( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :

Chữa bệnh bằng cây dâm bụt

Hoa dâm bụt có thể chữa mụn nhọt.

Để chữa kinh nguyệt không đều, có thể lấy vỏ rễ dâm bụt phơi khô 30 g thái nhỏ, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày. Nếu bị kinh ra nhiều hoặc rong huyết, dùng rễ dâm bụt và lá huyết dụ (lượng bằng nhau) sắc uống.

Dâm bụt (còn gọi là bông bụt, bụp) được dùng phổ biến trong y học cổ truyền với tên thuốc là mộc cận. Dược liệu này vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, tiêu sưng. Cả lá, vỏ thân, rễ và hoa dâm bụt đều được dùng chữa bệnh.

Sau đây là một số bài thuốc từ dâm bụt:

Quai bị: Lá dâm bụt 50 g, hành củ 50 g, giã nhỏ, thêm nước, gạn nước uống, lấy bã đắp.

- Chân đau nhức, đôi khi co cứng không đi lại được: Lá dâm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía mỗi thứ 30 phơi khô, thái nhỏ, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hằng ngày.

- Khí hư: Vỏ thân dâm bụt (cạo bỏ vỏ ngoài) 50 g thái nhỏ, sao vàng, sắc uống. Dùng trong 5 ngày.

- Chàm mặt: Vỏ thân dâm bụt 50 g, bồ kết 10 quả (bỏ hạt), gừng tươi 20 g. Tất cả thái nhỏ, sắc lấy nước rồi và cô đặc sền sệt. Để nguội, bôi ngày hai lần.

- Kiết lỵ: Vỏ thân dâm bụt 40 g (cạo vỏ ngoài, chỉ lấy lớp vỏ lụa), lá búp táo ta 40 g, gừng tươi 5 lát. Vỏ thân dâm bụt thái nhỏ, sao vàng, hạ thổ; lá táo sao vàng. Tất cả sắc lấy nước uống.

- Khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Hoa dâm bụt phơi khô, hãm uống thay chè.

Mụn nhọt, nhất là nhọt đang mưng mủ: Hoa dâm bụt, lá trầu không, lá thồm lồm mỗi thứ 50 g, giã nát, đắp lên chỗ mụn nhọt.

- Nhức đầu, chóng mặt ở phụ nữ: Hoa dâm bụt, gỗ vang mỗi thứ 50 g, gừng 3 lát, sắc uống.

Rượu thuốc cho người cao tuổi

Không nên coi rượu rắn là rượu bổ.

Để bổ khí huyết, những người cao tuổi có khí huyết hư có thể dùng rượu bất lão thang, gồm các vị sau: long nhãn, nhân sâm, bạch truật, hoàng kỳ, nhục quế, đương quy, thục địa, mạch môn, hà thủ ô, xuyên khung, phòng phong, đại táo. Không nên dùng rượu này cho người cao huyết áp hoặc đang sốt.

Rượu thuốc có hai thành phần: rượu và thuốc. Rượu có tác dụng làm dung môi hòa tan các chất thuốc, giúp thuốc hấp thu vào cơ thể nhanh. Thuốc có tác dụng nâng cao sức khỏe, bổ sung cái mà cơ thể đang thiếu hụt, loại trừ yếu tố gây bệnh. Không phải bất cứ loại rượu thuốc nào cũng đều tốt cho bất cứ ai uống nó; có loại dùng được cho người này, song không dùng được cho người khác. Vì vậy, khi mua rượu thuốc, cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc để biết trạng thái cụ thể của mình, sau đó mới chọn rượu. Sau đây xin giới thiệu vài loại rượu cụ thể:

- Rượu tắc kè: Tắc kè, vỏ quýt, đẳng sâm, huyết giác tiểu hồi, đường trắng. Công năng của rượu tắc kè là bổ phế, ích khí, tráng dương, dùng để chữa suy nhược cơ thể, ho hen, thận yếu (hay đái rắt), người già sức khỏe kém. Không được dùng cho người âm hư, người mới mắc ho hen.

