Tại sao phụ nữ tuổi trung niên hay cáu giận bất thường?
 |
| Giận dữ có hại cho tim. |
Ở phụ nữ trung niên có dùng thuốc tránh thai, nhu cầu về vitamin
B6 tăng trước kỳ kinh. Sự thiếu hụt chất này có thể dẫn tới tình trạng viêm dây
thần kinh ngoại vi, với các biểu hiện: hay kích động, đau đầu, mệt mỏi, trầm
uất. Để tránh tình trạng này, chị em cần ăn nhiều ngũ cốc, bắp cải; nếu nặng thì
phải uống vitamin B6 theo đơn bác sĩ.
Khi bước vào tuổi trung niên, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay
đổi, nhu cầu dinh dưỡng không còn giống như trước. Điều này dễ gây thiếu hụt một
số chất, dẫn đến mất cân bằng về dinh dưỡng. Đây chính là nguyên nhân gây những
cơn giận không kiềm chế được. Ngoài vitamin B6, các chất sau cũng ảnh hưởng tới
tâm trạng của phụ nữ trung niên:
-ÕVitamin B12: Khi thiếu vitamin B12, phụ nữ trung
niên (đặc biệt là những người uống thuốc tránh thai dài kỳ, ăn ít thịt) thường
có cảm giác trì độn, tứ chi rã rời, hay bị viêm lưỡi, tiêu chảy. Do đó, trong
bữa ăn, nên bổ sung vitamin B12 (có nhiều trong thịt nạc và gan động vật). Tiêm
vitamin B12 cũng là giải pháp hữu hiệu.
- Vitamin B1: Việc thiếu vitamin này không chỉ gây phù
chân, viêm thần kinh, dị ứng thần kinh mà còn làm cho cơ thể mệt mỏi, mất tự
chủ, rơi vào trạng thái hỉ nộ bất thường. Những người uống quá nhiều rượu, khảnh
ăn, sử dụng thuốc tránh thai dài kỳ rất dễ bị thiếu vitamin B1. Để phòng chống
tình trạng trên, cần uống ít rượu, ăn nhiều ngũ cốc. Việc uống hoặc tiêm vitamin
B1 chỉ là biện pháp bất đắc dĩ.
- Sắt: Tình trạng thiếu sắt có thể ảnh hưởng tới sức
sống của các dung môi chứa sắt và sự hình thành huyết sắc tố, làm cho tinh thần
ủ rũ, mất tập trung, giảm trí nhớ, dễ cáu giận, dễ khóc. Những phụ nữ có kỳ kinh
bất thường, kinh nguyệt ít, chu kỳ kinh ngắn, không thích ăn thịt cá, rau xanh
mà chỉ thích ăn bánh kẹo... thường dễ thiếu sắt.
- Kẽm: Việc cơ thể không được cung cấp đủ chất kẽm gây
tình trạng u uất, tình cảm không ổn định, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống
tình dục. Đường và rượu cản trở việc hấp thu kẽm nên không được dùng nhiều.
Một số món ăn - bài thuốc từ củ cải
 |
| Củ cải khôg chỉ là món ăn ngon mà còn là vị thuốc
quý. |
Để chữa hen, có thể lấy củ cải trắng sao giòn, tán nhỏ,
ngào với đường mía rồi làm thành viên bằng hạt ngô, cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần
lên cơn hen, uống 40-50 viên với nước ấm.
Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát,
khí đi lên; củ cải đã nấu chín vị ngọt, tính bình, khí đi xuống. Loại rau này có
thể chữa được nhiều bệnh về hô hấp (ho, đau tức ngực, mất tiếng, ho ra máu),
tiêu hóa (đau vùng thượng vị, ợ chua, nôn, khó tiêu, táo bón, trĩ), tiết niệu
(tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu đục, có sỏi) và các bệnh tiểu đường, huyết áp cao...
Ngoài ra, củ cải còn có công dụng hoạt huyết, chỉ
huyết (chữa nôn ra máu, chảy máu cam, tiêu, tiểu ra máu...), trừ sỏi mật và giải
một số tình trạng ngộ độc như: hơi khói than, rượu, cà, hàn the...
Sau đây là một số món ăn - bài thuốc theo Đông y và
kinh nghiệm dân gian.
- Lao phổi, ho, đau tức ngực, ho ra máu:
Dùng 2-3 củ cải giã lấy nước, thêm ít muối để uống.
