( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Bữu Thảo

Chanh

Chanh là loại có nhiều dược chất về phần quả (vỏ chanh, ruột chanh) và cả về phần lá lẫn phần rễ của cây chanh. Trái chanh có vị chua, tính mát, thanh nhiệt, khỏi nôn, tiêu thực, sáng mắt, sát trùng. Nước chanh hạ nhiệt, kích thích tiêu hóa và giải độc say sóng rất nhanh. Cũng như nước cam, nước chanh rất cần cho người bị sốt xuất huyết. Nước chanh còn trừ được nôn ói, giúp ăn ngon, loại trừ chất mỡ dư trong cơ thể, trừ độc tôm, cua, cá biển, sò, hến. Nước chanh còn dùng để chữa suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu cho trẻ em bằng cách vắt chanh vào sữa uống hoặc uống nước chanh tưởi
Lá chanh, vỏ chanh trị ho hen, khó thở, bổ huyết, hoạt huyết, tiêu đàm, trị đau mắt, nhức đầu, sả󮠰hụ tắt sữa, sưng vú.
Trị ho có đờm: Chanh tươi một quả, nghệ tươi 20 gr, đường cát 5 gr, muối ăn 2 gr. Nghệ giã nhỏ, trộn muối và đường, chanh cắt mỏng, trộn chung, hấp cơm, ăn trước bữa ăn, mỗi ngày một lần, ăn từ 6 đến 7 ngàỵ Cũng có thể lấy vài quả chanh, thái mỏng, để cả vỏ và hột, trộn đường phèn, hấp cơm ăn trước bữa ăn trong vài ngày liền, một ngày hai lần càng tốt.
Trị viêm họng: Lấy chanh tươi, thái mỏng, trộn muối vừa mặn, ngậm vào miệng và nuốt dần, vài lần trong ngàỵ. Lá chanh có vị đắng, the, có mùi thơm. Dược năng: Giải nhiệt, thông can khí, tiêu thũng, tán độc, hoạt huyết, tiêu thực. Lá chanh trị tức ngực, khó thở, đau mắt, nhức đầu, sâu răng do can hỏa bốc lên.
Trị sốt rét: 30 gr lá chanh tươi, xắt nhỏ, pha với 25 ml rượu, phơi sương một đêm, uống lúc sáng sớm khi bụng còn đói, uống xong sẽ ói nước vàng ra là khỏi bệnh.
Trị rắn cắn: Lấy rễ chanh 10 gr, hột chanh 5gr, gừng sống 5gr, giã nát pha với 3 gr phèn chua trong một ly nước sôi (50 ml), uống 2 lần trong ngày, cách nhau 2 giờ, mỗi lần uống 2 muỗng canh.
Công Dụng Của Gạo Nếp
Gạo nếp có tính ấm, vị ngọt, làm mạnh phổi, trợ giúp tiêu hóa, đi tiêu lỏng, đi tiểu khó khăn, ra mồ hôi trộm hoặc tự nhiên vã mồ hôi, giải độc.
Theo đông y, gạo nếp dễ tiêu, khiến ấm bụng, vì vậy người mắc chứng loét bao tử, khi ăn cơm nếp, bụng sẽ dễ chịu hơn. Ở những nước chậm tiến, những người mắc bệnh loét bao tử, thường được bác sĩ khuyên ăn gạo nếp. Tuy nhiên, ăn nhiều gạo nếp cũng không tốt vì sẽ tạo nhiệt, nổi mụn nhọt. Vì vậy, những người có mụn nhọt, ghẻ lở, vết thương chưa lành... được các lang y khuyên không nên ăn nếp.
Trị chảy máu cam: Lấy gạo nếp rang vàng, tán nhỏ, mịn, mỗi lần uống 6 - 7 gr với nước nấu sôi để nguộị Ðồng thời lấy một mảnh giấy nhỏ, cuốn thành ống, chấm ít bột nếp rang vàng này, thổi vào lỗ mũi đang chảy máu, rất hiệu nghiệm.
Trị sốt nóng, nôn mữa: Lấy gạo nếp rang vàng, gừng tươi một củ thái nhỏ. Ðổ một tô nước vào nồi, nấu sôi, dùng uống thay nước rất tốt.
Trị ói mữa, tiêu chảy, đau bụng: Lấy 120 hột gạo nếp, gừng tươi một miếng, tất cả cho vào cối giã nát. Pha nước vào, trộn đều, lọc lấy nước để uống.

