Mục Lục :
|
Điều trị ù tai bằng thuốc Nam
Theo Đông y, người bị ù tai nên kiêng ớt.
Nếu bị ù tai do ảnh hưởng của tiếng ồn, dùng rau má 10 g, lá dâu 10 g, tơ hồng xanh 12 g, thổ phục linh 16g sắc uống. Nếu huyết áp cao, thêm lá tre 10 g; huyết áp thấp thêm ngải cứu 6 g; mất ngủ thì thêm lá vông 8 g.
Ù tai do làm việc mệt mỏi, căng thẳng: Đỗ đen (sao tồn tính), xích đồng mỗi thứ 16 g; hà thủ ô, tơ hồng xanh, dây chiều, hoài sơn mỗi thứ 12g. Nếu ngủ ít, nhịp tim chậm, thêm lạc tiên 12 g, ngải cứu 6 g.
Ngủ ít, nhịp tim nhanh thêm cúc áo 12 g, cỏ mần trầu 10 g.
Ù tai do hỏa bốc: Đỗ đen 12 g, cúc hoa 6 g, vừng đen 10 g, lá tre 6 g, rau má 8 g, nhân trần 10 g. Nếu huyết áp cao, thêm cần tây tươi 50 g; huyết áp thấp thêm rau ngót tươi 100 g, ngải cứu 6 g.
Các thể bệnh trên đều cần kiêng các chất cay, thơm như rượu, ớt, hạt tiêu, các loại rau thơm. Đối với người huyết áp thấp, nhịp tim chậm, không nên dùng cam, chanh, nước dừa, nước đá, rau cải, củ cải.
Cách sắc thuốc: 1 thang sắc uống trong 1 ngày. Ngày sắc 2 lần, mỗi lần cho 3 bát nước, đun lấy nửa bát, uống thuốc lúc còn ấm, ngày uống 2 lần sáng, chiều.
Trà và những điều cấm kỵ
Trà rất tốt cho sức khỏe và cả sắc đẹp nữa nhưng cũng có thể tác dụng ngược lại nếu không được dùng đúng cách. Chẳng hạn, bạn không được uống trà lạnh vì có thể dẫn đến biếng ăn, tích đờm, nhất là nếu trà được pha đặc.
Uống trà quá nóng cũng không tốt. Chén trà nóng quá 65 độ C sẽ gây tổn thương vách trong của dạ dày, dẫn đến bị đau hay loét cơ quan này. Mặc dù một ấm trà ngon phải được ủ từ nước đun thật sôi nhưng nhiệt độ lý tưởng để bạn uống lại là 60-65 độ C.
Ngoài ra, các bác sĩ Đông Y cũng khuyên bạn không nên uống nước trà hoặc những vị thuốc có nhiều thành phần trà khi đói bụng. Chất chát trong trà sẽ đi vào tạng phế và làm lạnh tỳ, vị. Lúc đó, bạn sẽ có cảm giác cồn cào, nôn nao trong người, chóng mặt, hoa mắt, rất khó chịu.
Bạn cũng đừng uống trà trước khi ăn. Trà có khả năng kích thích dạ dày tiết ra nhiều chất chua. Vị chua sẽ làm mất cảm giác ngon miệng, cơ thể hấp thu thức ăn kém đi. Uống trà ngay sau khi ăn cơm cũng có hại; vì chất tanin của trà có thể tạo ra phản ứng kết tủa với sắt trong thực phẩm. Khi đó, lượng sắt quý giá này coi như bị mất. Tốt nhất là hãy chờ khoảng 15-20 phút rồi mới cầm đến chén trà.
Lưu ý cuối cùng là không uống nước trà để qua đêm. Khi để lâu như vậy, trong nước trà sẽ xuất hiện các loài vi sinh vật hay nấm mốc. Vì vậy, mỗi sáng mai thức dậy, bạn nên tráng ấm trà thật kỹ bằng nước sôi rồi hẵng pha ấm mới.
11 bài thuốc từ cây dâu tằm
Để chữa thiếu máu, mất ngủ, lấy quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), pha nước uống mỗi ngày. Uống liên tục nhiều ngày càng tốt. Nếu mất ngủ, nên uống vào buổi tối trước khi lên giường.
