( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :

Tại sao phụ nữ tuổi trung niên hay cáu giận bất thường?

Giận dữ có hại cho tim.

Ở phụ nữ trung niên có dùng thuốc tránh thai, nhu cầu về vitamin B6 tăng trước kỳ kinh. Sự thiếu hụt chất này có thể dẫn tới tình trạng viêm dây thần kinh ngoại vi, với các biểu hiện: hay kích động, đau đầu, mệt mỏi, trầm uất. Để tránh tình trạng này, chị em cần ăn nhiều ngũ cốc, bắp cải; nếu nặng thì phải uống vitamin B6 theo đơn bác sĩ.

Khi bước vào tuổi trung niên, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi, nhu cầu dinh dưỡng không còn giống như trước. Điều này dễ gây thiếu hụt một số chất, dẫn đến mất cân bằng về dinh dưỡng. Đây chính là nguyên nhân gây những cơn giận không kiềm chế được. Ngoài vitamin B6, các chất sau cũng ảnh hưởng tới tâm trạng của phụ nữ trung niên:

Vitamin B12: Khi thiếu vitamin B12, phụ nữ trung niên (đặc biệt là những người uống thuốc tránh thai dài kỳ, ăn ít thịt) thường có cảm giác trì độn, tứ chi rã rời, hay bị viêm lưỡi, tiêu chảy. Do đó, trong bữa ăn, nên bổ sung vitamin B12 (có nhiều trong thịt nạc và gan động vật). Tiêm vitamin B12 cũng là giải pháp hữu hiệu.

- Vitamin B1: Việc thiếu vitamin này không chỉ gây phù chân, viêm thần kinh, dị ứng thần kinh mà còn làm cho cơ thể mệt mỏi, mất tự chủ, rơi vào trạng thái hỉ nộ bất thường. Những người uống quá nhiều rượu, khảnh ăn, sử dụng thuốc tránh thai dài kỳ rất dễ bị thiếu vitamin B1. Để phòng chống tình trạng trên, cần uống ít rượu, ăn nhiều ngũ cốc. Việc uống hoặc tiêm vitamin B1 chỉ là biện pháp bất đắc dĩ.

- Sắt: Tình trạng thiếu sắt có thể ảnh hưởng tới sức sống của các dung môi chứa sắt và sự hình thành huyết sắc tố, làm cho tinh thần ủ rũ, mất tập trung, giảm trí nhớ, dễ cáu giận, dễ khóc. Những phụ nữ có kỳ kinh bất thường, kinh nguyệt ít, chu kỳ kinh ngắn, không thích ăn thịt cá, rau xanh mà chỉ thích ăn bánh kẹo... thường dễ thiếu sắt.

- Kẽm: Việc cơ thể không được cung cấp đủ chất kẽm gây tình trạng u uất, tình cảm không ổn định, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống tình dục. Đường và rượu cản trở việc hấp thu kẽm nên không được dùng nhiều.

Một số món ăn - bài thuốc từ củ cải

Củ cải khôg chỉ là món ăn ngon mà còn là vị thuốc quý.

Để chữa hen, có thể lấy củ cải trắng sao giòn, tán nhỏ, ngào với đường mía rồi làm thành viên bằng hạt ngô, cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần lên cơn hen, uống 40-50 viên với nước ấm.

Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát, khí đi lên; củ cải đã nấu chín vị ngọt, tính bình, khí đi xuống. Loại rau này có thể chữa được nhiều bệnh về hô hấp (ho, đau tức ngực, mất tiếng, ho ra máu), tiêu hóa (đau vùng thượng vị, ợ chua, nôn, khó tiêu, táo bón, trĩ), tiết niệu (tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu đục, có sỏi) và các bệnh tiểu đường, huyết áp cao...

Ngoài ra, củ cải còn có công dụng hoạt huyết, chỉ huyết (chữa nôn ra máu, chảy máu cam, tiêu, tiểu ra máu...), trừ sỏi mật và giải một số tình trạng ngộ độc như: hơi khói than, rượu, cà, hàn the...

Sau đây là một số món ăn - bài thuốc theo Đông y và kinh nghiệm dân gian.

- Lao phổi, ho, đau tức ngực, ho ra máu: Dùng 2-3 củ cải giã lấy nước, thêm ít muối để uống.

