Mục Lục :
|
Xoa bóp chữa bệnh
Xoa bóp là biện pháp phòng và chữa bệnh đơn giản, có thể thực hiện ở mọi nơi mọi lúc. Nếu được thực hiện đúng kỹ thuật, đúng chỉ định, xoa bóp có thể mang lại những hiệu quả không ngờ. Vì vậy, nó luôn có vị trí xứng đáng trong hệ thống các biện pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
Các tác dụng của xoa bóp
- Làm giãn mạch máu, tăng tuần hoàn tại chỗ. Tăng tuần hoàn, góp phần chống viêm, giảm phù nề. Luồng máu tới sẽ tăng cường trao đổi chất, mang oxy tới cho tế bào và mang đi các chất thải cặn bã.
- Làm giãn cơ, đặc biệt là những nhóm cơ đã bị co cứng trước đó. Trong các bệnh khớp, bao giờ cũng có hiện tượng co cứng các nhóm cơ xung quanh khớp, từ đó gây đau, hạn chế vận động. Xoa bóp làm giãn cơ nên góp phần chữa các bệnh khớp. Tuy nhiên, cần chú ý các động tác xoa bóp phải được thực hiện chậm, nhẹ nhàng mới có tác dụng làm giãn cơ.
- Thư giãn thần kinh, do tác động trực tiếp lên phần tận cùng của thần kinh cảm giác. Xoa bóp nếu được thực hiện trong thời gian vừa phải sẽ có tác dụng hưng phấn thần kinh; Nhưng nếu làm quá lâu sẽ phản tác dụng và gây ức chế.
- Có tác dụng giảm đau do tổng hợp các yếu tố trên.
Ngoài ra, xoa bóp còn có nhiều tác dụng khác góp phần phục hồi sức khỏe.
Các động tác xoa bóp
Các động tác xoa bóp rất phong phú, thường người ta phân loại theo mức độ tác dụng, gồm:
- Các động tác xoa bóp tác dụng trên da: gồm xoa, xát, vuốt; Có lực tác động nhẹ nhàng, chủ yếu là tác dụng trên da. Động tác phải nhẹ, tay người thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh. Các động tác này nhằm khởi động cho một lần xoa bóp, giúp thư giãn thần kinh.
- Các động tác xoa bóp tác dụng trên cơ: gồm bóp, miết, vờn, lăn, đấm, chặt... với lực tác động mạnh hơn, thấm sâu vào lớp cơ của người bệnh. Các động tác này giúp giãn cơ, giảm đau, tăng tuần hoàn tại chỗ.
- Các động tác xoa bóp tác dụng trên huyệt: là những động tác đặc biệt của xoa bóp y học cổ truyền. Huyệt là điểm có tác dụng mạnh làm giãn cơ, giảm đau; thường là nguyên ủy hoặc bám tận của các nhóm cơ chính. Các động tác gồm day tại chỗ bằng ngón tay cái, ấn, điểm bằng sức mạnh của cả cánh tay. Các động tác ấn, điểm huyệt chỉ nên làm sau khi cơ đã được làm mềm trước đó bằng những động tác khác. Mỗi huyệt không nên ấn, điểm huyệt quá 1 phút.
- Các động tác xoa bóp tác dụng trên khớp: là các động tác vận động khớp vùng xoa bóp, có tác dụng tăng lưu thông tuần hoàn, mở rộng tầm hoạt động của khớp.
- Kết thúc một bài xoa bóp, nên lặp lại động tác xoa xát một vài lần; sau đó phát 3-5 cái tại vùng xoa bóp.
Một số bệnh mạn tính điều trị có hiệu quả bằng xoa bóp
- Thoái hóa cột sống cổ.
- Thoái hóa cột sống lưng.
- Đau quanh khớp vai.
- Mất ngủ kéo dài...
Trình tự một lần xoa bóp chữa bệnh
Nguyên tắc là làm nhẹ nhàng, tăng dần mức độ. Thời gian một lần xoa bóp khoảng 20 phút; Nếu ít hơn 20 phút, cơ sẽ chưa có đủ thời gian giãn ra; Nhưng nếu thời gian xoa bóp kéo dài quá sẽ gây ức chế, mệt mỏi cho người bệnh. Trình tự các động tác như sau:
- Đầu tiên là thực hiện các động tác trên da: xoa, xát toàn bộ vùng cần điều trị trong 3-5 phút.
