước thuốc bằng cuống quả dưa bở.

Những bài thuốc từ đậu đỏ nhỏ hạt

Xích tiểu đậu là một vị thuốc phổ biến trong Đông y.

Để chữa viêm gan cấp hoặc vàng da, có thể lấy xích tiểu đậu 30 g, táo tàu 50 g, nhân hạt lạc 30 g, đường cát lượng vừa đủ nấu nhừ lên, chia 3 lần ăn trong ngày.

Đậu đỏ nhỏ hạt (xích tiểu đậu) tính bình, vị ngọt chua, có công dụng lợi tiểu, trừ mủ, tiêu ung nhọt độc... Theo y học hiện đại, xích tiểu đậu có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, lợi tiểu, hạ cholesterol và chống ung thư. Sau đây là một số bài thuốc từ loại đậu này:

- Chữa các bệnh phù (do viêm thận mạn tính, suy dinh dưỡng hoặc có thai) và báng do xơ gan: Cá quả 1 con (khoảng 250 g), bí đao (để cả vỏ ngoài) 500 g, xích tiểu đậu 60 g, hành 3 cây. Cá quả đánh vẩy, rửa sạch mang và nội tạng; bí đao rửa sạch, thái miếng; đậu đỏ rửa sạch, thái thành từng đoạn. Tất cả cho vào luộc chín nhừ, không cho muối, ăn trong ngày.

- Chữa sản dịch, huyết hôi ở sản phụ: Xích tiểu đậu 50-100 g, đường đỏ lượng vừa phải, nấu nhừ lên, ăn hết trong ngày.

Chú ý: Những người mồm họng khô, cơ thể gầy gò, sốt nhẹ, đổ mồ hôi trộm không nên dùng nhiều xích tiểu đậu.

Món ăn bài thuốc phòng chống loãng xương

Trứng và vỏ trứng có thể cung cấp nhiều canxi.

Mộc nhĩ đen 15 g, mộc nhĩ trắng 15 g, đường phèn 10 g. Mộc nhĩ thái chỉ, nấu nhừ rồi chế với đường phèn, ăn trong ngày. Người dùng là bệnh nhân loãng xương thể âm hư nội nhiệt, có biểu hiện: người gầy, sốt nhẹ về chiều, nóng trong xương, lòng bàn tay và bàn chân; hay đau đầu, chóng mặt, ù tai, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ.

Theo Đông y, hệ thống xương trong cơ thể do tạng thận đảm nhiệm. Từ tuổi 40-50 trở đi, thận khí bắt đầu suy, việc nuôi dưỡng xương cốt bị trở ngại nên cấu trúc và chức năng của xương không còn khỏe mạnh như trước. Mặt khác, ở người có tuổi, tỳ vị (hệ thống tiêu hóa) và tâm mạch (hệ thống tuần hoàn) cũng có những suy giảm nhất định khiến cho việc nuôi dưỡng xương không được đầy đủ như khi còn trẻ.

Sau đây là một số bài thuốc giúp củng cố hệ thống xương một cách tự nhiên, thuận tiện và dễ được cơ thể chấp nhận:

- Qui bản 100 g, vỏ trứng gà 100 g, đường trắng 50 g. Qui bản và vỏ trứng sấy khô, tán mịn rồi trộn với đường trắng, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 g.

- Tinh hoàn vịt 1 đôi, tinh hoàn gà 1 đôi, thịt lợn nạc 75 g, gạo tẻ 100 g. Tinh hoàn gà vịt làm sạch, bổ đôi; thịt nạc thái chỉ, đem nấu với gạo thành cháo. Chế thêm gia vị, ăn nóng trong ngày.

- Tôm nõn 50 g, trứng gà 1 quả, hẹ 200 g. Hẹ rửa sạch, nấu canh với tôm nõn, khi gần chín đập trứng gà và chế thêm gia vị vừa đủ, ăn nóng trong ngày.

- Tủy xương sống lợn 100 g, đẳng sâm, thỏ ty tử, thục địa mỗi thứ 5 g. Tủy lợn rửa sạch, các vị thuốc thái vụn, tất cả đem hấp cách thủy, chế thêm gia vị, ăn nóng.

- Rau thai 1 cái rửa sạch, thái vụn, hầm thật nhừ rồi chế thêm 250 g mật ong, cô lửa nhỏ thành dạng cao, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh.

- Quả dâu chín 2.500 g, thục địa, hoài sơn, hoàng tinh mỗi thứ 50 g; thiên hoa phấn 100 g. Dâu rửa sạch, ép lấy nước cốt; các vị thuốc sắc kỹ lấy 500 ml nước cốt rồi hòa đều với nước ép quả dâu, cô nhỏ lửa thành dạng cao, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh.

- Dạ dày lợn 1 cái, làm sạch rồi nhét 60 g bạch truật vào trong, đem hầm nhừ, lấy nước cốt nấu với 75 g gạo tẻ thành cháo, chế thêm gia vị vừa đủ, ăn nóng trong ngày.

- Bột cá ngựa 50 g, tinh hoàn trâu hoặc bò 500 g, đan sâm 500 g, hoàng kỳ, a giao, đường phèn mỗi thứ 250 g. Sắc đan sâm và hoàng kỳ lấy nước cốt, bỏ bã rồi cho tinh hoàn bò hoặc trâu đã thái phiến vào hầm thật nhừ. Tiếp đó cho a giao, bột cá ngựa và đường phèn vào, cô nhỏ lửa thành dạng cao. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh.