Cũng có thể lấy củ cải, sinh địa, ngó sen, lê mỗi thứ 1 kg, mạch môn 500 g, gừng 500 g. Tất cả để tươi, nấu sôi trong 30 phút rồi vắt lấy nước, nấu lại lần hai, lấy 2 nước nhập lại, cô thành cao lỏng. Cho thêm các vị a giao, đường phèn, mật ong mỗi thứ 500 g, nấu thành cao đặc, đổ vào lọ. Ngày uống hai lần sáng và chiều, mỗi lần 2 thìa canh. Dùng với nước ấm hoặc ngậm nuốt.

Viêm họng, khí quản cấp tính: Củ cải 500-1.000 g, quả trám 250 g, sắc uống.

Ngạt vì khói than: Lấy nước cốt củ cải hoặc nước ép lá củ cải đổ vào miệng.

Lao phổi ra máu: Củ cải 300 g nấu với 400 ml nước lấy 100 ml, bỏ bã. Thêm 9-10 g phèn chua, 150 g mật ong, quấy đều, đun lên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 ml lúc bụng đói.

- Đau đầu do cao huyết áp: Nước củ cải tươi uống lạnh.

Hoặc: Dùng nước củ cải tươi 150-200 ml trộn với nước sắc của các vị sau: sinh địa tươi 12 g, thiên ma 6 g, câu đằng 6 g, trân châu 15 g, táo nhân 10 g. Uống ngày 2 lần sáng và chiều, kèm theo xông hoặc uống 20 ml nước củ cải tươi.

- Cước, đau chân nhiều do di chuyển: Củ cải 1 kg nấu lấy nước ngâm chân, đồng thời tẩm ướt khăn bằng nước củ cải nóng, xoa đắp chỗ đau. Cũng có thể lấy 1 kg củ cải phơi sấy khô, tán bột, xoa chân trước khi đi tất hoặc rắc vào trong giày, tất.

- Tiểu đường: Củ cải tươi 200 g (gọt vỏ, thái sợi), gạo tẻ 50 g, gạo nếp 50 g, nấu thành cháo, ăn nóng, ngày hai lần. Mỗi liệu trình 3-5 ngày liền.

- Bí tiểu, đau tức do nhiệt tích bàng quang: Củ cải tươi 200 g, hành tây 100 g, gạo tẻ 50 g, gia vị vừa đủ, nấu thành cháo. Dùng ngày hai lần vào lúc đói.

Rối loạn tiêu hóa (đau bụng, nôn, tiêu chảy, mệt lả): Củ cải 150 g, cà rốt 150 g, xương sườn lợn 200 g (chặt khúc ngắn), gia vị. Ninh nhừ xương trước với muối, cho hai thứ vào sau, ninh tiếp. Ăn kèm rau cải cúc đã hấp chín (trước khi ăn cơm).

Kiết lỵ, cấm khẩu: Lấy mấy củ cải trắng ép lấy nước, thêm một ly nước, đem sắc hòa với ít đường để uống.

- Chữa tiểu ít, tiểu đục, có sỏi: Dùng một trong các cách như ép nước củ cải tươi, sắc củ cải tươi để uống, lấy củ cải khô tán bột (trước đó có tẩm mật sao nhiều lần hoặc không tẩm mật) uống hoặc làm hoàn. Khi uống cho thêm ít muối.

- Tiêu cơm, tan đờm: Củ cải trắng 250 g, thịt lợn nạc 100 g, bột gạo hoặc mì 250 g, gừng, hành, muối, dầu vừa đủ. Củ cải thái chỉ, xào tái cùng thịt lợn (thái sợi), trộn làm nhân bánh. Làm chín bánh bằng cách hấp hoặc rán.

Ho nhiều, suy nhược: Củ cải trắng 1 kg, lê 1 kg, gừng tươi 250 g, sữa 250 g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, củ cải và gừng tươi rửa sạch, thái nhỏ, mỗi thứ vắt nước, để riêng. Cô nước củ cải, lê đến khi đặc dính rồi thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều, đun sôi lại. Khi nguội, cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần dùng một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Ngày hai lần.