- Rượu rắn: Rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn ráo, cẩu tích, tiểu hồi, hà thủ ô đỏ, kê huyết đằng, vỏ quýt, ngũ gia bì, thiên niên kiện. Công năng của rượu rắn là trừ phong tê thấp, dùng để chữa chứng đau nhức xương cơ khớp (thấp khớp), bán thân bất toại, đổ mồ hôi chân tay, người già đau mỏi cơ xương khớp khi thời tiết thay đổi. Những người tạng nhiệt (trong người thường cảm thấy nóng) không nên dùng.

- Rượu bổ huyết trừ phong: Cẩu tích, ngũ gia bì, tang chi, ngưu tất, hà thủ ô đỏ, thiên niên kiện, kê huyết đằng. Công năng của rượu là bổ huyết, trừ phong thấp, dùng chữa chứng đau cơ xương khớp, đau gân. Phụ nữ có thai không nên dùng vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến thai, trẻ em dưới 15 tuổi mắc phong thấp cũng không nên dùng.

- Rượu đại bổ trường sinh: Nhân sâm, đẳng sâm, ngũ gia bì, dỏ dẻ, râu ngô, rễ cỏ tranh. Công năng của rượu này là bổ khí, tráng dương, dùng để bồi bổ cơ thể, tăng sức, chữa chán ăn, huyết áp thấp. Không nên dùng cho người có âm huyết hư.Õ

Cải củ làm thuốc

Củ cải thường được dân gian dùng để chữa ho và viêm họng.

Khi bị mất tiếng, khó nói, có thể lấy nước củ cải sống trộn với nước gừng sống (lượng bằng nhau) ngậm trong cổ họng, sẽ có hiệu quả tốt.

Trong Đông y, củ cải và hạt cải củ là những vị thuốc có tên là la bặc cănla bặc tử. Củ cải (la bặc căn) vị ngọt cay, hơi đắng, không độc, có tác dụng long đờm, tiêu thũng, tán phong tà, phá ứ, thông tê, trừ lỵ. Còn hạt cải củ (la bặc tử) vị cay ngọt, tính bình, có tác dụng trừ đờm, chữa ho, chữa lỵ, ung sang, đại tiểu tiện không thông...

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, hạt cải củ giúp hạ huyết áp; nước ép củ cải tươi cũng có tác dụng giảm huyết áp nhẹ. Do đó, người bị cao huyết áp, xơ cứng động mạch nên uống nước ép củ cải pha với mật ong - món ăn bổ trợ rất tốt cho việc chữa bệnh.

Sau đây là 2 bài thuốc đơn giản từ củ và hạt cải:

- Để chữa viêm khí quản, ho, nhiều đờm, khó thở, có thể lấy củ cải rửa sạch, thái vụn (hoặc thái thành từng sợi mỏng), trộn với mạch nha và ăn. Bài thuốc này có tác dụng hạ khí, tiêu đờm, giúp dễ thở.

- Chữa ho lâu năm: Hạt cải củ (sao) 10 g, lá tía tô (sao) 10 g, bạch giới tử (sao) 3 g. Tất cả tán mịn, cho vào một cái túi nhỏ, thêm 500 ml nước, sắc còn 300 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

Bài thuốc nam chữa ho cho trẻ dưới 5 tuổi

Lá tía tô được dùng trong các bài thuốc chữa cảm mạo.

Để chữa ho, chảy nước mũi, cảm sốt ở trẻ nhỏ, có thể uống loại thuốc nam được chế biến từ hoa đu đủ đực, hoa khế, lá tía tô và đường phèn. Bài thuốc này khá hiệu nghiệm và dễ uống.

Cách chế biến: Hoa khế, hoa đu đủ đực, lá tía tô mỗi thứ 10 g, đường phèn 5 g. Tất cả cho vào bát sứ có ít nước lọc, đun cách thủy bằng lửa than, để sôi nhỏ lửa càng lâu càng tốt. Để nguội hoặc cho vào chai thủy tinh (không cho vào chai nhựa, không để vào tủ lạnh).