Chú ý: Nên dùng thành từng đợt 7-10 ngày, hoặc mỗi tuần dùng 1-2 lần.

Các bài thuốc từ mộc nhĩ trắng

Mộc nhĩ trắng rất thích hợp với người cao tuổi.

Để trị ho khan kéo dài hoặc ho ra máu, có thể lấy mộc nhĩ trắng 10-15 g làm sạch, cho vào nồi, đun sôi với nước trong 2 phút, vớt ra để ráo rồi trộn với dầu vừng và gia vị thành salat, dùng trong bữa ăn.

Theo Đông y, mộc nhĩ trắng vị ngọt, tính bình, có công dụng tư âm, nhuận phế, dưỡng vị, sinh tân, rất thích hợp cho những người suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, bị các bệnh lý đường hô hấp, tăng huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não... Mộc nhĩ trắng cũng rất tốt cho người có hội chứng âm hư nội nhiệt, biểu hiện bằng các dấu hiệuÕnhư người gầy, miệng khô họng khát, đầu choáng, mắt hoa, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực bức bối không yên, hay ra mồ hôi trộm, ngủ kém, dễ mộng mị, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ...

Theo y học hiện đại, mộc nhĩ trắng có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể (đặc biệt là hệ thống miễn dịch tế bào), nâng cao năng lực tạo máu của tủy xương. Nó cũng giúp cải thiện chức năng của gan và thận; thúc đẩy quá trình tổng hợp protid trong gan, làm giảm cholesterol trong máu. Ngoài ra, mộc nhĩ trắng còn có tác dụng chống phù và chống phóng xạ ở một mức độ nhất định.

Sau đây là một số bài thuốc từ mộc nhĩ trắng:

Bài 1: Mộc nhĩ trắng 25 g, đường phèn 250 g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm cho nở hết rồi rửa sạch, cắt bỏ chân, cho vào bát cùng đường phèn và nước, chưng cách thủy trong 30 phút, chia ăn vài lần.

Công dụng: Bồi bổ cơ thể, trị các bệnh phổi thể âm hư có ho khan, ho ra máu.

Bài 2: Mộc nhĩ trắng 10 g, đại táo 20 quả, gạo tẻ 100 g, đường phèn 50 g. Mộc nhĩ làm sạch, đại táo bỏ hạt rồi cùng cho vào nồi ninh với gạo thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Tư âm, nhuận phế, kiện tỳ, ích vị, dùng cho người bị bệnh phổi và bệnh đường tiêu hóa có sốt, ho khan, ăn không ngon miệng, mệt mỏi, đại tiện táo.

Bài 3: Mộc nhĩ trắng 10 g, mộc nhĩ đen 10 g. Hai thứ ngâm nước ấm cho nở hết rồi làm sạch, đem chưng cách thủy với nước và đường phèn, chia ăn 2 lần.

Công dụng: Dùng cho người bệnh tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu...

Bài 4: Mộc nhĩ trắngÕ10 g, hạt sen tươi 30 g, nước luộc gà và gia vị vừa đủ. Mộc nhĩ làm sạch rồi luộc cho đến khi thật trong thì vớt ra. Hạt sen bóc bỏ vỏ ngoài và tâm rồi đem hầm với nước luộc gà, khi chín thì đổ mộc nhĩ trắng vào, chế thêm gia vị rồi dùng làm canh ăn.

Công dụng: Trị chứng mất ngủ, buồn phiền, rạo rực, miệng khô, họng khát.

Bài 5: Mộc nhĩ trắng 20 g, thịt lợn nạc 200 g, gia vị vừa đủ. Mộc nhĩ làm sạch, thịt lợn thái chỉ; đem xào chín hai thứ với dầu thực vật. Tiếp đó, cho nước bột gạo pha loãng vào đun sôi một lát, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.

Công dụng: Bồi bổ cơ thể, chữa các chứng đầu váng, tai ù, kém ăn, ăn chậm tiêu, nhịp tim chậm.

Bài 6: Mộc nhĩ trắngÕ10 g, đỗ trọng (tẩm mật nướng) 10 g, đường phèn 50 g. Sắc đỗ trọng lấy nước, bỏ bã rồi cho mộc nhĩ (đã làm sạch)Õvào hầm kỹ. Khi chín, chế thêm đường phèn, ăn trong ngày.

Công dụng: Tư bổ can thận, kiện não, tỉnh thần, dùng chữa các chứng thận hư, lưng đau, xương cốt rã rời, đầu váng, tai ù, mất ngủ, mỏi mệt.

ChúÕý: Không được dùng mộcÕnhĩ trắng đã biến chất, biểu hiện bằng các dấu hiệu: màu ngả vàng, kém tươi, không đàn hồi, có vết mốc hoặc dính lại với nhau. Việc dùng loại mộc nhĩ nàyÕcó thể dẫn tới ngộ độc, gây tổn thương các cơ quan như ruột, gan, thận và trung khu thần kinh, thậm chí có thể dẫnÕđến suy thận cấp tính và tử vong.

Dược thiện cho người viêm loét dạ dày, tá tràng

Những người bị viêm loét dạ dày, tá tràng thể hàn tà phạm vị có thể dùng gạo tẻ 100 g nấu thành cháo rồi hòa với sa nhân 5 g (tán bột), chia ăn vài lần trong ngày. Nếu thiếuÕsa nhân, có thể thay bằng ngô thù du 10 g, gừng tươi 3 lát hoặc hạt tiêu 3 g, gừng tươi 3 lát.