Các bài thuốc khác từ cây dâu:
1. Bổ huyết, dưỡng huyết
Phù tang chí bảo là một bài thuốc hay đã được đề cập trong các y thư cổ như Nam dược thần hiệu, Hải Thượng y tông tâm lĩnh... Uống được ít lâu nếu thân thể mọc đầy mụn thì đó là do sức thuốc đẩy ra, không nên cho là quái lạ. Nhưng sau 3 tháng, khắp mình sẽ tươi sáng, da dẻ mịn màng. Nếu uống liên tục nửa năm thì khí lực trở nên mạnh mẽ lạ thường, tật bệnh dần dần tiêu tan. Trường kỳ uống mãi thì gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, tỏ tai sáng mắt, tinh thần khoan khoái, tăng thêm tuổi thọ.
Cách bào chế: Lá dâu và vừng đen lượng bằng nhau. Vừng xát tróc vỏ, đem đồ chín, “cửu chưng cửu sái” (nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi). Cả hai thứ đem tán bột, luyện mật làm thành viên hoàn.
Theo Tuệ Tĩnh, lá dâu cần chọn lá non, hái lúc mặt trời chưa mọc, độ vài ba chục cân (cân ta), rửa sạch bụi đất, phơi nắng cho khô. Dùng lá dâu vườn càng tốt vì các cụ cho rằng dâu núi có thể bị nọc độc của rắn, rết dây vào.
2. Chữa thong manh, đau mắt
Lá dâu tươi đem về giã nát, phơi khô, đốt thành than, nấu lấy nước rửa mắt.
Để chữa đau mắt gió hay chảy nước mắt: Lá dâu hái vào tháng Chạp, hãm lấy nước rửa hằng ngày.
3. Chữa đau nhức
Phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt chưa dứt đã vội động phòng, sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm. Có thể chữa bằng bài thuốc: lá dâu già, lược gãy, nệm rách, tóc rối liều bằng nhau, đem đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng cân (khoảng 12 g) với nước nóng.
4. Chữa hen suyễn
Lá dâu già, lá thầu dầu già, trấu (sao mật) tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống một viên với nước sôi.
5. Chữa huyết áp cao
- Lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con. Cá diếc cho vào chậu nước muối để nhả hết nhớt dãi; không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu ăn.
- Thịt trai sông 50-100 g, lá dâu tươi 20 g thái nhỏ, nấm hương 20 g, hành củ khô 2-3 củ. Nấu cháo ăn hằng ngày, có tác dụng hạ huyết áp tốt. Bài thuốc này thích dụng với người cao tuổi bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có các dấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần... Đặc biệt người tăng huyết áp bị suy giảm khả năng tình dục cũng nên dùng.
6. Tẩy sán xơ mít
Dùng dao tre cạo lấy vỏ trắng cành dâu 3 nắm, nước 3 bát, sắc lấy một bát. Tối hôm trước phải nhịn ăn, sáng sớm uống lúc bụng đói, sán sẽ ra hết. Uống 2-3 lần.
7. Chữa tiểu buốt, nước tiểu đục
Tổ bọ ngựa cây dâu mỗi lần 1 cái nướng khô, tán nhỏ, uống với rượu lúc đói, uống 2-3 lần là khỏi, chữa tiểu buốt.
Ngài tằm cấu bỏ đầu, chân, cánh; sấy khô, tán nhỏ, giã với cơm làm viên bằng hạt ngô, uống với nước muối lúc đói để chữa chứng đi tiểu nước tiểu đục, trắng.
8. Chữa viêm họng
- Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, thứ trắng như vẩy cá. Khi dùng giã nhỏ, lấy lụa bọc lại thành viên, tẩm mật ngậm.
- Bạch cương tàm (con tằm vôi) 6 đồng cân, phèn chua 3 đồng cân, phèn chua phi 3 đồng cân. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đồng cân (khoảng 4 g) uống với nước gừng để gây nôn. Trẻ em thì pha thêm bạc hà vào nước gừng, nếu nôn ra với đờm đặc thì rất công hiệu.
- Bạch cương tàm sao, tán nhỏ, giã lẫn với quả mơ muối, viên bằng đầu ngón tay, bọc lụa lại mà ngậm, nuốt nước dần...
9. Chữa tóc rụng, tóc bạc
Nước quả dâu ngâm đường có thể giúp tóc đen và mọc nhiều.
10. Chữa viêm tuyến vú
Đọt dâu non 1 nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ vú sưng, bên ngoài lấy giấy dấp nước đắp, khi khô lại thay, đến khi tan hết thì thôi.