Hằng ngày, cho bé uống 1/2 thìa cà phê, uống theo cách thấm dần ở đầu lưỡi, từ ít đến nhiều. Khi cho bé uống thuốc, bế bé lên sao cho đầu và cổ hơi cao so với bụng để tránh sặc, trớ, nôn. Khi cho bé uống, dùng tay vuốt từ mõm ức xuống rốn.

Các thành phần trong bài thuốc trên có những tác dụng cụ thể sau:

- Hoa đu đủ đực: Tẩy độc và chống táo bón. Hoa đực mọc ở kẽ lá, có cuống rất dài. Hoa cái tràng dài hơn tràng hoa đực, có quả thịt hình trứng to.

- Hoa khế: Chủ trị nóng sốt, chữa ngộ độc (nhất là với ngộ độc mã tiền), dị ứng, viêm loét da...

- Lá tía tô: Chữa nhiều bệnh như cảm mạo, động thai, ngộ độc cá, ho long đờm, hen, đau đầu, tê thấp, đau nhức xương khớp...

Chú ý: Bài thuốc nam nói trên hoàn toàn vô hại. Tuy nhiên, nếu bé sốt quá cao, ho sặc sụa, quấy khóc, chán bú thì phải đưa bé đến khám ở bác sĩ chuyên khoa nhi. Tuyệt đối không tự dùng các thuốc khác khi chưa được phép của bác sĩ chuyên khoa.

Cơm - vị thuốc quý

Tổ chức Lương thực Thế giới gọi cơm là "hạt của sự sống".

Dùng lượng chè xanh vừa phải đun sôi, bỏ nước đầu, thêm nước vào đun sôi lần nữa rồi dùng nước đó thổi cơm. Loại cơm này kết hợp được cả tác dụng của gạo và chè xanh: phòng bệnh tim mạch, ung thư, đường ruột, chống ôxy hóa, giảm béo, làm đẹp da.

Theo Đông y, cơm gạo tẻ vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ khí, mạnh gân cốt, kiện tỳ vị, bổ huyết, dùng để chữa các bệnh đường tiêu hóa (nôn mửa, tiêu chảy, tiêu ra máu), bệnh cơ xương khớp (đau lưng, mỏi gối), lao lực, suy nhược. Sách Bị cấp thiên kim yếu phương của Tôn Tử Mạc viết: "Người đời chỉ biết dùng gạo để tránh đói mà không biết rằng, nó cũng đứng trong hàng bách dược". Sau đây là một số món cơm chữa bệnh:

1. Chữa bệnh bằng cách dùng trong

Cơm nướng cháy: Cơm tẻ một nắm nướng cháy gần hết, thêm 1 chén nước, sắc cho trẻ uống để chữa chứng thở khò khè (nực cơm).

Cơm bắp cải: Xào chín hành tây rồi cho bắp cải thái nhỏ vào xào tái, thêm gia vị, tất cả cho vào khi cạn cơm. Có tác dụng hoạt tràng, thông tiện, phòng chữa viêm loét, ung thư đường ruột.

Cơm tương cà chua: Xào tỏi và hành tây cho thơm rồi thêm tương cà chua (hoặc cà rốt), sau đó cho cả vào nồi khi cơm cạn, có tác dụng làm sáng mắt.

Cơm hành tây: Nấu nước sôi rồi cho gạo, hành tây, gia vị vào nấu cơm. Có tác dụng hạ huyết áp, hạ đường trong máu, chống bệnh đường ruột, giúp tiêu hóa tốt.

Cơm hẹ: Cơm tẻ một nắm đem rang khô, hẹ 20 lá, gừng 5 lát, cát căn 10 g, sắc với 2 bát nước lấy 1 bát. Chữa tiêu chảy, mất nước, nóng sốt.

Cơm nghệ của người Mường: Dùng nước ép nghệ lượng vừa phải nhào với gạo, cho vào ống nứa hoặc tre non, đốt cháy vỏ. Có tác dụng phòng chữa bệnh gan mật.

