( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :

Món ăn bài thuốc cho bà mẹ thiếu sữa

Thịt gà là thực phẩm lợi sữa.

Lạc nhân 50 g, gạo tẻ 100 g, đường phèn lượng vừa đủ. Lạc nhân rửa sạch, giã nhỏ, nấu cháo cùng gạo tẻ; khi cháo chín cho thêm đường phèn vừa ăn. Có thể hầm lạc nhân cùng móng giò lợn.

Theo y học cổ truyền, sữa mẹ từ huyết hóa thành, nhờ động lực của khí mà vận hóa, lưu thông. Do vậy, việc sữa nhiều hay ít liên quan mật thiết đến sự thịnh suy của khí huyết. Cuộc sinh nở khiến khí huyết người phụ nữ bị tổn thương, cơ thể hư nhược nên nguồn sữa bị ảnh hưởng (nhất là những người cơ thể đã sẵn hư nhược hoặc mất máu, mất sức nhiều khi sinh).

Chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc hồi phục khí huyết của sản phụ. Cần chú ý:

- Đảm bảo cung cấp 3.400-3.600 calo/ngày (phụ nữ bình thường chỉ cần 2.500-2.600 calo/ngày). Vì vậy, khẩu phần ăn trong giai đoạn này phải đầy đủ chất dinh dưỡng, giàu vitamin và khoáng chất.

- Ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, hấp thu.

- Thay đổi món ăn thường xuyên để tăng khẩu vị.

- Ăn làm nhiều bữa, không nên ăn quá no một lúc.

- Không kiêng khem quá mức. Cần ăn các thực phẩm vừa có tính ấm vừa lợi sữa như thịt dê, thịt gà, móng giò lợn, trứng, lạc, các loại đậu...

- Kiêng các đồ sống lạnh (như hải sản, gỏi cá), các chất tanh (như cua, sò, ốc, hến, trai, cá mè). Hạn chế các gia vị cay nóng (như ớt, hạt tiêu, mù tạt), các chất kích thích (như chè, cà phê, thuốc lá) vì chúng gây mất ngủ, ức chế quá trình tạo sữa.

Để tăng sữa, có thể sử dụng một số món ăn bài thuốc sau:

- Móng giò lợn 2 cái (rửa sạch, cạo hết lông), thông thảo 30 g (cho vào túi vải bọc kỹ), hành hoa 3 nhánh. Tất cả cho vào nồi, đổ nước, hầm nhừ, bỏ bã thuốc, nêm gia vị. Ăn thịt, uống nước hầm; có thể dùng thường xuyên.

Nếu người khí huyết hư nhiều, mệt mỏi, có thể thêm đương quy, hoàng kỳ mỗi thứ 50 g để tăng cường khí huyết.

- Đương quy 100 g, thịt dê 200 g (rửa sạch, thái miếng), gừng tươi 5 lát, hành hoa 3 nhánh. Tất cả cho vào nồi hầm nhỏ lửa, tới khi thịt dê chín nhừ, thêm gia vị vừa đủ. Ăn thịt, uống nước hầm (chia nhiều bữa). Món này thích dụng với người sau đẻ mất máu nhiều, gầy còm, kém ăn, người lạnh, ít sữa. Người táo bón không nên dùng.

- Vừng đen 30 g (giã nhỏ), gạo tẻ 50 g, nấu cháo. Món này vừa lợi sữa vừa nhuận tràng, thích hợp với những sản phụ sau đẻ huyết hư, táo bón, ít sữa.

Ngoài chế độ ăn uống, người mẹ cần nghỉ ngơi nhiều, tránh mọi căng thẳng thần kinh và cáu giận, tự tạo cho mình sự thoải mái vì sự căng thẳng tinh thần ảnh hưởng rất xấu tới quá trình tạo sữa.

Cá quả làm thuốc

ành
Cá quả rất tốt cho phụ nữ có thai.

Để chữa chứng ra mồ hôi trộm ở trẻ, có thể lấy cá quả (khoảng 100 g) rửa sạch nhớt bằng nước sôi, lọc lấy thịt, thái thành từng miếng nhỏ, rán vàng thơm, nấu với 300 ml nước còn 200 ml, thêm gia vị, cho trẻ ăn cả cái lẫn nước trong ngày. Ăn liền 3 ngày.

Theo Đông y, thịt cá quả vị ngọt, tính bình, có tác dụng khử thấp, trừ phong, tiêu thũng, thông quan, sinh tân dịch, bổ gân xương tạng phủ, chữa trĩ... Dưới đây là một số bài thuốc dân gian từ cá quả:

- Chữa trĩ: Lấy một con cá quả khoảng 200 g, trát đất xung quanh rồi vùi vào đống lửa. Khi thấy đất khô cứng, nứt nẻ là cá đã chín. Bóc bỏ lớp vỏ đất nung bọc ở ngoài, làm sạch cá, bỏ mật và ruột, ăn thịt với lá diếp cá. Ăn trong nhiều ngày.