Dầu oliu ngăn ngừa ung thư vú
Dầu oliu rất tốt cho phụ nữ.
Các nhà khoa học đã khám phá nguyên nhân vì sao chế độ ăn uống vùng Địa Trung Hải với nhiều rau quả và đặc biệt là dầu oliu lại giúp bảo vệ phụ nữ khỏi nguy cơ phát triển ung thư vú. Chìa khoá chính là ở axit oleicz, thành phần chính của dầu oliu.
Tiến sĩ Javier Menendez tại Đại học Northwestern ở Chicago cho biết, axit oleicz ngăn chặn hoạt động của gene đột biến gây ung thư có tên HER-2/neu, được tìm thấy ở trong 30% bệnh nhân ung thư vú.
Các bác sĩ và nhà nghiên cứu đã từng nhận ra rằng chế độ ăn vùng Địa Trung Hải làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú và những bệnh khác như bệnh tim, nhưng họ vẫn chưa biết vì sao. Menendez và cộng sự tại Mỹ và Tây Ban Nha đã tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu ảnh hưởng của axit oleicz đối với tế bào ung thư vú.
“Chúng tôi đã có thể chứng minh thành phần chính trong dầu oliu - axit oleicz - có thể hạn chế tác hại của gene quan trọng nhất trong ung thư vú”, Menendez giải thích.
Họ cũng phát hiện axit oleciz không chỉ trấn át hoạt động của gene gây ung thư, mà còn tăng cường hiệu quả của thuốc chữa ung thư Herceptin, do hãng Roche Holding AG của Thuỵ Sĩ sản xuất, có tác dụng chống lại gene HER-2/neu.
“Không có bằng chứng gì cho thấy dầu oliu độc hại. Có thể yên tâm hoàn toàn khi dùng nó”, ông Menendez khẳng định.
Hơn 1 triệu trường hợp ung thư vú được phát hiện trên toàn thế giới mỗi năm. Riêng năm 1998, căn bệnh đã gây nên 1,6% cái chết của các chị em phụ nữ, theo Tổ chức nghiên cứu Ung thư quốc tế ở Lyon, Pháp.
Mặc dù axit oleicz chống lại gene gây ung thư khác với cách điều trị của thuốc Herceptin và tăng cường hiệu quả của thuốc này, nhưng Menendez cho rằng vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu để tìm hiểu cơ chế tác động của dầu oliu.
Phòng bệnh mùa đông xuân theo Đông y
Theo phép dưỡng sinh, về mùa đông nên đi ngủ sớm, thức dậy muộn, tập thể dục hay đi lại nhẹ nhàng trong nhà hoặc nơi kín gió. Nên ăn các thức ăn có màu đen, tính nhuận như vừng đen, nếp cẩm, đậu đen...
Từ xa xưa, con người đã biết sống thuận theo thời khí bốn mùa để phòng và chống lại bệnh tật. Mùa đông, theo học thuyết Ngũ hành, là thuộc về hành Thủy, ứng với tạng Thận, thời tiết thiên về lạnh (hàn) và khô (táo). Về mùa đông, vạn vật có xu hướng co mình lại, giảm trao đổi, tiếp xúc với môi trường để tích lũy nội lực cho một chu kỳ phát triển tiếp theo vào mùa xuân.
Do thời tiết có tính hàn mà táo (khô, lạnh) nên con người dễ mắc các chứng bệnh sau:
Bệnh ở cơ quan hô hấp: Hệ hô hấp thuộc tạng Phế. Phế được gọi là “kiều tạng” tức là tạng rất dễ bị tổn thương. Việc tiếp xúc với không khí khô lạnh dễ gây nên tình trạng dị ứng như: ho, hắt hơi, sổ mũi, hen hoặc bị viêm nhiễm đường hô hấp. Vì vậy, ề mùa đông, bạn mặc ấm, giữ kín cổ, khi ra ngoài nên đeo khẩu trang, nhà ở phải kín cửa. Người già yếu và trẻ em hạn chế đi ra ngoài khi trời lạnh giá. Trong nhà, có thể xông hơi nhẹ nhàng bằng hương liệu hoặc đốt một quả bồ kết, mảnh vỏ bưởi khô cho không khí thơm, nhẹ, ấm áp.
