( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :

Một số bài thuốc chữa biếng ăn ở trẻ em

Hạt sen có tác dụng chữa biếng ăn.

Thịt lươn 250 (bỏ hết ruột, rửa sạch, thái khúc), màng mề gà 6 g (sao khô, tán nhỏ, thêm chút muối và gia vị); hai thứ trộn với nhau đem hấp chín. Món ăn này thích hợp với những trẻ biếng ăn do tỳ khí hư nhược (lưỡi nhạt màu, phân hơi nát, hay bị tiêu chảy).

Theo y học cổ truyền, chứng biếng ăn ở trẻ em thuộc phạm vi các bệnh tỳ, vị, do 3 nguyên nhân chủ yếu là ăn uống tích trệ, vị nhiệt tân dịch thương tổn và tỳ khí hư nhược. Tùy theo từng nguyên nhân, cách điều trị có khác nhaụ

1. Do ăn uống tích trệ

Những trẻ này thường có biểu hiện: hôi miệng, rêu lưỡi dày bệu, bụng chướng ấm ách, ngủ không yên, hay mê man, đại tiện bất thường, phân khắm.

Bài thuốc: Kê nội kim (màng mề gà) 30 g rửa sạch, phơi khô, sao vàng rồi tán thành bột. Khi dùng, thêm chút đường kính vào trộn đều để uống. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 0,5 g (với trẻ dưới 3 tuổi) hoặc 1 g (với trẻ 3-5 tuổi) và 1,5 g (với trẻ từ 6 tuổi trở lên).

2. Do vị nhiệt, tân dịch thương tổn

Biểu hiện của thể bệnh này là chất lưỡi đỏ, vài ba ngày mới đi đại tiện một lần, phân khô táọ

Bài thuốc: Cà bát tươi 1 quả (khoảng 150 g) rửa sạch, gọt bỏ vỏ, thái nhỏ, để cả hạt, ép lấy nước uống, ngày uống 2-3 lần.

3. Do tỳ khí hư nhược

Chọn một trong các bài thuốc sau:

- Bánh củ cải: Củ cải tươi 250 g rửa sạch, thái nhỏ, trộn với dầu thực vật, sao tới chín. Thịt lợn nạc 100 g thái nhỏ, trộn với củ cải để làm nhân. Bột mỳ 250 g nhào nước cho dẻo rồi bọc quanh nhân, cho vào chảo rán chín, ăn điểm tâm.

- Cháo đậu xanh táo tàu: Táo tàu khô 6 quả, gạo và đậu xanh lượng vừa đủ, nấu nhừ thành cháo, ăn trong ngàỵ

- Chè hạt sen: Hạt sen bỏ tâm, ngâm nước nóng cho nở ra (nếu là hạt khô), rửa sạch, nấu thật nhừ rồi cho đường để ăn.

Quả đại hồi chữa bệnh

Đại hồi được dùng nhiều trong sản xuất mỹ phẩm và hương liệụ

Quả đại hồi (còn có tên là hồi hương bát giác và đại hồi hương) vị cay ngọt, tính ấm, mùi thơm dễ chịu, có tác dụng trị hàn, kiện tì vị (giúp ăn ngon và dễ tiêu hoá), trị sán khí (đau ngược từ bụng dưới lên).

Quả đại hồi có 6-8 cánh hình thuyền màu nâu sẫm, xếp thành hình ngôi sao chung quanh cuống, mùi thơm rất mạnh (nhưng hạt không mùi, vị khó chịu).

Quả đại hồi chín được tách ra từng mảng, bỏ hạt, rửa sạch, phơi khô trong bóng râm, khi dùng tẩm rượu hoặc muối sao (qua một lớp giấy).

Cách dùng đại hồi đơn giản nhất là ngâm với rượu để uống theo công thức sau: quả đại hồi (bỏ hạt, sao khô) 100 g, rượu ngon 1 lít. Khi bị nôn mửa, tiêu chảy do hàn, bụng chướng hơi hoặc ngộ độc thịt cá, nên cho bệnh nhân uống một thìa canh, cứ 2 giờ uống 1 lần.

Để tăng sự ngon miệng, có thể uống rượu đại hồi trước bữa ăn, mỗi lần một ly nhỏ 400 ml.

