Mục Lục :
|
Các bài thuốc từ cây hướng dương
Khi bị táo bón, lấy rễ hoa hướng dương 15-20 g rửa sạch, ép lấy nước rồi pha thêm chút mật ong, chia uống vài lần trong ngày. Cũng có thể lấy lõi cành hoa hướng dương sấy khô, đốt thành than rồi tán bột, mỗi ngày uống chừng 6 g với nước ấm.
Hoa hướng dương có tên khoa học là Helianthus annuus L., dân gian còn gọi là hướng nhật quỳ hoa, văn cúc, tây phan liên, nghênh dương hoa, vọng nhật liên, thái dương hoa, triều dương hoa ...
Theo dược học cổ truyền, hoa hướng dương vị ngọt, tính ấm, không độc, có công dụng trừ phong, minh mục (làm sáng mắt). Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, phù mặt, nặng mặt, đau răng... Hạt hướng dương có tác dụng chữa chứng huyết lỵ, mụn nhọt, tẩy giun kim. Lá hướng dương thường dùng để trị cao huyết áp. Rễ hướng dương có công dụng chữa các chứng đau ngực sườn, đau do viêm loét dạ dày, tá tràng, đại tiểu tiện không thông thoáng, tổn thương do trật đả...
Đài hoa hướng dương chủ trị đau đầu hoa mắt, đau răng, đau dạ dày, thống kinh, vết thương viêm loét... Lõi cành cây hướng dương có tác dụng chữa chứng tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện không thông... Vỏ hạt hướng dương chữa chứng ù tai.
Các thí nghiệm trên tai thỏ cho thấy, dịch chiết hoa hướng dương có tác dụng làm giãn mạch. Nếu tiêm vào tĩnh mạch thì có thể gây hưng phấn hô hấp, hạ huyết áp và làm tăng co bóp tiểu tràng rõ rệt. Nếu tiêm dưới da mèo thì sẽ làm hạ huyết áp trong một thời gian ngắn. Ngoài ra, dịch chiết hoa hướng dương còn có tác dụng hạ sốt.
Một số cách dùng hoa hướng dương chữa bệnh
Chữa viêm phế quản mạn tính:
- Lõi cành hướng dương lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, cho thêm chút nước lọc rồi ép lấy nước uống (có thể pha thêm một ít đường) hoặc sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 1-2 cái, sắc uống với một chút đường phèn.
- Cành hoa hướng dương để lâu năm 90 g sắc uống.
Chữa hen:
- Đài hoa hướng dương tươi 30-60 g, sắc kỹ rồi bỏ bã, cho thêm chút đường phèn, chia uống 2 lần trong ngày.
- Cánh hoa hướng dương phơi khô trong bóng râm, thái nhỏ thành sợi rồi quấn thành điếu hút như hút thuốc lá.
Ho gà:
- Lõi cành hoa hướng dương 30-60 g, sắc kỹ bỏ bã, cho thêm chút đường phèn, chia uống 2 lần trong ngày.
- Cành hướng dương lượng vừa đủ, sắc uống khi đói.
- Cành hướng dương 15 g, cam thảo 6 g, sắc uống.
- Hoa hướng dương 12 g rửa sạch, giã nát, hòa thêm chút đường phèn rồi uống.
Đau đầu:
- Đài hoa hướng dương 30-60 g sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 1 cái, câu đằng 9 g, hương nhu 9 g, sắc uống.
Hoa mắt chóng mặt:
- Đài hoa hướng dương 30-60 g, sắc uống hoặc lấy dịch chiết luộc với 2 quả trứng gà ăn.
- Hoa hướng dương tươi 60 g hầm với thịt gà ăn.
- Hạt hướng dương bỏ vỏ lượng vừa đủ hầm với thịt gà mái ăn.
- Hạt hướng dương bỏ vỏ sao qua, tán bột, mỗi ngày uống 6 g trước khi đi ngủ.
- Rễ hướng dương 60 g, thái vụn, sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 1 cái, sắc uống với đường phèn.
- Lá hướng dương lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước, chế thêm chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.
Cao huyết áp:
- Lá hướng dương tươi 60 g, thổ ngưu tất (cỏ xước) tươi 60 g, sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 30 g, hạ khô thảo 15 g, sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 60 g, râu ngô 30 g, sắc uống, có thể cho thêm chút đường phèn.
- Hạt hướng dương sống 1 nắm, bỏ vỏ lấy nhân ăn, phối hợp với uống nước ép rau cần tây mỗi ngày 1 cốc.
- Đài hoa hướng dương 30-60 g, sắc kỹ, chia uống 2 lần trong ngày.
Tai ù do thận hư:
- Vỏ hạt hướng dương 9-15 g sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 15 g, hà thủ ô 6g, thục địa 9 g, sắc uống.
Viêm loét dạ dày tá tràng:
- Rễ hướng dương 15 g, tiểu hồi hương 9 g, sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 60 g, sắc uống hoặc đem hầm với dạ dày lợn 1 cái làm canh ăn.
- Rễ hướng dương sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6 g.
Xuất huyết dạ dày: Đài hoa hướng dương 1 cái, sắc uống.
Ung thư dạ dày: Lõi cành hoa hướng dương 4-6 g, sắc hoặc hãm uống thay trà hàng ngày.
Viêm đường tiết niệu và sỏi tiết niệu:
- Lõi cành hướng dương 15 g sắc uống.
- Đài hoa hướng dương 1 cái sắc uống.
- Rễ hướng dương tươi 30 g sắc uống.
Phù thũng, tiểu tiện không thông: Rễ hướng dương 15 g, vỏ bí đao 30 g sắc uống hằng ngày.
Lưu ý: Phụ nữ có thai không được dùng các vị thuốc lấy từ cây hoa hướng dương vì có thể gây sẩy thai.
Đạo dẫn - một phương pháp dưỡng sinh trường thọ
Một đạo sĩ đang luyện dưỡng sinh trường thọ.
