Chữa bí tiểu bằng cách đắp hành
 |
| Hành - vị thuốc dễ kiếm. |
Dùng củ hành tươi sao nóng đắp lên rốn là một biện pháp khá lý
tưởng để giải quyết tình trạng ứ nước tiểu do những nguyên nhân khác nhau gây ra
(viêm tuyến tiền liệt, phì đại tuyến tiền liệt, lệch đĩa đệm cột sống, phụ nữ có
thai hoặc sau khi đẻ bị bí tiểu).
Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:
- Củ hành tươi một nắm giã nát, chia thành 2 phần, dùng vải bọc
lại, sao nóng, luân phiên đắp lên rốn (huyệt thần khuyết), có tác dụng chữa tiểu
khó, bụng dưới trướng đau (theo sách Bản sự phương).
- Hành trắng cả lá giã nát, thêm mật, đắp lên ngoại thận (bộ
phận sinh dục), tiểu tiện sẽ thông (TheoÕBản thảo cương mục).
- Ốc nhồi hoặc ốc vặn 4-5 con, hành sống 3-4 củ, có thêm chút
băng phiến càng tốt. Ốc bóc bỏ vỏ, lấy thịt, trộn với hành giã nát, nặn thành
hình cái bánh tròn, đặt lên trên rốn, lấy băng cố định lại, sau khi đắp một lúc
là đi tiểu được. Khi tiểu tiện đã thông thì bỏ thuốc ra.
Lưu ý: Sau 3 tiếng nếu không thấy kết quả, cần
giải quyết bằng những biện pháp khác.
Vài món ăn bài thuốc cho người bị phì đại tuyến tiền liệt
 |
| Ếch có tác dụng tốt với tuyến tiền
liệt. |
Trong Đông y, phì đại tuyến tiền liệt được gọi là chứng "long bế"
với các biểu hiện như tiểu khó, tiểu nhiều lần, tia nước yếu hoặc bí tiểu. Ngoài
việc dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, tập luyện khí công và dưỡng sinh, việc ăn
uống thích hợp cũng là một nội dung quan trọng trong điều trị.
Sau đây là một số món ăn bài thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị
và dự phòng chứng long bế:Õ
Bài 1: Ếch 1 con
(nặng chừng 90 g), tang phiêu tiêu (tổ bọ ngựa) 9 g, sơn thù nhục 30 g, ba kích
thiên 9 g, kỷ tử 15 g. Ếch làm sạch, bỏ đầu, da và phủ tạng, thái miếng; các vị
thuốc thái vụn. Tất cả đem hầm lửa nhỏ trong 3 giờ, chế thêm gia vị, ăn trong
ngày. Nếu không có tang phiêu tiêu thì dùng kim anh tử thay thế.
Công dụng: Bổ thận khí, điều hòa tiết niệu; dùng cho
người bị phì đại tuyến tiền liệt lành tính thể thận khí bất túc (tiểu tiện khó
khăn, mỗi bận phải đi nhiều lần mới hết, có cảm giác như mất sức, nước tiểu
trong, miệng nhạt, ăn kém). Những người có biến chứng viêm đường tiết niệu gây
tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đỏ đục... không nên dùng bài này.
Theo dinh dưỡng học cổ truyền, ếch có công dụng bổ hư ích tinh,
dưỡng phế tư thận, thường được dùng cho những người suy nhược cơ thể, suy dinh
dưỡng, thiếu máu, sản phụ thiếu sữa... Bởi vậy, trong dân gian ếch được gọi là
"điền kê" (gà đồng). Tang phiêu tiêu, sơn thù và ba kích đều có tác dụng bổ thận
sáp niệu, giúp cho việc bài tiết nước tiểu được dễ dàng, làm giảm số lần đi tiểu
về đêm.
Bài 2: Bồ dục lợn 1
quả (nặng chừng 90 g), sừng hươu 15 g, ngưu tất 10 g, thỏ ty tử 12 g, xa tiền tử
15 g. Bồ dục lợn bổ đôi, loại bỏ màng mỡ, rửa thật sạch, thái miếng; các vị
thuốc cho vào túi vải, buộc kín miệng rồi đem sắc kỹ trong 2 giờ bằng lửa nhỏ.
Tiếp đó, bỏ bồ dục lợn vào đun thêm nửa giờ nữa là được, chế đủ gia vị, ăn trong
ngày.
Công dụng: Ôn bổ thận dương, thông điều tiểu tiện, dùng
cho người bị phì đại tiền liệt tuyến thuộc thể thận dương bất túc (mệt mỏi
nhiều, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, sắc mặt
nhợt nhạt, tiểu tiện khó khăn, nước tiểu nhỏ giọt, có lúc rỉ ra không tự
chủ).
Theo dinh dưỡng học cổ truyền, bồ dục lợn (còn gọi là trư thận
hay trư yêu tử) vị mặn tính bình, có công dụng bổ thận, ích khí, làm khỏe cột
sống, thường dùng cho những người bị các chứng đau lưng mỏi gối, di tinh, liệt
dương, di niệu, tai ù, điếc, hay đổ mồ hôi... do thận dương hư nhược. Tuy nhiên,
vì bồ dục lợn có chứa nhiều cholesterol nên những người bị rối loạn lipid máu
không nên dùng.
Bài 3: Chim cút 1
con (nặng chừng 120 g), tỏa dương 18 g, sơn thù nhục 30 g, phụ tử chế 9 g, bạch
linh 30 g. Chim cút làm thịt, bỏ nội tạng, chặt miếng; các vị thuốc rửa sạch.
Tất cả đem hầm nhừ trong 3 giờ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Nếu
không có tỏa dương có thể thay thế bằng nhục thung dung.