- Tiếp đến là các động tác trên cơ: miết, vờn, bóp, lăn, đấm, véo, chặt... Các động tác này sẽ tùy vào diện tích vùng cơ cần xoa bóp lớn hay nhỏ mà thực hiện cho phù hợp. Thời gian khoảng 7-10 phút. Khi thấy vùng cơ đã mềm thì chuyển sang bước ấn, bấm huyệt.
- Chọn một số huyệt tiêu biểu có tác dụng cao để day, sau đó bấm. Mỗi huyệt làm khoảng nửa phút.
- Sau đó vận động khớp vùng bị bệnh, lúc đầu nhẹ nhàng sau tăng dần nhằm làm tăng giới hạn vận động của khớp.
- Cuối cùng xoa bóp nhẹ nhàng lại toàn bộ vùng bệnh khoảng 1-2 phút để kết thúc bài xoa bóp.
Xoa bóp là phương pháp đơn giản, có thể dễ dàng vận dụng để chữa bệnh cho người thân. Thực tế cho thấy xoa bóp có tác dụng tốt đối với một số bệnh cơ-xương-khớp và nhiều khi đạt hiệu quả hơn cả các biện pháp chữa bệnh bằng thuốc.
Những nghiên cứu mới về rau diếp cá
BS. NGUYỄN VĂN THÔNG
Rau diếp cá hay còn gọi là giấp cá, cây lá giấp hoặc ngư tinh thảo, tên khoa học là Houttuynia cordata Thumb, thuộc họ lá giấp (Saururaceae). Rau diếp cá mọc chủ yếu tại các nước châu Á, từ Ấn Độ đến Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan... Ở nước ta, diếp cá mọc hoang khắp nơi, thường ở các vùng đất ẩm, được trồng làm rau ăn hoặc dùng làm thuốc.
CÔNG DỤNG THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Rau diếp cá có vị chua, cay, tính mát, tác động vào 2 kinh can và phế. Tác dụng chủ yếu là thanh nhiệt, giải độc, thoát mủ (đối với mụn nhọt làm mủ), thông tiểu tiện, giảm phù thũng, sát khuẩn, chống viêm.
Trong y học dân gian, diếp cá được dùng chữa các chứng bệnh sau:
- Táo bón, trĩ: 6-10g sắc uống hàng ngày.
- Sởi, mày đay: giã nát diếp cá, vắt nước cho uống.
- Viêm tai giữa, sưng tuyến vú, tắc tia sữa: dùng lá khô 20g hoặc tươi 40g, sắc nước uống hàng ngày.
- Viêm thận, phù thũng, kiết lỵ: dùng rau diếp cá tươi 50g sắc uống.
- Tiểu buốt, tiểu dắt: dùng rau diếp cá, rau má tươi, lá mã đề, rửa sạch vò với nước sôi để nguội, gạn nước uống...
CÔNG DỤNG THEO TÂY Y
1. Thành phần hóa học: trong 100g rau diếp cá có:
- Nước: 91,5%; protid: 2,9%, glucid: 2,7%, lipid: 0,5%, cellulose:1,8%, Calci: 0,3mg, Kali: 0,1mg, tiền vitamin A: 1,26mg, vitamin C: 68mg.
2. Hoạt chất của rau diếp cá:
+ Thân và lá diếp cá chứa hiperin, quercetin, afzelin, mircen, rutin, cordalin, dioxy-flavonon. Đặc biệt trong cây diếp cá có chất metilnonil-ceton, đây là một tinh dầu có mùi tanh và chất decanoyl-acetaldehyd có tính kháng sinh.
+ Trong hoa và quả có isoquercitrin.