Các đạo sĩ thời xưa thường dùng phép này để giúp cơ thể cường tráng, tinh thần minh mẫn, tránh được tật bệnh, kéo dài tuổi thọ. Đạo dẫn gồm 12 động tác kích thích lục phủ ngũ tạng, các huyệt, tuyến, cơ và khớp chủ yếu.
Phương pháp tập luyện khá đơn giản, ít động tác, có thể thực hiện trước khi đi ngủ và lúc ngủ dậy, thích hợp cả với người cao tuổi, người vướng bận nhiều công việc. Sau đây là hướng dẫn cụ thể:
1. Hai hàm răng đập vào nhau 36 lượt: Hai hàm răng cắn đập vào nhau theo một nhịp điệu nhất định sẽ giúp cân bằng âm dương, lưu thông khí huyết, thông thoáng kinh lạc, bảo vệ hàm răng vững chắc, củng cố các cơ hàm, hạn chế hiện tượng móm, kích thích bài tiết nước bọt, tăng cường khả năng tiêu hóa thức ăn và chống vi khuẩn làm hại răng.
2. Lấy đầu lưỡi liếm lên hàm ếch cho nước bọt tiết ra đầy miệng, rồi chia nuốt dần làm 36 lần. Khi làm phải mím miệng, mím môi lại.
Nước bọt từ miệng tiết ra, qua họng sẽ dẫn tới gan, thận, tập trung ở vùng rốn, chuyển hóa thành tinh khí, có tác dụng tốt cho dạ dày, lách, thận... (ngũ tạng). Nước bọt còn có tác dụng cầm máu, tiêu độc và phòng chống mụn nhọt.
Ngày nay, người ta đã phát hiện trong nước bọt có nhiều yếu tố hữu ích cho cơ thể như chất đạm, các enzym tiêu hóa, sinh tố, các yếu tố vi lượng, yếu tố diệt khuẩn và cả Lysozyme, Ribonuclease...
3. Lấy hai bàn tay xát vào nhau cho nóng rồi ấp lên mặt xát như rửa mặt. Khi làm phải nín thở, mím miệng và xát thật nhiều lần.
Khuôn mặt có thể xem như một cơ thể con người thu nhỏ (cũng như tai và chân), có liên quan mật thiết tới toàn bộ cơ thể. Việc kích thích các huyệt và kinh lạc ở mặt sẽ giúp khí huyết lưu thông, đầu óc minh mẫn, sáng tai, sáng mắt, da mặt hồng hào, hết mệt mỏi, buồn ngủ, rầu rĩ, điều hòa não bộ, an thần kinh, tăng cường trí nhớ, giảm quá trình lão hóa. Nó còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng.
4. Hai bàn tay che bịt tai, rồi dùng ngón trỏ đè lên ngón giữa, đập vào xương não hậu (xương chẩm), hai bên phải trái 24 lần.
Tai có 40 huyệt kinh lạc liên quan mật thiết tới lục phủ, ngũ tạng và 12 hệ thống kinh mạch trong cơ thể, nhất là thận. Gáy có huyệt phong trì, á môn, y minh. Hai bên thái dương có huyệt thái dương. Kích thích các huyệt này sẽ giúp khí huyết lưu thông, điều hòa thần kinh, điều hòa lục phủ ngũ tạng, cân bằng âm dương.
5. Vặn chuyển vai 14 lần: Giúp phát triển các cơ bắp ở lưng, thân, vai, ngực, tay, vận chuyển những đốt xương của cột sống và các khớp vai. Động tác này cũng giúp giãn nở lồng ngực, cải thiện hô hấp, điều hòa lưu thông khí huyết để nuôi dưỡng lục phủ ngũ tạng và não bộ; làm cho da dẻ hồng hào, tâm trí minh mẫn, cơ thể khang kiện.
6. Nín hơi, tay trái duỗi thẳng, tay phải làm như kéo dây cung ngang tầm vai. Hai mắt nhìn vào tay phải. Sau đó đổi bên. Cả hai tay trái phải đều làm 3 lượt. Trong quá trình tập phải nín thở, tập trung sức kéo từ từ, mắt tập trung nhìn vào tay. Động tác này giúp tập trung khí lực và tư tưởng, hợp nhất được sức mạnh vật chất và tinh thần để tạo thành một lực tổng hợp.
7. Nắm hai tay lại, mũi hít không khí, vận xuống đan điền (dưới rốn), rồi giơ tay lên trời, xong hạ tay xuống, để lên đầu gối. Động tác này sẽ làm nở lồng ngực, tăng lượng dưỡng khí hít vào, cải thiện hô hấp. Vùng bụng là vùng của lục phủ, ngũ tạng, nơi phát nguồn khí huyết, âm dương. Tập trung vận dưỡng khí xuống đan điền sẽ giúp củng cố lục phủ ngũ tạng, làm các cơ quan này hoạt động mạnh mẽ hơn.
8. Tay trái đỡ thận nang (vùng thận sau lưng), tay phải xát đan điền 16 lượt. Động tác này giúp tăng tuần hoàn máu, lưu thông khí huyết, dưỡng thần kinh, làm tăng nhu động ruột, dạ dày, chống táo bón, đầy hơi, béo phì. Thận có liên quan tới tinh tủy, não bộ, xương cốt. Người cao tuổi thận hư nhược nên hay đau lưng, mỏi gối, xương giòn. Việc nâng đỡ thận, xát đan điền sẽ làm tăng tinh tủy, mạnh xương cốt, điều hòa não bộ, an tâm thần.
9. Lấy hai tay vặn cho nóng, rồi đưa tay ra sau lưng xát mạnh môn (xương sống vùng thận) trái phải mỗi bên 16 lượt, chú ý nín thở khi thực hiện. Mạnh môn là bể của tinh và huyết, là gốc của các tạng phủ. Khí âm và dương của 5 tạng sẽ không phát sinh được khi mạnh môn suy yếu.
