( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :

Thuốc nam chữa cảm nắng, trúng nắng

Lá tre có tác dụng thanh nhiệt, chữa cảm nắng.

Rau má tươi, lá tre, củ sắn dây mỗi thứ 12 g, lá hương nhu 16 g, cho 400 ml nước, sắc còn 200 ml. Người lớn uống hết một lần, trẻ nhỏ chia thành 3-4 lần uống trong ngày. Nếu không có củ sắn thì lấy bột sắn 8 g hòa vào nước thuốc cùng uống, không sắc chung với các vị thuốc khác. Bài thuốc này có tác dụng chữa cảm nắng

Cảm nắng là bệnh lý thường gặp trong mùa hè với các triệu chứng: sốt, da nóng đều, mồ hôi ra nhiều, khát nước, trong ngực có cảm giác bứt rứt khó chịu, mắt đỏ, lưỡi đỏ, nước tiểu đỏ, mạch nổi, yếu. Ngoài bài thuốc trên, có thể chữa theo cách sau:

- Hương nhu, hậu phác, bạch biển đậu (đậu ván trắng), rau má tươi mỗi thứ 20 g, quả dành dành (sao vàng) 12 g. Tất cả cho vào ấm, đổ 600 ml nước, sắc còn 300 ml. Người lớn chia thành 2 lần, trẻ nhỏ chia thành 3-4 lần uống trong ngày.

Bài thuốc chữa trúng nắng

Triệu chứng trúng nắng xuất hiện đột ngột; bệnh nhân bỗng nhiên ngã lăn, mê man bất tỉnh, sốt cao, mồ hôi vã ra như tắm, thở dốc, khát nước, lưỡi đỏ, mạch yếu. Có thể sử dụng bài thuốc nam sau đây:

Hương nhu, hậu phác, bạch biển đậu, rau má tươi mỗi thứ 12 g, quả dành dành (sao vàng) 8 g, bố chính sâm (tẩm nước gừng, sao vàng) 20 g, mạch môn (bỏ lõi, sao vàng) 10 g, ngũ vị tử 6 g, rễ đinh lăng 16 g. Tất cả cho vào ấm, đổ 800 ml nước, sắc còn 400 ml. Người lớn chia thành 2 lần, trẻ nhỏ chia thành 3-4 lần uống trong ngày.

Chữa ho bằng hoa đu đủ đực Õ

Hoa đu đủ đực có thể chữa ho gà.

Để chữa ho, nhất là ho trẻ em, có thể lấy hoa đu đủ đực (chọn hoa mới nở) 10-20 g trộn với đường trắng hoặc mật ong, hấp cơm trong 15-20 phút; sau đó lấy ra, nghiền nát; uống làm 2-3 lần trong ngày với nước đun sôi để nguội.

Có thể kết hợp hoa đu đủ đực với các vị thuốc khác để chữa ho trong các trường hợp sau:

- Ho kèm theo mất tiếng: Hoa đu đủ đực 15 g, lá hẹ 15 g, hạt chanh 10 g. Tất cả để tươi, nghiền nát rồi hòa với 20 ml, thêm ít mật ong hoặc đường kính, uống làm 3 lần trong ngày. Dùng trong 2-3 ngày.

- Ho do viêm họng: Hoa đu đủ đực 15 g, xạ can 10 g, củ mạch môn 10 g, lá húng chanh 10 g. Tất cả cho vào một bát nhỏ, thêm ít muối, hấp cơm rồi nghiền nát. Ngày ngậm 2-3 lần, nuốt nước dần dần.

- Ho gà: Hoa đu đủ đực 20 g (sao vàng), vỏ quýt lâu năm 20 g, vỏ rễ dâu 20 g (tẩm mật sao lên), củ bách bộ 12 g (phơi khô), phèn phi 12 g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 3 lần. Trẻ em 1-5 tuổi mỗi lần uống 1-4 g; trẻ 6-10 tuổi mỗi lần uống 5-8 g.

Hoặc: Hoa đu đủ đực, nghệ vàng mỗi thứ 15 g; trần bì 20 g (tẩm nước gừng sao lên), vỏ rễ dâu (tẩm mật rồi sao), vỏ cây khế (sao vàng), chua me đất hoa vàng, cam thảo đất, lá chanh non mỗi thứ 30 g; rau má, lá lốt mỗi thứ 40 g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng trong 5-7 ngày.

Kinh nghiệm chữa chàm bằng khoai tây

Cần chọn đúng khoai tây vàng.

Chọn khoai tây vàng, không xanh, không có mầm, rửa sạch, ngâm vào nước sôi 1 phút để khử trùng. Để cả vỏ thái ra, cho vào cối giã mịn (số củ ước lượng tùy theo diện tích vùng chàm). Với trẻ nhỏ, có thể dùng nước vắt khoai tây giã bôi vào vùng chàm ở má.

Các bước điều trị chàm ở bệnh nhân lớn:

- Rửa vùng chàm bằng nước muối nhạt, đắp khoai tây lên hết vùng tổn thương, băng kín để 3 ngày. Sau đó, mở băng ra, sẽ thấy miếng khoai tây khô, vết chàm cũng khô, vùng da non có bột trắng bám.

- Giã đắp miếng thứ hai, băng lại để 3 ngày. Khi tháo ra sẽ thấy vết chàm khô hết nước vàng, da non đã hồng.

- Giã đắp miếng thứ ba, băng tiếp để 3 ngày, sẽ khỏi hoàn toàn.

Người bị chàm có cơ địa dị ứng nên hay gãi, điều này khiến bệnh dễ tái phát. Vì vậy, cần cố gắng không gãi vùng bị tổn thương, có thể bôi kem Phenergan hoặc Flucinar để giảm ngứa. Ngoài ra, cần uống thêm các loại lá như kinh giới, khổ sâm, cỏ nhọ nồi, quả ké, kim ngân hoa (mỗi thứ 20 g).