Hàn tà phạm vị là thể bệnh thường phát vào mùa lạnh hoặc khi ăn đồ sống, lạnh. Bệnh nhân đau bụng thành cơn, sợ lạnh, thích ấm nóng (nếu chườm nóng vùng thượng vị hoặc uống nước nóng thì đỡ đau); không khát, nếu có khát thì thích uống nước nóng; rêu lưỡi trắng, mạch khẩn. Người mắc thể này cũng có thể dùng món ăn bài thuốc sau:

-ÕCá diếc tươi 250 g, gừng tươi 30 g, quất bì 10 g, hạt tiêu 3 g. Cá đánh vảy, bóc mang, bỏ nội tạng và rửa sạch; gừng rửa sạch, thái phiến, quất bì thái chỉ. Dùng vải lụa gói gừng, quất bì và hạt tiêu rồi nhét vào bụng cá, cho nước vừa đủ, hầm nhỏ lửa, ăn cá, uống nước khi đói bụng.

Viêm loét dạ dày, tá tràng thể can khí phạm vị

Vùng thượng vị đau chướng, lan ra hai bên mạng sườn, không thích xoa nắn, nếu ấn vào thì đau tăng. Bệnh nhân buồn nôn, ợ hơi, ợ chua, đầy hơi, ăn khó tiêu, nếu ợ hơi hoặc trung tiện được thì dễ chịu, đại tiện không thông khoái, tinh thần uất ức, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền.

-ÕMạch nha sống 30 g (rửa sạch), thanh bì 10 g (thái phiến), sắc kỹ cả hai trong 25 phút rồi lọc bỏ bã, lấy nước, chia uống vài lần trong ngày khi còn ấm.

-ÕPhật thủ 15 g rửa sạch, thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín rồi hòa thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày.ÕCũng có thể dùng phật thủ 20 g thái vụn, sắc lấy nước rồi cho 100 g gạo tẻ nấu thành cháo, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.

-ÕRễ cây quất vàng 30 g rửa sạch, thái đoạn, dạ dày lợn 150 g thái miếng, hầm cả hai thứ cho chín rồi chế thêm gia vị, ăn dạ dày, uống nước hầm.

Viêm loét dạ dày, tá tràng thể tỳ vị hư hàn

Vùng thượng vị đau âm ỉ suốt ngày. Bệnh nhân thích chườm nóng và xoa nắn, có cảm giác lạnh bụng, đầy hơi, ăn kém, chậm tiêu, có thể buồn nôn và nôn ra nước trong, gầy sút, mệt mỏi, da niêm mạc nhợt, đại tiện lỏng nát, tay chân lạnh, lưỡi nhợt bệu, mạch trầm tế.

-ÕCá diếc to 2 con, sa nhân 6 g, trần bì 3 g, tiểu hồi hương 6 g, hạt tiêu, hành, gừng, tỏi, muối ăn vừa đủ, dầu lạc 1.000 g. Cá đánh vảy, bỏ mang và nội tạng, rửa sạch; hạt tiêu giã nhỏ, trần bì thái chỉ, gừng thái phiến, hành cắt đoạn, sa nhân đập dập... Tất cả trộn đều rồi cho vào bụng cá. Đổ dầu vào chảo cho ngập cá rồi rán chín, sau đó lấy cá ra, dùng nồi khác phi hành tỏi, cho thêm một chút nước rồi rim cá nhỏ lửa với gia vị cho ngấm kỹÕđể ăn.

-ÕHạt sen bỏ tâm 40 hạt, dạ dày lợn 1 cái, gia vị và dầu thực vật vừa đủ. Dạ dày làm sạch rồi cho hạt sen vào trong khâu kín, đem hầm nhừ, sau đó thái chỉ, chế thêm gia vị, trộn lẫn hạt sen rồi ăn.

Viêm loét dạ dày, tá tràng thể ẩmÕthực đình trệ

Thường do ăn uống thái quá, thức ăn đình trệ lâu ngày gây nên. Vùng thượng vị đầy chướng, tức nặng khó chịu, ợ hôi, nuốt chua, nôn ra thức ăn chưa tiêu, nôn được thì bụng đỡ đau, đại tiện không thông thoáng, rêu lưỡi dày, cáu bẩn.

-ÕThần khúc 10-15 g đập vụn, sắc kỹ, lấy nước nấu với 100 g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

-ÕMạch nha 10 g rửa sạch, sao vàng, sơn tra 6 g sao cháy. Cả hai sắc kỹ trong 30 phút, bỏ bã, lấy nước, hòa thêm 10 g đường đỏ, chia uống vài lần trong ngày.

Hai bài thuốc dùng chung cho các thể

-ÕĐại táo 25 g, bạch truật 30 g, kê nội kim 15 g (tán bột), bột mì 500 g. Sắc kỹ đại táo và bạch truật trong 1 giờ. SauÕđó loại bỏ hạt táo, tiếp tục sắc nhỏ lửa rồi nghiền thành dạng bột nhão. Cho bột kê nội kim, bột mì và lượng nước vừa đủ, trộn đều và nặn thành những bánh nhỏ, nướng chín, ăn dần.

-ÕHoài sơn 30 g, ý dĩ 30 g, hạt sen bỏ tâm 15 g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 50-100 g. Tất cả cho vào nồi nấu thành cháo, hòa thêm một chút đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày khi bụng đói.