- Chữa lưng đau gối mỏi, dễ yếu mệt ở người già: Chim cút hai con, củ cải 200 g, dầu, gừng gia vị vừa đủ. Chim cút làm sạch, chặt thành miếng vuông cạnh 2 cm. Củ cải thái miếng dài 4cm rộng 2cm. Rán thịt chim đổi màu mới cho củ cải vào xào, rồi cho gia vị, thêm ít nước vào nấu cho đến khi chín.

Trừ đàm tích, giúp tiêu hóa tốt: Ăn dưa cải củ muối. Thường dùng vào mùa thu đông, lúc trời hanh gây khô cổ, dễ bị ho, hoặc dùng khi có đờm, ăn khó tiêu (nhất là khi ăn món nhiều thịt mỡ). Nên ăn khi dưa củ cải còn trắng dòn.

Chữa bệnh bằng cây dâm bụt

Hoa dâm bụt có thể chữa mụn nhọt.

Để chữa kinh nguyệt không đều, có thể lấy vỏ rễ dâm bụt phơi khô 30 g thái nhỏ, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày. Nếu bị kinh ra nhiều hoặc rong huyết, dùng rễ dâm bụt và lá huyết dụ (lượng bằng nhau) sắc uống.

Dâm bụt (còn gọi là bông bụt, bụp) được dùng phổ biến trong y học cổ truyền với tên thuốc là mộc cận. Dược liệu này vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, tiêu sưng. Cả lá, vỏ thân, rễ và hoa dâm bụt đều được dùng chữa bệnh.

Sau đây là một số bài thuốc từ dâm bụt:

Quai bị: Lá dâm bụt 50 g, hành củ 50 g, giã nhỏ, thêm nước, gạn nước uống, lấy bã đắp.

- Chân đau nhức, đôi khi co cứng không đi lại được: Lá dâm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía mỗi thứ 30 phơi khô, thái nhỏ, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hằng ngày.

- Khí hư: Vỏ thân dâm bụt (cạo bỏ vỏ ngoài) 50 g thái nhỏ, sao vàng, sắc uống. Dùng trong 5 ngày.

- Chàm mặt: Vỏ thân dâm bụt 50 g, bồ kết 10 quả (bỏ hạt), gừng tươi 20 g. Tất cả thái nhỏ, sắc lấy nước rồi và cô đặc sền sệt. Để nguội, bôi ngày hai lần.

- Kiết lỵ: Vỏ thân dâm bụt 40 g (cạo vỏ ngoài, chỉ lấy lớp vỏ lụa), lá búp táo ta 40 g, gừng tươi 5 lát. Vỏ thân dâm bụt thái nhỏ, sao vàng, hạ thổ; lá táo sao vàng. Tất cả sắc lấy nước uống.

- Khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Hoa dâm bụt phơi khô, hãm uống thay chè.

Mụn nhọt, nhất là nhọt đang mưng mủ: Hoa dâm bụt, lá trầu không, lá thồm lồm mỗi thứ 50 g, giã nát, đắp lên chỗ mụn nhọt.

- Nhức đầu, chóng mặt ở phụ nữ: Hoa dâm bụt, gỗ vang mỗi thứ 50 g, gừng 3 lát, sắc uống.

Người nghiện rượu bia dễ bị hoại tử chỏm xương đùi

Hình ảnh khớp bị hoại tử qua phim X-quang.

Bệnh thường xuất hiện ở nam giới 35-50 tuổi, hay uống rượu bia. Bệnh gây tàn phế, không thể chữa khỏi mà chỉ có thể khắc phục bằng cách thay khớp nhân tạo. Cách điều trị này rất tốn kém và chỉ cải thiện được 60- 80% chức năng vận động của chân.

Chỏm xương đùi là nơi chịu lực tì đè rất lớn. Sức nặng toàn bộ cơ thể được chuyển từ khung chậu qua hai chỏm xương đùi rồi khớp háng để xuống hai chân. Khi đi bộ, lực ép trong khớp cao gấp 2-3 lần trọng lượng cơ thể. Khi vận động mạnh như chạy nhảy, mang vác nặng, lực ép có thể tăng lên nhiều lần so với khi đi bình thường. Với lực ép mạnh như vậy, chỏm xương đùi cần một lượng máu nuôi rất lớn.