10. Ngồi xếp bằng, để chân trái lên đùi phải. Tay trái nắm chặt ống chân trái, tay phải xát gan bàn chân 36 lượt. Chuyển sang chân phải cũng xát 36 lượt.
Sáu mươi huyệt ở chân có liên quan mật thiết tới 12 kinh lạc của lục phủ ngũ tạng, trong đó có huyệt dũng tuyền ở chỗ lõm của gan bàn chân. Xoa chân có tác dụng cân bằng âm dương, bài tiết độc tố, tăng thân nhiệt, tăng tuần hoàn máu các chi dưới, lợi gan, tinh mắt, hạ huyết áp, nhuận tràng, thông tiểu, giúp ngủ say, giảm mệt mỏi, tăng khả năng sinh lý (nói chung là chữacác chứng suy nhược của tuổi già).
11. Xát huyệt giáp tích ở dưới đốt cuối xương sống, phía trên hậu môn, giúp tăng tuần hoàn máu vùng hậu môn, phòng được bệnh trĩ, viêm ruột mãn tính, táo bón, phục hồi nhanh chóng cơ năng của hậu môn sau khi đại tiện.
12. Chân trái đứng vững, rồi giơ chân phải 7 lần. Xong thay chân kia, cũng tiến hành như vậy. Động tác này làm bền chắc cơ bắp chi dưới cũng như các khớp vận động, có tác dụng tốt đến hệ thống thăng bằng của cơ thể.
Xoa bóp có khả năng chữa bệnh hay không?
* Phương pháp trị bệnh bằng tay đang tạo tin tưởng trong giới y khoa
Các bệnh viện và dưỡng đường trên khắp nước Mỹ đang khởi sự hòa nhập phương pháp xoa bóp vào việc săn sóc bệnh nhân. Trong số những phương pháp trị liệu không nằm trong truyền thống y khoa tân tiến, xoa bóp hiện là phương pháp thông dụng nhất được cung ứng tại các bệnh viện Hoa Kỳ, theo một cuộc khảo sát của Hiệp Hội Bệnh Viện Mỹ năm 2003. Các bệnh viện sử dụng xoa bóp để giúp bệnh nhân đương đầu với đau đớn và căng thẳng, và với tính cách một dịch vụ trị liệu dành cho các bệnh nhân ung thư và thai sản.
Tại Trung Tâm Y Học Ðông-Tây của Trường Ðại Học UCLA, một toán bốn trị liệu gia sử dụng xoa bóp để giúp giảm đau và các triệu chứng cho các bệnh nhân bị những bệnh như đau bắp thịt, nhức đầu và đau lưng. Những cuộc nghiên cứu trước đây do nhiều tổ chức khác nhau thực hiện đã thấy rằng xoa bóp có thể giúp giảm bớt đau nhức kinh niên, giảm lo âu và buồn chán, và cải thiện chức năng của hệ miễn nhiễm.
Một cuộc khảo sát mới của Hội Xoa Bóp Trị Liệu Mỹ, một tổ chức gồm các nhà xoa bóp chuyên nghiệp, cho thấy rằng gần nửa người Mỹ đã sử dụng liệu pháp xoa bóp như một cách để điều trị và giảm đau. Cuộc nghiên cứu cũng đã đi đến kết luận rằng giới cung cấp săn sóc y tế hiện giờ cởi mở hơn trước trong việc thảo luận những lợi ích mà phương pháp xoa bóp có thể mang lại và khuyến cáo phương pháp này cho các bệnh nhân của họ. Và vài hãng bảo hiểm sức khỏe đã khởi sự trả tiền cho phương cách điều trị này.
Tuy nhiên, nhiều bác sĩ vẫn ngờ vực về kết quả nghiên cứu cho rằng xoa bóp mang lại một lợi ích về y khoa. Họ cho rằng cần những cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Nhưng các bác sĩ, y tá và bệnh nhân, những người từng chứng kiến công việc xoa bóp, nói rằng cho dù những lợi ích không thể được chứng minh qua những cuộc nghiên cứu lâm sàng lớn, bằng chứng truyền miệng tỏ ra rất mạnh mẽ.
“Rõ ràng việc xoa bóp có những lợi ích về y khoa,” theo Bác Sĩ Gregory P. Fontana, một nhà giải phẫu tim và lồng ngực tại Trung Tâm Y Khoa Cedars-Sinai ở Los Angeles, người đã thực hiện một cuộc nghiên cứu thí điểm ở các bệnh nhân về tim để đo lường mức hiệu nghiệm của các phương pháp trị liệu ngoài truyền thống, chẳng hạn như xoa bóp, trong việc giúp gia tốc sự hồi phục sau khi giải phẫu.
Chín mươi lăm phần trăm trong số 50 bệnh nhân được xoa bóp đã nói rằng xoa bóp đóng một phần “rất quan trọng” trong việc hồi phục của họ, theo Bác Sĩ Fontana. Bác Sĩ Ka-Kit Hui, giám đốc Trung Tâm Y Khoa Ðông-Tây của UCLA ở Santa Monica, đi xa hơn: “Xoa bóp là một phương pháp trị liệu rất quan trọng nhưng ít được sử dụng và bị đánh giá thấp. Một số đông người nghĩ xoa bóp chữa đau nhức thì tốt. Nhưng những gì chúng tôi đã tìm thấy là xoa bóp khởi động chính hệ thống chữa bệnh của cơ thể.”
Việc trị liệu bằng xoa bóp đã có từ lâu
Việc sử dụng xoa bóp như một nghệ thuật chữa bệnh đã có từ khoảng năm 4000 trước Tây Lịch, khi việc trị liệu được sử dụng tại Trung Hoa và Ấn Ðộ. Tại nước Mỹ này, xoa bóp đã thường được các y tá sử dụng mãi cho tới các thập niên 1960 và 1970 để giúp giảm đau cho bệnh nhân và giúp họ dễ ngủ.