- Chữa đái rắt, nước tiểu ít và vàng, nóng đầu ngọc hành: Cá quả một con khoảng 500 g, giá đậu xanh 150 g, cà chua 100 g, me 70 g, gia vị vừa đủ. Cá quả lóc thịt, thái miếng mỏng, ướp gia vị. Đầu và xương cá luộc lấy nước, bỏ bã, nấu với thịt cá, giá đỗ, cà chua. Trái me hoặc lá me giã nhuyễn lấy nước cho vào canh. Khi canh chín cho thêm gia vị, múc ra ăn với cơm. Mỗi ngày ăn canh trên hai lần, ăn trong 7-10 ngày.

- Thanh nhiệt, tiêu thũng: Cá quả một con khoảng 200 g, đậu đỏ 50 g, vỏ bí đao 30 g. Cho vỏ bí đao vào bụng cá rồi nấu với đậu đỏ. Khi canh chín, múc ra ăn cả cái lẫn nước. Có thể ăn vã hay ăn với cơm.

Ngoài ra, có thể nấu cá quả với bí đao hoặc lá dâu non ăn hằng ngày để chữa phù thũng; nấu với đậu phụ ăn vào hai bữa cơm để chữa sốt cao, háo khát, bí tiểu tiện do thận hư; hoặc nấu với đậu đen để bổ can thận...

Quả mướp đắng - một vị thuốc quý

Mướp đắng có tác dụng giải nhiệt.

Theo Đông y, mướp đắng tính hàn, vị đắng, không độc, nếu được dùng thường xuyên sẽ giúp giảm các bệnh ngoài da, làm cho da dẻ mịn màng. Theo y học hiện đại, mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư; hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa bằng tia xạ.

Ngoài ra, mướp đắng còn có các tác dụng dược lý sau:

- Chống các gốc tự do - nguyên nhân gây lão hóa và phát sinh các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tổn thương thần kinh, viêm đường tiết niệu, tiểu đường...

- Tăng ôxy hóa glucose, ngăn chặn sự hấp thu glucose vào tế bào. Ức chế hoạt tính các men tổng hợp glucose.

- Có tác dụng sinh học giống insulin, giúp cơ thể tăng tiết insulin, rất tốt đối với bệnh nhân tiểu đường dạng 2.

Ở dạng nước sắc, quả mướp đắng tươi có tác dụng chữa ho, mụn trứng cá(uống trong và bôi ngoài) và rôm sảy (uống trong và bôi ngoài, khi khô thì tắm).

Cách bào chế: Mướp đắng tươi 200 g cắt nhỏ, sắc 3 lần với nước, mỗi lần lấy 1 bát, tất cả cô lại còn 1 bát, chia làm 3-4 lần uống (hoặc cả uống trong, bôi ngoài) trong ngày. Trẻ em dùng nửa liều trên.

Nước ép quả mướp đắng tươi có tác dụng chữa tiểu đường dạng 2 mới mắc (khi chưa phải dùng tân dược), phối hợp với các loại sulfamid chữa tiểu đường dạng 2 để tăng tác dụng, giảm liều và giảm tác dụng phụ của thuốc. Ngoài ra, nước sắc quả mướp đắng tươi cũng giúp phòng chống các bệnh tim mạch, thần kinh, ung thư, lão hóa, giảm tác hại của tia xạ với người bệnh.

Cách chế: Quả mướp đắng tươi rửa sạch, để ráo nước, cắt nhỏ (bỏ hạt), cho vào máy xay sinh tố xay nhỏ; sau đó cho vào túi vải sạch (đã tiệt trùng bằng cách luộc sôi 15 phút) vắt lấy nước, đun sôi 15 phút (nước 1). Bã cho thêm nước (1 kg quả tươi ban đầu thì cho 500 ml nước) đun sôi, để nhỏ lửa trong 15 phút, lấy ra để nguội, vắt lấy nước (nước 2). Bã lại cho thêm nước (1 kg quả tươi ban đầu thì cho 300 ml nước) đun sôi, để nhỏ lửa trong 15 phút, lấy ra để nguội, vắt lấy nước (nước 3). Bỏ bã, gộp cả nước 1, nước 2, nước 3 đun sôi trong 15 phút.

Chia liều: Nếu ban đầu có 1 kg quả tươi thì chia nước vắt thành 10 liều, mỗi ngày uống 1 liều ngay sau bữa ăn. Phần còn lại bảo quản trong tủ lạnh để dùng dần. Sau khi uống mướp đắng, có thể tráng miệng bằng nước cỏ ngọt hoặc đường Aspartam (mua ở nhà thuốc) hay 1 thìa cà phê (5 ml) mật ong (nếu không bị bệnh tiểu đường thì tráng miệng bằng 1 thìa đường kính cũng được).

Chú ý: Khi dùng mướp đắng (ở mọi dạng chế biến), không được dùng huyền sâm hoặc các chế phẩm có huyền sâm.