3. Tác dụng dược lý đã được nghiên cứu: Diếp cá đã được nghiên cứu từ lâu, có những tác dụng sau:
- Kháng khuẩn: ức chế tụ cầu vàng, liên cầu, phế cầu, trực khuẩn bạch hầu, E. coli, trực khuẩn lỵ, xoắn khuẩn leptospira.
- Kháng virus: có tác dụng đối với virus sởi, herpes, cúm và cả HIV, do tác động vào vỏ bọc protein của virus.
- Kháng ký sinh trùng nấm.
Liều dùng từ 30-50g rau tươi, có thể ăn sống, xay nát uống hoặc giã đắp ngoài da.
- Lợi tiểu: do tác dụng của chất quercitrin.
- Làm chắc thành mao mạch, chữa trĩ do tác dụng của chất dioxy-flavonon. Ngoài ra còn có tác dụng lọc máu, giải độc, giải nhiệt, kháng viêm, tăng sức miễn dịch của cơ thể.
- Chống ung thư do chất ngư tinh thảo tố được chiết xuất từ diếp cá (Theo sách Trung dược học Trung Quốc).
NHỮNG NGHIÊN CỨU MỚI VỀ CÂY DIẾP CÁ
1. Tác dụng ức chế peroxyd hóa lipid và khử gốc tự do
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại Viện Đại học Y Dược Toyama, Nhật Bản đã cho thấy tác dụng chống oxy-hóa của 12 loại dược thảo và hợp chất được chiết xuất từ chúng. Các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp thiocyanate để đánh giá tác dụng ức chế trên hiện tượng peroxyd hóa chất béo trong hệ thống acid linoleic.
Trong 12 dược thảo được thử nghiệm, diếp cá là một trong 4 chất có tác dụng chống oxy-hóa mạnh nhất. Hợp chất Quercetin của diếp cá có tác dụng loại trừ các gốc tự do mạnh nhất.
2. Tác dụng chống virus Herpes simplex
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y khoa Koahsiung, Đài Loan. Mục đích nhằm đánh giá tác dụng chống virus của diếp cá. Kết quả nghiên cứu cho thấy Houttuynia cordata có tác dụng ức chế đáng kể đối với sự sinh sản của virus herpes simplex ở nồng độ 100 microg/ml. Theo khuyến cáo của các nhà nghiên cứu, H.cordata có thể được xem như dược thảo chữa trị Herpex simplex.
3. Tác dụng chống ung thư máu
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y khoa Koahsiung, Đài Loan. Mục đích để đánh giá tác dụng chống ung thư máu của H.cordata và Bidens pilosa. 5 dòng tế bào ung thư máu, theo thứ tự là L1210, U937, K562, Raji và P3HR1 được nuôi cấy với chất chiết xuất của H. cordata và Bidens pilosa. Kết quả cho thấy chiết xuất từ các chất trên có tác dụng ngăn chặn 5 dòng tế bào này.
4. Tác dụng chống viêm xoang kinh niên và polyp
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại Trường đại học Y khoa West China, Trung Quốc để đánh giá tác dụng tái tưới máu sau phẫu thuật xoang.
Kết quả cho thấy H. cordata đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề tái tưới máu sau mổ.
5. Tác dụng chống viêm tuyến vú
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại Trường đại học Thú y, thuộc Viện đại học Nông nghiệp Zbejiang, Hangzbou, Trung Quốc.
Từ Houttuynia cordata, các nhà nghiên cứu đã chiết xuất được chất Houttuynia, sau đó cho Houttuynia phản ứng với bisulphat natri để có được chất Houttuynin bisulphat natri. Từ chất này, họ đã chế biến được một dung dịch tiêm vào vú để điều trị bệnh viêm tuyến vú ở bò. Thử nghiệm trên 52 trường hợp viêm tuyến vú ở bò được chia làm 2 nhóm: nhóm 1 tiêm 80mg dung dịch H. bisulphat Na và nhóm 2 tiêm 800.000 đơn vị Penicillin kết hợp với 1g Streptomycin. Kết quả cho thấy 88,2% viêm tuyến vú đã điều trị khỏi với H. bisulphat Na, so với 90% được chữa lành với Penicillin + Streptomycin. Như vậy, không có sự khác biệt đáng kể trong điều trị viêm tuyến vú cấp tính giữa 2 nhóm trên.