Rau má chữa bệnh Õ

Rau má thường được dùng để nấu nước uống trong mùa hè.

Theo Đông y, rau má (còn có tên là tích tuyết thảo, liên tiền thảo) vị đắng, hơi the, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, cầm máu, sát khuẩn, tiêu độc, lợi tiểu, được dùng để chữa nhiều bệnh thuộc gan, huyết, kiết lỵ, táo bón, mụn nhọt...

Toàn bộ cây rau má được dùng làm thuốc, thu hái quanh năm; dùng tươi hay khô đều tốt. Trong trường hợp dùng khô, người ta nhổ cả cây, rửa sạch, phơi khô, khi dùng đem thái nhỏ, sắc lấy nước uống. Sau đây là một số bài thuốc đơn giản thường dùng:

- Mụn nhọt: Rau má và lá gấc mỗi thứ 50 g, rửa thật sạch, giã nhỏ, cho ít muối vào trộn đều, đắp lên chỗ đau rồi băng lại. Ngày thay thuốc hai lần. Đắp cho đến khi khỏi.

- Vàng da, vàng mắt: Rau má và lá ngải cứu mỗi thứ 50 g, rửa sạch, đun lấy nước uống hằng ngày.

- Kiết lỵ: Rau má 150 g, muối ăn 10 g. Rửa rau má thật sạch, để ráo nước, cho vào cối sạch, bỏ muối vào, giã thật nhỏ, sau chế thêm một bát nước sôi, quấy đều, để lắng, gạn lấy nước trong uống. Người lớn uống cả một lần, trẻ em tùy theo tuổi mà giảm liều lượng. Trong khi điều trị nên ăn cháo, kiêng các thứ khó tiêu, mỡ, các thức ăn tanh, cay, nóng.

Hoặc: Rau má, rễ cây ngải cứu, rễ cỏ may, rễ mơ lông mỗi vị khoảng 100g; sao vàng, hạ thổ, sắc uống ngày 2 lần cho tới khi khỏi.

- Chảy máu cam: Rau má giã nhỏ, vắt lấy nước, uống mỗi ngày 2-3 lần trong 5 ngày liền.

- Sốt xuất huyết thể nhẹ: Rau má 30 g, cỏ nhọ nồi 30 g, lá và hoa mã đề 20 g (có thể thay bằng lá cối xay, rễ cỏ tranh). Tất cả rửa sạch, cho nước sôi vào vắt lấy nước uống, hoặc sắc uống.

Các bài thuốc từ cây dâu

Lá dâu có thể chữa viêm đường hô hấp.

Hầu như tất cả các bộ phận của cây dâu đều được dùng làm thuốc, bao gồm lá, cành, quả, rễ. Thậm chí tầm gửi và tổ bọ ngựa trên cây dâu cũng có tác dụng chữa bệnh.

Cây dâu nhìn chung có tính mát, dùng để chữa các chứng nóng sốt. Tuy vậy, mỗi bộ phận của cây dâu lại có một tác dụng khác nhau.

1. Quả dâu (tang thầm)

Quả dâu chín có vị chua ngọt. Vì nó có màu tím đỏ nên nhiều người cho là có tác dụng bổ máu; nhưng trên thực tế, tác dụng này không nhiều. Tuy nhiên, đây là thứ quả dùng để giải khát rất tốt. Quả dâu chứa nhiều vitamin C, caroten, axit hữu cơ, đường... rất thích hợp để giải khát vào mùa hè. Có thể dùng nước ép quả dâu tươi hoặc chế thành siro dùng lâu dài.

2. Lá dâu (tang diệp)

Vị đắng ngọt, tính hàn, có tác dụng giải cảm, hạ sốt, giải độc ở gan, làm sáng mắt, long đàm, cầm ho.

- Cảm mạo phong nhiệt, viêm đường hô hấp lúc mới phát: Tang diệp 12 g, cúc hoa, hạnh nhân mỗi thứ 10 g; bạc hà, cam thảo mỗi thứ 4 g; liên kiều, cát cánh, rễ cỏ tranh mỗi thứ 8 g; sắc lấy nước uống ngày 2 lần.

- Viêm màng tiếp hợp, mắt đỏ sưng đau: Tang diệp, cúc hoa, sài hồ, xích thược mỗi thứ 12 g; hạt muồng 8 g, đăng tâm 4 g, sắc uống ngày 2 lần.

- Trẻ hay ra mồ hôi trộm, ngủ không yên: Lá dâu non vò ra, nấu canh ăn hằng ngày.

3. Vỏ rễ dâu (tang bạch bì)

Rễ cây dâu cạo sạch lớp vỏ ngoài, lột lấy vỏ trắng phơi khô. Vị thuốc này vị ngọt hơi đắng, tính mát, có tác dụng cầm ho, hạ suyễn, lợi niệu.

- Ho hen, phù, tiểu không thông: Tang bạch bì 8-12 g sắc uống.

- Cảm mạo sốt cao, ho đờm nhiều: Tang bạch bì, ma hoàng, bán hạ, khoản đông hoa mỗi thứ 12 g; hạnh nhân, hoàng cầm mỗi thứ 8 g; bạch quả 21 quả, cam thảo 4 g; sắc uống ngày 1-2 lần.

4. Tổ bọ ngựa trên cây dâu (tang phiêu tiêu)

Vị thuốc này vị ngọt mặn, tính bình, có tác dụng ích thận cố tinh, chữa tiểu rắt, tiểu nhiều, di tinh, trẻ em đái dầm. Thường dùng 10 tổ, sao cháy sém, sau đó tán bột uống.