Các loại chè thuốc giải nhiệt

Lá tre có mặt trong nhiều bài thuốc giải nhiệt.

Những người ra nhiều mồ hôi, mệt, thở ngắn hơi, mồm khô, khát do đi nắng về nên dùng loại trà thuốc sau: nhân sâm 10 g (có thể thay bằng đẳng sâm hoặc sa sâm 15 g), mạch môn 15 g, ngũ vị tử 6 g sắc uống (sắc 3 nước, uống trong 1 ngày, không kể giờ giấc).

Bài thuốc trên nếu thêm hoàng kỳ 12 g, cam thảo 8 g sắc uống vào mùa hè có thể giúp cho người khỏe mạnh, khí lực dồi dào.

Sau đây là một số loại chè thuốc khác rất thích dụng trong mùa hè:

- Chè giải nhiệt: Sa sâm, cát căn, lá tre, sinh địa mỗi thứ 9 g; bạch biển đậu, rau má, mạch môn mỗi thứ 15 g; cam thảo 6 g, vỏ đậu xanh 12 g, bạch chỉ 3 g; sắc uống thay chè trong ngày.

- Chè phòng cảm nắng: Lá tre, hương nhu, cam thảo đất, thổ phục linh mỗi thứ 100 g; sinh địa, sắn dây, mạch môn, bạch chỉ mỗi thứ 25 g; sâm đại hành 50 g. Nấu với 20 lít, uống thay nước trà, dùng cho những người lao động ngoài trời nắng.

- Thanh thử ích khí thang: Sâm Canada (Tây dương sâm) 5 g, mạch môn 12 g, lá trẻ 8 g, tri mẫu 8 g, gạo tẻ 20 g, thạch hộc 15 g, hoàng liên 4 g, cuống sen 20 g, cam thảo 4 g, vỏ trắng dưa hấu 30 g. Sắc uống (sắc 3 nước uống trong một ngày, không kể giờ giấc). Dùng cho người bị cảm nắng, người nóng, vã mồ hôi, bồn chồn, miệng khát, nước tiểu vừa ít vừa sẫm mầu, người uể oải, thở ngắn hơi.

Rau muống chữa bệnh Õ

Rau muống là một trong những vị thuốc dễ kiếm nhất.

Rau muống có tác dụng cầm máu khá hiệu nghiệm. Khi bị chảy máu cam, có thể lấy cọng rau muống giã nát, thêm chút đường hoặc mật ong rồi hòa với nước sôi để uống, một lát sau sẽ cầm máu.

Theo y học cổ truyền, rau muống tính mát, vị ngọt, nhạt, có tác dụng giải độc, sinh da thịt, nhuận tràng, thông tiểu tiện, chỉ huyết, chữa khỏi các chứng táo bón và đái rắt. Sách Lĩnh Nam bản thảo của Hải Thượng Lãn Ông viết: "Rau muống, tên thuốc là ung thái, có tác dụng giải độc, lên da, tiêu phù...". Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh bằng rau muống:

- Chữa ngộ độc rượu, say sắn: Lấy rau muống sống giã nát, vắt lấy nước uống nhiều lần (mỗi lần 100 g rau). Bài thuốc này có thể giải được độc và giúp khỏi say rượu.

- Chữa mụn nhọt lâu đầy miệng, chậm lên da non: Ăn nhiều rau muống luộc hoặc xào hằng ngày. Mụn nhọt sẽ chóng lành, mau sinh da thịt.

- Chữa đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, khô đắng miệng: Rau muống, rau má, cỏ mực mỗi thứ 20 g; rau sam 16 g, vỏ quýt 12 g. Cho các vị vào ấm, sắc với 500 ml nước lấy 250 ml, chia làm hai lần uống trong ngày (vào lúc đói).

- Chữa táo bón: Do rau muống có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu. Chỉ cần uống nước luộc rau muống hoặc ăn nhiều rau muống hằng ngày cũng có thể giải quyết được táo bón.

Một số bài thuốc chữa say nắng Õ

Lá bạc hà có mặt trong rất nhiều bài thuốc nam.

Đối với người bị say nắng, sau khi áp dụng các biện pháp xử trí bước đầu, có thể dùng bài thuốc sau: lá bạc hà tươi 1 nắm, giã vắt nước uống, sau đó dùng sâm triều tiên (10 g) hãm nước sôi, uống trong ngày.

Vào mùa hè, nhiệt độ ngoài trời cao hơn trong nhà và nơi có bóng râm đến vài độ, vì vậy những người ở lâu ngoài trời rất dễ bị say nắng. Y học cổ truyền gọi chứng này là trúng thử (nặng) và thương thử (nhẹ).