Bệnh ở cơ quan tuần hoàn: Hệ tuần hoàn thuộc tạng Tâm, quy về hành Hỏa. Mùa đông thuộc hành Thủy, Thủy vốn khắc Hỏa, vì vậy về mùa này, các bệnh thuộc hệ tuần hoàn như tăng huyết áp, hen tim, suy tim, tâm phế mạn... có xu hướng nặng lên. Tiết trời lạnh giá làm co mạch máu ngoại biên, dễ gây tai biến mạch máu não. Để phòng bệnh, cần giữ ấm, đặc biệt là những người mắc bệnh tim mạch. Không đi ra ngoài vào ban đêm và phải tránh bị gió lùa.
Bệnh ở cơ quan tiêu hóa: Mùa đông trời lạnh, người ta ăn ngon miệng và hay ăn nhiều nên dễ gặp các bệnh về dạ dày - tá tràng, xuất huyết tiêu hóa, tiêu chảy do virus... Để phòng bệnh, cần ăn uống hợp vệ sinh, ăn ngay khi vừa nấu xong còn nóng ấm. Nên ăn tăng các gia vị có tính cay ấm như hạt tiêu, gừng, ớt..., hạn chế uống rượu.
Sang mùa xuân (theo thuyết ngũ hành thuộc về hành Mộc, ứng với tạng Can), phong khí thịnh. Lúc này dương khí mới sinh, âm hàn còn chưa hết nên về đầu mùa, thời tiết vẫn còn lạnh. Sau đó tiết trời ấm dần lên, vạn vật sinh sôi, nảy nở, các mầm bệnh cũng phát triển mạnh. Vì vậy, vào mùa xuân, con người dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như: Đau mắt đỏ, cảm cúm, viêm nhiễm đường hô hấp, viêm gan, viêm não... Để phòng bệnh, cần vệ sinh môi trường, vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, diệt ruồi muỗi, mặc ấm, tránh gió lạnh. Nên ăn uống hợp vệ sinh; ăn nhiều các thực phẩm có màu xanh, vị chua như rau xanh, hoa quả..., tăng cường ăn tỏi để phòng chống các bệnh lây truyền do virus.
Vạn vật lấy cân bằng làm gốc, con người là một tiểu vũ trụ trong một đại vũ trụ của thế giới tự nhiên. Vì thế, người phải hòa đồng với tự nhiên, sống hợp với quy luật bốn mùa; đồng thời không ngừng rèn luyện thân thể, nâng cao chính khí (sức đề kháng) để tà khí (yếu tố gây bệnh) khó xâm nhập.
Cây kim ngân
"Tôi nghe nói cây, hoa và lá kim ngân có tác dụng chữa một số bệnh như ngứa, giải nhiệt... Xin bác sĩ cho biết có đúng như vậy không?".
Trả lời:
Cây kim ngân, còn gọi là Nhẫn đông, tên khoa học Lonicera japonica Thunb, là một trong những vị thuốc quý và hết sức thông dụng trong y dược học cổ truyền. Bộ phận thường dùng là hoa (kim ngân hoa), lá (kim ngân diệp) và dây (nhẫn đông đằng).
Theo Đông y, kim ngân hoa vị ngọt, tính lạnh, có công năng thanh nhiệt giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ngoại cảm phong nhiệt, ôn bệnh, mụn nhọt, ung thũng, viêm da, dị ứng... Kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy kim ngân hoa có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus, chống viêm, giải nhiệt, kháng nội độc tố, nng cao sức miễn dịch, lợi mật, bảo vệ tế bào gan, cầm máu, giảm mỡ máu và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Một số cách dùng cụ thể:
- Mụn nhọt, mẩn ngứa và dị ứng: Kim ngân hoa 12 g (nếu dùng dây hoặc lá thì 16-20 g) sắc uống hàng ngày. Có thể kết hợp thêm ké đầu ngựa 12 g, đơn đỏ 10 g, bèo cái (loại tía là tốt nhất) 12 g, sắc uống. Hoặc: Kim ngân hoa, liên kiều mỗi thứ 40 g, kinh giới tuệ 16 g, đạm đậu xị 20 g, cát cánh, bạc hà, ngưu bàng tử mỗi thứ 24 g, đạm trúc diệp 16 g. Tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 12 g.