Một số bài thuốc từÕnhung hươu nai

Một cặp nhung hươu tươi có khi nặng đến 700 g.

Nhung hươu nai vị ngọt, tính ôn, có tác dụng bổ dương, thận, tủy; ích khí huyết; sinh tinh, làm mạnh gân xương, điều hòa kinh mạch. Tuy nhiên, người có âm hư, hỏa dương mạnh, cao huyết áp do xơ vữa mạch không nên dùng loại bảo dược này.

Ngoài ra, nhữngÕngười đau thắt mạch vành có kèm huyết áp thấp,Õngười có độ đông máuÕcao, người viêm thận nặng hoặcÕđang tả lỏng cũng không được dùng nhung hươu nai.

Nhung hươu nai thường được sử dụng trong các trường hợpÕsau:

-Õ Trẻ em suy dinh dưỡng, chậm lớn,Õchậm phát triển về trí tuệ và thể lực.

-ÕĐàn ông thiếu tinh trùng, bất lực về sinh lý, hoạt tinh, mệt mỏi, váng đầu, ù tai, hoa mắt, lạnh tứ chi.

-ÕĐàn bà hiếm muộn do lạnh tử cung, thận suy, đau lưng, hồi hộp do tâm nhược, tiểu tiện khó; bạch đới, xuất huyết tử cung.

Nhung được chia làm 3 phần: Phần ngọn dùng cho trẻ em; phần giữa dùng cho người suy kiệt; phần dưới dànhÕcho người cao tuổi.ÕLiều khởi đầuÕthấp, sau tăng từ từ. ViệcÕdùng liều cao ngay từ đầu sẽ làm tổn hại âm khí.

Một số bài thuốc hay

- Thận hư, di tinh, liệt dương:ÕHuyết nhung (loại nhung tốt nhất, được cắt khi chưa phân nhánh) 60 g; câu kỷ tử, hoài sơn, đỗ trọng bắc, mạch môn đông, hoài ngưu tất, sơn thù nhục, thỏ ti tử mỗi thứ 120 g;Õngũ vị tử 30 g, thục địa 240 g. Tất cả tán thànhÕbột mịn, luyện với mật ongÕvàÕlàm thànhÕhoàn 10 g.

Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lầnÕ1 hoàn, chiêu với nước muối nhạt (1%).

- Trẻ chậm biết đi, chậm mọc răng, chân tay mềm yếu, chậm lớn:ÕPhần ngọn của huyết nhung 1,5 g; đơn bì, ngũ gia bì, phục linh, sơn thù nhục, trạch tả mỗi thứ 15 g; thục địa 20 g, xạ hương 0,15 g. Tất cả tán thành bột mịn, luyện mật ong làm hoàn 3 g.

Mỗi ngày uống 2 lần (sáng, tối), mỗi lần 1 hoàn (trẻ 1-4 tuổi) hoặc 2 hoàn (trẻ 5-8 tuổi). Dùng trongÕ30 ngày.

- Chữa bất lực, bần tinh của nam, lãnh cảm của nữ, phục hồi sức khỏe cho người ốm lâu ngày: Nhung 3,8%; nhân sâm 4,7%; ba kích, đỗ trọng bắc, đương quy, hoàng kỳ, long nhãn, ngưu tất mỗi thứ 15% (các vị gia giảm tùy thể trạng từng người). Tất cả chế thành bột mịn, luyện với mật ong, làm hoàn 10 g.

Dùng trong 60 ngày, mỗi ngày 2 lần (sáng, tối), mỗi lầnÕ1 hoàn

Thài lài trắng -Õvị thuốc hay dễ kiếm

Thài lài trắngÕmọc nhiều ở những bãi, ruộng ẩm ướt.

Có thể chữa chảy máu cam bằng cách lấy thài lài trắng tươi 60 g, sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày. Còn nếu bị viêm họng, sưng amiđan, nên lấy thài lài trắng 40g tươi (hoặc khô 15g) sắc lấy nước uống trong ngày.

Cây thài lài trắngÕcòn có tên là cỏ lài trắng, rau trai trắng, cỏ chân vịt. Ở một số nơi, người ta hái ngọn non để luộc hoặc nấu canh.ÕĐâyÕlà một loài cỏ cao 25-50 cm, có lông tơ hay lông lởm chởm; thân chia nhánh, thường rạp xuống, đốt có thể đâm rễ, lá thuôn dài hay hình mác, hoa màu xanh lơ.

Theo Đông y, thài lài trắng tính hàn, vị ngọt nhạt;Õcó tác dụngÕthanh nhiệt, lương huyết, giải độc, lợi thủy, tiêu thũng. Những người tỳ vị hư hàn chỉ nên dùng liều thấp. Sau đây là một số ứng dụng cụ thể:

Quai bị: Thài lài trắng tươi 60 g, sắc lấyÕnước uống trong ngày. Các quan sát lâm sàng cho thấy, trung bình sau 1-2 ngày hết nôn; 1-4 ngày khỏi đau đầu; 2-6 ngày hết sưng và sốt; 4-6 ngày có thể khỏi.

- Thổ huyết: Thài lài trắng tươi 60-90 g, giã nát, vắt lấy nước cốt uống.

- Yết hầu sưng đau: Thài lài trắng tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, nhỏ từng giọt vào họng hoặc ngậm và nuốt dần.