Triệu chứng say nắng là đỏ mặt, nhức đầu, choáng váng, buồn nôn, da nóng và khô, tức ngực, khó thở, miệng họng khô, khát nước. Nếu nặng, bệnh nhân có thể mê sảng, co giật, mạch phù hư, sốt cao (có khi lên đến 40-42 độ C), dẫn đến hôn mê, trụy mạch.

Khi có người bị say nắng, hãy đưa ngay bệnh nhân vào chỗ râm mát, thoáng khí; cởi bớt quần áo ngoài, nới rộng dây thắt lưng, nịt vú cho họ và cho uống nước orezon hoặc nước đường pha thêm một ít muối. Trong trường hợp nặng, phải chuyển ngay bệnh nhân đến bệnh viện hoặc trung tâm cấp cứu. Trong trường hợp nhẹ, có thể áp dụng các bài thuốc sau:

- Hương nhu tươi 25 g, dây đậu ván 20 g, cam thảo đất 15 g, sắc uống 2 lần trong ngày.

- Hương nhu 200 g, biển đậu (sao) 40 g, hậu phác (chế qua gừng) 40 g. Tất cả tán bột, mỗi ngày lấy 12 g pha nước uống, chia 2 lần.

- Lá tre non 20 g, thạch cao, gạo tẻ, sắn dây mỗi thứ 15 g; mạch môn, cam thảo nam mỗi thứ 12 g, sắc uống làm 2 lần trong ngày.

Công dụng chữa bệnh của ngẩu pín Õ

Ngẩu pín bò và chó lượng bằng nhau đem sấy khô, tán bột, trộn đều. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3 g với nước muối loãng. Thuốc có công dụng trị liệt dương, tinh dịch lạnh và loãng.

Ngẩu pín là món ăn được chế từ dương vật và tinh hoàn của một số động vật như chó, bò, trâu, dê, hải cẩu, hươu, hổ... Ngẩu pín tính ấm nóng, có công dụng bổ thận, tráng dương.

Theo y học cổ truyền, dương vật và tinh hoàn của các động vật đều thuộc về tạng thận và được gọi là "ngoại thận" (để phân biệt với "nội thận", tức là quả thận có chức năng bài tiết nước tiểu). Chức năng của tạng thận trong Đông y rất phong phú, ngoài việc bài tiết nước tiểu, nó còn liên quan đến việc sinh tủy, sinh xương, đến sinh dục và một số chức năng nội tiết khác.

Bệnh của tạng thận phần nhiều thuộc chứng hư, được chia làm hai thể cơ bản là thận dương hư và thận âm hư. Ngẩu pín có tác dụng chữa chứng thận dương hư; những người bị thận âm hư không được dùng.

Triệu chứng thận dương hư: Sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối đau mỏi, liệt dương, lãnh tinh, di tinh, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn tình dục, tiểu tiện nhiều lần về đêm, đi tiểu không cầm được hoặc hay bị sót lại...

Triệu chứng thận âm hư: Cơ thể gầy khô, hay có cảm giác nóng hâm hấp về chiều, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực bức bối không yên, họng khô, miệng khát, ra mồ hôi trộm; hay ù tai, hoa mắt, chóng mặt; tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo; có thể bị di tinh, liệt dương. Õ

Các cách chế biến

Ngẩu pín có nhiều cách dùng, có thể sấy khô tán thành bột, nấu thành cao hoặc ngâm rượu để uống. Cũng có thể chế biến cùng các loại thực phẩm khác thành các món ăn hấp dẫn.

- Tán bột: Ngẩu pín làm sạch, sấy khô (hoặc rang trong chảo cát nóng cho thật khô) rồi tán thành bột mịn. Mỗi ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 2 g với nước muối nhạt.

- Nấu cao: Ngẩu pín làm sạch, băm nhỏ rồi cho rượu và đường phèn vào nấu nhừ thành cao. Mỗi ngày uống 1-2 lần với nước ấm, mỗi lần 1 thìa canh.

- Ngâm rượu: Ngẩu pín làm sạch, thái miếng, sấy khô rồi ngâm với rượu tốt. Thường một bộ ngẩu pín ngâm với 1.500 ml rượu, sau 15 ngày có thể dùng được, uống mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.

- Nấu canh: Ngẩu pín làm sạch, thái miếng rồi nấu cùng các thực phẩm khác hoặc một số vị thuốc như hoàng kỳ, đẳng sâm... thành các món canh.

Một số công thức thường dùng

- Ngẩu pín chó hoặc bò 1 bộ, thịt dê 500 g. Tất cả làm sạch, thái miếng, hầm kỹ, chế thêm gia vị rồi ăn.

Công dụng: Trị liệt dương, tay chân lạnh giá do dương hư.