Nhưng việc ra đời của những loại thuốc giảm đau có hiệu lực mạnh trong những thập niên vừa qua đã khiến việc xoa bóp ít được sử dụng trong khung cảnh y khoa – tương đối mãi cho tới gần đây.
Tại Trung Tâm Ðông-Tây của trường UCLA, các bệnh nhân sẽ gặp một toán gồm một bác sĩ được huấn luyện theo Tây Phương, một nhà châm cứu và một trị liệu gia xoa bóp. Thường là được các y sĩ gia đình của họ giới thiệu tới, nhiều trong số các bệnh nhân tới trung tâm bởi vì các phương cách điều trị truyền thống của Tây Phương, như các dược phẩm cấp theo toa bác sĩ, đã tỏ ra không hiệu nghiệm đối với những chứng bệnh của họ.
Khoảng một nửa số bệnh nhân của trung tâm nhận được cách trị liệu bằng xoa bóp như một phần trong chương trình điều trị của họ, có thể cũng gồm cả y học truyền thống.
Bác Sĩ Hui, giám đốc trung tâm, cũng là một nhân vật có thẩm quyền về y học Trung Hoa và Ðông Tây phối hợp. Ông tin rằng những thay đổi trong cơ thể xảy ra bởi vì có những thay đổi về hóa chất của dây thần kinh kết hợp với những điểm kích thích trong cơ thể. “Chúng tôi đã thực hiện chuyện đó bằng những cây kim, nhưng chúng tôi cũng có thể thực hiện chuyện đó bằng các ngón tay,” ông Hui nói. “Chúng ta hãy tưởng tượng những điểm châm cứu đang được kích thích như dụng cụ điều khiển từ xa của chiếc máy truyền hình. Nhấn vào và cơ thể sẽ phản ứng. Một cái gì đó phát sinh.”
Chìa khóa đưa tới cải thiện
Bác Sĩ Hui không tin rằng xoa bóp là một phương pháp trị bách bệnh. Ông cũng không tin nó có thể thay thế phẫu thuật hoặc thuốc men. Nhưng ông thật sự tin rằng nó là một phương cách quan trọng hàng đầu cho một số lớn các bệnh kinh niên, hoặc để ngăn ngừa những bệnh kinh niên.
Simone Zappa, một y tá hiện là giám đốc của Dịch Vụ Y Học Phối Hợp tại Trung Tâm Ung Thư Memorial Sloan-Kettering ở New York, tin rằng những trị liệu gia xoa bóp sẽ chỉ được ban nhân viên bệnh viện coi trọng nếu họ có thể đọc một đồ thị y khoa, đánh giá một bệnh nhân và ghi chép sự can thiệp của họ. Do đó chương trình của bệnh viện huấn luyện các nhà điều trị bằng xoa bóp về từ ngữ y khoa và cách sử dụng các đồ thị y khoa.
“Nếu bạn nói chuyện với các trị liệu gia xoa bóp hoặc các nhà châm cứu, họ sẽ nói về sinh lực,” theo Zappa.
“Các bác sĩ Tây Phương không tin vào sinh lực. Tôi đã nói với các trị liệu gia xoa bóp là đừng nói tới sinh lực. Chúng ta đang làm việc trong một cơ sở của người Tây Phương và chúng ta cần tuân theo những tiêu chuẩn của họ.”
Trong khi Zappa, Hui và những người cổ võ xoa bóp về giá trị trị liệu của nó, họ đã gặp khó khăn trong việc thuyết phục các nhà bảo hiểm rằng đó không phải chỉ là một cách điều trị để làm vui lòng các bệnh nhân. Liệu pháp xoa bóp không được hầu hết các chương trình bảo hiểm sức khỏe trả tiền, do đó các bệnh nhân thường phải trả bằng tiền túi của mình.
Tại Trung Tâm Ðông-Tây, khoảng 80% các bệnh nhân được bảo hiểm sức khỏe trả tiền, và việc điều trị bằng xoa bóp nằm trong một chương trình điều trị tổng quát dành cho những yêu cầu được coi như cần thiết về phương diện y khoa.
Khi các nhà bảo hiểm thắc mắc về tính cách cần thiết của một lời yêu cầu, các bác sĩ có thể viết một giấy giải thích lý do của việc điều trị.
Trung Tâm Ung Thư Memorial Sloan-Kettering đòi hỏi các bệnh nhân tại khu dưỡng đường bệnh nhân ngoại trú của họ phải trả tiền cho dịch vụ xoa bóp, và sử dụng thu nhập để bù vào phí tổn xoa bóp cho các bệnh nhân được nhập viện.
Ðối phó với những ngờ vực
Tifany Field, giám đốc Viện Nghiên Cứu Xúc Giác tại Trường Y Khoa Ðại Học Miami, đã thực hiện hơn 100 cuộc nghiên cứu về những lợi ích của xoa bóp trên phương diện y khoa trong suốt 30 năm qua. Bà đã cộng tác với các y sĩ và xuất bản một số những cuộc nghiên cứu trong các tạp chí y khoa.
“Tôi nghĩ các bác sĩ cho rằng, một điều có vẻ như thích thú như vậy, làm sao nó có thể chữa trị được,” bà nói. “Nhưng mọi hiệu quả về mặt thống kê rất đáng kể và đó là những gì mà khoa học chấp nhận như kết quả nghiên cứu.”
Những cuộc nghiên cứu mới, được tài trợ bởi Trung Tâm Y Học Bổ Túc và Thay Thế của Viện Y Tế Quốc Gia (NIH), có thể giúp đối phó với vài trong số những ngờ vực về những lợi ích của xoa bóp về mặt y khoa. Hiện có hai cuộc nghiên cứu được NIH tài trợ: Một xét tới những cơ chế hoạt động đằng sau hiệu quả của việc xoa bóp ở các trẻ sinh thiếu tháng; cuộc nghiên cứu kia xét tới hiệu quả của xoa bóp trong việc điều trị buồn chán ở những bà mẹ đang mang thai.