Cơm ý dĩ: Dùng gạo và hạt ý dĩ lượng bằng nhau (khoảng 50-100 g) nấu cơm, có tác dụng trừ thấp thũng.

Cơm gà nhồi bách hợp: Gà mái tơ làm sạch rồi nhồi gạo, bách hợp tươi, gia vị (gừng, hành) vào bụng, khâu kín lại, luộc hoặc chưng cách thủy cho chín. Có tác dụng ích khí, chữa các bệnh về hô hấp, hồi phục sức khỏe cho phụ nữ sau sinh, người mới ốm dậy.

Cơm sò: Sò làm sạch rồi ướp rượu, gừng, chao, gia vị, cho vào nồi cơm vừa cạn, nấu tiếp cho chín. Có tác dụng bổ huyết, phòng chữa bướu cổ, ra mồ hôi trộm, khí hư, bạch đới, còi xương, suy dinh dưỡng.

Cơm hến: Gạo rang qua trong niêu đất, đổ nước hến đang sôi vào để nấu cơm. Khi cơm cạn thêm dầu, mè đen rang, rau răm thái chỉ, hành tỏi phi. Cơm nấu phải khô mới đạt tiêu chuẩn. Có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh, mạnh gân, xương.

Cơm sữa bò (hoặc trâu, dê): Nấu cạn cơm rồi cho sữa vào đánh đều, om chín. Có tác dụng bổ dưỡng, chữa suy nhược, táo bón, bệnh đường hô hấp.

Cơm thiên ma thịt lợn: Gạo 1 kg, thịt lợn nạc 100 g, thiên ma 10 g, cà rốt 50 g, nấm hương 10 g, xì dầu 5 g, rượu chát 5 g. Thiên ma ngâm nước 2 tiếng rồi thái miếng nhỏ. Cà rốt và thịt lợn thái miếng, nấm thái nhỏ, tất cả cho vào nồi cùng với gạo, đổ nước thiên ma trộn rượu vang, xì dầu nấu thành cơm. Tác dụng bổ não, an thần, chữa suy nhược thần kinh, đau đầu, chóng mặt.

Cơm muối: Gạo còn nguyên vỏ cám nấu bằng niêu đất, cơm chín nhưng hạt gạo không nứt, không khô. Ăn với muối cùng các gia vị, ruốc, sườn... Có tác dụng tả hỏa, nhuận táo, tiêu viêm do hư hỏa, tiêu chảy, chuột rút, mỏi mệt do viêm nhiệt, ra nhiều mồ hôi.

2. Chữa bệnh bằng cách dùng ngoài

Chữa các bệnh phổi (ho, tức ngực): Cơm nóng ép thành bánh, gói vào lá chuối sạch (lá chuối tiêu là tốt nhất), dùng vải mỏng bọc lại, đắp vào vùng trước ngực và sau lưng ngang ngực.

Chữa lở loét, chảy nước vàng, có mủ: Cơm nguội 100 g phơi sương 1 đêm; lá vông nem tươi non 100 g giã nhuyễn, 2 thứ đắp lên chỗ lở đã được rửa sạch.

Chữa nhọt lở trên đầu: Cơm nguội 4 phần, vôi tôi 1 phần, giã nhuyễn, đắp vào chỗ lở sau khi đã rửa sạch.

Chữa bỏng: Cơm khô rời hạt rang lên rồi tán mịn, hòa với nước cơm xoa lên chỗ bỏng, hễ khô lại xoa. Khi da bị bỏng lột ra, lấy bột cơm khô tán nhỏ rắc lên.

Chữa nhọt đầu đanh ở trẻ em: Đầu trẻ bị nhọt bằng hạt đậu, chân nhọt đỏ tía làm trẻ đau nhức, quấy khóc, bỏ chơi, bỏ ăn. Nấu cơm bằng gạo không vo. Chờ cơm sôi, khi bọt nước dâng lên nắp nồi thì lấy nước bọt đó bôi lên nhọt.