Công dụng: Ôn bổ thận dương, thông điều tiểu tiện, dùng
cho người bị phì đại tuyến tiền liệt thể thận dương bất túc. Những người phì đại
tiền liệt tuyến thuộc thể âm hư hỏa vượng (thể trạng gầy khô, nước tiểu đỏ hoặc
vàng đậm, đại tiện táo, hay có cảm giác hâm hấp sốt về chiều, lòng bàn tay và
bàn chân nóng) không nên dùng.
Theo dinh dưỡng học cổ truyền, thịt chim cút vị mặn, tính bình,
có công dụng bổ ích ngũ tạng, ích khí dưỡng huyết. Tỏa dương, sơn thù nhục và
phụ tử chế có tác dụng ôn bổ thận dương, cố tinh sáp niệu. Các vị phối hợp với
nhau giúp cho chức năng điều hòa tiểu tiện của tạng thận được phục hồi.
Bài 4: Gà 1 con (nếu
được gà trống lông trắng thì tốt nhất), thục địa 30 g, tri mẫu 20 g, ngưu tất 20
g, hoàng bá 15 g. Gà làm thịt, bỏ lông và nội tạng, các vị thuốc thái vụn cho
vào túi vải, buộc kín miệng rồi nhét vào bụng gà. Tất cả đem hầm nhừ, chế thêm
gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Công dụng: Bổ thận âm, lợi tiểu tiện, dùng cho những
người bị phì đại tuyến tiền liệt thể thận âm khuy hư (tiểu tiện khó khăn, nước
tiểu vàng đỏ, đại tiện táo, môi khô miệng khát, hay vã mồ hôi về đêm).
Theo dinh dưỡng học cổ truyền, thịt gà có công dụng bổ ngũ tạng,
kiện tỳ vị, làm mạnh gân xương; thục địa bổ âm; tri mẫu và hoàng bá thanh hư
nhiệt; ngưu tất trừ thấp, lợi tiểu tiện. Các vị thuốc phối hợp với nhau tạo nên
công dụng bổ thận âm, làm thông thoáng đường tiểu tiện, giúp người bị phì đại
tiền liệt tuyến cải thiện tình trạng bệnh lý khá tốt.
Bài 5: Vịt đầu xanh
1 con, đẳng sâm 30 g, hoàng kỳ 30 g, thăng ma 10 g, sài hồ 10 g. Vịt làm thịt,
bỏ phủ tạng; các vị thuốc thái vụn, đựng trong túi vải buộc kín miệng rồi cho
vào bụng vịt. Tất cả đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.
Công dụng: Bổ trung ích khí, dùng cho người bị phì đại
tiền liệt tuyến thể trung khí bất túc (mệt mỏi nhiều, có cảm giác khó thở, ngại
nói, chán ăn, hay rối loạn tiêu hóa, đại tiện lỏng nát, tiểu tiện khó khăn, tia
nước tiểu yếu, có thể kèm tình trạng trĩ sa không tự co lên được).
Theo dinh dưỡng học cổ truyền, thịt vịt có công dụng bổ hư,
dưỡng vị, lợi thủy, khi phối hợp với các vị thuốc bổ khí mạnh như đẳng sâm,
hoàng kỳ có khả năng nâng cao năng lực hoạt động của tỳ vị, qua đó gián tiếp cải
thiện tình trạng rối loạn tiểu tiện ở người bị phì đại tiền liệt tuyến.
Bài 6: Dâm dương
hoắc, kim anh tử mỗi thứ 120 g; đương quy, thỏ ty tử, phá cố chỉ sao mỗi thứ 60
g; ngưu tất, xuyên khung, ba kích, tiểu hồi hương sao, đỗ trọng mỗi thứ 30 g;
trầm hương 15 g; nhục quế 10 g. Tất cả thái vụn, ngâm trong 10 lít rượu trắng,
bịt kín miệng, sau 30 ngày thì dùng được. Uống mỗi ngày 1 chén nhỏ.
Công dụng: Tráng dương, cố tinh, mạnh gân cốt, bổ tinh
tủy, dùng cho người bị phì đại tiền liệt tuyến thể thận dương hư mức độ nặng
(ngoài các triệu chứng như đã nêu ở bài 1 còn thêm tình trạng liệt dương, di
tinh hoặc mộng tinh, chân tay giá lạnh, thậm chí có thể phù nhẹ chi dưới).
Rượu thuốc dùng trong mùa thu Õ
 |
| Không nên uống rượu thuốc một cách tùy
tiện. |
Cúc hoa 50 g rửa sạch, để ráo, ngâm với 500 ml rượu
trắng, sau 10 ngày là dùng được; uống ngày 2 lần, mỗi lần 10-20 ml. Rượu này có
công dụng làm mát gan, sáng mắt, giải cảm, phong nhiệt; thích hợp cho người hay
bị cảm mạo phát sốt, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, có cảm giác bốc nóng lên
đầu, thị lực giảm sút.
Theo Đông y, vào mùa thu, dương khí giảm dần, âm khí
tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh; đây là giai đoạn quá độ của
"dương tiêu âm trưởng". Lúc này, mưa ít, gió nhiều, độ ẩm trong không khí giảm
đi, dễ gây hao tổn chất dịch trong thân thể.
Vì vậy, việc dùng rượu trong mùa thu phải tuân thủ
nguyên tắc "thu đông dưỡng âm", "phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế"; nghĩa là
phải chú ý bổ sung đầy đủ chất dịch cho cơ thể, trọng dụng những đồ ăn thức uống
có công dụng dưỡng âm, nhuận táo. Sau đây là vài loại rượu dưỡng sinh mùa thu:
-ÕRượu hoàng tinh: Hoàng tinh 20 g,
rượu trắng 500 ml. Hoàng tinh rửa sạch, thái phiến, cho vào túi vải buộc kín rồi
thả ngâm trong rượu, sau nửa tháng có thể dùng được.