- Cảm sốt do phong nhiệt biểu hiện bằng các chứng trạng đau đầu, sợ gió, có vã mồ hôi hoặc không. miệng khát họng đau, có thể có ho, khạc đờm vàng: Kim ngân hoa 16 g, kinh giới 12 g, ngưu bàng tử 12 g, sắc uống trong ngày.
- Lỵ trực trùng: Dùng kim ngân hoa sao cháy 20 g sắc uống; hoặc kết hợp với bạch đầu ông 12 g, hoàng liên 8 g, xích thược 8 g, sắc uống.
- Trĩ viêm tấy: Kim ngân hoa 12 g (nếu không có dùng kim ngân dây 20 g), hoàng bá, tô mộc, bồ công anh, nghệ vàng mỗi thứ 12 g, phèn phi 5 g, ngũ bội tử 10 g, sắc trong 15 phút với 2.000 ml nước, bỏ bã, để nguội rồi ngâm hậu môn trong 20 phút.
Rượu mật ong
"Xin bác sĩ cho biết công dụng và cách pha chế rượu mật ong. Chồng tôi người gầy, da nóng có dùng được loại rượu này không?".
Trả lời:
Trong dân gian, mật ong có nhiều tên gọi như thạch mật, thực mật, bạch mật, mật đường, phong đường..., được coi là "tinh của trăm hoa". Theo y học cổ truyền, mật ong vị ngọt, tính bình, có công dụng nhuận phế, nhuận tràng, thông tiện và giải độc. Kết quả nghiên cứu của dược học hiện đại cho thấy, mật ong có tác dụng kháng khuẩn, chống ung thư, nhuận tràng, giải độc, tăng cường chức năng miễn dịch, cải thiện quá trình chuyển hóa đường trong cơ thể và kéo dài tuổi thọ.
Theo sử sách ghi lại, việc dùng mật ong ngâm rượu uống đã có từ thời nhà Chu (Trung Quốc) vào khoảng 780 năm trước Công nguyên. Loại rượu này có công dụng bồi bổ cơ thể, điều hòa công năng các tạng phủ, trừ phong thấp và làm hết ngứa nên có thể dùng rộng rãi cho mọi đối tượng, đặc biệt tốt cho những người mắc chứng ngứa kinh niên.
Cách chế: Dùng 1.000 ml mật ong ngâm với 1.500 ml rượu trắng, bịt kín miệng lọ, để nơi râm mát, thỉnh thoảng lắc đều, sau 15 ngày có thể dùng được. Uống mỗi ngày hai lần, mỗi lần 25 ml. Người thể trạng thiên nhiệt cũng có thể dùng được. Tuy nhiên, vì rượu là thứ đại nhiệt nên cần chú ý uống đúng liều lượng, không được thấy hay mà "quá chén".
Những thực phẩm tốt cho tóc
Thịt là thức ăn có lợi cho tóc.
Hãy ăn nhiều những thực phẩm giàu sắt vì đây là thành phần chủ yếu giúp mọc tóc. Tuy nhiên, bạn nên chọn những loại thức ăn chứa sắt mà cơ thể dễ hấp thu. Chẳng hạn, sắt trong thịt cá dễ hấp thụ hơn là trong ngũ cốc, rau khô, hoa quả và các sản phẩm sữa.
Các thực phẩm giàu chất sắt gồm cacao, thịt thỏ, thịt gia cầm, đậu nành, lúa mì, thịt bê, lươn, tim bò, thịt bò, lạc, lòng đỏ trứng. Ngoài việc chọn thức ăn giàu loại sắt dễ hấp thu, bạn còn nên bổ sung vitamin C để kích thích cơ thể tiếp nhận sắt; hạn chế dùng trà, cà phê vì chúng có tác dụng ngược lại.
Keratin (một loại đạm) cũng là thành phần chủ yếu cấu tạo nên tóc. Để cơ thể tổng hợp được chất này một cách dễ dàng, bạn nên ăn các thức ăn giàu chất đạm. Thịt, cá và rau đều chứa đạm, vậy bạn nên ưu tiên loại thực phẩm nào đây? Các protein nguồn gốc động vật tốt cho tóc hơn là các đạm thực vật; bởi tóc của bạn rất cần tới một thành phần có tên là axit amin huỳnh. Người ta tìm thấy các axit này chủ yếu trong thịt. Tuy nhiên, các loại thịt kém chất lượng lại có ít axit amin huỳnh. Ngoài ra, thịt càng mỡ, hàm lượng đạm càng ít. Vì vậy, bạn nên ăn các loại thịt cá nạc chất lượng cao.