Tại Memorial Sloan-Kettering, các nhà khoa học đang thực hiện một cuộc nghiên cứu, cũng được NIH tài trợ, để do lường hiệu quả của việc sử dụng xoa bóp trong việc điều trị đau đớn ở các bệnh nhân ung thư.
Và các nhà nghiên cứu tại Cedars-Sinai vừa hoàn tất một cuộc nghiên cứu kéo dài tám tuần liên quan đến 70 bệnh nhân HIV để xem phương pháp điều trị có hiệu nghiệm để chữa buồn chán, đau và giúp yêu đời hơn hay không. Trong suốt tám tuần, một nhóm bệnh nhân không được xoa bóp, một nhóm được xoa bóp giả bộ và một nhóm được xoa bóp hai lần một tuần.
Các kết qua chưa được công bố, nhưng có vẻ như nhóm có xoa bóp tốt hơn so với bất cứ nhóm nào trong hai nhóm kia.
Theo vài chuyên gia y tế, với sự kiện nhiều bệnh viện trên toàn quốc đang vật lộn với các phí tổn y khoa gia tăng và một tương lai tài chánh bất trắc, ý tưởng thuê mướn các trị liệu gia xoa bóp sẽ vẫn là một điều khó thuyết phục đối với các nhà quản trị.
Tuy nhiên, về lâu về dài, những người cổ võ cho phương pháp xoa bóp hy vọng rằng cuộc nghiên cứu chứng tỏ sự an toàn, ích lợi, và, có thể, ngay cả hiệu quả tiết kiệm của việc xoa bóp y khoa sẽ giúp thuyết phục có thêm các bệnh viện bằng lòng thử nghiệm.
Theo Bác Sĩ Joya Favreau, một chuyên viên nội trú về y học phối hợp tại Cedars-Sinai, người đã tham gia vào cuộc nghiên cứu xoa bóp trị HIV, nếu người ta có thể chứng tỏ cho các bác sĩ thấy là xoa bóp hiệu nghiệm cũng như các dược phẩm và không có những phản ứng phụ, họ sẽ sử dụng nó. (n.n.)
3 bí quyết trường thọ
Một danh nhân thế kỷ 18 đã nói: “Không kẻ lười biếng nào có thể sống lâu. Những người trường thọ đều có lối sống cần cù, chăm chỉ và hăng hái”. Quả vậy, thống kê cho thấy 95% các cụ sống trên 100 tuổi là những nông dân lao động từ bé và đến già vẫn làm việc.
Sức khỏe tốt và tuổi thọ cao luôn là mục đích mà con người vươn tới và cũng là thước đo mức văn minh của một xã hội. Mục tiêu này không chỉ phụ thuộc vào vấn đề ăn uống, thuốc men mà còn đòi hỏi chúng ta tâm đến nhiều yếu tố khác trong cuộc sống.
Khoa học càng phát triển thì tuổi thọ con người càng cao. Vào thời kỳ đồ sắt, tuổi thọ trung bình của con người là 18. Đến thời kỳ đồ đồng, chỉ số này đã tăng lên 20. Khoảng 200 năm trước công nguyên, tuổi thọ trung bình là 22, đến thế kỷ 18 là 35,5, thế kỷ 19 là 40-49. Từ thế kỷ 20, con người có bước nhảy vọt về tuổi thọ. Nhìn chung ở các nước phát triển, tuổi thọ trung bình của con người cao hơn so với các nước chậm phát triển.
Lao động bền bỉ giúp con người trẻ lâu và sống hữu ích.
Theo các thống kê, những cụ già sống lâu đều là người chăm chỉ lao động. Tóc nhiều cụ chưa bạc hết, răng còn chắc, mắt tinh, tai thính và trí nhớ còn tốt. Trong lao động sáng tạo, nhiều cụ trên 80 vẫn còn sáng tác. Đại văn hào Pháp Victor Hugo viết xong tác phẩm “Truyền thuyết của các thế kỷ” ở tuổi 84. Nhà doanh nghiệp Nhật Bản Hitachi ở tuổi 80 vẫn kinh doanh giỏi và được mệnh danh là “Chàng thanh niên 80”. Nữ văn sĩ Australia Min Hum-phơ-rây viết xong quyển tiểu thuyết nổi tiếng cho thiếu nhi ở tuổi 80 và khi đã 86 tuổi, cụ vẫn tiếp tục sáng tác.
Chọn môi trường trong sạch và ăn uống hợp lý
Môi trường trong sạch làm giảm các nguyên nhân gây bệnh, hạn chế những bệnh nhiễm khuẩn, giúp con người có thể kéo dài tuổi thọ.
Ăn uống thanh đạm, không thừa không thiếu, giàu sinh tố... là những vấn đề rất quan trọng. Một chế độ ăn nhiều rau quả, mật ong, sữa tươi có tác dụng giảm độc và lợi tiểu.
Giáo sư Ohsawa, Giám đốc Viện Khoa học Viễn đông ở Paris đã đề xuất một chế độ dinh dưỡng “tăng ngũ cốc, giảm thịt cá; ít thức ăn động vật, không ăn các đồ hộp và thức ăn chế biến; nên ăn gạo lứt, muối vừng, đậu phụ”. Đó là Chế độ ăn Ohsawa đã được nhiều người áp dụng rất hiệu quả.
Vấn đề uống cũng rất quan trọng, phải uống đúng và uống đủ. Ở môi trường có nhiệt độ 25-30 độ C, trung bình mỗi người phải uống 1-1,5 lít nước/ngày (không kể nước trong canh và rau quả). Khi làm việc ra mồ hôi nhiều hoặc trời nóng nực, chúng ta phải uống nước nhiều hơn (thêm khoảng 600 ml). Khi bị nhiễm khuẩn, sốt, tiêu chảy, phải bù đủ nước bằng nhiều cách (uống, truyền...). Không nên uống quá nhiều nước một lúc mà nên uống từ từ, chia làm nhiều lần trong ngày.