Công dụng: Kiện tỳ, nhuận phế, bổ thận; thích hợp cho
những người tỳ vị hư yếu, chán ăn, mệt mỏi, ho khan lâu ngày, lưng đau gối mỏi,
đầu choáng mắt hoa. Trường hợp đại tiện lỏng loãng, ho khạc đờm nhiều không nên
dùng.
-ÕRượu vừng đen: Vừng đen 50 g, rượu
trắng 500 ml. Vừng đen đãi sạch, để khô rồi ngâm với rượu trong bình kín, sau
nửa tháng thì dùng được.
Công dụng: Bồi bổ can thận, nhuận dưỡng tỳ phế, nâng
cao sức khỏe và chống lão hóa; thích hợp cho những người bị chứng can thận phế
âm hư, biểu hiện bằng các triệu chứng hay đau đầu, hoa mắt chóng mặt, lưng đau
gối mỏi, râu tóc bạc sớm, ho khan ít đờm, đại tiện táo kết. Trường hợp đại tiện
lỏng loãng không nên dùng.
-ÕRượu liên tử: Hạt sen 50 g, rượu
trắng 500 ml. Hạt sen bỏ vỏ và tâm, đập vụn rồi đem ngâm với rượu trong bình
kín, sau nửa tháng thì dùng được.
Công dụng: Dưỡng tâm an thần, kiện tỳ chỉ tả, ích
thận chỉ di; thích hợp cho những người bị mất ngủ, hay hồi hộp đánh trống ngực,
di tinh, đái dầm, xuất tinh sớm, phụ nữ bị khí hư, đi lỏng do tỳ vị hư yếu.
Trường hợp đại tiện táo kết không nên dùng.
-ÕRượu nhân sâm kỷ tử: Nhân sâm 10 g,
kỷ tử 20 g, rượu trắng 500 ml. Nhân sâm thái phiến, kỷ tử rửa sạch, cho vào bình
kín ngâm với rượu, sau nửa tháng có thể dùng được.
Công dụng: Đại bổ nguyên khí, dưỡng can và làm sáng
mắt; thích hợp cho những người bị chứng khí hư với những biểu hiện cụ thể như
khó thở, ngại nói, dễ đổ mồ hôi (phế khí hư); chán ăn, chậm tiêu, da nhợt, tay
chân teo nhẽo, sa dạ dày, sa trực tràng (tỳ khí hư); lưng đau gối mỏi, tiểu tiện
nhiều lần về đêm, khả năng tình dục sút kém (thận khí hư); hay hồi hộp đánh
trống ngực, mất ngủ, môi nhợt (tâm khí hư)...
- Rượu hà thủ ô: Hà thủ ô 150 g, rượu trắng
500 ml. Hà thủ ô rửa sạch, thái vụn, ngâm với rượu trong bình kín, sau 15-20
ngày có thể dùng được.
Công dụng: Bổ thận ích tinh, tư âm dưỡng huyết, chống
lão hóa; thích hợp cho người bị chứng can thận bất túc, biểu hiện bằng các dấu
hiệu đầu choáng, tai ù, mất ngủ, hay quên, râu tóc bạc sớm, di tinh, liệt dương
(trong y học hiện đại là các bệnh suy nhược thần kinh, thiếu máu, xơ vữa động
mạch, tăng huyết áp, táo bón kinh niên...).
- Rượu dâu: Quả dâu chín 200 g, rượu trắng
500 ml. Hai thứ ngâm trong bình kín, sau nửa tháng có thể dùng được.
Công dụng: Thanh nhiệt, nhuận phế, tư âm, dưỡng
huyết; thích hợp cho những người âm hư, biểu hiện bằng các triệu chứng môi khô
miệng khát, có cảm giác hâm hấp sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, ho
khan, hay ra mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ.
- Rượu tây dương sâm: Tây dương sâm 50 g,
rượu trắng 500 ml. Tây dương sâm thái phiến, ngâm với rượu trong bình kín, sau
nửa tháng có thể dùng được.
Công dụng: Bổ khí dưỡng âm, thanh nhiệt; thích hợp
cho những người khí âm lưỡng hư, biểu hiện bằng các triệu chứng mệt mỏi, khó
thở, miệng khô, họng khô, ho khan, hay có cảm giác hơi sốt về chiều, đổ mồ hôi
trộm. Trường hợp đau bụng và đi lỏng do lạnh không nên dùng.
Các loại rượu trên dùng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-20
ml. Không nên uống nhiều hơn.
Chữa bệnh bằng vông vang
 |
| Bông vang còn có tên là bụp vang, bông
rừng. |
Theo các sách cổ, vông vang có vị ngọt, lạnh, tính thông hoạt.
Bệnh nhân bị mụn nhọt có thể lấy rễ vông vang và rễ gai với liều lượng bằng
nhau, rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn; tổn thương sẽ chóng mưng mủ.
Cây vông vang thuộc loại cây cỏ, cao 0,8-1m, mọc tự nhiên ở bờ
bãi, vùng rừng núi. Thân có lông ráp. Lá mọc so le, 5 thùy, mép khía răng, hai
mặt có lông. Hoa màu vàng, quả nang và hạt có mùi xạ. Bộ phận dùng làm thuốc là
rễ, lá và hạt. Sau đây là 2 bài thuốc dân gian từ vông vang:
- Chữa đái đục: Rễ vông vang (1 nắm) cạo sạch vỏ ngoài,
giã nát, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, rồi phơi sương một đêm, uống vào lúc
đói (Nam dược thần hiệu).