Kẽm là một nguyên tố vi lượng không thể thiếu trong quá trình tổng hợp protein và phân chia tế bào. Thiếu kẽm, bạn sẽ có nguy cơ rụng tóc. Những nguồn thực phẩm cung cấp nhiều kẽm nhất là sò huyết, hải sản, thịt và gan. Nếu bạn không hay ăn những đồ này, có thể thay thế bằng lúa mì non, pho-mát, hạt dẻ.
Nhóm vitamin B cũng đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe của tóc. Chúng giúp cho chân tóc thêm khỏe và tham gia vào quá trình sản xuất keratin. Vitamin B1 có nhiều trong men thực phẩm, lúa mì non, thịt lợn nạc, lạc, giăm bông, đậu đỏ, xúc xích. Vitamin B2 có nhiều trong men thực phẩm, gan. Vitamin B3 có nhiều trong men thực phẩm, cà phê hòa tan, lạc, gan chín, cá ngừ, thịt gia cầm, cá hồi hun khói. Vitamin B6 có nhiều trong men thực phẩm, cá hồi, khoai tây.
Ăn gì để ngừa ung thư tiền liệt tuyến ?
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Curtin (Úc) cho thấy ăn nhiều loại trái cây có sắc màu vàng, cam, đỏ và các loại rau củ sậm màu có thể giúp giảm 50% nguy cơ phát triển bệnh ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới.
Nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Trường Y tế Cộng đồng Úc cũng công bố kết quả tương tự. Những chất chống oxy hóa cao là lycopene và carotene các loại tìm thấy những hoa quả có màu sắc như nêu trên đã có tác dụng ngăn ngừa DNA trong tế bào khỏi bị phá hủy - một trong những nguyên nhân chính gây bùng phát bệnh ung thư.
Làm đẹp da bằng trà
Nhiều mỹ phẩm chứa chiết xuất từ trà.
Trộn 100 g mật ong với 2 thìa cà phê nước chè, tẩm vào gạc mềm đắp mặt 10-15 phút rồi rửa lại bằng nước sạch. Nếu bạn làm đều đặn mỗi ngày một lần, làn da sẽ trở nên mềm mại và tươi sáng, nhất là đối với da đã bị lão hóa.
Dưỡng da, xóa nếp nhăn: Dùng một thìa cà phê búp chè đun sôi với 25 ml nước, om 40 phút, lọc lấy nước trong, để nguội. Dùng gạc mềm tẩm nước xoa đều lên mặt, cổ buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ. Cách này có tác dụng dưỡng da. Đặc biệt, với những người đứng tuổi đang có dấu hiệu hình thành nếp nhăn thì phương pháp này rất công hiệu. Nếu da mặt bạn bị nhờn, có thể thêm vào nước chè vài giọt chanh. Ngoài tác dụng chữa dưỡng da, dung dịch này còn có khả năng xoá nếp nhăn và các lỗ chân lông thô trên mặt.
Chống nắng: Về mùa hè, để chống ánh nắng mặt trời làm xạm và hỏng da, trước khi bạn đi ra khỏi nhà vào giờ nắng gắt, nên dùng nước chè đặc mới pha tẩm vào bông thấm mềm, xoa đều lên những phần da hở trên cơ thể như mặt, cổ và cánh tay.
Tạo làn da khỏe khoắn: Dùng một thìa cà phê búp chè khô đun sôi với 25 ml nước trong 2-3 phút và lọc sạch lấy nước trong. Tẩm gạc bông mềm, xoa lên mặt mỗi buổi sáng và buổi tối, bạn sẽ tạo cho khuôn mặt màu nâu tươi sáng và khoẻ khoắn. Dung dịch này nếu bảo quản ở điều kiện thường thì không được để quá một ngày đêm, nếu để trong tủ lạnh thì không quá hai ngày.
Giúp da mỏng và mịn: Dùng búp chè om trong nước khoáng có pha chút đường xoa lên mặt buổi sáng và buổi tối. Tuy nhiên, bạn cần rửa lại bằng nước lạnh trước khi đi ngủ.