Cao huyết áp: Thài lài trắng tươi 60-90 g, hoa cây đậu tằm 12 g, sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.

- Phù thũng do suy tim: Thài lài trắng 15 g, xích tiểu đậu (đậu đỏ) 50 g, cho 300 ml nước, sắc còn 100 ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Hoặc: Thài lài trắng thái nhỏ 20 g, đậu đỏ 50 g, cho nước vàoÕnấu lên, ăn cái, uống nước. Phương thuốc này còn có tác dụng chữa đau khớp xương do phong thấp.

- Kiết lỵ: Thài lài trắng tươi 30 g (hoặc khô 10 g) sắc với nước, chia 2-3 lần uống trong ngày.

- Viêm gan vàng da: Thài lài trắng tươi 120 g, thịt lợn nạc 60 g, nấu canh, ăn cả cái lẫn nước, dùng một lần hoặc chia ra nhiều phần ăn trong ngày.

- Viêm cầu thận cấp, phù thũng, tiểu ít: Thài lài trắng tươi 30 g (hoặc khô 12 g), rễ cỏ xước 20 g tươi (hoặc khô 10 g), mã đề 20 g tươi (khôÕ8 g) sắc với nước, chia ba lần uống trong ngày.

- Thủy thũng: Thài lài trắng tươi 30-60 g sắc lấy nước, chia 2-3 lần uống trong ngày, dùng liên tục trong nhiều ngày.

- Bí tiểu: Thài lài trắng tươi 30 g, mã đề tươi 30 g, giã nát, vắt lấy nước cốt, thêm chút mật ong vào uống lúc đói bụng.

- Sưng khớp, ung nhọt sưng đau: Thài lài trắng tươiÕrửa sạch, giã nát, thêm chút rượu nóng, đắp vào chỗ sưng đau rồi băng cố định lại, ngày thay thuốc một lần.

BaÕbài thuốc chữaÕbiếng ăn ở trẻ nhỏÕÕ

Dưa hấu có tác dụngÕchữa biếngÕăn.Õ

Đối với trẻÕbiếng ăn do tỳ vị hư nhược, có thể dùng mónÕăn sau:ÕCá chép 1 con (300-500 g), gừng tươi 20-30 g, vỏ quýt 10 g, gia vị vừa đủ.ÕCá chépÕmổ bụng, bỏ hết ruột; gừng thái nhỏ cho vào túi vải cùng vỏ quýt vàÕgia vị rồi nhét vào bụng cá, hấp cách thủy hoặc nấu chín. Chia 2 phần cho trẻ ăn trong ngày (cả nước lẫn cái).

Sau đây là 2 món ăn bài thuốc khác:

Nước ép dưa hấu, cà chua

Dưa hấu và cà chua lượng bằng nhau. Dưa hấu bỏ vỏ, bỏ hạt (lấy phần ruột đỏ;Õcà chua chọn quả chín đỏ, tươi, rửa sạch rồi nhúng qua nước sôi để dễ bóc vỏ. Cho 2 thứ vào ép lấy nước uống ngày 1-2 lần, mỗi lầnÕ50-200 ml tùy theo nhu cầu trẻ.ÕÉp xong phải uống ngay, để lâu sẽ dễ bị nhiễm khuẩn.

Công dụng: Thanh nhiệt, tiêu tích, kiện vị, dùng cho trẻ biếng ăn do tỳ vị tích nhiệt.Õ

Cá diếc, thịt dê hấp ý dĩ

Cá diếc 1 con (100 g), thịt dê 100 g, ý dĩ 15 g, gia vị vừa đủ.ÕCá diếc mổ bụng, bỏ hết ruột, thịt dê thái miếng, ý dĩ đãi sạch vỏ. Tất cả cho vào nồi hấp chín, ăn trong ngày.

Công dụng: Kiện tỳ, ích vị, trừ thấp, dùng cho trẻ biếng ăn do hàn thấp, hại tỳ.

Chú ý: Có thể sử dụng thường xuyên các món ăn trên (tuần vài lần). Tuy nhiên, nên chọn những món phù hợp với cơ thể trẻ bằng cách theo dõi xem trẻ có thích ăn hay không. Ngoài ra, cần thay đổi món ăn cho trẻ vàÕđảm bảo đủ chất (thịt, cá, trứng, sữa, rau quả tươi).

Một số bài thuốc chữa tiểu rắt, tiểu buốt

Hương nhu có thể chữa tiểu buốt.

Những người bị tiểu rắt, tiểu buốt có hiện tượng tiểu ra máu có thể lấy chi tử (sao đen), huyết dụ, lá tre, hoa hòe (sao vàng), rau má mỗi thứ 16 g; đậu đen 20 g, sinh địa 10 g sắc uống ngày 1 thang.

Sau đây là một số bài thuốc khác:

- Thổ linh, kim ngân, mã đề, thương nhĩ mỗi thứ 20 g, sắc uống ngày 1 thang.

- Kim tiền thảo, vỏ bí ngô, đinh lăng, rau diếp mỗi thứ 20 g; trạch tả 16 g, sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu nước tiểu đục như nước vo gạo: Kim tiền thảo, đinh lăng, thổ linh, cẩu tích, rễ cỏ tranh, huyền sâm mỗi thứ 16 g; thủy long 30 g, thục địa 20 g, sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu nước tiểu đỏ, có hiện tượng nóng rát: Sa tiền, đinh lăng, lá tre, rau má, thổ linh, chi tử mỗi thứ 16 g; thủy long, hương nhu trắng mỗi thứ 20 g, sắc uống ngày 1 thang. Thường xuyên cho bệnh nhân ăn cháo đỗ đen.