6. Tác dụng chống virus
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại Viện Đại học Y dược Toyama, Nhật Bản, cho thấy dịch chiết từ Houttuynia cordata có tác dụng ức chế trực tiếp lên các loại virus như Herpes simplex type 1, Influenza và HIV mà không có biểu hiện độc tính nào.
Phòng trị bệnh răng miệng bằng Đông y
Khi lợi sưng tấy đỏ do nhọt ở chân răng, có thể lấy nước muối 5% hoặc nước lá trầu không (lấy trầu không cả lá, cuống rửa sạch giã, hòa nước đun sôi để nguội) để súc miệng.
Theo y học cổ truyền, răng thuộc về thận, lợi thuộc về vị (dạ dày). Như vậy bệnh ở răng liên quan đến thận, bệnh ở lợi liên quan đến vị... Nhọt mọc ở chân răng được gọi là nha đinh, xuất hiện do hỏa uất độc tác động vào hai kinh là vị và thận. Ban đầu mụn mọc ở chân răng, gây đau nhức, khó nhai; sau bệnh có thể tiến triển lan tới hàm và má, sưng hàm, má, toàn thân nóng, phát sốt.
Để phòng bệnh, cần thận trọng khi ăn nhai thức ăn cứng, cá, thịt gà có xương; không để xương đâm vào lợi. Không để thịt cá dắt vào kẽ răng. Sau khi ăn, nên làm sạch răng, súc miệng. Thuốc uống trong: Hoàng liên 12 g, thạch cao 12 g, cam thảo 6 g, mộc hương 8 g, đun uống.
Chứng chảy máu chân răng
Đông y gọi chứng này là nha nục; nguyên nhân là vị hỏa bốc lên, làm huyết chảy ra. Bệnh biểu hiện như sau: chân răng sưng, đỏ, đau. Khi nói hay thở, miệng có mùi hôi, chân răng sưng, răng dễ lung lay, động vào răng không đau nhưng đau vùng lợi xung quanh, bệnh nhân thường đại tiện táo, nhưng ít khi sốt.
Phòng bệnh: Ngày đánh răng 1 lần. Sau khi ăn hay uống nước ngọt, cần súc miệng ngay. Súc miệng bằng nước sạch, nước đun sôi để nguội hoặc nước muối pha loãng.
Thuốc uống trong khi bị bệnh: Hoạt thạch 12 g, cam thảo 4 g, đun nước uống. Hoặc: Sinh địa, mạch môn, hoàng bá, tri mẫu, thạch cao mỗi vị 12 g, cam thảo 6 g, sắc uống. Hoặc: Thục địa, hoàng bá, hoắc hương, hoài sơn mỗi thứ 12 g, sơn thù 10 g, đan bì 8 g, tri mẫu 10 g, bạch linh 6 g, sắc uống.
Món ăn phòng trị tăng huyết áp
THÁI HƯ
(Theo "Gia đình dược thiện" và "Thực dưỡng bổ ích bí dược lương phương" - TQ)
CÀ CHUA SỐNG TRỘN ĐƯỜNG
- Cách dùng: Sáng sớm, khi chưa ăn uống gì, lấy 1-2 quả cà chua, dùng nước sôi rửa sạch, thêm chút đường cho đủ ngọt và ăn sống. 10 ngày là một liệu trình, nghỉ 3 ngày, sau đó lại tiếp tục như vậy.
- Công hiệu: Đặc biệt có ích với những người tăng huyết áp kèm theo xuất huyết dưới đáy mắt.
MỘC NHĨ HẦP
Mộc nhĩ là thức ăn có độ dinh dưỡng cao và theo YHCT, mộc nhĩ có vị cam, tính bình, không độc, có tác dụng: tư bổ cường tráng, tư vị ích khí, hòa trung lương huyết, giáng áp lợi tiện.