Cũng có thể lấy củ cải, sinh địa, ngó sen, lê mỗi thứ
1 kg, mạch môn 500 g, gừng 500 g. Tất cả để tươi, nấu sôi trong 30 phút rồi vắt
lấy nước, nấu lại lần hai, lấy 2 nước nhập lại, cô thành cao lỏng. Cho thêm các
vị a giao, đường phèn, mật ong mỗi thứ 500 g, nấu thành cao đặc, đổ vào lọ. Ngày
uống hai lần sáng và chiều, mỗi lần 2 thìa canh. Dùng với nước ấm hoặc ngậm
nuốt.
-ÕViêm họng, khí quản cấp tính: Củ cải
500-1.000 g, quả trám 250 g, sắc uống.
-ÕNgạt vì khói than: Lấy nước cốt củ
cải hoặc nước ép lá củ cải đổ vào miệng.
-ÕLao phổi ra máu: Củ cải 300 g nấu với
400 ml nước lấy 100 ml, bỏ bã. Thêm 9-10 g phèn chua, 150 g mật ong, quấy đều,
đun lên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 ml lúc bụng đói.
- Đau đầu do cao huyết áp: Nước củ cải tươi
uống lạnh.
Hoặc: Dùng nước củ cải tươi 150-200 ml trộn với nước
sắc của các vị sau: sinh địa tươi 12 g, thiên ma 6 g, câu đằng 6 g, trân châu 15
g, táo nhân 10 g. Uống ngày 2 lần sáng và chiều, kèm theo xông hoặc uống 20 ml
nước củ cải tươi.
- Cước, đau chân nhiều do di chuyển: Củ cải
1 kg nấu lấy nước ngâm chân, đồng thời tẩm ướt khăn bằng nước củ cải nóng, xoa
đắp chỗ đau. Cũng có thể lấy 1 kg củ cải phơi sấy khô, tán bột, xoa chân trước
khi đi tất hoặc rắc vào trong giày, tất.
- Tiểu đường: Củ cải tươi 200 g (gọt vỏ,
thái sợi), gạo tẻ 50 g, gạo nếp 50 g, nấu thành cháo, ăn nóng, ngày hai lần. Mỗi
liệu trình 3-5 ngày liền.
- Bí tiểu, đau tức do nhiệt tích bàng quang:
Củ cải tươi 200 g, hành tây 100 g, gạo tẻ 50 g, gia vị vừa đủ, nấu thành cháo.
Dùng ngày hai lần vào lúc đói.
-ÕRối loạn tiêu hóa (đau bụng, nôn,
tiêu chảy, mệt lả): Củ cải 150 g, cà rốt 150 g, xương sườn lợn 200 g (chặt khúc
ngắn), gia vị. Ninh nhừ xương trước với muối, cho hai thứ vào sau, ninh tiếp. Ăn
kèm rau cải cúc đã hấp chín (trước khi ăn cơm).
-ÕKiết lỵ, cấm khẩu: Lấy mấy củ cải
trắng ép lấy nước, thêm một ly nước, đem sắc hòa với ít đường để uống.
- Chữa tiểu ít, tiểu đục, có sỏi: Dùng một
trong các cách như ép nước củ cải tươi, sắc củ cải tươi để uống, lấy củ cải khô
tán bột (trước đó có tẩm mật sao nhiều lần hoặc không tẩm mật) uống hoặc làm
hoàn. Khi uống cho thêm ít muối.
- Tiêu cơm, tan đờm: Củ cải trắng 250 g,
thịt lợn nạc 100 g, bột gạo hoặc mì 250 g, gừng, hành, muối, dầu vừa đủ. Củ cải
thái chỉ, xào tái cùng thịt lợn (thái sợi), trộn làm nhân bánh. Làm chín bánh
bằng cách hấp hoặc rán.
-ÕHo nhiều, suy nhược: Củ cải trắng 1
kg, lê 1 kg, gừng tươi 250 g, sữa 250 g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, củ cải và gừng tươi
rửa sạch, thái nhỏ, mỗi thứ vắt nước, để riêng. Cô nước củ cải, lê đến khi đặc
dính rồi thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều, đun sôi lại. Khi nguội,
cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần dùng một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Ngày
hai lần.