Món ăn bài thuốc dành cho người cao tuổi

Rau mồng tơi có tác dụng nhuận tràng.

Để giúp nhuận tràng, chữa táo bón ở người già, có thể lấy rau mồng tơi 50 g, rau đay 50 g, khoai sọ 1-2 củ, nấu canh ăn trong ngày (dùng 2-3 ngày); hoặc dùng rau mồng tơi, rau má, rau đay, rau lang mỗi thứ 50 g, nấu canh ăn vào hai bữa cơm.

Ngoài ra, có thể cho nhộng tằm vào cháo nóng, tốt nhất là cháo chim sẻ hoặc chim cút, ăn trong ngày; hay ăn nhộng rang với hành mỡ vào hai bữa cơm.

Sau đây là các món ăn bài thuốc khác dành cho người cao tuổi:

1. Bồi bổ, tăng tuổi thọ

- Hà thủ ô đỏ phơi khô, tán bột, rây mịn (10 g), táo tàu (10 quả) thái mỏng. Hai thứ trộn đều, nấu với gạo tẻ (50 g) thành cháo, thêm ít đường đỏ, ăn 2 lần vào trước mỗi bữa cơm. Nông dân ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thường nấu hà thủ ô đỏ với lá hoặc quả câu kỷ và thịt chuột đồng ăn hằng ngày.

- Chim sẻ (5 con) làm sạch, nấu chín, thêm vào một chén rượu, nấu một lúc nữa, rồi đổ vào 2 bát nước, 3 nhánh hành thái nhỏ, 2 nắm gạo tẻ đã vo sạch, nấu thành cháo, ăn đều mỗi buổi sáng.

2. Giảm đau, chữa tê thấp, nhức xương

- Thịt rắn 100 g băm nhỏ với lá lốt, mùi tàu, xương sông, nướng ăn 2 lần trong ngày, dùng nhiều ngày. Hoặc: Nấu thịt rắn với gạo thành cháo ăn hằng ngày.

- Thịt hoặc gân hươu nai 50-100 g ninh nhừ với lạc nhân 150 g, thêm ít dầu ăn và muối. Ǎn vào 2 bữa cơm.

3. Hạ huyết áp

- Rau cần tây 100 g rửa sạch, thái khúc, xào với thịt cho chín tới (không xào quá kỹ) ăn hằng ngày trong bữa cơm chiều. Khi có kết quả thì ngừng ngay, không nên dùng kéo dài.

- Nấm linh chi phơi khô 20 g nấu với nước, để sôi trong 1 giờ. Bỏ bã, cho thịt trai đã thái miếng (100 g) vào, ninh nhừ, thêm đường phèn cho đủ ngọt. Ǎn thịt trai, uống nước nấm. Cách 2-3 ngày dùng một lần.

4. Thanh nhiệt, chữa nóng trong, nước tiểu đỏ

- Hoa thiên lý 20-30 g nấu canh với rau khủ khởi và lá mướp đắng non, ăn hằng ngày. Hoặc: Ăn quả mướp đắng nhồi thịt băm, hấp chín.

- Thịt trâu 100 g thái miếng, nấu với ít gừng, vỏ quýt, hành, giấm và muối, ăn vào lúc đói.

Dược thiện dành cho phụ nữ tiền mãn kinh

Quả dâu chín rất tốt cho phụ nữ mãn kinh.

Chim sẻ 3-5 con làm sạch, rán chín ninh với gạo tẻ (60 g) thành cháo, chế thêm chút rượu nhẹ, hành, gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Dùng cho người mắc hội chứng tiền mãn kinh thể dương hư: kinh nguyệt có lúc ra nhiều, sắc nhạt, mệt mỏi, kém ăn, chân tay lạnh, đau lưng, chất lưỡi nhợt.

Ở độ tuổi 45-55, do chức năng buồng trứng suy giảm nên 85% phụ nữ mắc hội chứng tiền mãn kinh với mức độ khác nhau, biểu hiện bằng các triệu chứng: rối loạn kinh nguyệt, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ, tim đập nhanh, có các cơn "bốc hỏa", thay đổi tính tình...