- Ngẩu pín chó, ngẩu pín bò, thịt dê mỗi thứ 100 g; thỏ ty tử, nhục dung, kỷ tử mỗi thứ 10 g; rượu vang, hạt tiêu, gừng tươi, hành, mỡ và gia vị vừa đủ. Ngẩu pín và thịt dê rửa sạch rồi chần qua nước sôi để loại bỏ nước huyết, cho vào nồi cùng gia vị hầm chín bằng lửa nhỏ. Thỏ ty tử, nhục dung và kỷ tử thì cho vào túi vải. Khi ngẩu pín và thịt dê chín, dùng vải sạch lọc bỏ các gia vị rồi cho túi thuốc vào đun tiếp cho thật nhừ. Lấy ngẩu pín và thịt dê ra, thái miếng, cho vào bát rồi đổ nước hầm vào, chế thêm gia vị.

Công dụng: Trị liệt dương, đàn bà khó thụ thai do tử cung lạnh.

- Ngẩu pín dê 1 bộ, bạch tật lê, long nhãn, dâm dương hoắc, tiên mao, ý dĩ mỗi thứ 120 g. Tất cả đem ngâm với rượu, uống mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 15-20 ml.

Công dụng: Bổ thận, tráng dương, khu phong, trừ thấp, dùng để chữa các chứng liệt dương, lưng đau gối mỏi, tinh lạnh do thận dương hư.

- Ngẩu pín hươu 1 bộ, nhục dung 60 g, gạo tẻ vừa đủ. Ngẩu pín làm sạch, thái miếng rồi hầm cùng nhục dung và gạo tẻ thành cháo, chế thêm gia vị rồi ăn.

Công dụng: Trị liệt dương, xuất tinh sớm, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh giá do thận dương hư.

Chữa lông mày rụng theo y học cổ truyền

Gừng có mặt trong phần lớn bài thuốc y học cổ truyền.

Gừng sống 1 miếng rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước, cho một ít sữa ong chúa vào khuấy đều. Mỗi tối trước khi đi ngủ, dùng bút lông chấm vào nước thuốc rồi kẻ vào chỗ lông mày rụng, sáng dậy rửa mặt như thường. Thuốc có công dụng làm da mềm mại và ấm, giúp lông mày mọc nhiều.

Sau đây là vài bài thuốc khác:

- Khi lông mày ngứa và rụng (do gãi nhiều) chỉ còn rất thưa thớt, hãy lấy lá liễu rủ (thùy dương), gừng sống mỗi thứ một ít đem rửa sạch. Lá liễu hong khô, nghiền vụn; gừng sống vắt lấy nước. Cho 2 thứ vào trong một dụng cụ sạch bằng sắt, điều chế thành thuốc dạng hồ. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, chấm que bông vào thuốc đó, bôi lên lông mày, đồng thời lấy tay xoa miết cho phát nóng lên. Mỗi ngày làm một lần, phải kiên trì trong một thời gian dài.

- Gừng sống 1 miếng, hạt cải 9 g, sinh bán hạ 3 g. Gừng rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước; hạt cải và sinh bán hạ rang khô giòn, nghiền thành bột, hòa với nước gừng. Lấy bút lông sạch chấm vào thuốc, kẻ lên chỗ lông mày bị rụng ngày 3 lần. Thuốc có công hiệu nhuận da thịt, giúp mọc lông mày.

- Gừng sống và liên tử thảo mỗi thứ một ít, rửa sạch, để ráo nước, giã nhỏ, vắt lấy nước cốt. Lấy que bông nhúng vào nước đó bôi lên chỗ lông mày rụng, đồng thời lấy tay xoa để cho thuốc ngấm vào da, ngày làm 2-3 lần.

Một số bài thuốc chữa bệnh từ quả dừa

Cùi và nước dừa có tác dụng sát khuẩn.

Nếu bị táo bón, nên ăn cùi dừa hằng ngày vào buổi sáng và tối (mỗi ngày từ nửa đến 1 quả). Cùi dừa có tác dụng nhuận tràng tốt. Còn để chữa bệnh mẩn ngứa, nấm ngoài da, có thể lấy vỏ 1 quả dừa đập vỡ, nấu lấy nước để rửa chỗ bị bệnh. Thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp, sát khuẩn.

Theo Đông y, dừa vị ngọt, tính bình, có tác dụng sinh tân, lợi niệu, sát khuẩn, dùng chữa các chứng bệnh viêm nhiệt, háo khát, tân dịch bị tổn thương, miệng nôn trôn tháo, phù nề, tiểu tiện ít, ký sinh trùng đường ruột, lở loét viêm da. Việc ăn cùi dừa, uống nước dừa thường xuyên có thể làm cho mặt mày rạng rỡ, da dẻ mịn màng, người đẹp thêm ra. Có thể nói, từ ruột đến vỏ quả dừa nó đều là những vị thuốc quí. Sau đây là một số ứng dụng cụ thể:

Chữa các chứng viêm nhiệt, háo khát, tổn thương tân dịch, mồ hôi nhiều, phù thũng, nước tiểu ít và đỏ: Dừa 1 quả, bổ lấy nước uống ngày 3 lần.