Giá trị dược dụng của thịt và trứng vịt

Thịt vịt rất tốt với bệnh nhân lao phổị

Để khắc phục tình trạng tăng huyết áp, ù tai, váng đầu, chóng mặt, mỗi buổi sáng, nên ăn 1 quả trứng vịt muốị Nếu trộn trứng vịt với bột sò biển để tráng lên ăn thì tác dụng chữa bệnh càng caọ

Theo Đông y, trứng vịt vị ngọt, tính mát, có tác dụng tư âm, giáng hỏa, thanh nhiệt, hóa đàm; dùng chữa bệnh ho khan, ít đờm, ho do phế âm hư. Còn thịt vịt tính hàn, có tác dụng tư âm, dưỡng vị. Sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân ghi: "Thịt vịt chữa các chứng bệnh tiểu tiện bất lợi, nhiệt bệnh, hư lao; bổ ngũ tạng và thủy đạọ Nên chọn các loại vịt đực đầu xanh hoặc vịt lông trắng, xương đen, mỏ đen càng tốt." Sau đây là 2 bài thuốc cụ thể:

- Chữa ho khan do phế âm hư: Dùng 10 g mộc nhĩ rửa sạch, thái nhỏ, tráng với 2 quả trứng vịt; khi chín cho thêm 50 g đường phèn, hấp cách thủy cho tan đường ra, ăn nóng.

- Hỗ trợ điều trị lao phổi và ung thư: Thịt vịt già hầm lên ăn. Món ăn này có khả năng tăng cường khả năng miễn dịch cho người bệnh.

Lưu ý:

- Do thịt vịt có tính hàn, tác dụng bổ âm nên những người dương hư tỳ nhược, ngoại cảm chưa khỏi hẳn tạm thời chưa nên ăn.

- Không ăn thịt vịt với mộc nhĩ, chao đậu, thịt ba ba, thịt rùa đen.

- Không ăn trứng vịt với thịt ba ba, quả dâu, quả mận.

Chữa di tinh, hoạt tinh bằng y học cổ truyền

Nhân sâm có tác dụng chữa hoạt tinh.

Đây là các bệnh của 3 tạng: tâm, can, thận. Bình thường, tinh dịch chỉ được xuất khi việc giao hợp đạt đến ngưỡng khoái cảm cực độ. Nếu các tạng trên bị bệnh, tinh có thể ra không theo ý muốn. Tình trạng này được Đông y chia làm 2 loại: di tinh và hoạt tinh.

Các nguyên nhân chủ yếu gây 2 bệnh trên bao gồm:

- Quân hỏa, tướng hỏa quá vượng, làm cho mối quan hệ giữa quân hỏa và tướng hỏa mất thăng bằng khiến thận tinh bị ảnh hưởng, gây hoạt tinh.

- Thận hư không bế tàng: Thận âm hư thì hỏa thịnh, ảnh hưởng đến cơ quan bế tàng tinh gây ra di tinh. Tình trạng âm dương lưỡng hư, khí hạ nguyên quá suy yếu cũng gây hoạt tinh không cầm được.

- Thấp nhiệt hạ tiêu uất lại, làm nhiễu động tâm thận gây di tinh.

Một số thể bệnh và cách chữa trị:

1. Hoạt tinh do quân hỏa, tướng hỏa quá vượng:

Triệu chứng: Tinh ra cả ngày và đêm, ra không phụ thuộc cảm hứng. Bệnh nhân ngủ ít, ngủ không yên, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, đánh trống ngực, có khi thỉnh thoảng đau nhói vùng tim. Chất lưỡi đỏ. Phép điều trị là định tâm, an thần, cố tinh.

Bài thuốc: Nhân sâm, bồ hoàng, viễn chí, táo nhân mỗi thứ 8 g; phục linh, phục thần, mạch môn, khiếm thực, kim anh tử mỗi thứ 16 g; long nhãn 15 g. Viễn chí chế bỏ lõi, mạch môn bỏ lõị Các vị trên (trừ long nhãn) sao giòn, tán mịn. Long nhãn nghiền với mật. Tất cả làm thành viên. Mỗi ngày uống 60 g, chia đều 4 lần, uống trong ngàỵ

2. Di tinh do thận hư không bế tàng:

Triệu chứng: Di tinh chủ yếu về đêm, hồi hộp, mất ngủ. Nếu âm hư, bệnh nhân đau lưng, ù tai, mệt mỏi, gầy yếu, đầu choáng, mắt hoa, họng miệng khô, tiểu tiện sẻn, lưỡi đỏ, rêu vàng. Nếu dương hư, bệnh nhân đau lưng, ù tai, chân tay lạnh, phân nát, có thể kèm theo hoạt tinh, liệt dương.

- Nếu âm hư, phép điều trị là tư âm, bổ thận, cố tinh. Dùng hoàng bá, tri mẫu, khiếm thực, kim anh tử mỗi thứ 16 g; thục địa, quy bản mỗi thứ 30 g. Các vị trên (trừ thục địa) sao giòn, tán mịn. Thục địa nghiền mịn, chưng với mật míạ Tất cả làm thành viên bằng hạt nhãn, sấy khô, ngày uống 80 g, chia đều 4 lần, uống trong ngàỵ

- Nếu dương hư, phép điều trị là ôn bổ thận dương, sáp tinh. Dùng thục địa 32 g, lộc giác giao 24 g, thỏ ty tử 16 g; phá cố chỉ, bá tử nhân, phục linh mỗi thứ 12 g. Phá cố chỉ tẩm muối sao; thỏ ty tử, bá tử nhân, phục linh sao giòn, tán mịn; thục địa nghiền nát chưng với mật míạ Tất cả làm thành viên bằng hạt nhãn, sấy khô. Uống mỗi ngày 80 g, chia đều 4 lần, uống trong ngàỵ

Lưu ý: Tùy theo từng thể bệnh, có thể kết hợp uống thuốc và châm cứụ

Chữa bệnh bằng quả và cây trám

Quả trám có thể chữa đau răng.

