Một số bài thuốc chữa biếng ăn ở trẻ em
 |
| Hạt sen có tác dụng chữa biếng ăn. |
Thịt lươn 250 (bỏ hết ruột, rửa sạch, thái khúc), màng
mề gà 6 g (sao khô, tán nhỏ, thêm chút muối và gia vị); hai thứ trộn với nhau
đem hấp chín. Món ăn này thích hợp với những trẻ biếng ăn do tỳ khí hư nhược
(lưỡi nhạt màu, phân hơi nát, hay bị tiêu chảy).
Theo y học cổ truyền, chứng biếng ăn ở trẻ em thuộc
phạm vi các bệnh tỳ, vị, do 3 nguyên nhân chủ yếu là ăn uống tích trệ, vị nhiệt
tân dịch thương tổn và tỳ khí hư nhược. Tùy theo từng nguyên nhân, cách điều trị
có khác nhaụ
1. Do ăn uống tích
trệ
Những trẻ này thường có biểu hiện: hôi miệng, rêu
lưỡi dày bệu, bụng chướng ấm ách, ngủ không yên, hay mê man, đại tiện bất
thường, phân khắm.
Bài thuốc: Kê nội kim (màng mề gà) 30 g rửa sạch,
phơi khô, sao vàng rồi tán thành bột. Khi dùng, thêm chút đường kính vào trộn
đều để uống. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 0,5 g (với trẻ dưới 3 tuổi) hoặc 1 g
(với trẻ 3-5 tuổi) và 1,5 g (với trẻ từ 6 tuổi trở lên).
2. Do vị nhiệt, tân dịch
thương tổn
Biểu hiện của thể bệnh này là chất lưỡi đỏ, vài ba
ngày mới đi đại tiện một lần, phân khô táọ
Bài thuốc: Cà bát tươi 1 quả (khoảng 150 g) rửa sạch,
gọt bỏ vỏ, thái nhỏ, để cả hạt, ép lấy nước uống, ngày uống 2-3 lần.
3. Do tỳ khí hư
nhược
Chọn một trong các bài thuốc sau:
- Bánh củ cải: Củ cải tươi 250 g rửa sạch, thái nhỏ,
trộn với dầu thực vật, sao tới chín. Thịt lợn nạc 100 g thái nhỏ, trộn với củ
cải để làm nhân. Bột mỳ 250 g nhào nước cho dẻo rồi bọc quanh nhân, cho vào chảo
rán chín, ăn điểm tâm.
- Cháo đậu xanh táo tàu: Táo tàu khô 6 quả, gạo và
đậu xanh lượng vừa đủ, nấu nhừ thành cháo, ăn trong ngàỵ
- Chè hạt sen: Hạt sen bỏ tâm, ngâm nước nóng cho nở
ra (nếu là hạt khô), rửa sạch, nấu thật nhừ rồi cho đường để ăn.
Quả đại hồi chữa bệnh
 |
| Đại hồi được dùng nhiều trong sản xuất mỹ phẩm và hương
liệụ |
Quả đại hồi (còn có tên là hồi hương bát giác và đại hồi hương) vị
cay ngọt, tính ấm, mùi thơm dễ chịu, có tác dụng trị hàn, kiện tì vị (giúp ăn
ngon và dễ tiêu hoá), trị sán khí (đau ngược từ bụng dưới lên).
Quả đại hồi có 6-8 cánh hình thuyền màu nâu sẫm, xếp thành hình
ngôi sao chung quanh cuống, mùi thơm rất mạnh (nhưng hạt không mùi, vị khó
chịu).
Quả đại hồi chín được tách ra từng mảng, bỏ hạt, rửa sạch, phơi
khô trong bóng râm, khi dùng tẩm rượu hoặc muối sao (qua một lớp giấy).
Cách dùng đại hồi đơn giản nhất là ngâm với rượu để uống theo
công thức sau: quả đại hồi (bỏ hạt, sao khô) 100 g, rượu ngon 1 lít. Khi bị nôn
mửa, tiêu chảy do hàn, bụng chướng hơi hoặc ngộ độc thịt cá, nên cho bệnh nhân
uống một thìa canh, cứ 2 giờ uống 1 lần.
Để tăng sự ngon miệng, có thể uống rượu đại hồi trước bữa ăn,
mỗi lần một ly nhỏ 400 ml.