Một số điều cần lưu ý khi dùng sâm

Bồi bổ sức khỏe bằng sâm là một trong những cách thức thông dụng, nhưng không nên dùng quá 5-10 g/ngày. Ở một số người, sâm có thể gây hưng phấn tinh thần, nên cần tránh uống thứ này trước khi đi ngủ.

Những người đang phải dùng thuốc chứa vitamin C liều cao cũng phải cẩn thận, vì vitamin C có thể ảnh hưởng tới sự hấp thu sâm của cơ thể. Nên uống các thứ trên cách nhau ít nhất 2 tiếng.

Căng sữa, cách phòng ngừa và xử trí

Lá bắp cải có thể giúp giảm căng sữa.

Nếu người mẹ bi căng sữa, có thể dùng lá bắp cải để đắp lạnh. Điều này thoạt nghe hơi lạ và không có cơ sở, nhưng đây là kinh nghiệm dân gian đã được thực hiện thành công hàng trăm năm nay.

Hầu như mọi phụ nữ sau sinh 2-5 ngày đều có cảm giác căng ngực. Đây là một hiện tượng của quá trình tạo sữa cho bé. Lúc này, tình trạng phù nề mô tuyến sữa gây ra cảm giác nặng ngực, đau nhẹ hay nóng, đi kèm với cảm giác căng ngực. Trong những trường hợp bình thường, người mẹ có bầu sữa căng, mềm mại.

Căng ngực bình thường có thể chuyển sang dạng căng sữa nếu bé sơ sinh không bú đủ hay người mẹ không cho bé bú và không biết cách làm trống bầu sữa thường xuyên một cách hiệu quả. Khi cảm giác căng ngực không giảm bớt, dịch xung quanh tuyến sữa tụ lại và tuyến sữa bắt đầu sưng lên. Bầu vú của người mẹ cứng dần lên và vùng da xung quanh bị căng bóng. Lúc này bầu vú bị đau, đôi khi người mẹ có thể bị sốt nhẹ. Sự sưng nề ở bầu vú có thể lan đến mặt dưới cánh tay, gây cảm giác tê hay ngứa ở bàn tay do dây thần kinh bị đè ép.

Trong khi căng sữa, đầu vú người mẹ bị biến dạng làm cho bé rất khó bú. Nếu không biết cách nặn bỏ sữa thì mức độ căng sẽ tăng lên, dẫn đến mất sữa do các mô tạo sữa không còn hoạt động. Ngoài ra, người mẹ có thể bị tắc các ống sữa và viêm nhiễm tuyến vú.

Khi này, không nên dùng thuốc làm ngưng tiết sữa. Các thuốc này có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nặng nề và làm căng sữa tái phát khi ngưng thuốc.

Để phòng ngừa chứng căng sữa, người mẹ cần:

- Cho bú thường xuyên. Cố gắng cho bé bú 10-12 lần một ngày hoặc 1,5-2 giờ/lần, trong đêm không nên để quá 3 giờ.

- Cố gắng cho bé bú ít nhất 15 phút ở một bên vú trước khi chuyển sang vú kia. Không nên giới hạn thời gian bé bú.

- Thay đổi tư thế bé bú để làm tăng tiết sữa.

- Có thể dùng các phương tiện hỗ trợ như đeo các áo ngực đặc biệt (loại không có gọng kim loại) khoảng 20 phút giữa các lần cho bú và không nên nịt ngực chặt.

- Người mẹ nên nằm ngửa giữa mỗi lần cho bú.

- Đắp lạnh bầu vú và dưới cánh tay sau mỗi lần cho bú để làm giảm sưng tuyến sữa. Có thể đắp lạnh bằng túi nước đá hay túi rau lạnh tự làm (để túi rau vào tủ lạnh khoảng 20 phút trước đó). Nên để một lớp khăn mỏng trên tuyến vú khi đắp lạnh. Cứ 15-20 phút lại đắp một lần, trong suốt 1-2 giờ.

- Đắp ấm bầu vú ngay trước khi cho bú có thể giúp tăng tiết sữa. Người mẹ có thể tắm nước nóng, xông hơi ấm vùng ngực hay đắp gạc ấm trên tuyến vú trước khi cho bé bú. Xoa bóp tuyến vú nhẹ nhàng cũng rất hữu hiệu.

Xử trí khi núm vú và tuyến sữa sưng:Õ

Trước khi cho con bú: Xoa nhẹ tuyến sữa bằng tay hoặc dùng bơm hút để làm mềm tuyến sữa. Nếu sử dụng bơm điện, cần bắt đầu từ áp lực thấp nhất và tăng dần cho đến khi bắt đầu thấy sữa chảy ra. Tiếp tục tăng đến khi người mẹ cảm thấy thoải mái và còn chịu đựng được. Không cần tăng đến áp lực tối đa. Nếu bầu vú và đầu núm vú quá đau, nên xoa ít dầu lên núm vú trước khi hút. Cần lưu ý là một số loại máy hút kém chất lượng có thể làm tổn thương mô tuyến sữa.

- Sau khi cho con bú: Nếu tuyến sữa vẫn căng và đau sau khi cho bú, cần hút sữa khoảng 5-10 phút để nhanh chóng lấy hết sữa cặn. Việc này sẽ giúp bầu sữa mềm hơn và bé dễ bú hơn.

Chữa căng sữa bằng lá bắp cải:

- Mua lá bắp cải xanh, rửa sạch và để khô. Sau đó để vào tủ lạnh.

- Lấy bớt gân lá, quấn lá xung quanh bầu vú, để hở núm vú. Lá cải cần ôm sát bầu vú và người mẹ cảm thấy lạnh vừa phải.