Để chữa nứt nẻ kẽ chân, gót chân, có thể lấy hạt trám đốt thành than, tán nhỏ, trộn với dầu để bôi hằng ngàỵ Còn nếu bị lưỡi trắng, nên lấy hạt trám đen nướng cháy, tán bột, đặt lên một con dao, hơ lửa cho dầu chảy ra, rồi dùng dầu đó bôi vào lưỡị

Trám trắng còn có tên là câu bùi, cà na, quả màu lục. Trám đen còn có tên là ô lãm, mộc uy tử, quả màu tím đen. Dân gian thường dùng trám để chữa các bệnh sau:

- Đau răng, sâu răng: Quả trám đốt thành than, tán bột, trộn với ít xạ hương, bôi xỉa (Nam dược thần hiệu).

- Viêm họng, miệng khô, khát nước: Lấy 500 g quả trám trắng rửa sạch, đập lấy cùi, bỏ hạt. Cho cùi quả vào nồi nhôm, nấu lấy nước (nấu 2-3 lần). Lọc nước rồi hòa với 125 g đường, cô thành cao lỏng. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 15-30 g.

- Dị ứng sơn: Vỏ thân cây trám thái nhỏ, nấu nước tắm.

Chữa đau đầu bằng y học cổ truyền

Bí đỏ có tác dụng chữa đau đầụ

Nhân trần 30 g, trần bì 5 g, nước 300 ml, đun nhỏ lửa cho sôi kỹ, chắt lấy 150 ml nước thuốc, chia 3 lần uống trong ngày, cần uống liền 3-5 ngàỵ

Đau đầu là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, chẳng hạn như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, thiếu máu, đau mắt, đau răng, cảm mạọ.. Người bệnh cần đi khám để tìm nguyên nhân. Trong trường hợp đau nhẹ, có thể dùng một trong các bài thuốc sau:

- Ích trí nhân 100 g sấy khô, tán thành bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 g, uống với nước sôi để nguội có pha thêm ít muối ăn.

- Sinh địa 15 g, khổ sâm 15 g, hoàng cầm 10 g. Sắc lấy 200 ml nước thuốc đặc, chia 3 lần uống trong ngày, cần uống liền 3-5 ngàỵ

- Vỏ cây nhãn 10 g, lá sen 8 g. Vỏ cây nhãn bỏ lớp vỏ xốp bên ngoài, thái mỏng, phơi khô; lá sen rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô. Sắc uống.

- Đậu xanh 30 g, bí đỏ 25 g, đường đỏ 20 g. Đậu xanh giã dập, bí đỏ thái miếng cùng đường đỏ. Sắc uống.

Tác dụng chữa bệnh của măng

Măng có tác dụng lợi tiểụ

Theo Đông y, măng vị ngọt hơi đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, trừ đàm thấp... Nhiều nghiên cứu cho thấy, măng lau có tác dụng phòng chống ung thư.

Măng tây có tác dụng tăng lực và tái lập sự cân bằng trao đổi chất đã bị mất đi do chế độ ăn có quá nhiều chất béo, đường, giúp phòng các bệnh lý tim mạch, thấp khớp...

Ở vùng Kampo (Nhật Bản), người ta hay chế măng thành trà chữa chứng loét phần nối dạ dày và ruột. Ở đảo Hokaido, nhiều người đã chữa lành chứng hồi lưu dạ dày thực quản bằng nước luộc măng tre (bài thuốc Takenoko Suimono). Ở Việt Nam, măng được dùng trong một số trường hợp sau:

- Đi lỵ mạn tính, trĩ ngoại: Ăn món cháo măng gạo tẻ.

- Bệnh tim mạch, thận, gan: Uống nước sắc măng với lá bồ công anh, vỏ bí đaọ

- Trẻ lên ban, mày đay, sởi, thủy đậu: Ăn canh măng nấu cá diếc để thanh nhiệt, lợi tiểu, thải độc, khỏi sốt.

Lưu ý:

- Khi ăn măng, phải luộc kỹ để loại bỏ chất độc HCN trong măng.

- Người bị bướu cổ đơn thuần phải kiêng măng vì HCN ảnh hưởng xấu lên quá trình hấp thu iốt của tuyến giáp.