Theo y học cổ truyền, đây là hậu quả của tình trạng thận khí suy nhược, tinh huyết sút kém, kinh mạch hư tổn, công năng tạng phủ rối loạn, dẫn đến mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Để khắc phục, một trong những phương pháp tốt nhất là sử dụng các món ăn thích hợp. Cách này rất đơn giản nhưng cho hiệu quả rất lớn. Sau đây là một số món ăn bài thuốc cụ thể:

1. Thể thận dương hư.

- Đông trùng hạ thảo 10 g, thịt gà 250 g. Thịt gà rửa sạch, cho vào nồi, đun sôi, hớt bọt. Cho đông trùng hạ thảo vào, hầm nhỏ lửa cho nhừ, chia làm 2 lần ăn trong ngày.

- Tôm nõn loại to 10 con, gạo kê 100 g, dầu vừng, gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, thái nhỏ, nấu với gạo kê thành cháo rồi chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

2. Thể can thận âm hư.

Triệu chứng: Kinh nguyệt rối loạn, lượng ít, sắc đỏ tươi; có cảm giác sốt về chiều, lòng bàn tay và bàn chân nóng, tinh thần căng thẳng, bức bối khó chịu, đầu chóng, mắt hoa, tai ù, mất ngủ, môi khô, miệng khát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, ít rêu.

- Táo nhân 30 g, sinh địa 30 g, gạo tẻ 100 g. Táo nhân đập vụn, sinh địa thái phiến, sắc kỹ cả hai vị lấy 200 ml nước thuốc rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

- Tang thầm (quả dâu chín) 50 g, đường trắng 200 g, bột mì 300 g, trứng gà 5 quả. Tang thầm rửa sạch, sắc lửa nhỏ trong 20 phút rồi lọc bỏ bã lấy nước, cho đường, bột mì, trứng gà vào trộn đều, nặn thành bánh, nướng chín dùng dần. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 50-100 g.

3. Thể tâm tỳ lưỡng hư.

Triệu chứng: Đầu choáng, mắt hoa, sắc mặt nhợt nhạt, ngủ ít, hay mê mộng, dễ hồi hộp, trí nhớ giảm sút, kinh nguyệt ít và loãng, có thể rong kinh, chất lưỡi nhợt.

- Thịt gà ác 200 g, hà thủ ô 20 g, hoàng kỷ 15 g, đại táo 10 quả. Thịt gà rửa sạch, thái miếng, đại táo bỏ hạt, hà thủ ô và hoàng kỳ cho vào túi vải, buộc kín. Tất cả cho vào nồi đất, chế nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm kỹ trong 2 giờ, bỏ túi thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.

- Long nhãn 30 g, nhân sâm 3 g, nấm linh chi 5 g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà hằng ngày. Có thể chế thêm một chút đường phèn cho dễ uống.

- Nấm linh chi 5 g, viễn trí 10 g, tam thất 10 g, ngũ vị tử 4 g, hạt sen 10 g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường, uống thay trà trong ngày.

Chú ý: Phụ nữ ở tuổi này nên ăn nhiều thực phẩm có công dụng tư bổ can thận, dưỡng huyết, tư âm, giáng hỏa như: thịt vịt, thịt gà ác, tim và cật lợn, sò biển, hàu, trai, cá mực, ba ba, rùa, sữa ong chúa, mộc nhĩ, yến, bách hợp, hạt sen, kỷ tử, tang thầm... Hạn chế những thức ăn cay nóng, có tính kích thích hay quá béo bổ như ớt, hạt tiêu, quế, hồi, tỏi, chè đặc, rượu, trứng, thịt mỡ, não tủy động vật, các thức ăn chiên xào...

Tự xoa bóp phòng chống thừa cân và béo phì Õ

Hình 1: Bấm huyệt trung quản.