Cần bổ sung nhiều vitamin. Vitamin A hạn chế suy giảm thị lực, giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống bệnh tật, chống xơ viêm, chống đóng sỏi trong thận. Vitamin B tăng cường hoạt động cơ bắp; đặc biệt nhóm B1, B6, B12 ngăn cản được xơ vữa động mạch và viêm thần kinh. B6 và B12 thường bị thiếu hụt trong khẩu phần ăn và hấp thu qua ruột người cao tuổi rất kém. Vitamin C tăng cường hoạt động của tế bào, giảm mệt mỏi, làm bền vững thành mạch, chống chảy máu ở người cao tuổi. Vitamin D chống lại hiện tượng mất canxi gây loãng xương ở người cao tuổi. Nếu bổ sung canxi mà không có vitamin D thì canxi sẽ bị đào thải qua thận và dễ tạo sỏi. Vitamin E có vai trò rất quan trọng cho người cao tuổi vì đề phòng được xơ vữa động mạch, chống oxy hóa, tăng khả năng tình dục và phòng chống được ung thư tuyến tiền liệt. Vitamin F (nhóm acid béo chưa no) giúp phòng chống xơ vữa động mạch và ung thư ở người cao tuổi. Vitamin P và PP làm vững thành mạch, chống lại tác động phóng xạ của các tia tử ngoại cũng như các bức xạ khác, đồng thời hạn chế được sự thoái hóa tế bào.
Giữ cuộc sống tinh thần luôn thoải mái
Trước hết cần chăm sóc, tạo cho người cao tuổi một cuộc sống thật ổn định, không căng thẳng về tinh thần.
Khi nghiên cứu và phân tích về mặt tâm thần kinh những cụ trường thọ, các nhà khoa học nhận thấy họ sống hiền hậu, bao dung, điềm đạm, không xích mích với mọi người. Các cụ rất yêu đời và ít giận dữ. 98% các cụ trường thọ là những người thủy chung, thương yêu con cháu, không gặp biến cố lớn về tình cảm cũng như nghề nghiệp.
Họ cũng có cuộc sống tình dục tốt đẹp cho đến khi tuổi rất cao. Trước nay, các nhà khoa học đều thống nhất rằng sinh hoạt tình dục hoàn toàn không có hại mà còn có tính chất trị liệu đối với người cao tuổi.
Chữa huyết áp thấp bằng Đông y
Cà phê là đồ uống tốt cho người huyết áp thấp.
Người bị huyết áp thấp không nên dùng những thức ăn có tính lợi tiểu như rau cải, râu ngô, dưa hấu, bí ngô... Nên tắm nước nóng để tăng cường lưu thông máu nhưng đừng tắm quá lâu.
Huyết áp được coi là thấp khi chỉ số tâm thu (tối đa) dưới 90 mmHg, tâm trương dưới 60 mmHg. Áp lực máu chậm và yếu, lưu lượng máu đưa đến các tổ chức thiếu nên bệnh nhân bị hoa mắt, chóng mặt, choáng váng, đau đầu, tức ngực, tinh thần mệt mỏi, ngủ không sâu, có lúc thoáng ngất.
Bệnh huyết áp thấp có 3 loại. Loại nguyên phát liên quan đến thể chất gầy còm, gặp nhiều ở nữ tuổi từ 20 đến 40 và có xu hướng di truyền. Huyết áp thấp thứ phát xuất hiện do một số bệnh mạn tính gây thiếu máu hoặc kém dinh dưỡng kéo dài như bệnh huyết học, viêm loét dạ dày - tá tràng, viêm đại tràng mạn, suy giáp, lao...
Loại thứ ba là tụt huyết áp tư thế: Khi ngồi dậy hoặc đứng dậy đột ngột, bệnh nhân thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày, nhức đầu, mất thăng bằng, có khi ngã.
Theo khuyến cáo của các bác sĩ, người huyết áp thấp hay bị hoa mắt, chóng mặt khi thay đổi tư thế, nên khi ngồi dậy phải từ từ. Nằm ngủ nên để đầu thấp, chân cao. Nên sinh hoạt điều độ, ăn uống có nhiều chất dinh dưỡng, nên ăn mặn hơn người bình thường; uống các loại nước có tác dụng nâng huyết áp như trà sâm, trà gừng, trà đặc, cà phê. Bệnh nhân cũng phải rèn luyện thân thể đều đặn, tốt nhất nên tập bơi, đi bộ, tập dưỡng sinh, thái cực quyền.
Một số bài thuốc:
- Thịt chó 1 kg, phụ tử chế, nhục quế, gừng khô mỗi thứ 10 g, cho ít rượu, hạt tiêu, gia vị khác, đun nhỏ lửa, hầm nhừ, ăn trong 3 đến 5 ngày, nghỉ một tuần rồi ăn tiếp. Điều trị từ 3 đến 4 liệu trình.
- Thịt chó đen 250 g, hồng sâm 25 g, chích hoàng kỳ 25 g, liên nhục 70 hạt, phụ tử chế 6 g, nhục quế 3 g, thục địa 20 g, nước củ sả 2 thìa canh. Gia vị vừa đủ. Thịt chó rửa sạch bằng nước chanh hòa với ít nước sôi để nguội; ướp gia vị và nước củ sả, bỏ liên nhục lên trên. Tất cả các vị thuốc khác cho vào ấm sắc, lọc kỹ, đổ vào thịt đã ướp. Cho các thứ đã tẩm ướp vào nồi, đun cách thủy sôi độ 4 giờ là vừa.
Tuần ăn 1 lần, ăn liên tục trong 6 tuần.
- Sâm triều tiên 50 g, lộc nhung 50 g, ngâm với nửa lít rượu trắng. Mỗi ngày uống một chén con vào bữa ăn.
- Chè lâu năm (lá chè già trên 3 năm) rang lên, cho cùng 10 g nhân sâm và ít gừng vào nước, đun sôi 10-15 phút (nên dùng ấm đất). Uống ngày 2 lần, chỉ dùng từng đợt từ 5 đến 7 ngày.