Những người bị ói mữa liên miên, ăn vào bất cứ thứ gì cũng bị ói ra, có thể lấy một nắm gạo nếp rang cho vàng cháy, một trái cau khô, 25 hột tiêu, tất cả cho vào cối giã nhuyễn, tán thành bột, mỗi lần uống từ 1-2 gr với nước ấm.
CÂY ỚT
Ớt là loại cây được Christophe Colomb tìm được đầu tiên ở miền West Indies năm 1492. Sau đó, ớt được xác định là một loại quả ăn được, dân địa phương gọi là "agi", người Âu đọc trại ra là "chilli". Ít lâu sau khi được khám phá, ớt được lan tràn sang Á châu như Trung Quốc, Việt Nam, Nam Dương và Mã Lả Ớt có nhiều loại, tùy theo vùng trồng ra nó như ở Hung Gia Lợi, ớt có tên là "paprika", ở Phi châu tên là "chilli", ớt "cayen" ở Mỹ v.v... Ớt có vị cay, hăng, nồng, không độc và có tính nhiệt. Ớt càng nhỏ càng cay và nóng. Ớt có dược chất làm mạch lạc trong thân thể con người, giúp mạnh tỳ vị (lá lách và bao tử), trừ độc và sát trùng. Vì vậy, ớt trị được hàn lãnh, kích thích tiêu hóa và thần kinh, trị phong thấp, đau lưng nhức mỏi, rắn rết cắn và các bệnh ngoài da như lở ngứạ.. Lá ớt nấu canh ăn rất ngon, trừ mụn trên mặt.
- Trị rắn rết cắn: Lấy lá ớt tươi, giã nát, đắp vào chỗ rắn rết cắn sẽ hết đau nhức.
- Trị lở ngứa: Người mắc bệnhh lở ngứa trên đầu, ăn lá ớt nấu canh hay lấy lá ớt giã nát đắp vào chỗ lở ngứạ Canh lá ớt trừ nhiệt trên đầu và mặt, tai mắt, phong ngứa, trúng gió.
- Trị bệnh cổ trướng: Bệnh cổ trướng hay còn gọi là "chứng thủy thũng" (chứng bịnh lớn bụng) có thể trị bằng cách lấy 15 gr rễ cây ớt, trộn chung với 15 gr rễ cây cà phê, nấu với nửa lít nước để uống một ngày hai lần.

- Giảm đau do viêm khớp: Trong ớt có một dược chất làm giảm đau (lúc đầu làm tăng cảm giác đau, sau không còn nữa) cho nên người bệnh cảm thấy dễ chịụ Kết quả sau cùng là người bị đau viên khớp không còn cảm thấy đau nữạ Ở Trung Quốc và Ðài Loan, người ta có chế ra một loại thuốc thoa ngoài da gồm một phần ớt và 5 phần "vaseline". Dùng loại thuốc thoa này để bôi vào các chỗ bong gân, sây xát... sẽ làm giảm đau.
- Hạ "cholesterol": Người ta thí nghiệm cho những con vật gậm nhấm được nuôi theo chế độ nhiều mỡ động vật, nhưng cho thêm ớt vào, thấy trong phân chúng tiết nhiều "cholesterol", còn "cholesterol" trong gan lại không tăng. Do đó, khi ăn mỡ nhiều, nên uống thêm khoảng nửa lít nước cà chua có pha thêm 1/8 muỗng ớt và một ít nước chanh vắt.
- Làm ngưng chảy máu: Ở chỗ bị thương, máu chảy (như đứt tay), dùng bột ớt hay băng có lớp bột ớt mỏng ép vào sẽ cầm máu.
Trong mùa lạnh, một số các cụ già thường hay rắc ớt vào vớ hay găng tay để giữ cho hơi ấm được lâu
DÂU TÂY
Trong dâu tây có nhiều muối khoáng loại quý và một chất cho phản ứng giống như "acide ethyl-salicylique". Người ta biết bệnh phong thấp chữa trị bằng những sản phẩm "salicylique" (sát trùng và chống viêm) nhưng những sản phẩm lấy từ những hóa chất đều có hại cho gan và máụ Trái lại, cũng những sản phẩm này, nếu lấy từ cây cỏ thiên nhiên, hiện diện ở trạng thái sống, trong rau quả, có hiệu lực lớn hơn và không độc hạị Như thế, người mắc bệnh phong thấp nên dùng dâu tây hơn dùng các thứ thuốc bằng hóa chất.
Người ta cũng biết dâu tây làm giảm lượng "acide urique" trong nước tiểu, tăng cường các đặc tính miễn dịch tự nhiên và những cơ chế tự vệ. Dâu tây, nhờ những muối khoáng sẵn có, tác dụng rất tốt trong nhiều trường hợp, nhất là đối với bệnh lao và những bệnh thiếu chất khoáng. Dâu tây cũng có dược chất chống ung thự Chất đường thuần túy trong dâu tây rất tốt cho những người bị bệnh đái đường. Dâu tây cũng còn có tác dụng hữu ích đối với chức năng của gan, đối với hệ tuyền và hệ thần kinh.
Trong mùa dâu tây, phải ăn dâu tây một cách đều đặn mỗi ngày để có được hiệu quả tốt, rõ ràng. Buổi sáng, để bụng đói, ăn dâu tây có nhiều hiệu quả hơn. Mỗi ngày, mỗi người có thể ăn trung bình 500 gr. Cũng có thể dành riêng một ngày trong một tuần, chỉ ăn toàn dâu tây không thôi, đừng cho đường hay kem vào.
- Lá dâu tây: Chế nước như nướ›c trà, dùng để chữa trị các bệnh đi tiêu chảy, viêm gan, thận hay bàng quang (bọng đái) .
- Rễ dâu tây: Sắc cho sôi độ 5 phút, rễ dâu tây cò thể dùng chữa bệnh viêm bàng quang và tất cả các trường hợp bị viêm đường tiểu