- Chữa lưng đau gối mỏi, dễ yếu mệt ở người
già: Chim cút hai con, củ cải 200 g, dầu, gừng gia vị vừa đủ. Chim cút làm
sạch, chặt thành miếng vuông cạnh 2 cm. Củ cải thái miếng dài 4cm rộng 2cm. Rán
thịt chim đổi màu mới cho củ cải vào xào, rồi cho gia vị, thêm ít nước vào nấu
cho đến khi chín.
-ÕTrừ đàm tích, giúp tiêu hóa tốt: Ăn
dưa cải củ muối. Thường dùng vào mùa thu đông, lúc trời hanh gây khô cổ, dễ bị
ho, hoặc dùng khi có đờm, ăn khó tiêu (nhất là khi ăn món nhiều thịt mỡ). Nên ăn
khi dưa củ cải còn trắng dòn.
Chữa bệnh bằng cây dâm bụt
 |
| Hoa dâm bụt có thể chữa mụn nhọt. |
Để chữa kinh nguyệt không đều, có thể lấy vỏ rễ dâm bụt
phơi khô 30 g thái nhỏ, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày. Nếu bị
kinh ra nhiều hoặc rong huyết, dùng rễ dâm bụt và lá huyết dụ (lượng bằng nhau)
sắc uống.
Dâm bụt (còn gọi là bông bụt, bụp) được dùng phổ biến
trong y học cổ truyền với tên thuốc là mộc cận. Dược liệu này vị ngọt, tính
bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, tiêu sưng. Cả lá,
vỏ thân, rễ và hoa dâm bụt đều được dùng chữa bệnh.
Sau đây là một số bài thuốc từ dâm bụt:
-ÕQuai bị: Lá dâm bụt 50 g, hành củ 50
g, giã nhỏ, thêm nước, gạn nước uống, lấy bã đắp.
- Chân đau nhức, đôi khi co cứng không đi
lại được: Lá dâm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía mỗi thứ 30 phơi
khô, thái nhỏ, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hằng ngày.
- Khí hư: Vỏ thân dâm bụt (cạo bỏ vỏ ngoài)
50 g thái nhỏ, sao vàng, sắc uống. Dùng trong 5 ngày.
- Chàm mặt: Vỏ thân dâm bụt 50 g, bồ kết 10
quả (bỏ hạt), gừng tươi 20 g. Tất cả thái nhỏ, sắc lấy nước rồi và cô đặc sền
sệt. Để nguội, bôi ngày hai lần.
- Kiết lỵ: Vỏ thân dâm bụt 40 g (cạo vỏ
ngoài, chỉ lấy lớp vỏ lụa), lá búp táo ta 40 g, gừng tươi 5 lát. Vỏ thân dâm bụt
thái nhỏ, sao vàng, hạ thổ; lá táo sao vàng. Tất cả sắc lấy nước uống.
- Khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Hoa dâm
bụt phơi khô, hãm uống thay chè.
-ÕMụn nhọt, nhất là nhọt đang mưng mủ:
Hoa dâm bụt, lá trầu không, lá thồm lồm mỗi thứ 50 g, giã nát, đắp lên chỗ mụn
nhọt.
- Nhức đầu, chóng mặt ở phụ nữ: Hoa dâm bụt,
gỗ vang mỗi thứ 50 g, gừng 3 lát, sắc uống.
Người nghiện rượu bia dễ bị hoại tử chỏm xương đùi
 |
| Hình ảnh khớp bị hoại tử qua phim
X-quang. |
Bệnh thường xuất hiện ở nam giới 35-50 tuổi, hay uống
rượu bia. Bệnh gây tàn phế, không thể chữa khỏi mà chỉ có thể khắc phục bằng
cách thay khớp nhân tạo. Cách điều trị này rất tốn kém và chỉ cải thiện được 60-
80% chức năng vận động của chân.
Chỏm xương đùi là nơi chịu lực tì đè rất lớn. Sức
nặng toàn bộ cơ thể được chuyển từ khung chậu qua hai chỏm xương đùi rồi khớp
háng để xuống hai chân. Khi đi bộ, lực ép trong khớp cao gấp 2-3 lần trọng lượng
cơ thể. Khi vận động mạnh như chạy nhảy, mang vác nặng, lực ép có thể tăng lên
nhiều lần so với khi đi bình thường. Với lực ép mạnh như vậy, chỏm xương đùi cần
một lượng máu nuôi rất lớn.