- Chữa rắn cắn: Lá vông vang 50 g, lá
dây bông báo 50 g, hạt hồng bì 20 g. Tất cả dùng tươi, giã nát, lấy nước xoa bóp
từ trên xuống đến vết cắn; lấy bã đắp vào vết thương, băng lại. Ngày làm hai
lần. Nếu dùng dược liệu khô thì tán các vị, rồi rây thành bột mịn, hòa với nước
cho sâm sấp, rồi đắp.
Hoặc lá vông vang và cả cây nọc sởi với lượng bằng nhau, giã
nát, thêm nước, gạn uống, bã đắp.
Theo tài liệu nước ngoài, hạt vông vang chứa 13,6% tinh dầu mùi
xạ hương nên được dùng trong công nghiệp chế nước hoa. Ngoài ra, hạt giã nhỏ,
hòa với sữa, có thể dùng bôi chữa ngứa, ghẻ. Bột hạt vông vang có tác dụng trừ
sâu, nhậy cho quần áo len, dạ.
Trà dược cho người bị hen phế quản
 |
| Trà dược nên dùng ngay trong ngày. |
Tiết trời khô và lạnh của mùa thu rất thuận lợi cho hen phế quản
phát triển. Theo Đông y, khô hanh dễ gây thương tổn âm dịch, lạnh lẽo gây thương
tổn dương khí. Hai thứ tà khí này phối hợp với nhau rất dễ làm tổn thương tạng
phế, gây nên các chứng bệnh mà ngày nay y học hiện đại gọi là viêm phế quản, hen
phế quản, giãn phế quản, khí phế thũng.
Sau đây là một số bài thuốc đơn giản dành cho người bị hen phế
quản dùng dưới dạng trà dược:
Bài 1
- Cách pha chế: Tô tử 6 g, hạnh nhân 6 g, quất bì 4 g.
Ba vị tán vụn, cho vào túi vải, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút
có thể dùng được. Chế thêm 1 thìa mật ong, uống thay trà trong ngày.
- Công dụng: Nhuận phế chỉ khái, trừ đàm bình suyễn.
Dùng cho người bị hen phế quản có ho và khạc đờm nhiều.
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, cả ba vị đều có tác dụng
long đờm, chống co thắt phế quản và giảm ho. Tuy nhiên, những người dễ bị rối
loạn tiêu hóa và đi lỏng không nên dùng bài này.
Bài 2
- Cách pha chế: Nấm linh chi 6 g, bán hạ chế 5 g, tô
diệp 5 g, hậu phác 3 g, bạch linh 9 g, đường phèn vừa đủ. Các vị tán vụn, cho
vào túi vải, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút có thể dùng được. Chế
thêm đường phèn, uống thay trà trong ngày.
- Công dụng: Phù chính ích phế, trừ đàm bình suyễn.
Dùng cho những người bị viêm phế quản co thắt, hen phế quản.Õ
Bài này có nguồn gốc từ một phương thuốc cổ gọi là "Bán hạ hậu
phác thang" được ghi trong y thư cổ "Kim quỹ yếu lược", bỏ sinh khương gia thêm
nấm linh chi. Công dụng của từng vị như sau:
Õ* Bán hạ phối hợp hậu phác có tác dụng trừ đàm, làm thông
thoáng đường thở.
Õ* Bạch linh kiện tỳ lợi thấp, có khả năng nâng cao năng
lực miễn dịch, làm tăng hàm lượng IgG trong máu.
Õ* Nấm linh chi ngoài tác dụng giảm ho bình suyễn còn có
khả năng thúc đẩy quá trình tái tạo tế bào niêm mạc phế quản, ức chế phản ứng
quá mẫn, cải thiện năng lực miễn dịch và bồi bổ cơ thể.
Người bị hen phế quản kèm theo sốt, ho và khạc đờm mủ vàng không
nên dùng loại trà này.
Bài 3
- Cách pha chế: Vỏ rễ cây bông 30 g thái vụn, hãm với
nước sôi trong bình kín, sau 20 phút có thể dùng được. Chế thêm một chút đường
đỏ, uống thay trà trong ngày.
- Công dụng: Bổ trung ích khí, chỉ khái bình suyễn.
Dùng thích hợp cho những người bị viêm phế quản mạn tính, hen phế quản.
Theo kinh nghiệm dân gian, vỏ rễ cây bông có thể chữa hen suyễn,
thiếu máu, phụ nữ bế kinh, sa tử cung...
Kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng cho thấy, vị
thuốc này có khả năng làm giảm ho, tiêu viêm và chống co thắt phế quản. Phụ nữ
có thai không được dùng bài này.
Bài 4
- Cách pha chế: Địa long khô (giun đất) 2 phần, cam
thảo sống 1 phần. Hai vị thái vụn, mỗi lần lấy 3-4 g hãm với nước sôi trong bình
kín, sau 15 phút thì dùng được. Mỗi ngày có thể pha chế 2-3 lần, dùng ngay trong
ngày.
- Công dụng: Thanh nhiệt, bình suyễn. Dùng cho người bị
hen phế quản thể đàm nhiệt (biểu hiện bằng các triệu chứng sốt, ho rát họng, khó
thở, khạc đờm vàng đục, đại tiện táo...).
Theo quan niệm của y học cổ truyền, địa long vị mặn, tính lạnh
có công dụng thanh nhiệt, bình can, định kính, chỉ suyễn, thông lạc, được dùng
để chữa khá nhiều chứng bệnh, trong đó có chứng hen suyễn.