- Thay 30 phút/lần hoặc sớm hơn nếu lá héo.

- Kiểm tra lại bầu vú thường xuyên, bỏ lá cải ra và chuẩn bị cho bú hoặc hút sữa ngay khi người mẹ có cảm giác sữa bắt đầu chảy.

- Có thể áp dụng 1-3 lần trước khi cho bú. Tuy nhiên, việc lạm dụng phương pháp này lại làm giảm tiết sữa.

Nếu vẫn còn thấy đau và sưng, hãy đến bác sĩ khám để được cho thuốc, thường là các loại thuốc kháng viêm.

Có nên phối hợp Đông dược với tân dược?

Có ý kiến cho rằng hoàn toàn không nên làm điều này bởi lẽ lý luận chỉ đạo, đặc tính và cách dùng của hai loại thuốc rất khác nhau; nếu dùng chung sẽ dễ xảy ra các tai biến. Ngược lại, có ý kiến khẳng định việc phối hợp hai loại thuốc này sẽ tạo nên tác dụng cộng hưởng và phát huy triệt để thế mạnh của từng loại.

Cả hai quan niệm trên đều không tránh khỏi tính chủ quan và phiến diện. Câu trả lời chính xác chỉ có thể được đưa ra sau những nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Thực tế đã chứng minh rằng những sự phối hợp hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi điều trị, giảm bớt các tác dụng phụ của mỗi loại thuốc. Trái lại, sự phối hợp không hợp lý khiến công hiệu của dược vật bị hạn chế, có khi còn làm bệnh nặng hơn hoặc phát sinh các tác dụng phụ, kể cả những hậu quả nghiêm trọng.

Những sự phối hợp hợp lý có thể mang lại các lợi ích:Õ

1. Tăng hiệu quả điều trị

- Kim ngân hoa nếu phối hợp với Benzyl penicillin sẽ ức chế khả năng kháng Penicillin của tụ cầu vàng.

- Các vị thuốc Đông y thuộc nhóm thanh nhiệtgiải độc (bồ công anh, diếp cá, lô căn, thanh cao, trúc diệp, bản lam căn...) nếu phối hợp với Penicillin G sẽ giúp nâng cao hiệu quả trị liệu đối với các đợt cấp của bệnh viêm phế quản mạn tính.

- Những Đông dược kiềm tính như bằng sa, ngõa lăng tử khi dùng kết hợp với OxacillinErythromycin có thể ngăn được sự phá hủy của dịch vị, làm tăng khả năng hấp thu và hiệu lực kháng khuẩn của hai loại kháng sinh này.

- Nhân trần nếu kết hợp với Griseofulvin (một kháng sinh chống nấm, thường khó hấp thu và dễ gây ra các phản ứng bất lợi như buồn nôn, nôn, đi lỏng, đau đầu...) có thể làm tăng độ dung giải, nâng cao hiệu lực sinh học và giảm 33-55% lượng Griseofulvin cần dùng.

- Ma hoàng phối hợp với Diphenhydramine (Benadryl), hoặc dương kim hoa (cà độc dược) phối hợp vớiÕClenbuterolÕđều có tác dụng hiệp đồng, nâng cao hiệu quả điều trị hen phế quản.

2. Mở rộng phạm vi ứng dụng của mỗi loại thuốc

- ThuốcÕAminazineÕcó thể gây tổn thương tế bào gan nên thường không được dùng cho bệnh nhân rối loạn chức năng ở cơ quan này. Nhưng nếu phối hợp vớiÕbột trân châu, nó có thể sử dụng cho cả nhóm bệnh nhân nói trên. Nguyên nhân là do bột trân châu có khả năng cải thiện hoạt động tế bào gan và dự phòng các thương tổn gây nên do Aminazine. Ngoài ra, sự kết hợp nói trên cũng giúp cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị.

- Phức hợp dã cúc hoa - Eutonyl trong chế phẩm "Dã lạc phiến" không chỉ có hiệu năng giảm áp ở người bị huyết áp cao, mà còn có tác dụng với cả bệnh nhân bị di chứng liệt nửa người do rối loạn tuần hoàn não.

- Dịch tiêm đan sâm sinh mạch tán (bài thuốc gồm ba vị: nhân sâm, mạch môn và ngũ vị tử) phối hợp với Hyoscyamine không những làm tăng nhịp tim ở người có hội chứng yếu nút xoang (sick sinus syndrome - SSS), mà còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn huyết dịch và tình trạng thiếu máu cơ tim, giúp giải quyết cả phần "ngọn" lẫn phần "gốc" của vấn đề.

3. Giảm thiểu các hiệu quả không mong muốn

Streptomycin nếu dùng quá dài ngày có thể gây giảm thính lực và chóng mặt do tổn thương hệ thống tiền đình. Nhưng khi dùng phối hợp với cam thảo, các tác dụng phụ này sẽ được giảm thiểu. Đó là do axit Glycyrrhizic trong cam thảo sẽ kết hợp với gốc kiềm tính của Streptomycin để tạo nên Streptomycin glycyrrhizinate có độc tính thấp hơn nhưng năng lực kháng khuẩn vẫn được giữ nguyên.

- CyclophosphamideÕ(thuốc chữa ung thư) thường gây các phản ứng phụ ở đường tiêu hóa như nôn, đi lỏng... Khi kết hợp với bạch cậphải phiêu tiêu thì những rối loạn này được phòng chống một cách tích cực, nhờ vào khả năng chỉ huyết, tiêu thũng và bảo vệ niêm mạc dạ dày, ruột của hai vị thuốc này.

