( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Dừa cạn (trường xuân hoa)

Dược thảo này còn có tên khá: bông dừa, hoa hải đằng, nhạn lai hồng, nhật nhật tân; Herba Catharanthi Rosei; Madagascar Periwunkle Herb (tiếng Anh), Chooshunka (tiếng Nhật). Tên khoa học: Catharanthus roseus (L.) G. Don; họ Trúc đào (APOCYNACEAE)
Dừa cạn là loại cỏ sống lâu năm, thân mềm, cao khoảng 30~80 cm, mọc thẳng đứng, thành bụi, cành non màu hồng, chỗ mấu hơi phình lên. Lá mọc đối chéo nhau, phiến lá hình thuôn, đầu hơi tròn, gốc hơi thon lại hình nêm, hai mặt nhẳn, dài 5-7cm, rộng 2-3cm, mặt trên bóng . Hoa màu hồng hay trắng mọc tửng đôi một ở kẻ lá gần ngọn, có mùi thơm, hoa trổ vào khoảng tháng 6~9 (bắc bán cầu). Quả gồm hai đại, thẳng đứng và ngả sang hai bên, hạt nhỏ, màu nâu nhạt hình trứng.
Theo nhận xét của tôi thì lá của loai cây bông này có gân lõm ở mép trên, mép dưới thì có gân lồi, hơi giống lá bông dừa nước mà người dân quê miền Nam hay ăn sống như rau ghém ăn kèm với mắm kho.
Dừa cạn mọc hoang nhiều ở vùng ven biển, nhất là ở các bãi cát bờ biển và được trồng làm cảnh ở các vườn hoa tại Việt Nam. Ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam Trung Quốc, các tiểu bang ở Úc cũng có loại cây bông này. Bạn PÐPhong cũng cho tôi biết là trong vườn của bạn DQThời ở Florida cũng có trồng loại bông này.
Người ta trồng bông này bằng hạt vào mùa xuân và mùa thu. Cả cây dùng làm thuốc, thân lẫn rễ, thu hái trước khi cây ra hoa, rửa sạch phơi khô.
Thành phần hoá học có trong cây này gồm hơn 70 thứ chất kiềm thực vật, chủ yếu gồm có vinblatine (trường xuân kiềm), leurocritine, tetrahydroalstonine, perivine, vindline, cathranthine (trường xuân hoa kiềm), vindolinine (trường xuân lý ninh), ajmalicine, lochneridine, lochnericine, caharosin, v.v... Có sách lại ghi có chất anacloide (hạ huyết áp), một chất có cùng tính chất insulin.
Công dụng:
Cây dừa cạn vị hơi đắng, tính mát có tác dụng bình can, giáng hỏa và trấn tĩnh an thần, dùng chữa áp huyết cao với liều 15 – 20g sắc uống.
Có sách lại ghi: dược thảo này có công dụng trị phỏng, ác tính lâm ba lựu (nhọt ác tính tuyến lim-pha), nhung mao mạc thượng bi nham (ung thư mô bì?), bịnh đơn hạch tế bào tinh bạch huyết (bịnh ung thư máu?). liều từ 6 – 12g.
Hiện nay Trung Quốc dùng phối hợp trong việc điều trị các bệnh bạch cầu, ung thư gan tràn dịch và u ác tính, bệnh Hodgkin, với liều 20g, thuốc khô mỗi ngày.
Ở Mỹ và Hungari cũng đã chế thành biệt dược trị ung thư máu với hoạt chất của cây dừa cạn.
Ở Viêt Nam, người ta dã chiết xuất dược chất Vinhiastin từ lá cây dừa cạn dùng chữa bệnh bạch cầu có kết quả.
Đơn thuốc chữa cao huyết áp:
Dừa cạn 12g, nhân trần 8g. Nấu với 400ml nước, sắc còn 200ml, chia làm 2 lần uống trong ngày.
Tài liệu tham khảo:
- “CâyThuốc Việt Nam”, do lương y Lê Trần Đức biên soạn, Nhà xuất bản Nông Nghiêp ấn hành 1997 ( trang 451-452)
- Dược Liệu Miền Nam các Bài Thuốc Úng Dụng”, do Uỷ ban Khoa Học và Kỹ Thuật Tây Ninh xuất bản (trang 285 – 287)
- “Trung Thảo Dược Thái Sắc Đồ Phổ” ( Coloured Iluustrations of Chinese Traditional and Herbal Drugs), Phước Kiến Khoa Học Kỹ Thuật Xuất Bản Xã (trang 822 -823)
Qua sư quen biết của tôi với một người bị bịnh ung thư gan ở Mel boune, Úc Châu, được biết anh này được bác sĩ Úc ở Melbourne báo cho biết anh bị binh ung thu gan vào nam 1997 và cho anh biết rằng anh có thể sông thêm một năm thôi. Sau đó anh ta đi về Việt nam thăm thân nhân để từ giả bà con. Khi trở lại Melbourne, qua lời của linh mục Quảng ở Melbourne, anh được biết có người nhờ uống bông dừa cạn mà khỏi bênh ung-thư. Từ đó, anh bắt đầu uống loại dược thảo này liên tục. Mãi đến cuối năm 2001 anh mới qua đời. Lúc trước tôi có dò hỏi qua vợ anh ta thì được biết: qua khám nghiệm y khoa thường xuyên thì vết ung thư của anh ta nhỏ dần và vào lúc trước khi anh qua đời hầu như biến mất.