Bồi bổ cho những người vừa bị xuất huyết nhiều hoặc thổ tả mất nước: Nước dừa 1 cốc, cho thêm 15 g đường kính và mấy hạt muối ăn, khuấy tan đều để uống.

Chữa bệnh sán dây: Dừa 1 quả, uống nước, ăn cùi. Dùng vào sáng sớm lúc bụng đang đói, sau 3 giờ lại ăn tiếp để sát khuẩn đường ruột.

Chữa trúng phong, đau tim, đau khớp: Vỏ quả dừa 30 gam, nấu lấy nước uống ngày 2 lần, có tác dụng hoạt huyết, làm hết đau.

Chữa bệnh bằng lá trầu khôngÕ

Lá trầu chứa các chất kháng sinh mạnh.

Khi bị bỏng, hãy giã lá trầu không, vắt lấy nước bôi lên vết bỏng. Chỗ tổn thương sẽ đỡ đau rát và chóng khỏi.

Dân gian thường dùng lá trầu để đánh gió (chữa cảm mạo), rửa vết thương (sát khuẩn), chữa bỏng, lở loét, các chứng đau bụng lạnh, đầy hơi, nấc cụt... Các nghiên cứu hiện đại đã xác nhận lá trầu có tác dụng kháng sinh mạnh. Chất kháng sinh bay hơi của lá trầu diệt được nhiều loại vi khuẩn. Sau đây là vài bài thuốc dân gian với lá trầu:

1. Chữa lở loét

- Vết loét nhỏ: Lấy 2-3 lá trầu, cắt thật nhỏ, cho vào một cái cốc con. Đổ nước sôi vào ngập lá trầu, đợi 10-15 phút cho các chất trong lá trầu thôi ra hết, lấy nước này rửa vết loét, mụn nhọt, vết chàm của trẻ em rất tốt. Ngày rửa 2-3 lần.

- Vết loét to: Lấy nhiều lá trầu hơn, đun với nước cho sôi kỹ, để ấm, dùng như trên.

2. Rửa vết thương

Khi bị thương hay vết thương bị nhiễm khuẩn, ta có thể dùng nước lá trầu không để rửa vết thương thay cho thuốc sát khuẩn. Cách làm như sau:

Lá trầu không tươi 40 g, phèn phi 8 g. Lá trầu rửa sạch, đun với 2 lít nước sôi trong 15 phút, bắc ra để nguội, gạn lấy nước trong, đánh tan phèn phi vào, lọc lấy nước dùng rửa vết thương.

Khi rửa vết thương, chú ý dội nước từ trên xuống, lấy bông thấm khô và lau chung quanh vết thương.

Chữa bế kinh bằng thuốc nam

Ngải cứu có tác dụng điều kinh rất tốt.

Lá ngải cứu 30 g, đường đỏ 20 g. Lá ngải cứu rửa sạch, cho vào nồi cùng 300 ml nước, đun nhỏ lửa còn 150 ml. Cho đường đỏ vào, đun tiếp cho đường tan rồi chia làm 3 phần ăn trong ngày (cả nước lẫn cái). Ăn trong 5 ngày, bắt đầu từ 18-20 âm lịch.

Bế kinh là tình trạng đến kỳ mà không thấy kinh, chu kỳ kinh bị kéo dài nhưng không phải có thai. Cần phân biệt bế kinh với vô kinh nguyên phát (người phụ nữ quá 18 tuổi vẫn chưa thấy kinh) và mãn kinh. Sau đây là vài bài thuốc nam chữa chứng này:Õ

- Củ hẹ 90 g, mía đỏ 30 g. Củ hẹ nhặt kỹ, rửa sạch; mía đỏ róc bỏ vỏ, tiện thành khúc, chẻ làm 4. Cả hai đem ép lấy nước, đun nóng cho bệnh nhân uống, ngày 2 lần, cần uống liền 5-7 ngày.

- Hoa mào gà đỏ 30 g, thịt lợn nạc 60 g, mắm muối vừa đủ. Hoa mào gà đỏ chọn phần non, rửa sạch, thái nhỏ; thịt lợn nạc rửa sạch, băm nhỏ, ướp mắm muối, xào chín. Cả hai thứ cho vào nồi, thêm 300 ml nước, đun nhỏ lửa cho chín nhừ, chia 2 lần ăn trong ngày, cần ăn liền 5 ngày.

- Cây ích mẫu 60 g, đường đỏ 20 g. Cây ích mẫu rửa sạch, phơi khô, cắt nhỏ, bỏ vào nồi, thêm 250 ml nước, đun nhỏ lửa cho sôi kỹ. Khi còn 150 ml nước đặc thì chắt lấy nước, hòa đường đỏ, chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 5 ngày, bắt đầu từ ngày 20 âm lịch.

Những phương thuốc từ lá dâu Õ

Lá dâu dùng làm thuốc thường là loại bánh tẻ.