- Thập toàn đại bổ thang là một bài thuốc cổ có tác dụng vừa bổ khí vừa bổ huyết, khi dùng phối hợp với Rifamixin (thuốc kháng lao) sẽ giảm thiểu chứng hạ bạch cầu do thuốc này gây nên, đồng thời nâng cao hiệu lực chống lao của nó.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng cũng cho thấy,Õnhiều khi sự phối hợp giữa thuốc Tây và thuốc ta đưa lại những kết quả bất lợi:

1. Giảm tác dụng trị liệu của thuốc

Đông dược có thể làm giảm sự hấp thu Tây dược hoặc tương tác, làm biến đổi cấu trúc và hoạt tính dược lý của thuốc đó.

- Không nên phối hợp các kháng sinh như Tetracycline, Timifon với các loại Đông dược chứa nhiều ion kim loại, vì các thuốc này sẽ làm giảm hệ số hấp thu kháng sinh. Õ

Các thuốc Đông y có chứa nhiều ion kim loại:

+ Chứa nhiều canxi: thạch cao, hải phiêu tiêu, thạch quyết minh, hổ cốt, long cốt, mẫu lệ....

Õ+ Nhôm: minh phàn.

Õ+ Đồng: đại giả thạch, đồng tự nhiên

Õ+ Magiê và đồng: xích thạch chi, hoạt thạch.

- Không nên phối hợp một số kháng sinhÕ(Chloromycetine, Erythromycine, Rifampin, Griseofulvin, Nystatin, Lincomycin, Tetracycline) và vitamin B1 với các vị thuốcÕchứa nhiều tanin. (đại hoàng, ngô thù du, kim anh tử, kha tử, ngũ bội tử, thạch lựu bì, địa du, biển súc...). Nguyên nhân là do tanin có thể tương tác với các tân dược nói trên, tạo nên các sản phẩm kết tủa, làm giảm hiệu quả điều trị.

- Các thuốc Tây kiềm tính (Aminophylline, Gastropine, Sodium bicarbonate, Aluminum hydroxide...) không nên phối hợp với các vị thuốc Đông y toan tính (sơn tra, ô mai, sơn thù, ngũ vị tử...) vì sẽ gây phản ứng trung hòa kiềm toan, làm ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc.

2. Gây các phản ứng độc hại

Ma hoàng và các chế phẩm có ma hoàng (Đại lạc hoạt đan, Nhân sâm tái tạo hoàn, Chỉ khái định suyễn hoàn...) không nên phối hợp với các thuốc có tác dụng ức chế Monoamine Oxidase (MAO) như Furazolidone, Eutonyl, Isocarboxazid, Methylhydrazine... Các phản ứng phụ nguy hiểm rất dễ xảy ra vì các chất như adrenaline, dopamine, serotonin không bị phá hủy, sẽ ứ đọng ở hệ thần kinh.Õ

- Cam thảo không nên dùng chung với các thuốc lợi tiểu (Lasix, Hypothiazit) vì Glycyrrhizin và axit Glycyrrhetinic trong thảo dược này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thận. Phối hợp thuốc có thể làm giảm kali máu quá mức.

- Các vị thuốc có chứa alkaloid (ô dầu, hoàng liên, bối mẫu) và các thành phẩm như Tiểu hoạt lạc đạn, Hương liên hoàn... không nên hợp dùng với Atropine, CafeineAminophylline vì dễ gây ra các phản ứng do trúng độc.

Tóm lại, tân dược cũng có thể dùng với Đông dược, thậm chí trong nhiều trường hợp là hết sức cần thiết, nhưng sự phối hợp đó phải hợp lý, có cơ sở khoa học rõ ràng. Tuyệt đối không sử dụng tùy tiện và liều lĩnh. Đáng tiếc là cho đến nay, ở nhiều cơ sở y tế, việc phối hợp dùng Đông dược và tân dược vẫn còn mang nặng tính chủ quan và kinh nghiệm chủ nghĩa.

Dưa hấu - vị thuốc thanh nhiệt, tiêu khát

Dưa hấu có thể giúp hạ sốt.

Trong trường hợp bị sốt cao ra mồ hôi do cảm nắng, trúng nóng, việc dùng nước ép thịt quả dưa hấu làm thuốc uống sẽ giúp mau khỏi. Những người say rượu nếu cho uống nước ép thịt quả dưa hấu, hoặc ăn mấy miếng dưa là giã rượu ngay.

Dưa hấu vị ngọt nhạt, khí hàn, không độc, có tác dụng thanh giải nóng nực, lợi tiểu, giải độc cho người viêm thận, phù thũng, chữa huyết áp cao, say rượu và hoàng đản. Hải Thượng Lãn Ông trong cuốn Lĩnh Nam bản thảo có viết:

"Tây qua tục gọi là dưa hấu
Ngọt nhạt, lạnh mát ăn rất ngon
Giải khát, tiêu phiền, trừ trúng nóng
Hồng lỵ, lâm tê bệnh chẳng còn
".

Hầu như mọi bộ phận của quả dưa hấu (vỏ dưa, cùi dưa...) đều có thể làm thuốc chữa bệnh. Lớp vỏ xanh, trắng của quả dưa hấu (tây qua bì) tính hàn, vị ngọt, có thể chữa các chứng cảm nắng, cảm nóng, phát sốt... Dân gian thường dùng cùi trắng (gọt sạch lớp vỏ xanh phía ngoài) ngâm nước vôi trong 5-6 giờ, vớt ra rửa kỹ bằng nước sạch, tráng lại bằng nước đun sôi để âm ấm (50-60 độ C), rồi đem thái chỉ hoặc nạo nhỏ, thắng nước đường, đổ cùi dưa vào, múc ra bát để nguội, làm món ăn giải khát, giải nhiệt rất tốt. Cũng có thể lấy toàn bộ cùi dưa hấu (không gọt bỏ vỏ xanh) đem phơi khô, những khi cần thì sắc uống để làm thuốc giải nhiệt.