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, địa long có tác dụng chống
dị ứng, chống co thắt phế quản và tham gia vào quá trình điều tiết miễn dịch nên
rất hữu ích cho người bị hen phế quản. Tuy nhiên, những người bị bệnh thể hàn
không nên dùng bài này.
Bài 5
- Cách pha chế: Xuyên bối mẫu 15 g, lai phục tử 15 g.
Hai vị tán vụn, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần lấy 3 g hãm với nước sôi trong bình kín,
sau 15-20 phút có thể dùng được, uống thay trà.
- Công dụng: Chỉ khái hóa đàm, giáng khí bình
suyễn.
Trong y thư cổ "Bản thảo cương mục", lai phục tử có khả năng: hạ
khí định suyễn, trị đàm, tiêu thực, trừ chướng, lợi đại tiểu tiện, chỉ khí
thống, hạ lỵ hậu trọng, phát sang chẩn.
Theo kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại, xuyên bối mẫu có tác
dụng trừ đàm, giảm ho, bình suyễn, kháng khuẩn và nâng cao khả năng chống đỡ của
cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy.
Bài 6
- Cách pha chế: Ngũ vị tử 4 g, nhân sâm 4 g, tô ngạnh 3
g, đường phèn lượng vừa đủ. Tất cả thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín,
sau 15-20 phút có thể dùng được. Chế thêm đường phèn, uống thay trà trong
ngày.
- Công dụng: Bổ khí liễm phế, chỉ khái bình suyễn. Dùng
cho người già bị hen phế quản lâu năm, khó thở nhiều, tức ngực, ho khạc đờm
trắng dính... Những người thể chất béo bệu không nên dùng.
Nhìn chung, các phương trà dược trên đây đều rất đơn
giản, dễ kiếm, dễ pha chế và tiện sử dụng. Có thể dùng để phối hợp điều trị
trong giai đoạn bệnh tái phát hoặc dùng đơn thuần trong giai đoạn bệnh ổn định.
Nên tìm mua các vị thuốc ở những cơ sở đông dược có giấy phép kinh doanh.
Hoa lăng tiêu làm thuốc
 |
| Tác dụng chữa bệnh của hoa lăng tiêu đã được ghi trong
nhiều sách cổ. |
Bệnh nhân nổi mề đay có thể dùng hoa lăng tiêu 9 g sắc uống và 30
g nấu nước ngâm rửa. Cũng có thể dùng hoa này để điều trị bệnh chàm: Hoa lăng
tiêu khô tán bột, trộn với một chút phèn phi, rắc lên tổn thương.
Lăng tiêu là một loài hoa đẹp, có mặt ở khắp nơi trên đất nước
ta. Người ta quý lăng tiêu vì có thể trồng thành giàn lấy bóng mát. Hoa tuy
không thơm nhưng có màu cá vàng, mọc thành từng chùm, rũ xuống rất đặc sắc.
Ngoài giá trị làm cảnh, lăng tiêu hoa còn là một vị thuốc độc đáo.
Vào tháng 6-8 hàng năm, khi hoa lăng tiêu nở rộ, dân gian thường
hái những bông hoa đã nở hết cỡ, đem phơi trong bóng râm hoặc sao khô bằng lửa
nhỏ để tích trữ dùng dần. Rễ và cành được thu hoạch vào mùa thu, rửa sạch thái
phiến, sao thơm.
Theo Đông y, lăng tiêu vị chua tính lạnh, hoa có công dụng làm
mát huyết, chống ứ. Rễ và cành có công dụng trừ phong hoạt huyết, tiêu thũng
giải độc. Lá có công dụng tiêu thũng giải độc chủ trị ung thũng. Sau đây là một
số ứng dụng cụ thể:
- Viêm dạ dày ruột cấp tính: Rễ lăng tiêu 30 g, gừng
tươi 3 lát, sắc uống hằng ngày.
- Lỵ cấp tính, viêm gan vàng da: Rễ và lá lăng tiêu mỗi
thứ 15 g, sắc uống.
- Đại tiện ra máu tươi: Hoa lăng tiêu ngâm rượu
uống.
- Đau bụng nổi cục do co thắt dạ dày, ruột: Hoa lăng
tiêu 60 g, đương quy 30 g, nghệ đen 30 g. Tất cả sấy khô tán bột, mỗi ngày uống
2 lần, mỗi lần 5 g.
- Chảy máu cam: Hoa lăng tiêu rửa thật sạch, nghiền
nát, vắt lấy nước cốt, nhỏ mũi.
- Trứng cá đỏ: Hoa lăng tiêu, mật đà tăng lượng vừa đủ,
sấy khô tán bột, bôi vào nơi tổn thương hoặc dùng hoa lăng tiêu 9 g, chi tử 9 g
tán bột uống hằng ngày.
- Bế kinh: Hoa lăng tiêu khô tán bột, mỗi ngày uống 2
lần, mỗi lần 6 g với nước cơm ấm. Hoặc hoa lăng tiêu 12 g sắc kỹ lấy nước bỏ bã,
hòa thêm 12 g a giao nướng phồng, uống cùng một chút rượu vang.
- Kinh nguyệt không đều: Hoa lăng tiêu 9 g, hoa hồng 9
g, ích mẫu thảo 15 g, đan sâm 15 g, hồng hoa 6 g, sắc uống.
- Khí hư: Rễ lăng tiêu tươi 30 g, đại kế tươi 15 g,
trứng gà 1 quả, sắc kỹ, uống nước ăn trứng.
- Rong kinh: Hoa lăng tiêu khô tán bột, mỗi ngày uống 2
lần, mỗi lần 3-6 g với nước ấm hoặc rượu nhạt.