Ở những người uống nhiều rượu bia, các mạch máu nuôi
của vùng chỏm xương đùi bị suy giảm, một số mạch khác bị tắc nghẽn; khiến chỏm
xương này không được nuôi dưỡng đầy đủ. Hậu quả là ở các điểm chịu lực xuất hiện
nhiều ổ xơ chai, dần dần gây biến dạng chỏm xương. Phim X-quang trong trường hợp
này sẽ cho thấy hình ảnh chỏm xương bị méo mó, có các đốm đậm nhạt khác nhau,
phản ánh các điểm hủy xương. Lúc này, chỏm xương hỏng sẽ tác động lên mặt khớp
trơn láng của ổ cối, làm hư luôn mặt khớp của ổ cối trên khung chậu, gây thoái
hóa khớp.
Những người bị hoại tử
chỏm xương đùi có dáng đi khập khiễng do chân đau, đã bị ngắn mất 1-2
cm. Họ thấy đau khi đi lại, cử động khớp háng bị giới hạn, rất
khó khăn khi làm động tác quỳ gối. Lâu ngày, bệnh nhân có thể bị co rút khớp
háng. Những người này thường rất đau đớn, dáng đi lom khom vì chân bị co rút,
không thể duỗi thẳng háng và gối ra được.
Tình trạng đau diễn tiến đôi khi không tương ứng với
mức độ nặng của bệnh. Lúc đầu, bệnh nhân có thể đau nhiều; sau đó, đôi khi cơn
đau giảm bớt do tác dụng của thuốc kháng viêm giảm đau. Bệnh nhân nghĩ là đã
khỏi bệnh và tiếp tục ăn nhậu trong khi bệnh vẫn tiến triển. Khi họ đến bác sĩ
thì bệnh đã diễn tiến nặng kèm theo các bệnh khác (do rượu và tác dụng phụ của
thuốc kháng viêm) như đau dạ dày, yếu gan, hội chứng Cushing, cao huyết áp, gút,
bệnh tim mạch, tiểu đường...
Việc điều trị hoại tử
chỏm xương đùi được chỉ định tùy theo giai đoạn nặng nhẹ của
bệnh:
- Ở giai đoạn nhẹ (chỉ có triệu chứng đau mà không có
sự phá hủy đáng kể trên chỏm xương), bệnh nhân được điều trị nội khoa và nâng đỡ
(uống thuốc kháng viêm không steroid và đi nạng), hạn chế đi lại, kiêng rượu
bia, thuốc lá. Một số bệnh nhân có sự phục hồi chỏm xương và khỏi bệnh hoàn
toàn.
- Với những trường hợp nặng, phương pháp hiệu quả duy
nhất là thay khớp. Trước khi phẫu thuật, người bệnh phải dành ra 3-6 tháng điều
trị nâng đỡ, nâng tổng trạng, tập vật lý trị liệu để ngăn ngừa và kéo giãn sự co
rút các khớp; đồng thời điều trị nâng cao chất lượng xương (vì bệnh kéo dài sẽ
gây tình trạng loãng xương ngay trên xương bệnh).
Sau khi thay khớp giả, người bệnh có thể đi bộ nhưng
không thể chạy nhảy, chơi thể thao, ngồi xổm, quỳ gối, ngồi xếp bằng, ngồi vắt
chân và mang vác nặng. Thậm chí động tác cúi người nhặt đồ lên cũng được khuyến
cáo là không nên làm. Bộ khớp giả sẽ bị mòn đi theo thời gian và phải thay mới
sau khoảng 10-15 năm.
Nhận biết ham muốn tình dục dựa vào khả năng ăn uống
 |
| Chán ăn thường đi đôi với sự "nguội lạnh" ở phụ
nữ. |
Khi gặp trắc trở trong cuộc sống hoặc công việc, phụ nữ nếu không
mắc phải chứng chán ăn thì cũng rơi vào nghịch cảnh luôn mồm thèm ăn. Cả hai
điều này đều dẫn tới giảm ham muốn tình dục.
Theo kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Mỹ, ham
muốn tình dục và khả năng ăn uống liên hệ mật thiết với nhau ở phái đẹp. Phụ nữ
mắc chứng thèm ăn luôn lo sợ nam giới phát hiện ra thói quen xấu của mình, từ đó
nảy sinh tâm lý ngại tiếp xúc, không muốn thiết lập quan hệ tình cảm thân mật
với nam giới. Họ đánh mất sự tự tin, muốn nhưng tự mình kiềm chế cảm xúc, và vì
vậy hiếm khi được hưởng phút giây thăng hoa trong quan hệ tình dục.