Trong thời gian điều trị, bệnh nhân cần chú ý:

- Kiêng rượu, thuốc lá, thuốc lào.

- Chăm lo vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài.

- Kiêng sinh hoạt tình dục.

Thêm một vài loại cháo thuốc an thần

Bách hợp có tác dụng chữa mất ngủ.

Để chữa mất ngủ, dưỡng tâm, an thần, có thể lấy tim lợn 1 quả rửa sạch, thái miếng, đem nấu với gạo tẻ 100 g thành cháo, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.

Tim lợn vị mặn ngọt, tính bình, có công dụng bổ tâm khí, an thần, thường được dùng trong các món ăn bài thuốc chữaÕhồi hộp, mất ngủ, hay ngất, hoảng loạn, dễ đổ mồ hôi. Theo sách "Chứng trị yếu quyết",Õđối với trường hợp mất ngủ do tâm hư có kèm theo tình trạng dễ đổ mồ hôi, nên dùng tim lợn 1 quả (rửa sạch máu đọng), nhồiÕnhân sâm và đương qui mỗi thứ 2 lạng ta vào trong rồi đem nấu chín, bỏ bã thuốc, ăn tim và uống nước cốt.

Sau đây là vài loại cháo thuốc khác:

-ÕViễn chí 10 g, toan táo nhân (sao thơm) 10 g, gạo tẻ 50 g. Tất cả đem nấu thành cháo, ăn trong ngày. Thuốc có công dụng bổ can, dưỡng tâm, an thần.

Trong bài thuốc trên,Õviễn chí vị cay đắng, tính hơi ấm, có công dụng trừ đờm, khai khiếu, bổ dưỡng tâm huyết, làm dịu trạng thái căng thẳng, hoảng hốt, cải thiện trí nhớ và an thần. Táo nhân vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ âm, dưỡng tâm, an thần và cầm mồ hôi, thường dùng trong các trường hợp mất ngủ kèm theo tình trạng hay vã mồ hôi hoặc ra mồ hôi trộm.

-ÕBách hợp, long nhãn mỗi thứ 10 g; a giáo, liên nhục, hoài sơn mỗi thứ 6 g; mộc nhĩ trắng, bạch biển đậu, ý dĩ, tiểu mạch mỗi thứ 3 g; đại táo 5 quả, đường phèn vừa đủ. Đại táo bỏ hạt, long nhãn thái vụn, các vị còn lại tán nhỏ, tất cả nấu với 500 ml nước thành cháo, ăn trong ngày.

Thuốc có công dụng kiện tỳ, hòa vị, dưỡng tâm, an thần, thích hợp với người mất ngủ do suy nhược thần kinh kèm theo các triệu chứng hay hồi hộp, lo lắng thái quá, giấc ngủ rối loạn, hay mơ mộng, trí nhớ suy giảm.

-ÕLong nhãn 15-30 g, hạt sen 15-30 g, đại táo 10 g, gạo nếp 30-60 g, đường trắng vừa đủ. Hạt sen bỏ tâm và vỏ, đại táo bỏ hạt, gạo nếp đãi sạch. Tất cả đem nấu thành cháo, chế thêm đường trắng, ăn trong ngày.

Thuốc có công dụng ích tâm, an thần, dùng cho người bị mất ngủ kèm theo mệt mỏi nhiều, hay có cảm giác khó thở, hồi hộp, đánh trống ngực, hay quên, thiếu máu, đại tiện lỏng nát.

Một số bài thuốc chữa dạ dày đơn giản mà hiệu nghiệm

Bắp cải có tác dụng chữa loét dạ dày, tá tràng.

Để chữa viêm loét dạ dày và hành tá tràng, có thể lấy táo tàu 10 quả, hồng hoa 10 g, sắc lấy 200 ml nước, trộn đều với 60 g mật ong lúc thuốc còn nóng, uống vào sáng sớm khiÕđói bụng. Mỗi liệu trình kéo dài 7 ngày.

Sau đây làÕmột số bài thuốcÕkhác:

- Xương cá mực 30 g, thịt gà 150 g, gừng 2 nhánh, táo tàu 2 quả, tất cả cho nước vào ninh nhừ, ăn cả nước lẫn cái; có tác dụng chữa đau dạ dày, hành tá tràngÕdo thừa axit.

- Nước ép cải bắp 250 g nấu sôi, uống trước bữa ănÕngày 2 lần, liên tục trong 10 ngày sẽ hết đau và lành dầnÕvết loét ởÕdạ dày, hành tá tràng.

- Củ cải vàÕngó sen tươi lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước uống ngày 2 lần, mỗi lần 50 g; có tác dụng chữa xuất huyếtÕdạ dày.

- Mỗi ngàyÕuống 100 mg vitamin E chia 3 lần, liên tục trong 2-3 tuần. Có thể kết hợpÕvới việc uống mật ong 60 g và bột nghệ 30 g mỗi ngày.

- Khoai tây gọt bỏ vỏ, nghiền nát, lọc lấy nước, đun sôi để uống ngày 3 lần,Õmỗi lần 1 thìa to, liên tục trong 2-3 tuần.