- Cách dùng: Mộc nhĩ khô 3g (mộc nhĩ đen hoặc trắng đều được), ngâm nước một đêm, hôm sau đem hấp chín, thêm chút đường phèn, ăn trước khi đi ngủ. Dùng liên tục 10 ngày, nghỉ 3 ngày lại tiếp tục. Có thể dùng lâu ngày mà không gây tác dụng phụ.
- Công hiệu: Hạ huyết áp, phòng trị xơ cứng mạch máu và xuất huyết đáy mắt.
CHÁO RAU CẨN
- Nguyên liệu: Rau cần tươi 60g-, gạo tẻ 70-100g.
- Cách nấu: Rau cần rửa sạch, thái nhỏ, cùng gạo cho vào nồi, đổ khoảng 600ml nước nấu thành cháo.
- Cách dùng: Mỗi ngày ăn 2 lần vào buổi sáng, buổi tối. Ắn khi cháo còn nóng, không nên để lâu. Cháo này tác dụng chậm, phải dùng lâu mới kiến hiệu.
- Công hiệu: Lợi tiểu, bổ thận, thanh nhiệt, bình can. Dùng cho người cao huyết áp, đái đường v.v...
CHÁO SẰN DÂY
- Nguyên liệu: Bột sắn dây 30g, gạo tẻ 50g.
- Cách nấu: Gạo tẻ ngâm nước một đêm. Hôm sau, dùng khoảng 500ml nước, cùng với bột sắn dây, cho vào nồi đất, dùng lửa nhỏ nấu đến khi thấy cháo đặc quánh lại là được.
- Cách dùng: Ắn khi cháo âm ấm, lúc nào cũng được.
- Công hiệu: Hạ huyết áp, thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân chỉ khát, cầm ỉa chảy... Dùng cho người cao huyết áp, bệnh động mạch vành, đái đường ở người già, mùa hạ khát uống nước nhiều.
- Cấm kî: Người tỳ vị hư hàn không dùng được.
CHÁO HẠT SEN
- Nguyên liệu: Hạt sen tán bột 15g, gạo tẻ 30g, đường đỏ tùy thích.
- Cách nấu: Ba thứ trên cùng cho vào nồi đất, đổ khoảng 300ml nước, đun cho sôi thì dùng lửa nhỏ nấu cho đến khi đặc quánh lại là được.
- Cách dùng: Ắn lúc nào cũng được.
- Công hiệu: Bổ tỳ chỉ tả, ích thận cố tinh, dưỡng tâm an thần. Thích hợp cho những người cao huyết áp tiêu hóa kém (tỳ hư), thận yếu, di tinh tiểu tiện nhiều lần, yếu tim, buồn bực mất ngủ v.v...
- Cấm kî: Khi bị ngoại cảm hoặc có chứng thực nhiệt không nên dùng.
CHÁO SƠN TRA
- Nguyên liệu: Sơn tra 30-40g, gạo tẻ 100g, đường cát 10g.
- Cách nấu: Cho sơn tra vào nồi đất, sắc lấy nước, bỏ bã. Cho gạo vào nấu thành cháo, khi cháo chín cho thêm đường vào.
- Cách dùng: Ắn thêm vào giữa các bữa ăn chính. Lúc đói không nên ăn. Mỗi liệu trình từ 7 đến 10 ngày.
- Công hiệu: Làm mạnh tỳ vị, tiêu thực tích, tán huyết ứ. Dùng cho người cao huyết áp, đau thắt tim, xơ vữa động mạch vành. Có thể dùng cả cho trẻ em chán ăn, bụng đầy.
CHÁO CÀ RỐT
- Nguyên liệu: Cà rốt, gạo tẻ.
- Cách nấu: Cà rốt thái nhỏ, cùng gạo cho vào nồi nấu chín thành cháo.
- Cách dùng: Ắn nóng vào buổi sáng và buổi tối. Cháo này dễ bị thiu, chỉ nên nấu bữa nào ăn bữa ấy.
- Công hiệu: Kiện tỳ hòa vị, hạ khí hóa trệ, sáng mắt, lợi tiểu, hạ huyết áp. Dùng cho những người cao huyết áp, tiêu hóa kém, quáng gà. Có thể dùng cả cho trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng.