- Nhân sâm tán bột 25 g, tử hà sa (tán bột) 50 g. Trộn với mật ong, mỗi lần uống từ 3 đến 5 g, ngày uống 2 lần vào buổi sáng và trưa.
- Hoàng kỳ, kỷ tử, mạch môn, đương quy, sinh địa mỗi thứ 12 g, dâm dương hoắc 8 g, ngũ vị tử 6 g, đẳng sâm 16 g. Sắc uống mỗi ngày một thang.
Chữa bệnh lý xương khớp bằng Đông y
Theo Đông y, tất cả các bệnh đau nhức khớp xương, dù có sưng, nóng, đỏ hay chỉ tê, mỏi, nặng ở khớp đều thuộc chứng Tý, nghĩa là tắc nghẽn, không thông. Nhiều bài thuốc y học cổ truyền có tác dụng rất tốt với bệnh này.
Đông y cho rằng, so sức đề kháng của cơ thể không đầy đủ nên các yếu tố gây bệnh cùng phối hợp xâm phạm đến kinh lạc ở cơ, khớp. Hậu quả là sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn, gây ra sưng đau, hoặc tê, mỏi, nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Một số người chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày hoặc do cao tuổi, các chức năng hoạt động cơ thể suy yếu nên khí huyết giảm sút, không nuôi dưỡng được cân mạch, gây thoái hóa khớp xương và đau. Vì vậy, khi chữa các bệnh về khớp, y học cổ truyền đều hướng tới lưu thông khí huyết ở gân, xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và phòng chống tái phát.
Các phương pháp điều trị bao gồm: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu; dùng thuốc bên ngoài (như đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau) hoặc uống trong.
Trong điều trị, các thầy thuốc còn chú ý đến bệnh mới mắc hay đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần. Nếu mới mắc thì dùng các phương pháp loại bỏ yếu tố gây bệnh là chính. Nếu bệnh lâu ngày hoặc tái phát nhiều lần thì phải vừa nâng đỡ tổng trạng, bổ khí huyết, vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh.
Bệnh khớp không có biểu hiện sưng, nóng, đỏ
Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp. Đau tăng khi mưa lạnh, ẩm thấp, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém...
Nếu bệnh thiên về Phong chứng, sẽ có thêm các biểu hiện như đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp, thường là các khớp phần trên cơ thể như cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn ngón tay, đau đầu, sợ gió, rêu lưỡi trắng. Nếu bệnh thiên về Tháp chứng, sẽ có thêm các biểu hiện đau cố định tại các khớp bệnh, không di chuyển, kèm theo tê nặng mỏi là chủ yếu. Nếu thiên về Hàn chứng thì đau nhiều về đêm, trời lạnh đau tăng, chườm nóng giảm đau, đau kiểu co thắt và buốt.
Bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng chất và vitamin, uống nước đầy đủ (mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở lên), không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu. Nên tập luyện nhẹ như đi bộ, tập thái cực quyền, dưỡng sinh. Dùng gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng.
Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau. Chú ý liều lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng bỏng da cho bệnh nhân. Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí huyết; châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ dưỡng.
Bài thuốc chung: Lá lốt, xấu hổ, quế chi, thiên niên kiện, thổ phục linh, hà thủ ô mỗi thứ 12 g, cỏ xước 16 g, sinh địa 20 g. Nếu Phong chứng trội, thêm phòng phong, khương hoạt mỗi vị 12 g. Nếu Thấp chứng trội, thêm ý dĩ 16 g, ngũ gia bì 12 g, tỳ giải 16 g. Nếu Hàn chứng trội, thêm can khương 4 g, phụ tử 8 g, xuyên khung 12 g.
Nếu mắc bệnh đã lâu và tái phát nhiều lần, có thể dùng bài thuốc:
Khương hoạt, phòng phong, đương quy mỗi thứ 8 g, xích thược, khương hoàng, hoàng kỳ mỗi thứ 12 g, cam thảo 6 g, gừng 4 g, đại táo 12 g.
Để phòng tái phát, dùng bài: Độc hoạt, phòng phong, tang ký sinh, ngưu tất, đỗ trọng, tần giao, xuyên khung mỗi thứ 8 g; đương quy, bạch thược, sinh địa, đảng sâm mỗi thứ 12 g, phục linh 9 g, cam thảo 6 g, quế tâm và tế tân mỗi thứ 4 g.
Bệnh khớp có sưng, nóng, đỏ
Ở giai đoạn cấp tính, các khớp sưng, nóng, đỏ, đau (hay xuất hiện đối xứng) ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, sợ gió, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng. Dùng các bài thuốc:
- Thạch cao, kim ngân mỗi thứ 20 g, tri mẫu, hoàng bá, tang chỉ, phòng kỷ, ngạnh mễ mỗi thứ 12 g, thương truật 8 g, quế chi 6 g, sắc uống ngày 1 thang. Nếu có hồng ban hoặc khớp sưng đỏ nhiều, thêm đan bì 12 g, xích thược 8 g, sinh địa 20 g.
- Quế chi 8 g, tri mẫu, bạch thược, bạch truật, phòng phong, kim ngân hoa, liên kiều mỗi thứ 12 g, cam thảo 6 g, ma hoàng 8 g, sắc uống ngày 1 thang.
Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, ra nhiều mồ hôi, miệng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác thì vẫn dùng được các bài thuốc trên, bỏ quế chi, thêm các thuốc bổ âm như sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì, sa sâm, miết giáp, thạch bộc...
Ở giai đoạn mạn tính, bệnh nhân có thêm các biến chứng như biến dạng khớp, teo cơ, dính cứng khớp. Dùng các bài thuốc ở phần trên, thêm nam tinh chế, xuyên sơn giáp, bạch giới tử sao, đào nhân, hồng hoa mỗi thứ 8 g; bạch cương tàm 12 g.