Theo các nhà khoa học, điều này không đúng với nam giới: Rất khó
suy đoán ham muốn tình dục của họ dựa vào vấn đề ăn uống. Đàn ông có xu hướng tự
giải thoát khỏi khổ đau và phiền muộn bằng cách thể hiện mình trên giường. Gặp
trắc trở, họ có thể không thiết gì đến chuyện ăn uống nhưng không vì thế mà giảm
ham muốn tình dục. Trái lại, để khỏa lấp buồn đau, họ trở nên mạnh mẽ hơn bao
giờ hết trong chuyện chăn gối. Và nhờ đó, những bức bối về tâm lý bị nhấn chìm
trong sự thỏa mãn về sinh lý. Đối với đàn ông, đi tìm sự thỏa mãn về tình dục
nhiều khi lại là cứu cánh của lòng tự tin và phương thức biểu hiện sức mạnh.
Tóm lại, trong quan hệ vợ chồng, cần luôn chú ý đến những thay
đổi bất thường của người bạn đời để có biện pháp thích hợp củng cố lòng tin, lấy
lại sự thăng bằng về tâm sinh lý cho vợ (chồng) mình.
Rượu thuốc cho người cao tuổi
 |
| Không nên coi rượu rắn là rượu bổ. |
Để bổ khí huyết, những người cao tuổi có khí huyết hư
có thể dùng rượu bất lão thang, gồm các vị sau: long nhãn, nhân sâm, bạch truật,
hoàng kỳ, nhục quế, đương quy, thục địa, mạch môn, hà thủ ô, xuyên khung, phòng
phong, đại táo. Không nên dùng rượu này cho người cao huyết áp hoặc đang sốt.
Rượu thuốc có hai thành phần: rượu và thuốc. Rượu có
tác dụng làm dung môi hòa tan các chất thuốc, giúp thuốc hấp thu vào cơ thể
nhanh. Thuốc có tác dụng nâng cao sức khỏe, bổ sung cái mà cơ thể đang thiếu
hụt, loại trừ yếu tố gây bệnh. Không phải bất cứ loại rượu thuốc nào cũng đều
tốt cho bất cứ ai uống nó; có loại dùng được cho người này, song không dùng được
cho người khác. Vì vậy, khi mua rượu thuốc, cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc
để biết trạng thái cụ thể của mình, sau đó mới chọn rượu. Sau đây xin giới thiệu
vài loại rượu cụ thể:
- Rượu tắc kè: Tắc kè, vỏ quýt, đẳng sâm,
huyết giác tiểu hồi, đường trắng. Công năng của rượu tắc kè là bổ phế, ích khí,
tráng dương, dùng để chữa suy nhược cơ thể, ho hen, thận yếu (hay đái rắt),
người già sức khỏe kém. Không được dùng cho người âm hư, người mới mắc ho hen.
- Rượu rắn: Rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn
ráo, cẩu tích, tiểu hồi, hà thủ ô đỏ, kê huyết đằng, vỏ quýt, ngũ gia bì, thiên
niên kiện. Công năng của rượu rắn là trừ phong tê thấp, dùng để chữa chứng đau
nhức xương cơ khớp (thấp khớp), bán thân bất toại, đổ mồ hôi chân tay, người già
đau mỏi cơ xương khớp khi thời tiết thay đổi. Những người tạng nhiệt (trong
người thường cảm thấy nóng) không nên dùng.
- Rượu bổ huyết trừ phong: Cẩu tích, ngũ gia
bì, tang chi, ngưu tất, hà thủ ô đỏ, thiên niên kiện, kê huyết đằng. Công năng
của rượu là bổ huyết, trừ phong thấp, dùng chữa chứng đau cơ xương khớp, đau
gân. Phụ nữ có thai không nên dùng vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến thai, trẻ em
dưới 15 tuổi mắc phong thấp cũng không nên dùng.
- Rượu đại bổ trường sinh: Nhân sâm, đẳng
sâm, ngũ gia bì, dỏ dẻ, râu ngô, rễ cỏ tranh. Công năng của rượu này là bổ khí,
tráng dương, dùng để bồi bổ cơ thể, tăng sức, chữa chán ăn, huyết áp thấp. Không
nên dùng cho người có âm huyết hư.Õ