Thảo dược phòng chữa tiểu đường
Tiểu đường được Đông y gọi là tiêu khát với triệu chứng ăn nhiều, đái nhiều, uống nhiều. Y học cổ truyền đã sử dụng nhiều loại thảo dược để điều trị bệnh này, chẳng hạn như nhân sâm, củ mài, mướp đắng...
Nhân sâm: Vị ngọt, hơi đắng, có tính hơn ôn, vào hai kinh phế và tỳ, có tác dụng ích khí, bổ phế, dịu hen, kiện tỳ, sinh tân dịch, dịu khát...
Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân sâm làm tăng tính nhạy cảm của tế bào với insulin, kích thích bài tiết insulin trong cơ thể.
Tuy nhiên, việc dùng liều có thể gây một số tác dụng phụ như nhức đầu, choáng váng, nôn mửa và thậm chí làm tăng huyết áp; đây cũng là những biến chứng của bệnh tiểu đường. Vì vậy, việc sử dụng nhân sâm cần phải tuân theo lời khuyên của thầy thuốc. Nhân sâm còn tiềm ẩn nguy cơ làm tăng hiệu ứng thuốc hạ đường huyết. Vì vậy, việc dùng phối hợp nhân sâm với thuốc giảm đường huyết có thể gây nguy hiểm do hạ thấp đường huyết quá mức khi dùng. Trong thực tế lâm sàng, có thể dùng nhân sâm kết hợp với một số vị thuốc khác để chữa bệnh đái tháo đường.
Một số cách dùng nhân sâm chữa tiểu đường:
Nhân sâm 3 g, hãm hoặc sắc uống hằng ngày thay nước.
Nhân sâm 3 g, củ mài sao 20 g, tán bột hoặc nấu cháo ăn ngày một lần. Bài thuốc này có tác dụng chữa tiểu đường ở người già khí huyết hư nhược.
Củ mài: Tên thuốc là hoài sơn. Theo nghiên cứu của Nhật Bản, hoài sơn đã được dùng chữa khỏi bệnh tiểu đường trên một số bệnh nhân điều trị bằng insulin không khỏi. Có thể dùng dưới dạng thuốc sắc, bột thuốc hoặc thực phẩm như chè, canh...
Ứng dụng chữa bệnh:
Củ mài 50-100 g, nấu cháo, ăn thay cơm hằng ngày.
Củ mài 30 g, thục địa 12 g, sơn thù 10 g, đan bì 12 g, bạch linh 10 g, thiên hoa phấn 12 g. Sắc uống ngày một thang.
Củ mài 15 g, hoàng kỳ 15 g, râu ngô 30 g, sắc uống ngày một thang.
Củ mài 40 g, bí ngô 120 g, lá sen 50 g. Lá sen sắc lấy nước, bỏ cái, nấu với củ mài và bí ngô thành cháo. Ăn ngày một lần.
Mướp đắng: Theo nghiên cứu hiện đại, mướp đắng có tác dụng hạ thấp đường huyết trên động vật. Nó đã được Philippines sử dụng làm thuốc điều trị tiểu đường rất hiệu quả. Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng mướp đắng có tác dụng hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư và kéo dài tuổi thọ của người bệnh ung thư.
Quả mướp đắng có vị đắng, tính lạnh, trừ tạng nhiệt, làm sáng mắt, mát tim, nhuận tỳ, bổ thận, nuôi dưỡng can huyết, bớt mệt mỏi, giải phiền khát... Hạt mướp đắng có vị đắng ngọt, thêm khí lực, cường dương. Người ta đã bào chế tới 18 loại dược trà từ mướp đắng, có tác dụng an thần, gây ngủ, kích thích tiêu hóa, hoạt huyết... Hiện nay nhân dân ta cũng đã dùng mướp đắng để làm chè thuốc, hãm uống hằng ngày chữa các bệnh tiểu đường, giảm mỡ máu...
Ứng dụng chữa bệnh:
Mướp đắng thái mỏng, sấy khô. Hằng ngày hãm uống thay nước chè.
Mướp đắng tươi 1-2 quả. Nấu canh ăn hằng ngày.