- Viêm loét âm đạo: Hoa lăng tiêu lượng vừa đủ, sắc lấy
nước ngâm rửa.
- Trẻ em đi lỏng: Rễ hoặc lá lăng tiêu tươi 9-15 g, vỏ
gừng 1,5 g, sắc uống.
- Nấm da: Hoa lăng tiêu tươi 60 g, rễ tươi 30 g, lá
tươi 15 g. Tất cả giã nát đắp lên tổn thương.
- Rắn cắn: Rễ lăng tiêu tươi 125 g sắc với rượu uống.
Bên ngoài dùng rễ tươi giã nát đắp vào vết cắn.
- Bỏng: Rễ lăng tiêu lượng vừa đủ, mài với nước thành
dạng hồ rồi đắp vào tổn thương, mỗi ngày 3-4 lần.
- Gãy xương: Vỏ rễ lăng tiêu tươi và vỏ rễ thanh táo
(tiếp cốt thảo nam) lượng bằng nhau, giã nát, sao nóng với rượu, để nguội bớt
rồi bó vào chỗ xương gãy.
- Bong gân: Dùng lá hoặc hoa lăng tiêu tươi 2 phần, tôm
đồng tươi 1 phần. Hai thứ giã nát, sao nóng, đắp vào nơi tổn thương.
Những người có thể chất suy nhược, khí huyết hư yếu và phụ nữ có
thai không được dùng lăng tiêu.
Chữa bệnh bằng quả ớtÕ
 |
| Ớt chứa hàm lượng vitamin C rất
cao. |
Để điều trị bệnh chàm, có thể lấy lá ớt tươi một nắm, mẻ chua 1
thìa; hai thứ giã nhỏ, lấy vải sạch gói lại, đắp lên nơi bị chàm đã rửa sạch
bằng nước muối. Làm 5-7 lần là khỏi.
Theo y học phương Đông, ớt vị cay tính nóng, trừ hàn, giải biểu,
mạnh tỳ vị, thông kinh lạc, giải độc, tiêu viêm, kích thích tiêu hóa làm ăn
ngon, chóng tiêu. Sau đây là một số bài thuốc dân gian từ ớt:
- Trúng phong cắn răng: Giã nhỏ lá ớt (loại ớt chỉ
thiên quả nhỏ), thêm nước và ít muối, rót đổ vào miệng người bệnh, còn bã đắp
vào răng sẽ tỉnh.
- Chữa rắn rết cắn: Giã nhỏ lá ớt, đắp vào nơi bị
thương, băng lại. Hết đau nhức thì bỏ đi, ngày làm 1-2 lần cho đến khi hết đau,
2-3 giờ là khỏi.
- Chữa bệnh vẩy nến: Tinh tre đằng ngà cạo lấy một bát,
lá ớt cay 1 nắm to (1 nắm chặt tay và đem sao chín nhưng không cháy), lá sống
đời 7-9 lá, thiên niên kiện khoảng 300 g. Tất cả cho vào nồi với 2 lít nước, đun
sôi kỹ, uống dần thay nước chè, uống chừng 3 ấm là khỏi.
- Đau bụng kinh niên: Rễ cây ớt, rễ chanh, rễ hoàng lực
(mỗi thứ khoảng 10 g) sao vàng, sắc với 200 ml nước còn 50 ml dùng uống. Dùng
5-6 lần là khỏi.
- Chữa đau lưng, đau khớp: Ớt chín 15 quả, lá đu đủ 3
cái, rễ chỉ thiên 80 g. Tất cả đem giã nhỏ ngâm cồn với tỷ lệ 1/2, dùng để xoa
bóp sẽ mau khỏi.
- Chữa mụn nhọt: Lấy các thứ lá ớt, táo, na, tử uy, bồ
công anh (mỗi thứ khoảng 50 g) đem giã nát với ít muối, dùng đắp vào nhọt đang
mưng mủ cho bớt đau nhức, dễ vỡ mủ, mau lành.
- Dùng ớt làm thuốc súc miệng (dưới dạng cồn thuốc) chữa khản
cổ.
Đậu đỏ - một vị thuốc tốt
 |
| Đậu đỏ còn có tên gọi là Xích tiểu
đậu. |
Tuy không được dùng rộng rãi trong chế biến thực phẩm, đậu đỏ được
các thấy thuốc Đông y coi là một vị thuốc dễ sử dụng và an toàn. Nghiên cứu của
y học cổ truyền và ứng dụng thực tế cho thấy, đậu đỏ có tính mát, giúp giải
nhiệt, tiêu độc, tiêu thũng trong người.
Sau đây là hai ứng dụng cụ thể của đậu đỏ:
- Người bị kiết lỵ lâu ngày khó chữa trị nên ăn đậu đỏ thường
ngày, có thể nấu cháo, nấu canh hoặc nấu chè tùy sở thích.
- Đậu đỏ có tác dụng tiêu viêm, trị mụn nhọt gây đau nhức. Rang
đậu cho giòn, sau đó giã nhuyễn, trộn chung với giấm thành hỗn hợp cô đặc; đắp
thuốc lên chỗ đau, ngày thay vài lần sẽ chóng tiêu viêm.
Thảo dược chữa tăng huyết áp
Hóa dược chữa bệnh tăng huyết áp tuy đa dạng nhưng nếu sử dụng lâu
dài có thể gây các tác dụng không mong muốn, khiến người bệnh phải ngừng dùng
hoặc đổi thuốc. Trong khi đó, một số dược thảo truyền thống lại có tác dụng hạ
huyết áp tương đối tốt, an toàn và có thể sử dụng lâu dài, không gây biến động
đột ngột về huyết áp.