Để giảm cân, ngoài việc áp dụng chế độ ăn và rèn luyện thể lực hợp lý, bạn có thể áp dụng một trong các liệu pháp xoa bóp đơn giản của y học cổ truyền dưới đây:

- Dùng ngón tay cái hoặc giữa day ấn huyệt trung quản trong 2 phút sao cho đạt cảm giác căng tức nhẹ (hình 1). Huyệt này nằm ở điểm giữa của đoạn từ rốn đến điểm gặp nhau của hai bờ sườn hoặc từ rốn đo lên 4 thốn.

- Dùng hai bàn tay đặt chồng lên nhau, xoa bụng trên theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải trong 5 phút.

- Dùng hai bàn tay đặt 2 bên bụng dưới đồng thời xát từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong. Làm 5 phút, sao cho tại chỗ nóng lên là được.

- Dùng ngón cái và các ngón còn lại của cả hai bàn tay kẹp lớp mỡ dưới da bụng rồi cuộn liên tiếp từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên trong 3 phút.
Hình 2: Bấm huyệt túc tam lý.

- Dùng 2 ngón tay cái day ấn đồng thời 2 huyệt túc tam lý trong 2 phút (hình 2). Vị trí huyệt túc tam lý: Sờ từ dưới cổ chân (phía bờ trước xương ống chân) ngược lên; đến gần khớp gối, ngón tay mắc lại ở đâu thì đó là lồi củ trước xương chày; từ đây đo ra ngoài một khoát ngón tay là vị trí của huyệt, khi ấn có cảm giác tê tức lan xuống bàn chân.

Hình 3: Bấm huyệt tam âm giao.

- Dùng ngón tay cái day ấn đồng thời 2 huyệt tam âm giao trong 2 phút (hình 3). Huyệt này nằm trên mắt cá chân 3 thốn, ngay sau bờ trong xương chày.

Hình 4: Bấm huyệt nội đình.

- Dùng ngón tay cái day ấn đồng thời 2 huyệt nội đình trong 1 phút (hình 4). Vị trí huyệt nội đình: Ép sát đầu ngón chân 2 và 3 vào nhau, huyệt nằm trên mu chân, ở đầu kẽ giữa hai ngón chân, ngang chỗ nối thân và đầu xương đốt thứ nhất của 2 ngón kể trên.

Để đạt được hiệu quả rõ rệt, quá trình tập luyện trên phải được thực hiện kiên trì, đều đặn, mỗi ngày 1-2 lần và kéo dài ít nhất 2-3 tháng. Khi thể trọng đã trở về mức bình thường, phải tiếp tục tiến hành với thời lượng ngắn hơn nhằm duy trì hiệu quả đã đạt được và dự phòng tình trạng thừa cân tái phát.

Cây trinh nữ hoàng cung và u xơ tuyến tiền liệt

"Tôi bị u xơ tiền liệt tuyến 4-5 năm nay. Gần đây, tôi dùng cây trinh nữ hoàng cung thấy có tác dụng tốt, tiểu không bị tắc, nhưng vẫn tiểu đêm nhiều lần (có lúc 5-6 lần). Xin bác sĩ cho biết cách chế biến cây trinh nữ hoàng cung, dùng với liều lượng bao nhiêu là đúng?".

Trả lời:

Bạn nên đến bệnh viện để kiểm tra lại tình hình bệnh, chẳng hạn mức độ tiến triển của u xơ tiền liệt tuyến, mức độ nhiễm trùng đường tiết niệu, có dấu hiệu gì của ung thư tiền liệt tuyến hay không. Từ đó, bác sĩ sẽ quyết định cần phải điều trị nội khoa hay ngoại khoa. Chỉ khi nào tiền liệt tuyến không quá lớn, không có các biến chứng thì mới nên tiếp tục điều trị bằng thuốc nam.

Cách dùng cây trinh nữ hoàng cung: Lấy lá phơi khô, cắt nhỏ rồi sắc uống. Mỗi ngày dùng 12-20 g lá khô. Nếu uống thấy có dấu hiệu nôn, buồn nôn thì cần phải giảm liều hoặc ngừng hẳn.