Ở những người uống nhiều rượu bia, các mạch máu nuôi của vùng chỏm xương đùi bị suy giảm, một số mạch khác bị tắc nghẽn; khiến chỏm xương này không được nuôi dưỡng đầy đủ. Hậu quả là ở các điểm chịu lực xuất hiện nhiều ổ xơ chai, dần dần gây biến dạng chỏm xương. Phim X-quang trong trường hợp này sẽ cho thấy hình ảnh chỏm xương bị méo mó, có các đốm đậm nhạt khác nhau, phản ánh các điểm hủy xương. Lúc này, chỏm xương hỏng sẽ tác động lên mặt khớp trơn láng của ổ cối, làm hư luôn mặt khớp của ổ cối trên khung chậu, gây thoái hóa khớp.

Những người bị hoại tử chỏm xương đùi có dáng đi khập khiễng do chân đau, đã bị ngắn mất 1-2 cm. Họ thấy đau khi đi lại, cử động khớp háng bị giới hạn, rất khó khăn khi làm động tác quỳ gối. Lâu ngày, bệnh nhân có thể bị co rút khớp háng. Những người này thường rất đau đớn, dáng đi lom khom vì chân bị co rút, không thể duỗi thẳng háng và gối ra được.

Tình trạng đau diễn tiến đôi khi không tương ứng với mức độ nặng của bệnh. Lúc đầu, bệnh nhân có thể đau nhiều; sau đó, đôi khi cơn đau giảm bớt do tác dụng của thuốc kháng viêm giảm đau. Bệnh nhân nghĩ là đã khỏi bệnh và tiếp tục ăn nhậu trong khi bệnh vẫn tiến triển. Khi họ đến bác sĩ thì bệnh đã diễn tiến nặng kèm theo các bệnh khác (do rượu và tác dụng phụ của thuốc kháng viêm) như đau dạ dày, yếu gan, hội chứng Cushing, cao huyết áp, gút, bệnh tim mạch, tiểu đường...

Việc điều trị hoại tử chỏm xương đùi được chỉ định tùy theo giai đoạn nặng nhẹ của bệnh:

- Ở giai đoạn nhẹ (chỉ có triệu chứng đau mà không có sự phá hủy đáng kể trên chỏm xương), bệnh nhân được điều trị nội khoa và nâng đỡ (uống thuốc kháng viêm không steroid và đi nạng), hạn chế đi lại, kiêng rượu bia, thuốc lá. Một số bệnh nhân có sự phục hồi chỏm xương và khỏi bệnh hoàn toàn.

- Với những trường hợp nặng, phương pháp hiệu quả duy nhất là thay khớp. Trước khi phẫu thuật, người bệnh phải dành ra 3-6 tháng điều trị nâng đỡ, nâng tổng trạng, tập vật lý trị liệu để ngăn ngừa và kéo giãn sự co rút các khớp; đồng thời điều trị nâng cao chất lượng xương (vì bệnh kéo dài sẽ gây tình trạng loãng xương ngay trên xương bệnh).

Sau khi thay khớp giả, người bệnh có thể đi bộ nhưng không thể chạy nhảy, chơi thể thao, ngồi xổm, quỳ gối, ngồi xếp bằng, ngồi vắt chân và mang vác nặng. Thậm chí động tác cúi người nhặt đồ lên cũng được khuyến cáo là không nên làm. Bộ khớp giả sẽ bị mòn đi theo thời gian và phải thay mới sau khoảng 10-15 năm.

Nhận biết ham muốn tình dục dựa vào khả năng ăn uống

Chán ăn thường đi đôi với sự "nguội lạnh" ở phụ nữ.

Khi gặp trắc trở trong cuộc sống hoặc công việc, phụ nữ nếu không mắc phải chứng chán ăn thì cũng rơi vào nghịch cảnh luôn mồm thèm ăn. Cả hai điều này đều dẫn tới giảm ham muốn tình dục.

Theo kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Mỹ, ham muốn tình dục và khả năng ăn uống liên hệ mật thiết với nhau ở phái đẹp. Phụ nữ mắc chứng thèm ăn luôn lo sợ nam giới phát hiện ra thói quen xấu của mình, từ đó nảy sinh tâm lý ngại tiếp xúc, không muốn thiết lập quan hệ tình cảm thân mật với nam giới. Họ đánh mất sự tự tin, muốn nhưng tự mình kiềm chế cảm xúc, và vì vậy hiếm khi được hưởng phút giây thăng hoa trong quan hệ tình dục.