Hà thủ ô đỏ: Thường dùng lá và rễ củ làm thuốc. Rễ củ phải được bào chế với nước đậu đen mới dùng. Khi dùng hà thủ ô cần kiêng không ăn các loại cá không vảy, hành, tỏi, cải củ. Hà thủ ô có tác dụng bổ máu, giảm đường máu. Ứng dụng chữa bệnh:
Hà thủ ô đỏ 12 g, long nhãn 12 g, quyết minh tử (hạt muồng) sao 12 g, lá dâu 20 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng chữa mất ngủ ở người tiểu đường.
Hà thủ ô đỏ 12 g, long nhãn 12 g, quả dâu chín 20 g, quy thân 10 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng chữa thiếu máu ở người bị tiểu đường.
Hà thủ ô đỏ chế 12 g, củ mài sao 20 g. Tán bột mịn, uống mỗi ngày 20 g; uống liên tục trong nhiều ngày. Có thể sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Bài thuốc này có tác dụng chữa tiểu đường. Nếu đã có biến chứng mạch máu, nên gia thêm cỏ xước 20 g, kim ngân hoa 20 g, rễ quýt gai 12 g, cam thảo dây 10 g; sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Hà thủ ô đỏ chế 12 g, thục địa 12 g, củ mài sao 12 g, sơn thù 10 g, đan bì 10 g, bạch linh 10 g, thiên hoa phấn 10 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày (đây là bài Lục vị gia vị). Bài thuốc này có tác dụng chữa tiểu đường.
Hoa hướng dương: Rễ cây hướng dương 150 g, sắc uống trước khi ăn cơm, vào buổi sáng sớm, uống liền 5-7 ngày, có tác dụng chữa tiểu đường.
Những thức ăn tốt cho phụ nữ và nam giới
Những người đàn ông ăn nhiều cà chua hay nước sốt cà chua thường tránh được bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhờ được cung cấp nhiều lycopene. Tuy nhiên, chỉ khi được nấu cùng chất béo thì lycopene mới được cơ thể hấp thu dễ dàng.
Đối với nam giới
Cà chua: Một nghiên cứu của Đại học Havard về thói quen ăn uống của hơn 47.000 người cho thấy, những người sử dụng nước sốt cà chua 2-4 lần/tuần có nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn 35% so với bình thường. Theo các nhà khoa học, lycopene - một loại carotenoid có nhiều trong cà chua - nắm giữ vai trò chính trong kết quả này. Tuy nhiên, một phát hiện khác đã khiến họ bối rối: nước cà chua dường như không mang lại hiệu quả phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt. Chỉ đến gần đây, bí mật mới được sáng tỏ, chỉ khi được nấu cùng một loại chất béo nhất định, lycopene mới được cơ thể hấp thu dễ dàng. Do đó, bánh piza luôn là món được các bác sĩ khuyên dùng nhiều nhất.
Sò: Theo truyền thuyết, sò là món ăn của tình yêu. Và khoa học ngày nay cũng không đi ngược lại kết luận này. Chỉ cần 2-3 con sò/ngày cũng có thể cung cấp cho bạn đủ lượng kẽm cần thiết, giúp cho bộ máy sinh dục hoạt động bình thường, khoảng 11 mg. Nếu lượng kẽm mỗi ngày vượt quá 40 mg thì sẽ gây tác dụng phụ nguy hiểm.
Súp lơ: Một nghiên cứu mới đây của Đại học Havard cho thấy các cây thực vật họ cải như súp lơ, bắp cải có thể giúp phòng ngừa bệnh ung thư bàng quang. Các nhà khoa học đã phân tích chế độ dinh dưỡng của gần 50.000 người đàn ông và rút ra kết luận: những người ăn mỗi tuần 5 lần hoặc nhiều hơn các món họ cải sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư bàng quang tới 50%. Cải bắp và súp lơ là loại thực phẩm có khả năng phòng bệnh rất tốt.