Giá trị dược dụng của thịt và trứng vịt
 |
| Thịt vịt rất tốt với bệnh nhân lao
phổị |
Để khắc phục tình trạng tăng huyết áp, ù tai, váng đầu,
chóng mặt, mỗi buổi sáng, nên ăn 1 quả trứng vịt muốị Nếu trộn trứng vịt với
bột sò biển để tráng lên ăn thì tác dụng chữa bệnh càng caọ
Theo Đông y, trứng vịt vị ngọt, tính mát, có tác dụng
tư âm, giáng hỏa, thanh nhiệt, hóa đàm; dùng chữa bệnh ho khan, ít đờm, ho do
phế âm hư. Còn thịt vịt tính hàn, có tác dụng tư âm, dưỡng vị. Sách Bản thảo
cương mục của Lý Thời Trân ghi: "Thịt vịt chữa các chứng bệnh tiểu tiện bất lợi,
nhiệt bệnh, hư lao; bổ ngũ tạng và thủy đạọ Nên chọn các loại vịt đực đầu xanh
hoặc vịt lông trắng, xương đen, mỏ đen càng tốt." Sau đây là 2 bài thuốc cụ
thể:
- Chữa ho khan do phế âm hư: Dùng 10 g mộc nhĩ rửa
sạch, thái nhỏ, tráng với 2 quả trứng vịt; khi chín cho thêm 50 g đường phèn,
hấp cách thủy cho tan đường ra, ăn nóng.
- Hỗ trợ điều trị lao phổi và ung thư: Thịt vịt già
hầm lên ăn. Món ăn này có khả năng tăng cường khả năng miễn dịch cho người
bệnh.
Lưu ý:
- Do thịt vịt có tính hàn, tác dụng bổ âm nên những
người dương hư tỳ nhược, ngoại cảm chưa khỏi hẳn tạm thời chưa nên ăn.
- Không ăn thịt vịt với mộc nhĩ, chao đậu, thịt ba
ba, thịt rùa đen.
- Không ăn trứng vịt với thịt ba ba, quả dâu, quả
mận.
Chữa di tinh, hoạt tinh bằng y học cổ truyền
 |
| Nhân sâm có tác dụng chữa hoạt
tinh. |
Đây là các bệnh của 3 tạng: tâm, can, thận. Bình
thường, tinh dịch chỉ được xuất khi việc giao hợp đạt đến ngưỡng khoái cảm cực
độ. Nếu các tạng trên bị bệnh, tinh có thể ra không theo ý muốn. Tình trạng này
được Đông y chia làm 2 loại: di tinh và hoạt tinh.
Các nguyên nhân chủ yếu gây 2 bệnh trên bao gồm:
- Quân hỏa, tướng hỏa quá vượng, làm cho mối quan hệ
giữa quân hỏa và tướng hỏa mất thăng bằng khiến thận tinh bị ảnh hưởng, gây hoạt
tinh.
- Thận hư không bế tàng: Thận âm hư thì hỏa thịnh,
ảnh hưởng đến cơ quan bế tàng tinh gây ra di tinh. Tình trạng âm dương lưỡng hư,
khí hạ nguyên quá suy yếu cũng gây hoạt tinh không cầm được.
- Thấp nhiệt hạ tiêu uất lại, làm nhiễu động tâm thận
gây di tinh.
Một số thể bệnh và cách
chữa trị:
1. Hoạt tinh do quân hỏa, tướng hỏa quá
vượng:
Triệu chứng: Tinh ra cả ngày và đêm, ra không phụ
thuộc cảm hứng. Bệnh nhân ngủ ít, ngủ không yên, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp,
đánh trống ngực, có khi thỉnh thoảng đau nhói vùng tim. Chất lưỡi đỏ. Phép điều
trị là định tâm, an thần, cố tinh.
Bài thuốc: Nhân sâm, bồ hoàng, viễn chí, táo nhân mỗi
thứ 8 g; phục linh, phục thần, mạch môn, khiếm thực, kim anh tử mỗi thứ 16 g;
long nhãn 15 g. Viễn chí chế bỏ lõi, mạch môn bỏ lõị Các vị trên (trừ long
nhãn) sao giòn, tán mịn. Long nhãn nghiền với mật. Tất cả làm thành viên. Mỗi
ngày uống 60 g, chia đều 4 lần, uống trong ngàỵ
2. Di tinh do thận hư không bế tàng:
Triệu chứng: Di tinh chủ yếu về đêm, hồi hộp, mất
ngủ. Nếu âm hư, bệnh nhân đau lưng, ù tai, mệt mỏi, gầy yếu, đầu choáng, mắt
hoa, họng miệng khô, tiểu tiện sẻn, lưỡi đỏ, rêu vàng. Nếu dương hư, bệnh nhân
đau lưng, ù tai, chân tay lạnh, phân nát, có thể kèm theo hoạt tinh, liệt dương.