- Lấy 15 hạt đinh hương nhét vào 1 quả lê đã khoét rỗng ở giữa, hầm chín để ăn. Thuốc có tác dụngÕchữa chứng hay nôn mửa và nấc do viêm loét dạ dày, hành tá tràng.

Một số bài thuốc đơn giản chữa quai bị

Đậu xanh có thể chữa quai bị.

Để chữa quai bị, có thể dùngÕhạt gấc nướng chín, lấy nhân tán mịn, trộnÕvới mật ong, bôi vào miếng giấy rồi đem dánÕvào chỗ sưng, ngày 2 lần.

Sau đây một số bài thuốcÕkhác:

- Lấy mủ cây sung bôi vào miếng giấy rồi dán vào chỗ sưng, ngày thay thuốcÕmột lần, cho bệnh nhân nghỉ ngơi hoàn toàn.

- Đậu xanhÕcả vỏ 30 g, lá gấc tươi 40 g giãÕnhỏ, đắp vào chỗ sưng, băng lại, ngày thay thuốcÕ1 lần.

- Hạ khô thảo 20 g, cây mũi mác 30 g, kim ngân 20 g sắc uống trong ngày; đồng thời nấu cháo đậu xanhÕcho bệnh nhân ăn.

- Trường hợp sốt cao, mệt mỏi, chán ăn: Thổ linh 20 g, sài đất, ngân hoa, thương nhĩ, đinh lăng, hương nhu mỗi thứ 16 g, mã đề 12 g sắc uống ngày 1 thang.

- Khi bị biến chứngÕviêm tinh hoàn: Lệ chi 20 g, thương nhĩ, ngân hoa, hoàng bá, hạ khô thảo, thổ linh, sài đất, đinh lăng, cối xay mỗi thứ 16 g, cam thảo 10 g sắc uống ngày 1 thang. Cho bệnh nhân nằm nghỉ, tránh vận động.

Mật ong - vị thuốc quýÕÕ

Mật ong có tác dụng thúc đẩy quá trình lên da non.

Để chữa bỏng, có thểÕlấyÕmật ong tốt 80 g; mỡ cá 20 g trộn đều, đánh cho lỏng, sánh rồiÕbôi vào các vết bỏng. Sau 10-12 ngày dùng thuốc, vết thương sẽ lên da non và thành sẹo.

Người ta gọi conÕong là "dược sĩ có cánh" vì mật ongÕbồi bổ sức khỏe rất tốt và có thể chữa một số bệnh. Mật ong chứa nhiềuÕvitamin A, B, C, E, các nguyên tố vi lượng,Õchất khoáng, men,Õhoóc môn và một số kháng sinh.ÕMật ong rất tốtÕcho người cao tuổi, trẻ em và đặc biệt là người bệnh mới ốm dậy. Những người dùng mật ong thường xuyên (điển hình là các nhà nuôi ong) thường có tuổi thọ cao,Õda mặt hồng hào. Vị thuốc quý nàyÕchữa được nhiều bệnh như gan, thận, dạ dày, có tác dụng tốt với đường tiêu hóa (là thuốc nhuận tràng có giá trị). Sau đây là một số bài thuốc từ mật ong:

- Chữa bệnh gan, thận, dạ dày: Mật ong 50 g; chè lá tầm xuân (15 g chè + 0,5 lít nước), nước ép củ cảiÕ0,5-1 cốc. Tất cả trộn lẫn uống thay trà hằng ngày.

- ChữaÕsỏi thận:ÕUốngÕdầu ô liu với nước ép chanh và mật ong.

- ChữaÕviêm gan mạn tính: Mật ong 50 g, sữa ong chúaÕ1 thìa cà phê, dùng sau bữa trưa. Cũng có thể dùngÕmật ong với phấn hoa hoặc sữa ong chúa với phấn hoa.

- Bồi bổ và làm cho da mặt đẹp: Dùng mật ong nguyên chất hay hỗn hợp mật ong với lòng đỏ trứng gà (lượng bằng nhau) đánhÕthành kem, ăn hàng ngày.

Người ta cũng làm cho da sáng tươi, mượt mà, làm mờ nếpÕnhăn bằng cách lấyÕmật ong và glyxerin mỗi thứ 1 thìa cà phê, lòng đỏ trứng gà 1 quả, nghiền thành chất sền sệt, bôi lên mặt

Các bài thuốc từ cam thảo

Cam thảo có mặt trong rất nhiều bài thuốc đông y.

ĐểÕchữa chứng đổ mồ hôi trộm, có thể lấy cam thảo 10 g, hoàng kỳ 20 g, mẫu lệ sống 30 g, táo tàu 5 quả sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày (sáng sớm và tối). Còn nếu bịÕho, ngứaÕcổ họng, khàn tiếng, nên lấy lá sen, cam thảo mỗi thứ 3 g pha với nước sôi uống thay trà.

Trong Đông y, cam thảo là một trong những vị thuốc thanh nhiệt, giải độc rất quan trọng. Còn theo y học hiện đại, cam thảo có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, hạ cholesterol, giảm đau, chống co giật. Sau đây là một số bài thuốcÕtừ cam thảo:

- Cảm nhiễm đường niệu: Xa tiền thảo 100 g, đạm trúc diệp 12 g, cam thảo 10 g sắcÕlấy nước, pha chút đường phèn uống thay trà. Mỗi liệu trình kéo dài 7-10 ngày.

- Viêm tuyếnÕvú cấp tính: Xích thược 20 g, cam thảo 10 g sắc lấy nước uống ngày 2 lần (sáng sớm và tối).