Theo các nhà khoa học, điều này không đúng với nam giới: Rất khó suy đoán ham muốn tình dục của họ dựa vào vấn đề ăn uống. Đàn ông có xu hướng tự giải thoát khỏi khổ đau và phiền muộn bằng cách thể hiện mình trên giường. Gặp trắc trở, họ có thể không thiết gì đến chuyện ăn uống nhưng không vì thế mà giảm ham muốn tình dục. Trái lại, để khỏa lấp buồn đau, họ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong chuyện chăn gối. Và nhờ đó, những bức bối về tâm lý bị nhấn chìm trong sự thỏa mãn về sinh lý. Đối với đàn ông, đi tìm sự thỏa mãn về tình dục nhiều khi lại là cứu cánh của lòng tự tin và phương thức biểu hiện sức mạnh.

Tóm lại, trong quan hệ vợ chồng, cần luôn chú ý đến những thay đổi bất thường của người bạn đời để có biện pháp thích hợp củng cố lòng tin, lấy lại sự thăng bằng về tâm sinh lý cho vợ (chồng) mình.

Rượu thuốc cho người cao tuổi

Không nên coi rượu rắn là rượu bổ.

Để bổ khí huyết, những người cao tuổi có khí huyết hư có thể dùng rượu bất lão thang, gồm các vị sau: long nhãn, nhân sâm, bạch truật, hoàng kỳ, nhục quế, đương quy, thục địa, mạch môn, hà thủ ô, xuyên khung, phòng phong, đại táo. Không nên dùng rượu này cho người cao huyết áp hoặc đang sốt.

Rượu thuốc có hai thành phần: rượu và thuốc. Rượu có tác dụng làm dung môi hòa tan các chất thuốc, giúp thuốc hấp thu vào cơ thể nhanh. Thuốc có tác dụng nâng cao sức khỏe, bổ sung cái mà cơ thể đang thiếu hụt, loại trừ yếu tố gây bệnh. Không phải bất cứ loại rượu thuốc nào cũng đều tốt cho bất cứ ai uống nó; có loại dùng được cho người này, song không dùng được cho người khác. Vì vậy, khi mua rượu thuốc, cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc để biết trạng thái cụ thể của mình, sau đó mới chọn rượu. Sau đây xin giới thiệu vài loại rượu cụ thể:

- Rượu tắc kè: Tắc kè, vỏ quýt, đẳng sâm, huyết giác tiểu hồi, đường trắng. Công năng của rượu tắc kè là bổ phế, ích khí, tráng dương, dùng để chữa suy nhược cơ thể, ho hen, thận yếu (hay đái rắt), người già sức khỏe kém. Không được dùng cho người âm hư, người mới mắc ho hen.

- Rượu rắn: Rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn ráo, cẩu tích, tiểu hồi, hà thủ ô đỏ, kê huyết đằng, vỏ quýt, ngũ gia bì, thiên niên kiện. Công năng của rượu rắn là trừ phong tê thấp, dùng để chữa chứng đau nhức xương cơ khớp (thấp khớp), bán thân bất toại, đổ mồ hôi chân tay, người già đau mỏi cơ xương khớp khi thời tiết thay đổi. Những người tạng nhiệt (trong người thường cảm thấy nóng) không nên dùng.

- Rượu bổ huyết trừ phong: Cẩu tích, ngũ gia bì, tang chi, ngưu tất, hà thủ ô đỏ, thiên niên kiện, kê huyết đằng. Công năng của rượu là bổ huyết, trừ phong thấp, dùng chữa chứng đau cơ xương khớp, đau gân. Phụ nữ có thai không nên dùng vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến thai, trẻ em dưới 15 tuổi mắc phong thấp cũng không nên dùng.

- Rượu đại bổ trường sinh: Nhân sâm, đẳng sâm, ngũ gia bì, dỏ dẻ, râu ngô, rễ cỏ tranh. Công năng của rượu này là bổ khí, tráng dương, dùng để bồi bổ cơ thể, tăng sức, chữa chán ăn, huyết áp thấp. Không nên dùng cho người có âm huyết hư.Õ