Xoá nếp nhăn trên khuôn mặt có làn da khô: Dùng gạc tẩm dung dịch đã được pha chế từ 1 thìa nước chè đặc với hai thìa nước đun sôi để nguội. Dùng hỗn hợp đó đắp lên một lớp mặt nạ đều, lấy giấy mềm hoặc khăn phủ lên trên và nằm thư giãn 15-20 phút, sau đó rửa sạch bằng nước mát. Bạn làm liệu pháp này từ 15 đến 20 lần hoặc trong 1 đến 2 tuần, da sẽ hết nhăn.
Trẻ hoá da mặt đã có triệu chứng già nua: Dùng một thìa canh bột gạo khuấy đều với nước chè đặc thành một hỗn hợp nhuyễn rồi trộn với một lòng đỏ trứng gà. Xoa hỗn hợp lên mặt 15-20 phút, sau đó rửa bằng nước ấm và dùng kem dưỡng da như bình thường. Chỉ nên thực hiện liệu pháp này 1 lần mỗi tuần.
Xóa dấu vết ở mắt: Dùng nước chè đặc để nguội tẩm vào gạc mềm đắp lên mắt 1-2 phút, thay gạc mới và đắp tiếp 3-4 lần. Mỗi ngày làm như vậy khoảng 10 phút, liên tiếp trong một tuần có tác dụng xoá nếp trũng ở mi mắt, xoá các vết thâm quầng và vết trũng ở dưới mắt, xoa dịu khi mắt bị viêm nhiễm hay mệt mỏi.
Dưỡng tóc: Dùng 200 ml nước trộn với 10 g búp chè khô, 50 g hoa cúc đun sôi trong 5 phút, lọc nước trong, để nguội, trộn thêm 200 ml rượu trắng và ngâm 2-3 ngày. Dùng dung dịch đó xoa đều lên tóc và để 30-40 phút, sau đó gội lại bằng xà phòng. Liệu pháp có tác dụng làm cho tóc bóng mượt, chống rụng tóc hàng loạt.
Vị thuốc từ củ khoai tây
Để chữa bỏng nhẹ, vết thương hay eczema, lấy khoai tây rửa sạch, có thể để cả vỏ, thái lát mỏng, dán lên vết thương hoặc giã nát đắp bỏng. Nếu bỏng nhẹ, có thể bóc lấy vỏ từ củ khoai tây đã luộc, giã nát rồi đắp.
Củ khoai tây vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ khí, kiện tỳ, tiêu viêm. Củ khoai tây chữa khó tiêu, đau bụng, viêm loét dạ dày, viêm tuyến nước bọt, say nắng, sốt, bỏng nhẹ, eczema, vết thương. Liều dùng trong ngày 10-30 g hoặc hơn. Hoa khoai tây chữa bệnh tăng huyết áp và là nguyên liệu chiết rutin để chữa bệnh. Quả và mầm củ khoai tây ít được dùng làm thuốc vì dễ gây độc. Trong công nghiệp dược phẩm, chúng được chiết lấy solanin để làm thuốc giảm đau, chữa đau bụng, đau gan, đau nhức xương khớp, chữa dị ứng, chống hen, viêm phế quản, động kinh.
Một số bài thuốc có khoai tây
Chữa đau và viêm dạ dày: Củ khoai tây mới thu hoạch rửa sạch, gọt vỏ, lấy 100 g, ép kiệt lấy nước uống trước bữa ăn nửa giờ. Ngày 2-3 lần.
Thuốc nhuận tràng: Khoai tây luộc chín, ăn 100 g hoặc hơn. Có thể phối hợp với bài thuốc chữa đau viêm dạ dày ở trên.
Chữa đau bụng: Vỏ củ khoai tây sống rửa sạch (10-20 g) sắc nước uống.
Chữa say nắng, nhức đầu, sốt: Củ khoai tây gọt vỏ, giã nát hoặc thái lát mỏng, đặt lên trán hoặc thái dương.
Chữa bỏng nhẹ, vết thương, eczema: Củ khoai tây rửa sạch, để cả vỏ hoặc gọt vỏ, thái lát mỏng, dán lên vết thương hoặc giã nát đắp bỏng. Nếu bỏng nhẹ, có thể bóc lấy vỏ từ củ khoai tây đã luộc, giã nát rồi đắp.
Chữa viêm tuyến nước bọt: Củ khoai tây mài với giấm bôi vào chỗ sưng đau.
Chú ý: Không dùng loại khoai tây đã biến chất, ngoài vỏ xanh, trong ruột thâm, khoai đã mọc mầm dễ bị ngộ độc.
|