Bơ dầu lạc: Nếu muốn có một trái tim khỏe mạnh, hãy phết bơ dầu lạc lên miếng bánh mỳ trong bữa ăn sáng của bạn. Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã nghiên cứu hiệu quả của một chế độ dinh dưỡng có 36% chất béo lấy từ dầu lạc. Sau 24 ngày, kết quả thử máu cho thấy lượng cholesterol xấu (LDL) ở người thực hiện chế độ ăn này đã giảm đi rõ rệt. Ngoài ra, lượng mỡ trong máu cũng đã giảm mà không hề gây tác động tới lượng HDL - một loại cholesterol có ích.
Dưa hấu: Tới độ tuổi 55, người đàn ông thường có nguy cơ mắc bệnh huyết áp cao hơn so với phụ nữ. Những người có lượng kali cao trong máu thường không bị bệnh huyết áp cao và đột quỵ. Dưa hấu là một thực phẩm giàu kali, chỉ một miếng dưa hấu cũng chứa đủ lượng kali tương đương với một quả chuối hay một cốc nước cam.
Đối với phụ nữ
Nước quất: Đa phần phụ nữ đều có một vài lần mắc bệnh viêm nhiễm đường tiết niệu. Patty Buxton, một cô giáo Trường trung học Corolado cho biết: “Tôi đã từng mắc phải loại bệnh này 3 lần chỉ trong thời gian một năm”. Năm ngoái, biết được nước quất có thể giúp phòng ngừa căn bệnh này, cô đã thực hiện một chế độ ăn uống nghiêm ngặt và kể từ đó, cô luôn có cuộc sống khỏe mạnh và vui tươi. Có kết quả đó chính là nhờ thứ nước thần kỳ này.
Đu đủ: Loại quả nhiệt đới này lại chứa một lượng vitamin C nhiều gấp 2 lần so với cam. Đây là một trong những vũ khí đắc dụng chống lại căn bệnh viêm túi mật, xuất hiện nhiều ở phụ nữ. Sau khi phân tích mẫu máu của hơn 13.000 người, các nhà nghiên cứu Đại học San Francisco nhận thấy, những phụ nữ có lượng vitamin C thấp trong cơ thể thường có nhiều nguy cơ mắc bệnh viêm túi mật. Một quả đu đủ cỡ trung bình có chứa khoảng 188 mg vitamin C sẽ là một nguồn bổ sung năng lượng mới đủ cho cơ thể của bạn hoạt động bình thường.
Đậu phụ: Giúp giảm bớt lượng cholesterol và làm xương chắc khỏe. Hợp chất isoflavone trong đậu tương chính là nhân tố chủ chốt đem lại hiệu quả này. Theo lời khuyên của các bác sĩ, ăn khoảng 80 g đậu phụ mỗi ngày sẽ rất tốt cho hệ thống xương, đặc biệt là xương sống. Mỗi lần uống sữa đậu nành, đừng quên là phải uống 2 cốc thì mới đủ lượng isoflavone cần thiết.
Thịt trâu: Do hoạt động của kinh kỳ, phụ nữ thường có nguy cơ thiếu máu cao hơn so với nam giới. Lượng sắt thấp trong máu có thể khiến cơ thể trở nên rệu rã, mệt mỏi. Để có đủ lượng sắt cần thiết, thịt trâu là một món ăn được đánh giá cao. Thịt trâu thường nạc và có đặc điểm được rất nhiều phụ nữ ưa thích: nhiều chất sắt và ít mỡ hơn so với thịt bò nên cung cấp nhiều năng lượng mà không làm tăng cân.
Rau xanh: Thực phẩm này có thể giúp chống lại chứng loãng xương mà hầu hết các phụ nữ gặp phải khi về già vì chúng có nhiều vitamin K. Theo các nhà khoa học, ngoài canxi và vitamin D, vitamin K cũng có tác dụng bảo vệ xương. Nghiên cứu cho thấy, nữ giới có khẩu phần ăn giàu vitamin K (khoảng 109 mcg vitamin K mỗi ngày) có nguy cơ mắc chứng loãng xương thấp hơn tới 30% so với bình thường. Các loại rau có lá sẫm màu như cây cải, rau bí, rau muống thường là những nguồn thực phẩm rất giàu vitamin này.
|