Một số bài thuốc nam chữa phù thũng Õ

Mã đề được dùng trong nhiều bài thuốc giải nhiệt, tiêu thũng.

Để chữa phù thũng, có thể dùng trần bì (vỏ quýt khô), đại phúc bì (vỏ ngoài quả cau), tang bạch bì (vỏ ngoài cây dâu), ngũ gia bì mỗi thứ 12 g, mã đề 10 g, gừng sống 8 g, quế chi 6 g; sắc uống.

Phù thũng là một chứng bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, tính chất bệnh đa dạng, do nhiều nguyên nhân gây ra. Theo Đông y, bệnh xuất hiện do tà khí kết lại ở các kinh phế, tỳ, thận. Tâm quá hư suy cũng gây ra phù thũng. Sau đây là một số bài thuốc chữa chứng này:

- Trần bì, bán hạ, mộc hương, tô mộc mỗi thứ 8 g, búp ổi 4 g, sắc uống, thích hợp với người bị phù dinh dưỡng do rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài.

- Đại phúc bì, mộc hương, bạch linh mỗi thứ 12 g; bạch truật, mộc qua, thảo quả, hắc phụ tử chế mỗi thứ 8 g; can khương, hậu phác mỗi thứ 6 g, cam thảo 2 g; sắc uống. Bài thuốc này thích hợp với những bệnh nhân bị phù do suy tim, viêm thận mạn tính, tiêu chảy mạn tính.

- Xa tiền thảo (mã đề) 40 g, sắc uống, chữa phù thũng do tiểu tiện bất lợi.

Trong các bài thuốc trên, mỗi vị thuốc có đặc điểm và tác dụng riêng:

- Trần bì: Vị đắng the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng khai khiếu tiêu đờm, chữa ho, đầy bụng, nôn mửa, tiêu chảy, trừ thấp, lợi tiểu.

- Đại phúc bì: Vị ngọt hơi the, tính ấm, có tác dụng hành khí, lợi thủy, chữa thủy thũng, lợi tiểu tiện.

- Mã đề: Vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng thanh phế nhiệt, lợi tiểu tiện, chữa bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu.

- Tang bạch bì: Vị ngọt, tính hàn, có tác dụng tả phế, hành thủy, tiêu đờm, trị phong thấp, thấp khớp.

- Ngũ gia bì: Vị đắng, hơi the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng mạnh gân cốt, trừ phong thấp, kích thích tiêu hóa.

- Sinh khương (gừng tươi): Vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, ôn trung, tiêu đờm, hành thủy; chữa cảm mạo phong hàn, kích thích tiêu hóa, trị bụng đầy trướng, giải độc.

- Quế chi: Vị cay ngọt, mùi thơm, tính đại nhiệt, có tác dụng bổ hỏa, trợ dương, tán hàn, ôn ấm tỳ, hoạt huyết, chữa các chứng bệnh do hàn, thũng và kinh bế do hàn.

Thử nghiệm một loại Đông dược điều trị ung thư

Đó là Cadef, sản phẩm mới của công ty Traphaco, được bào chế từ thảo dược trong nước. Thuốc này đã được dùng kết hợp với phương pháp xạ trị trên 141 bệnh nhân ung thư các loại. Sau 8 tuần, 89% trường hợp có khối u tan hoàn toàn, không di căn, thể trạng tăng trung bình 0,5 kg. Số bệnh nhân còn lại có khối u tan gần hết, không di căn.

Trong khi đó, ở nhóm đối chứng không dùng Cadef (99 người), chỉ 78% có kết quả tốt, 14% trung bình, 8% có tiên lượng xấu. Đặc biệt, các bệnh nhân đều bị giảm trọng lượng trung bình 2 kg.

Thông tin trên được đưa ra ngày 2/10 tại Hội thảo Thuốc Đông y và những bước phát triển mới do Viện Y học dân tộc tổ chức.