Sau đây là một số bài thuốc từ dưa hấu:

- Trị nóng nực, ra nhiều mồ hôi, đầu váng mắt hoa, đau nhức: Vỏ dưa hấu, bạch biển đậu (đậu ván trắng), liên diệp, trúc diệp tâm lượng bằng nhau sắc uống.

- ÕChữa nứt nẻ khóe môi: Vỏ dưa hấu rửa sạch, thái sợi, sao vàng, tán thành bột mịn, trộn với mật ong, chấm vào chỗ nứt nẻ ngày 1-2 lần.

- Chữa viêm họng: Vỏ dưa hấu rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, cho thêm ít muối, dùng để ngậm và súc miệng rồi nhổ đi, nếu thực hiện đều đặn sẽ mau khỏi.

- Chữa các vết lở ngoài da: Vỏ dưa hấu muối thành dưa, lấy nước đắp vào vết lở.

- Chữa ho ra máu: Sắc đặc vỏ dưa hấu lấy nước uống.

- Chữa đau lưng và đau hai bên sườn khi thở: Vỏ quả dưa hấu (dùng loại vỏ xanh biếc) sấy khô, tán nhỏ mịn. Khi dùng lấy 15 g, cho thêm vào chút muối và rượu, hòa trộn đều mà uống.

- Chữa đau răng: Vỏ dưa hấu đã phơi khô, đem sao cháy, dùng nhét vào chỗ răng đau.

- Làm đẹp da mặt: Thái dưa hấu thành từng miếng mỏng đắp kín da mặt, nằm yên 30-45 phút. Hoặc lấy phần trắng vỏ dưa hấu tươi (có lẫn phần đỏ của thịt quả càng tốt) xoa khắp mặt, để 3-4 giờ rồi rửa bằng nước sạch. Nếu thực hiện đều đặn sẽ làm da mặt trắng đẹp mịn màng.

Chữa bệnh bằng lá xương sông

Để chữa ho do cảm phong hàn (ho nhiều, có đờm loãng, kèm theo nhức đầu, ngạt mũi, ngứa cổ, tiếng nói nặng), có thể lấy lá xương sông, lá tía tô, lá hẹ mỗi thứ 12 g; kinh giới, gừng tươi mỗi thứ 8 g, sắc với 400 ml nước còn 100 ml. Lọc lấy nước uống hết trong ngày (người lớn chia làm 2 lần, trẻ em tùy theo tuổi chia 3-4 lần).

Theo Đông y, xương sông tính ấm, đắng, cay, có tác dụng trừ hôi tanh, chống dị ứng đối với các thức ăn lạnh (như lươn, ốc, cá), giúp tiêu đờm thấp, chữa ho cảm và viêm họng. Bộ phận được dùng làm thuốc chủ yếu là lá. Thường người ta chọn những lá bánh tẻ, dùng tươi hoặc phơi trong mát, hoặc sấy nhẹ đến khô. Dưới đây là một số bài thuốc đơn giản mà hiệu nghiệm:

- Chữa ho: Lá xương sông, lá húng chanh, lá hẹ, mỗi thứ khoảng 10 g, hấp với đường để ngậm. Bài thuốc này có tác dụng chữa chứng ho thông thường do cảm cúm, viêm họng, viêm phế quản.

- Chữa ho gà thời kỳ đầu: Lá xương sông, lá hẹ, lá tía tô, vỏ quýt, cam thảo dây mỗi thứ 10 g, gừng tươi 2 g, sắc với 300 ml còn 150 ml, lọc lấy nước, chia làm 3 lần, uống cách xa các bữa cơm. Uống thuốc lúc còn ấm, không nên để nguội quá hoặc nóng quá.

- Chữa dị ứng, nổi mẩn khắp người: Lá xương sông, lá khế lượng bằng nhau, chua me đất lượng bằng một nửa, giã nát, hòa với nước uống, dùng bã xoa ngoài.

- Chữa vết thương chảy máu: Lấy một nắm lá xương sông giã nát, đắp lên chỗ đau. Vết thương sẽ cầm máu nhanh, chóng khỏi).

Chữa chứng ngứa bằng y học cổ truyền

Kinh giới có tác dụng chữa ngứa.

Để chữa ngứa toàn thân, có thể lấy cây chua me đất, lá lốt, kinh giới (cả cây, hoa) mỗi thứ 20 g, bồ kết 10 quả, muối 5 g cho vào nồi (miệng nồi bịt bằng lá chuối), đun sôi kỹ để xông (trùm chăn kín, chọc vài lỗ trên lá chuối cho hơi nước bốc lên). Sau đó lấy nước đó tắm khi còn ấm.

Sau đây là một số bài thuốc khác:

1. Ngứa môi: Môi ngứa, đau, nóng, rát, loét, sắc đỏ; hoặc bị sưng kèm theo sợ lạnh, phát sốt, khát nước, tâm phiền, lưỡi đỏ.

Khi thổi cơm gần chín hoặc đã chín, hơi bốc lên đọng lại trên mặt trong vung nồi. Đó là nước mồ hôi cơm. Lấy bông chấm nước đó, bôi liền vài ba ngày vào môi. Người bệnh không được hút thuốc lá, cần năng đánh răng, súc miệng.

2. Ngứa từng mảng: Thường gọi là mẩn tịt, do phong nhiệt gây ra.

Lá đơn tướng quân, kim ngân (cả cây và hoa), củ khúc khắc, quả ké mỗi vị 20 g, sao qua, cho vào ấm đun với ba bát nước, lấy một bát thuốc. Đun hai lần, sau cô lại lấy 1,5 bát thuốc. Chia làm hai lần uống trong ngày (sáng, tối).