Dưới đây là một số vị thuốc thông dụng, rẻ tiền, có thể sử dụng
riêng hoặc phối hợp với những vị thuốc khác.
- Cát căn (củ sắn dây bóc bỏ lớp vỏ giấy bên ngoài,
thái nhỏ, phơi khô): Thành phần có tác dụng hạ huyết áp chủ yếu trong cát căn là
puerarin và một số hoạt chất có gốc aglycone. Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho
thấy, cát căn có tác dụng cải thiện chức năng của hệ tuần hoàn, tăng độ đàn hồi
động mạch vành, chống thiểu năng tuần hoàn não và thiếu máu cấp tính ở cơ tim.
Hiệu quả này có được là nhờ tác dụng gia tăng lượng máu cung cấp cho các tổ chức
não và tim của cát căn.
Trên lâm sàng, có thể chỉ sử dụng vị cát căn hoặc phối hợp với
các vị thuốc khác để chữa một số bệnh: tăng huyết áp kèm theo xơ vữa động mạch
vành, thiếu máu trong các tổ chức não. Thí dụ, để chữa tim đau thắt do xơ vữa
động mạch vành, cát căn thường được phối hợp với qua lâu, diên hồ sách, uất kim
và đương quy; còn chữa nghẽn mạch máu não thì phối hợp với địa long và hồng
hoa.
- Câu đằng: Thành phần có tác dụng hạ huyết áp chủ yếu
trong câu đằng là rhynchophiline. Câu đằng có tác dụng ức chế sự hưng phấn thần
kinh giao cảm, gây hưng phấn trung khu hô hấp, đồng thời làm giãn các mạch máu
ngoại biên, làm cho huyết áp hạ xuống rõ rệt.
Trên lâm sàng, câu đằng thường được sử dụng phối hợp với các vị
thuốc khác, ví dụ dùng câu đằng 10 g, xuyên khung 5 g, cam thảo 2 g, quế chi 3
g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày (Diệp Quyết Tuyền).
Một quan sát cho thấy, huyết áp giảm xuống rõ rệt ở 77% số người hằng ngày sử
dụng 30 g câu đằng sắc nước uống (Liêu Ninh Trung y tạp chí).
- Hoàng liên: Thành phần chủ yếu trong hoàng liên là
berberine, có tác dụng làm giãn huyết quản và giảm sức cản đối với sự lưu thông
huyết dịch. Thông thường, để chữa tăng huyết áp, hằng ngày có thể uống berberine
3 lần, mỗi lần từ 0,4 - 0,6 g.
Đối với những người tăng huyết áp kèm theo tăng mỡ máu, bệnh
động mạch vành, tiểu đường, tim loạn nhịp và mất ngủ, sử dụng hoàng liên phối
hợp với chi tử sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.
- Dâm dương hoắc: Thành phần chủ yếu có tác dụng làm
giảm huyết áp trong dâm dương hoắc là incariine. Thuốc sắc và thuốc chiết xuất
theo cách ngâm lá dâm dương hoắc đều có tác dụng hạ huyết áp, đặc biệt là đối
với huyết áp tâm trương. Những thuốc này cũng làm tăng lưu lượng máu trong động
mạch vành.
Đối với những người bệnh tăng huyết áp kèm theo viêm nhiễm đường
tiết niệu và suy giảm chức năng sinh dục, sử dụng dâm dương hoắc phối hợp với
tiên mao, hoàng bá, đỗ trọng và tang ký sinh trường thường cho kết quả mỹ
mãn.
- Cúc hoa: Thành phần chủ yếu có tác dụng làm hạ huyết
áp trong cúc hoa là luteolin và acacetin; chúng làm cho huyết áp hạ xuống một
cách ổn định thông qua tác dụng ức chế đối với trung khu vận động huyết quản và
thần kinh giao cảm, đồng thời làm giảm sức cản trong huyết quản tuần hoàn ngoại
vi.
Trên lâm sàng, dã cúc hoa thường được sử dụng cùng với xa tiền
thảo, hạ khô thảo và long đởm thảo để điều trị các trường hợp cao huyết áp kèm
theo tuyến tiền liệt phì đại và tiểu tiện khó khăn.
- Lai phục tử (hạt củ cải): Thành phần chủ yếu có tác
dụng làm hạ huyết áp trong hạt củ cải là sinalbin.
Trên lâm sàng, lai phục tử thường được sử dụng phối hợp với bán
hạ, địa long và thảo quyết minh để điều trị cho những người bị tăng huyết áp kèm
theo chứng béo phì, ho hen, khó thở, thường ngày hay ăn những món xào rán và đại
tiện táo bón. Đối với những trường hợp tăng huyết áp giai đoạn I và giai đoạn
II, chỉ cần sử dụng 30 g lai phục tử sắc nước uống hoặc nghiền thành bột mịn pha
nước uống hàng ngày cũng có tác dụng tốt.
Một số món ăn - bài thuốc từ củ cải
 |
| Củ cải khôg chỉ là món ăn ngon mà còn là vị thuốc
quý. |
Để chữa hen, có thể lấy củ cải trắng sao giòn, tán nhỏ,
ngào với đường mía rồi làm thành viên bằng hạt ngô, cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần
lên cơn hen, uống 40-50 viên với nước ấm.
Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát,
khí đi lên; củ cải đã nấu chín vị ngọt, tính bình, khí đi xuống. Loại rau này có
thể chữa được nhiều bệnh về hô hấp (ho, đau tức ngực, mất tiếng, ho ra máu),
tiêu hóa (đau vùng thượng vị, ợ chua, nôn, khó tiêu, táo bón, trĩ), tiết niệu
(tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu đục, có sỏi) và các bệnh tiểu đường, huyết áp cao...