Để chữa ra mồ hôi trộm, có thể lấy lá dâu già (lá vàng càng tốt) đem sắc đặc lấy nước uống, đồng thời lấy ngũ bội rịt vào rốn, băng lại qua đêm.

Trong Đông y, lá dâu là một vị thuốc chữa bệnh có tên là tang diệp. Lá dâu tính lạnh, vị đắng ngọt, đi vào các kinh can, phế, có tác dụng chữa cảm do phong nhiệt, ho, đau rát họng, nhức đầu, an thần, tiêu đờm. Sau đây là vài bài thuốc cụ thể:

Chữa say nắng: Lá dâu 100 g, lá đậu ván 100 g, lá sen tươi 100 g. Tất cả rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, thêm chút muối ăn, khuấy đều rồi uống.

Chữa chảy máu cam: Lá dâu và cỏ nhọ nồi mỗi thứ 16 g, cho 3 bát nước sắc còn 1 bát, uống nguội. Cũng có thể giã nát 2 thứ trên, vắt lấy nước cốt uống.

Chữa mất ngủ: Lá dâu khô, lá vông khô, cây xấu hổ mỗi thứ 16 g, cắt ngắn, sao thơm. Đổ 3 bát nước sắc lấy 1 bát, chia 2 lần uống sáng, chiều.

Chữa ho, viêm họng: Lá dâu, kim ngân mỗi thứ 12 g; bạc hà, lá cúc hoa, ngải cứu mỗi thứ 10 g, xạ can 8 g. Sắc uống ngày 1 thang trong 5 ngày liền.

- Dự phòng sốt xuất huyết: Lá dâu, lá tre, sắn dây, mã đề, sinh địa mỗi thứ 12 g; lá khế 16 g, sắc uống hằng ngày thay trà. Bài thuốc này được sử dụng khi trong nhà hoặc vùng dân cư có người bị bệnh sốt xuất huyết.

Tự chữa một số bệnh về tiểu tiện

Tỏi có tác dụng kháng khuẩn rất tốt.

Nếu bị tiểu tiện khó khăn hoặc không tiểu được sau phẫu thuật, có thể lấy tỏi tươi bóc hết vỏ, giã nát, vắt lấy nước, nhỏ vào đầu đường niệu. Sau 3-5 phút, tình trạng trên sẽ bị giải trừ. Nếu nhỏ một lần chưa có hiệu quả tốt thì nhỏ lần thứ 2, chắc chắn sẽ có kết quả mong muốn.

Sau đây là một số phương pháp đơn giản khác chữa các biểu hiện khác thường về tiết niệu:

- Sỏi đường niệu: Rễ và lá cây ngô tươi mỗi thứ 60 g, nấu lấy nước uống trong nhiều ngày, sỏi sẽ mòn dần.

Hoặc: Râu ngô và kim tiền thảo mỗi thứ 30 g, nấu lấy nước uống thường xuyên.

- Nước tiểu ngắn và đỏ: Khế tươi 2-3 quả giã nát, hòa với một cốc nước sôi để nguội, trộn đều, chia 2-3 lần uống trong ngày.

- Thủy thũng do viêm thận: Ăn hành tây. Chất Meletin trong củ hành tây có tác dụng lợi niệu rất rõ rệt.

- Bí tiểu hoặc đau rát đường niệu khi tiểu: Lấy vỏ hạt đậu xanh nấu lên uống.

Hoặc: Lấy 500 g giã đỗ ép lấy nước, hòa thêm nước đường trắng vào uống, có thể lợi tiểu và hết đau rát.

- Tiểu tiện ra máu: Lấy nửa chén vỏ lụa của hạt lạc rang, nghiền thành bột, pha với nước sôi, uống thay trà.

- Di niệu ở trẻ nhỏ: Mỗi buổi sáng sớm, khi ngủ dậy, ăn một bát cháo kê (cho đường vừa phải hoặc chút muối). Ăn liên tục trong 1 tháng sẽ khỏi.

- Tiểu tiện ra máu: Lá cây cà (loại cà pháo, cà bát, cà tím) để qua năm, rang khô, nghiền thành bột, hòa với chút rượu hoặc chút nước muối loãng để uống, mỗi lần 10 g, ngày 2 lần.

- Tiểu tiện quá nhiều lần trong ngày: Dùng một trong các món ăn bài thuốc sau:

Õ + Tiểu hồi hương rang khô với chút muối, nghiền thành bột, ăn với bánh dày hoặc xôi nếp thường xuyên cho đến khi khỏi bệnh.

Õ + Thịt rùa đen lượng vừa phải, nấu với thịt thỏ thành món ăn trong ngày. Ăn mấy ngày liền sẽ khỏi bệnh.

Õ + Lấy ruột 1 con gà trống làm sạch, đem xào lên thành món ăn.

Õ + Nấu xôi đậu đen ăn với gan lợn mấy ngày liền.

Õ + Phổi dê và thịt dê nấu cùng nhau, ăn với chút muối, gia vị hoặc nước mắm, tương...