- Nếu âm hư, phép điều trị là tư âm, bổ thận, cố
tinh. Dùng hoàng bá, tri mẫu, khiếm thực, kim anh tử mỗi thứ 16 g; thục địa, quy
bản mỗi thứ 30 g. Các vị trên (trừ thục địa) sao giòn, tán mịn. Thục địa nghiền
mịn, chưng với mật míạ Tất cả làm thành viên bằng hạt nhãn, sấy khô, ngày uống
80 g, chia đều 4 lần, uống trong ngàỵ
- Nếu dương hư, phép điều trị là ôn bổ thận dương,
sáp tinh. Dùng thục địa 32 g, lộc giác giao 24 g, thỏ ty tử 16 g; phá cố chỉ, bá
tử nhân, phục linh mỗi thứ 12 g. Phá cố chỉ tẩm muối sao; thỏ ty tử, bá tử nhân,
phục linh sao giòn, tán mịn; thục địa nghiền nát chưng với mật míạ Tất cả làm
thành viên bằng hạt nhãn, sấy khô. Uống mỗi ngày 80 g, chia đều 4 lần, uống
trong ngàỵ
Lưu ý:
Tùy theo từng thể bệnh, có thể kết hợp uống thuốc và châm cứụ
Chữa bệnh bằng quả và cây trám
 |
| Quả trám có thể chữa đau răng. |
Để chữa nứt nẻ kẽ chân, gót chân, có thể lấy hạt trám
đốt thành than, tán nhỏ, trộn với dầu để bôi hằng ngàỵ Còn nếu bị lưỡi trắng,
nên lấy hạt trám đen nướng cháy, tán bột, đặt lên một con dao, hơ lửa cho dầu
chảy ra, rồi dùng dầu đó bôi vào lưỡị
Trám trắng còn có tên là câu bùi, cà na, quả màu lục.
Trám đen còn có tên là ô lãm, mộc uy tử, quả màu tím đen. Dân gian thường dùng
trám để chữa các bệnh sau:
- Đau răng, sâu răng: Quả trám đốt thành
than, tán bột, trộn với ít xạ hương, bôi xỉa (Nam dược thần hiệu).
- Viêm họng, miệng khô, khát nước: Lấy 500 g
quả trám trắng rửa sạch, đập lấy cùi, bỏ hạt. Cho cùi quả vào nồi nhôm, nấu lấy
nước (nấu 2-3 lần). Lọc nước rồi hòa với 125 g đường, cô thành cao lỏng. Mỗi
ngày uống hai lần, mỗi lần 15-30 g.
- Dị ứng sơn: Vỏ thân cây trám thái nhỏ, nấu
nước tắm.
Chữa đau đầu bằng y học cổ truyền
 |
| Bí đỏ có tác dụng chữa đau đầụ |
Nhân trần 30 g, trần bì 5 g, nước 300 ml, đun nhỏ lửa
cho sôi kỹ, chắt lấy 150 ml nước thuốc, chia 3 lần uống trong ngày, cần uống
liền 3-5 ngàỵ
Đau đầu là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây
ra, chẳng hạn như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, thiếu máu, đau mắt, đau răng,
cảm mạọ.. Người bệnh cần đi khám để tìm nguyên nhân. Trong trường hợp đau nhẹ,
có thể dùng một trong các bài thuốc sau:
- Ích trí nhân 100 g sấy khô, tán thành bột mịn, ngày
uống 3 lần, mỗi lần 10 g, uống với nước sôi để nguội có pha thêm ít muối ăn.
- Sinh địa 15 g, khổ sâm 15 g, hoàng cầm 10 g. Sắc
lấy 200 ml nước thuốc đặc, chia 3 lần uống trong ngày, cần uống liền 3-5
ngàỵ
- Vỏ cây nhãn 10 g, lá sen 8 g. Vỏ cây nhãn bỏ lớp vỏ
xốp bên ngoài, thái mỏng, phơi khô; lá sen rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô. Sắc
uống.
- Đậu xanh 30 g, bí đỏ 25 g, đường đỏ 20 g. Đậu xanh
giã dập, bí đỏ thái miếng cùng đường đỏ. Sắc uống.
Tác dụng chữa bệnh của măng
 |
| Măng có tác dụng lợi tiểụ |
Theo Đông y, măng vị ngọt hơi đắng, tính lạnh, có tác
dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, trừ đàm thấp... Nhiều nghiên cứu cho
thấy, măng lau có tác dụng phòng chống ung thư.
Măng tây có tác dụng tăng lực và tái lập sự cân bằng
trao đổi chất đã bị mất đi do chế độ ăn có quá nhiều chất béo, đường, giúp phòng
các bệnh lý tim mạch, thấp khớp...
Ở vùng Kampo (Nhật Bản), người ta hay chế măng thành
trà chữa chứng loét phần nối dạ dày và ruột. Ở đảo Hokaido, nhiều người đã chữa
lành chứng hồi lưu dạ dày thực quản bằng nước luộc măng tre (bài thuốc Takenoko
Suimono). Ở Việt Nam, măng được dùng trong một số trường hợp sau:
- Đi lỵ mạn tính, trĩ ngoại: Ăn món cháo măng gạo
tẻ.
- Bệnh tim mạch, thận, gan: Uống nước sắc măng với lá
bồ công anh, vỏ bí đaọ
- Trẻ lên ban, mày đay, sởi, thủy đậu: Ăn canh măng
nấu cá diếc để thanh nhiệt, lợi tiểu, thải độc, khỏi sốt.
Lưu ý:
- Khi ăn măng, phải luộc kỹ để loại bỏ chất độc
HCN trong măng.
- Người bị bướu cổ đơn thuần phải kiêng măng vì HCN
ảnh hưởng xấu lên quá trình hấp thu iốt của tuyến giáp.