- Viêm họng do bệnh sởi: Ngưu tất 20 g, cam thảo 10 g sắcÕ2 lần để lấy 100 ml nước thuốc, cứ 20-40 phút uống 1 lần (mỗi lần 5-12 ml).

- Mụn nước mẩn thành mảng: Hồng hoa 10 g, toàn qua lâu 20 g, cam thảo 6 g sắcÕlấy nước, chia 2 lần uống trong ngày (sáng sớm và tối).

- Di tinh: Ngũ bội tử, camÕthảo mỗi thứ 30 g, nghiền thành bột, mỗi lần uống 6-9 g, ngày 3 lần.

- Viêm phế quản mạn tính: Cam thảo 9 g, mật ong 30 g, giấm 10 giọt, pha với nước sôi uống thay trà trong ngày.

- Ho gà, loét dạ dày, bí đại tiện ở trẻ sơ sinh: Địa phu tử 30 g, hải kim sa 9 g, cam thảo 6 g, pha với nước sôi uống thay trà trong ngày.

- Mẩn ngứa bao tinh hoàn: Cam thảo 30 g, nấu lấy nước rửa chỗ mẩn ngứa ngày 3-5 lần.

Món ăn bài thuốcÕdành cho tuổi vị thành niênÕÕ

Thịt chim cút rất tốt đối với trẻ gầy yếu.

NhữngÕthanh thiếu niên chậm phát dục, chiều cao chưa đạt so với tiêu chuẩn bình thường có thể dùngÕxương bò, xương dê, xương lợn, xương chó, xương gà mỗi thứ 100 gÕlàm sạch, đập vụn, ninh kỹ lấy nước rồi cho gạo vào nấu thành cháo. Ăn 2 lần sáng, tối khi đói bụng. Thuốc có tác dụngÕlàm khỏe gân, xương

Dựa trên quan điểm "nhân nhân chế nghi" (tùy người mà chế định), y học cổ truyền đã tìm tòi và tích lũy khá nhiều kinh nghiệm về vấn đề dinh dưỡng và ăn uống đối với tuổi vị thành niên, trong đó có việc sử dụng các món ăn - bài thuốc độc đáo. Dưới đây làÕmột số ví dụ điển hình:

Bài 1:ÕTủy xương trâu hoặc bò 30 g, gạo nếp 100 g, đường trắng 50 g. Gạo nếp đãi sạch, ngâm nước ấm rồi đổ vào chõ, đặt tủy xương lên trên rồi đồ chín, khi ăn chế thêm đường.

Công dụng: Bổ thận, ích tủy, thích hợp với thanh thiếu niên thể chất gầy yếu, phát dục chậm chạp, có nguy cơ còi xương.

Bài 2:ÕKỷ tử 25 g, não dê 1 bộÕrửa sạch, cho vào bát, chế thêm hành, gừng và gia vị rồi đem hấp cách thủy, ăn nóng.

Công dụng: Bổ tủy, kiện não, thích hợp với thanh thiếu niên năng lực trí tuệ thấp, khả năng tư duy và trí nhớ kém.

Bài 3:ÕTam thất 5-10 g (đập vụn), gà nhỏ 1 con (chừng 500 g). Gà làm sạch rồi cho tam thất vào trong bụng cùng với hành, gừng và gia vị, hấp cách thủy cho chín rồi ăn. Mỗi tuần ăn 1-2 lần.

Công dụng: Hoạt huyết, bổ hư, thích hợp với thanh thiếu niên thể trạng suy yếu, phát dục chậm.

Bài 4
: Thịt dê 250 g, hoài sơn 25 g, gừng tươi 10 g, hành củ 15 g, hạt tiêu 3 g. Thịt dê làm sạch, loại bỏ gân; hoài sơn thái phiến, hành và gừng thái vụn, ướp với thịt dê. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước và gia vị rồi hầm nhừ, ăn nóng.

Công dụng: Kiện tỳ, ích vị, thông dương, hoạt huyết, thích hợp với thiếu niên sinh trưởng và phát dục chậm.

Bài 5: Chim cút 2 con, đông trùng hạ thảo 5 g. Chim cút làm sạch, cho đông trùng hạ thảo và gia vị vào trong bụng, dùng chỉ khâu lại, đặt vào bát, đổ vừa nước rồi hầm cách thủy trong 60 phút, ăn trong ngày.

Công dụng: Bồi bổ hư yếu, làm mạnh gân cốt, thích hợp với thanh thiếu niên phát dục chậm, cơ thể gầy yếu.

Bài 6: Quả dâu chín 100 g, mật ong 25 g. Quả dâu rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội, ép lấy nước rồi đun bằng lửa nhỏ, tiếp đó đổ mật ong vào quấy đều và tiếp tục cô đến khi thành dạng cao, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê với nước ấm.

Công dụng: Bổ thận, dưỡng can, giúp trẻ tăng năng lực ghi nhớ.

Bài 7: Kê nội kim (màng mề gà), sơn tra, bạch truật mỗi thứ 10 g. Kê nội kim nghiền vụn; sơn tra và bạch truật sắc lấy nước rồi uống cùng bột kê nội kim.

Công dụng: Kiện tỳ, hòa vị, tiêu thực, hành trệ, thích hợp với thanh thiếu niên gầy yếu, chán ăn, chậm tiêu, khả năng hấp thu thấp.