Đồng thời, lấy giấm thanh, nước đun sôi để nguội mỗi thứ 1 thìa hòa đều, xoa vào chỗ mẩn tịt. Từ lần thứ hai trở đi, chỉ bôi giấm thanh mà thôi. Cần kiêng các thức ăn cay, chua, tanh, nóng, cá chép, thịt gà.

3. Ngứa chảy nước vàng: Do thấp nhiệt gây ra, nước chảy đến đâu loang đến đó.

Thạch cao 30 g, lưu hoàng 5 g, hạt nhãn (bỏ vỏ đen) 20 g, xương truật 3 g, tán thành bột để bôi. Ngày bôi ba lần: sáng, trưa, tối. Buổi sáng trước khi bôi thuốc, lấy lá kinh giới khô đun kỹ, rửa chỗ đau và lau ráo. Trưa, tối chỉ chấm sạch rồi bôi thuốc. Không để dính thuốc vào mồm, mắt.

4. Ngứa do rôm:

Lá chè tươi 20 g, rễ cỏ tranh 20 g, mật mía đủ ngọt. Lá chè và rễ cỏ tranh rửa sạch, sắc vừa (không đặc lắm). Khi nước còn nóng, hòa mật mía vào (độ ngọt tùy theo khẩu vị người bệnh). Ngày uống ba lần: sáng, chiều, tối.

5. Ngứa do lở sơn: Bị sơn ăn mặt, mặt sưng húp híp, ngứa, chảy nước mà rất nóng.

Bắc bạch chỉ 1 củ mài với nước mưa cho đặc, bôi vào chỗ bị lở sơn.
Không được rửa nước lã.

Chữa bệnh bằng khế chua Õ

Quả khế có thể chữa mụn nhọt, lở loét.

Để chữa chứng ho khan, ho có đờm, kiết lỵ, có thể lấy hoa khế 12 g tẩm với nước gừng, rồi sao lên, sắc uống. Khi bị cảm nắng, nên lấy 20 g lá khế tươi giã cùng với lá chanh (10 g), vắt lấy nước uống.

Sau đây là một số bài thuốc khác từ cây khế chua:

- Chữa ho hen ở trẻ em: Lá khế 20 g rửa sạch, nấu lấy nước, uống làm 2 lần trong ngày, mỗi lần nửa bát con.

- Chữa lở loét: Lá khế, lá thanh hao, lá long não và lá thông, tất cả nấu lấy nước để tắm. Cũng có thể nấu nước quả khế để rửa nơi tổn thương.

- Chữa ngộ độc nấm, rắn cắn: Lá khế 20 g, lá hoặc quả đậu ván đỏ 20 g, lá lốt 10 g (có hoa càng tốt) cho vào cối sạch, giã nát, hòa với 200 ml nước đun sôi để nguội, chắt lấy nước, uống hết một lần. Có thể dùng lá khô (liều lượng bằng 1/2 hoặc 1/3 liều lá tươi) sao qua cho thơm, sắc uống, thêm đường cho thật ngọt. Nếu mới bị ngộ độc, chỉ uống 2-3 lần là khỏi.

- Phòng sốt xuất huyết khi có dịch: Lá khế 16g, lá dâu, sắn dây, lá tre, mã đề, sinh địa mỗi thứ 12 g, sắc lấy nước uống hằng ngày.

- Chữa bí tiểu tiện: Dùng 7 quả khế, mỗi quả cắt lấy một miếng khoảng 1/3 phía gần cuống, cho vào nồi, đổ một bát nước, sắc còn nửa bát, uống lúc nóng. Đồng thời, lấy một quả khế và một củ tỏi giã nát, đắp vào rốn.

- Làm sởi chóng mọc: Quả khế phơi khô 20 g, canh châu 20g, sao vàng, hạ thổ, sắc uống làm hai lần trong ngày.

Chữa gai xương bằng y học cổ truyền

Trứng gà rất tốt cho người bị gai xương.

Tục đoạn 25 g, đỗ trọng 30 g, đuôi lợn 1-2 chiếc (cạo lông, rửa sạch). Tất cả cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, hầm chín, khi ăn cho thêm ít muối. Món ăn bài thuốc này giúp chữa đau thắt lưng, liệt dương, di tinh do gai cột sống thể thận hư gây nên.

Khi tuổi càng cao, đĩa đệm giữa ở quanh các khớp xương sẽ bị thoái hóa và mỏng đi; sự cân bằng sinh lý của dây chằng cơ bao quanh khớp trở nên xấu hơn. Để thích ứng với sự thay đổi này và tạo ra sự cân bằng mới, tại vùng xung quanh đốt xương sẽ sinh ra một bộ phận xương mới để tăng thêm tính ổn định cho xương. Phần xương mới sinh ra được gọi là "gai xương". Như vậy, gai xương có tác dụng bảo vệ, là sự thoái hóa bình thường; không cần phải điều trị làm tiêu gai xương.

Các phương pháp điều trị như uống thuốc, vật lý trị liệu, đắp thuốc, dán cao... chỉ có thể cải thiện triệu chứng như giảm đau, tê, nhức, mỏi chứ không thể làm tiêu gai xương. Dưới đây là một số món ăn bài thuốc hỗ trợ điều trị:

- Tang ký sinh 15-30 g, trứng gà 1-2 quả, hầm chín, ăn thường xuyên. Thích hợp cho người bị gai xương thể can thận hư.