Sừng trâu và sừng tê giác

"Làm thế nào để phân biệt sừng trâu với sừng tê giác? Công dụng chữa bệnh của mỗi loại sừng này?".

Trả lời:

Về mặt lý thuyết, có thể phân biệt sừng tê giác với sừng một số loài thú lớn (trong đó có sừng trâu) như sau: sừng tê giác không gắn vào xương sọ mà nằm hoàn toàn ngoài da; còn sừng của các loài thú khác thì xuất phát từ hộp sọ, gắn liền với một mảnh xương sọ. Nếu sừng đã được cưa nhỏ ra thì rất khó phân biệt, cần phải phân chất ở phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân biệt này là không cần thiết vì hoàn toàn không còn sừng tê giác thật lưu hành trên thị trường. Theo nhiều lương y lão thành, trước năm 1945, sừng tê giác đã vô cùng hiếm. Ngày nay, cả Việt Nam chỉ còn một vài con tê giác được bảo vệ nghiêm ngặt. Vì vậy, nếu có một "người dân tộc" nào đó gạ bán sừng tê giác thứ thiệt thì tốt nhất là không nên mua.

Theo Đông y, sừng tê giác vị đắng, chua, mặn, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, an thần; dùng để chữa các chứng sốt cao mê man, xuất huyết, phát ban.

Sừng trâu vị đắng mặn, tính hàn, có tác dụng tương tự như sừng tê giác. Ngày nay các sách thuốc đều thống nhất dùng sừng trâu thay cho sừng tê giác, với liều dùng từ 8-80 g, tán thành bột mịn rồi sắc uống.

Một số phương pháp đơn giản chữa bệnh răng miệng

Quả lê có tác dụng chống nhiệt miệng và đau họng.

Khi bị rộp miệng, bạn hãy cắt vài lát gừng, cho vào miệng nhai nhỏ, vết rộp sẽ nhanh hết. Việc nhai sống lá hoặc củ tỏi cũng đem lại tác dụng này.

Sau đây là một số cách chữa bệnh răng miệng dễ thực hiện khác:

1. Chống sâu răng

- Súc miệng bằng nước chè: Trong lá chè có chất làm chắc răng. Nước chè có chất kiềm, có thể trung hòa axit, chống sâu răng và một số loại vi khuẩn gây bệnh.

- Súc miệng bằng nước muối: Mỗi ngày dùng nước muối nhạt súc miệng 2-3 lần, có thể phòng chống bệnh chảy máu lợi.

- Ăn táo tây thường xuyên: Trong táo có chất cellulose (một loại hyđrat cácbon gồm các đơn vị đường glucose kết hợp), giúp làm sạch cầu răng lợi, phòng chống các bệnh về răng miệng. Tuy nhiên, khi ăn xong nên súc miệng vì trong táo có nhiều đường lên men, dễ làm hỏng răng.

2. Khử mùi hôi trong miệng

Sau khi ăn tối (nhất là dùng thức ăn có tỏi), miệng thường rất hôi. Để khử hết mùi, có thể dùng các cách sau:

- Nhai một ít lá chè tươi hoặc uống một cốc chè đặc, mùi hôi sẽ mất ngay.

- Uống một cốc sữa bò.

- Súc miệng nước muối để diệt các loại vi khuẩn làm hôi miệng.

3. Chữa sưng và đau họng

- Dùng giấm và nước lượng bằng nhau để súc miệng.

- Lấy muối rang khô, chín già, giã nhỏ, thổi vào trong họng rồi nhổ nước bọt ra.

- Ăn lê thường xuyên.

- Giằm nát quả mướp non, lấy nước súc miệng thường xuyên.

- Lấy xì dầu (1 thìa canh) súc miệng, khoảng 1 phút thì nhổ ra, làm liên tục 2-3 lần sẽ thấy tác dụng. Khi súc miệng, cố gắng ngửa đầu ra sau để xì dầu tiếp xúc với họng.

4. Tiêu đờm, chữa ho

- Vỏ cây dâu 10 g, cam thảo 5 g, lá tre 5 g. Tất cả rửa sạch, sắc lên để uống. Bài thuốc này giúp tiêu đờm vào buổi sáng sớm.

- Vỏ bí đao phơi sương, cho đường vào nấu thành canh để uống, có tác dụng chữa ho.

- Gừng một miếng thái nhỏ, trứng gà 1 quả. Cho gừng vào đánh với trứng, rán lên ăn nóng, ngày 2 lần. Thuốc có tác dụng chữa ho rất tốt.

5. Chữa khản giọng

- Nếu bị khản giọng do cảm hoặc viêm họng mạn tính, có thể dùng 100 g giấm ăn để luộc một quả trứng gà (trong khoảng 15 phút), sau đó ăn trứng, uống giấm, chỉ 1-2 lần là khỏi.

- Trước khi đọc diễn văn, có thể uống nước muối nhạt để tránh bị khản giọng.