Ngoài ra, củ cải còn có công dụng hoạt huyết, chỉ
huyết (chữa nôn ra máu, chảy máu cam, tiêu, tiểu ra máu...), trừ sỏi mật và giải
một số tình trạng ngộ độc như: hơi khói than, rượu, cà, hàn the...
Sau đây là một số món ăn - bài thuốc theo Đông y và
kinh nghiệm dân gian.
- Lao phổi, ho, đau tức ngực, ho ra máu:
Dùng 2-3 củ cải giã lấy nước, thêm ít muối để uống.
Cũng có thể lấy củ cải, sinh địa, ngó sen, lê mỗi thứ
1 kg, mạch môn 500 g, gừng 500 g. Tất cả để tươi, nấu sôi trong 30 phút rồi vắt
lấy nước, nấu lại lần hai, lấy 2 nước nhập lại, cô thành cao lỏng. Cho thêm các
vị a giao, đường phèn, mật ong mỗi thứ 500 g, nấu thành cao đặc, đổ vào lọ. Ngày
uống hai lần sáng và chiều, mỗi lần 2 thìa canh. Dùng với nước ấm hoặc ngậm
nuốt.
-ÕViêm họng, khí quản cấp tính: Củ cải
500-1.000 g, quả trám 250 g, sắc uống.
-ÕNgạt vì khói than: Lấy nước cốt củ
cải hoặc nước ép lá củ cải đổ vào miệng.
-ÕLao phổi ra máu: Củ cải 300 g nấu với
400 ml nước lấy 100 ml, bỏ bã. Thêm 9-10 g phèn chua, 150 g mật ong, quấy đều,
đun lên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 ml lúc bụng đói.
- Đau đầu do cao huyết áp: Nước củ cải tươi
uống lạnh.
Hoặc: Dùng nước củ cải tươi 150-200 ml trộn với nước
sắc của các vị sau: sinh địa tươi 12 g, thiên ma 6 g, câu đằng 6 g, trân châu 15
g, táo nhân 10 g. Uống ngày 2 lần sáng và chiều, kèm theo xông hoặc uống 20 ml
nước củ cải tươi.
- Cước, đau chân nhiều do di chuyển: Củ cải
1 kg nấu lấy nước ngâm chân, đồng thời tẩm ướt khăn bằng nước củ cải nóng, xoa
đắp chỗ đau. Cũng có thể lấy 1 kg củ cải phơi sấy khô, tán bột, xoa chân trước
khi đi tất hoặc rắc vào trong giày, tất.
- Tiểu đường: Củ cải tươi 200 g (gọt vỏ,
thái sợi), gạo tẻ 50 g, gạo nếp 50 g, nấu thành cháo, ăn nóng, ngày hai lần. Mỗi
liệu trình 3-5 ngày liền.
- Bí tiểu, đau tức do nhiệt tích bàng quang:
Củ cải tươi 200 g, hành tây 100 g, gạo tẻ 50 g, gia vị vừa đủ, nấu thành cháo.
Dùng ngày hai lần vào lúc đói.
-ÕRối loạn tiêu hóa (đau bụng, nôn,
tiêu chảy, mệt lả): Củ cải 150 g, cà rốt 150 g, xương sườn lợn 200 g (chặt khúc
ngắn), gia vị. Ninh nhừ xương trước với muối, cho hai thứ vào sau, ninh tiếp. Ăn
kèm rau cải cúc đã hấp chín (trước khi ăn cơm).
-ÕKiết lỵ, cấm khẩu: Lấy mấy củ cải
trắng ép lấy nước, thêm một ly nước, đem sắc hòa với ít đường để uống.
- Chữa tiểu ít, tiểu đục, có sỏi: Dùng một
trong các cách như ép nước củ cải tươi, sắc củ cải tươi để uống, lấy củ cải khô
tán bột (trước đó có tẩm mật sao nhiều lần hoặc không tẩm mật) uống hoặc làm
hoàn. Khi uống cho thêm ít muối.
- Tiêu cơm, tan đờm: Củ cải trắng 250 g,
thịt lợn nạc 100 g, bột gạo hoặc mì 250 g, gừng, hành, muối, dầu vừa đủ. Củ cải
thái chỉ, xào tái cùng thịt lợn (thái sợi), trộn làm nhân bánh. Làm chín bánh
bằng cách hấp hoặc rán.
-ÕHo nhiều, suy nhược: Củ cải trắng 1
kg, lê 1 kg, gừng tươi 250 g, sữa 250 g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, củ cải và gừng tươi
rửa sạch, thái nhỏ, mỗi thứ vắt nước, để riêng. Cô nước củ cải, lê đến khi đặc
dính rồi thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều, đun sôi lại. Khi nguội,
cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần dùng một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Ngày
hai lần.
- Chữa lưng đau gối mỏi, dễ yếu mệt ở người
già: Chim cút hai con, củ cải 200 g, dầu, gừng gia vị vừa đủ. Chim cút làm
sạch, chặt thành miếng vuông cạnh 2 cm. Củ cải thái miếng dài 4cm rộng 2cm. Rán
thịt chim đổi màu mới cho củ cải vào xào, rồi cho gia vị, thêm ít nước vào nấu
cho đến khi chín.
-ÕTrừ đàm tích, giúp tiêu hóa tốt: Ăn
dưa cải củ muối. Thường dùng vào mùa thu đông, lúc trời hanh gây khô cổ, dễ bị
ho, hoặc dùng khi có đờm, ăn khó tiêu (nhất là khi ăn món nhiều thịt mỡ). Nên ăn
khi dưa củ cải còn trắng dòn.