- Thiên cân bạt 30 g, cẩu tích 30 g, đuôi lợn 1 chiếc, cho 6 bát nước, hầm đến khi cạn còn một bát. Uống nước, ăn cái. Nếu đau lưng do phong thấp, có thể cho thêm bán phong 25 g. Nếu không có đuôi lợn, có thể dùng thịt lợn nạc thay thế. Món ăn này thích hợp với người viêm cột sống phì đại, đau lưng do can thận hư, đốt sống thắt lưng tổn thương lâu ngày, liệt dương thời kỳ đầu...

- Tủy xương lợn 500 g (cả xương), ngó sen 250 g, hầm chín rồi ăn, 3 ngày dùng 1 lần. Thích hợp với người bị gai cột sống thể khí huyết hư với triệu chứng mặt tái xanh, thắt lưng và đầu gối đau mỏi, tứ chi vô lực.

- Câu kỷ tử 20-40 g, ngẩu pín bò 1 cái, hầm lên ăn. Thích hợp cho người bị gai cột sống, cơ thể suy nhược, thận suy, lưng và đầu gối mỏi mềm, di tinh, liệt dương, đi tiểu đêm nhiều lần.

- Sắn dây 200-500 g (bỏ vỏ, thái lát), cá lăng 1-2 con (rửa sạch, đánh vẩy, bỏ nội tạng), hầm 2-4 tiếng rồi ăn. Thích hợp cho người bị gai đốt sống cổ, có hiện tượng cơ ở lưng trên đau, cổ hoạt động khó khăn, hoặc người bị vữa động mạch vành, cao huyết áp, cổ gáy cứng đau.

- Đương quy 30 g, sinh khương 15 g, thịt dê 250 g, cho thêm nước, ninh nhừ rồi ăn. Dùng cho người bị gai cột sống, đau lưng, sản phụ có huyết hư, đau bụng, đau đầu, chóng mặt, cơ thể suy nhược, sắc mặt xanh xao.

- Ngũ gia bì 50 g ngâm kỹ, đun trong 30 phút, chắt lấy nước, lại đổ nước vào bã đun tiếp lấy nước. Trộn lẫn 2 nước đó, thêm 500 g gạo nếp nấu thành cơm, đợi nguội rồi cho men rượu vừa đủ, trộn đều, ủ lên men thành rượu nếp, dùng trong bữa ăn. Thuốc có tác dụng làm cơ bắp dẻo dai, chắc khỏe, trị bệnh gai cột sống thể phong hàn thấp.

Chữa bệnh trĩ bằng ba ba và quả dừa

Dừa được coi là thuốc quí trong điều trị xơ vữa động mạch, tăng huyết áp.

Anh X. (Bộ chỉ huy quân sự Bình Định), một bệnh nhân trĩ, rất sợ đi đại tiện bởi sau mỗi lần như vậy, anh đều vã mồ hôi vì mất máu. Sau khi chữa nhiều cách mà không khỏi, anh dùng bài thuốc ba ba với quả dừa xanh và đã khỏi bệnh, 3-4 năm nay không tái phát.

Theo chỉ dẫn của anh X., 4-5 bệnh nhân trĩ khác cũng đã dùng bài thuốc này và đều khỏi. Nội dung cụ thể của bài thuốc như sau:

Ba ba 1 con khoảng 500-600 g, cắt cổ lấy huyết, cho vào cốc có ít rượu để sẵn, khuấy đều và uống ngay. Lấy quả dừa xanh (để nguyên vỏ, có độ cơm vừa ăn được, không già, không non), cưa một phần trên để làm nắp, chặt đầu ba ba cho vào, đậy nắp kín, trát đất bùn xung quanh nắp, đun bằng lửa than bếp trong một ngày.

Buổi tối trước khi ngủ, đem dừa trên bếp xuống, lấy nắp ra, đặt trùm lên quả dừa một cái phễu bằng giấy carton cứng, để dưới hậu môn để xông (nên có ghế lỗ tròn để ngồi xông). Cứ như vậy xông liên tiếp nhiều ngày cho đến khi cạn khô nước trong quả dừa thì thôi.

Trong y học, dừa được dùng để chế các thuốc đạn (thuốc cho vào hậu môn khi sốt cao, khi đau nhức xương khớp hoặc táo bón). Trước đây, nước dừa còn được các bệnh viện quân y dã chiến sử dụng làm dịch truyền cho các trường hợp bị mất nước cấp tính, rối loạn điện giải.

Ba ba vị mặn, tính hàn, không độc, có tác dụng dưỡng âm, nhuận tràng, chống táo bón, chữa bệnh lao, suy nhược cơ thể, đau nhức xương khớp, đau lưng do sỏi đường tiết niệu, đầy hơi, ăn chậm tiêu, tiêu chảy... Các bộ phận của con ba ba như mai (miết giáp hoặc miết xác), đầu (miết đầu), máu (miết huyết)... đều được dùng làm thuốc. Phụ nữ có thai không được dùng.

Với các phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền hoặc hiện đại, đã có nhiều trường hợpÕtrĩ nội, trĩ ngoại được điều trị thành công, nhưng tỷ lệ tái phát thường cao. Phương pháp phẫu thuật gây nhiều khó khăn, phức tạp cho người bệnh như phải nhịn ăn nhiều ngày, phải uống thuốc chống đi phân lỏng. Trước, trong và sau điều trị, bệnh nhân phải hạn chế đại tiện, kiêng khem tuyệt đối trong ăn uống. Y học phương Đông cũng đã đạt được một số kết quả đáng mừng trong điều trị bệnh trĩ, nhưng việc thực hiện khá phức tạp. Do đó, trong điều trị bệnh trĩ, dù là bằng phương pháp nào, bệnh nhân cũng phải kiên trì, chịu khó và có lòng tin.