Ngoài ra, nên xoa bóp tại các khớp bằng những thủ thuật ấn, day, lần, véo các khớp và các cơ quanh khớp. Vừa xoa bóp vừa vận động các khớp là phương pháp chủ yếu và quyết định kết quả chữa bệnh trong giai đoạn này.
Hiểm họa tiềm ẩn từ... muối ăn
Nên hạn chế muối khi nấu ăn.
Việc sử dụng quá nhiều muối hằng ngày có thể gây nhiều mối hại to lớn như yếu xương, sỏi thận, cao huyết áp, thậm chí dẫn đến ung thư và làm rối loạn ADN.
Ngoài vai trò quan trọng trong việc bảo quản và chế biến thức ăn, muối còn là một trong những thành phần dưỡng chất thiết yếu nhất mà cơ thể cần được cung cấp để phục hồi sinh lực cũng như bổ sung nhiều khoáng chất bị tiêu hao trong quá trình lao động, tập luyện hay vui chơi, giải trí. Tuy nhiên, do có chứa nhiều natri nên việc sử dụng muối không hợp lý có thể dẫn đến nhiều hiểm họa khôn lường... Hiểm họa tiềm ẩn chỉ đến từ thói quen ăn mặn; vì muối cũng “nhập cảnh” vào cơ thể từ nhiều loại thực phẩm chế biến sẵn.
Một số tác hại chính của việc hấp thu quá nhiều muối hằng ngày:
Gây yếu xương:
Nữ tiến sĩ Pao-Hwa Lin tại Trung tâm Y khoa Đại học Tổng hợp Duke (Mỹ), chỉ rõ, việc hấp thu quá nhiều natri mỗi ngày khiến cơ thể bài tiết một lượng lớn canxi, đe dọa đến tỷ trọng và sức khỏe của xương cũng như nhiều bộ phận khác trong cơ thể. Vì thế, nguy cơ mắc bệnh loãng xương sau đó là một tất yếu rất khó tránh khỏi, nhất là đối với phụ nữ. Vì vậy, càng hạn chế hấp thu natri bao nhiêu thì lượng canxi bị bài tiết ra ngoài cơ thể càng ít bấy nhiêu.
Làm tăng nguy cơ bị ung thư dạ dày:
Theo một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Nhật Bản, những người có thói quen ăn quá mặn có nguy cơ bị ung thư dạ dày cao gần gấp đôi so với những người bình thường khác. Nguy cơ này càng cao ở những người thường xuyên kết hợp ăn mặn với ăn chua, cay và uống nhiều bia, rượu.
Làm rối loạn cấu trúc ADN:
Sau khi tiến hành một cuộc thí nghiệm khá dài về tác hại của natri đối với sức khỏe, Viện Tim phổi và huyết mạch Mỹ đã kết luận, một trong những tác hại nguy hiểm nhất của muối ăn là phá vỡ cấu trúc chuỗi ADN nếu được cơ thể tích trữ quá nhiều; khiến các cơ chế phục hồi tế bào trong cơ thể ngừng hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả.
Gây sỏi thận:
Theo thống kê trong vòng 5 năm của các nhà khoa học Ý, hơn 70% số bệnh nhân sỏi thận có thói quen ăn mặn hơn nhiều lần so với những thành viên khác trong gia đình. Các nhà khoa học Ý còn cho rằng việc hạn chế hấp thu protein và muối trong nhiều trường hợp có thể giúp phòng tránh bệnh sỏi thận hoặc tránh hình trạng tái phát bệnh này.
Tăng nguy cơ bị cao huyết áp:
Theo các bác sĩ chuyên khoa tim mạch Mỹ, phần lớn bệnh nhân cao huyết áp có lượng natri trong máu rất cao. Nếu không được ngăn ngừa và điều trị kịp thời, bệnh cao huyết áp thường kéo theo nhiều bệnh khác nguy hiểm hơn như đột quỵ, đau tim...
Vì thế, ngoài việc cố gắng điều chỉnh lại khẩu vị hợp lý bằng cách tránh lạm dụng muối trong bảo quản và chế biến các món ăn, chúng ta còn phải hạn chế sử dụng thực phẩm chế biến sẵn có nhiều natri như mì sợi, thức ăn chế biến và đóng gói sẵn, đông lạnh, thịt gia cầm làm sẵn, các món dưa chua làm từ rau củ tươi, các loại ruốc hay mắm nêm có hàm lượng muối cao, các loại thức ăn nhanh như khoai tây chiên, phồng tôm... Nên cẩn thận xem tỷ lệ các thành phần có trên bao bì để cố gắng hạn chế muối.
Mỗi ngày, một người chỉ nên tiêu thụ khoảng từ 3 đến 6 g muối, tương đương với khoảng 1.200 đến 2.000 microgram natri. Những người bị cao huyết áp chỉ nên dùng tối đa 5 g muối/ngày. Trong trường hợp dùng muối i-ốt thì liều lượng còn phải thấp hơn nữa vì nó có độ mặn cao hơn muối biển, vốn được chế biến bằng phương pháp thủ công.
Chuối tiêu chữa nhiều bệnh
Nếu như quả chuối tiêu xanh được dùng chữa bệnh tiêu chảy và kiết lỵ thì chuối tiêu chín lại có tác dụng nhuận tràng, chữa táo bón. Chuối chín còn giúp làm dịu các thương tổn ở ruột, thúc đẩy chúng lên da non.
Quả chuối tiêu chín rất tốt cho trẻ nhỏ, trẻ đang độ lớn, người dưỡng sức, người già, người lao động trí óc và tay chân. Chuối tốt cho hệ xương, sự sinh trưởng và cân bằng thần kinh. Người suy nhược nên ăn chuối hằng ngày.
Vỏ quả chuối tiêu chữa lỵ, đau bụng, thổ tả, ngày dùng 15-30 g sắc uống; hoặc sắc lấy nước rửa những chỗ mẩn ngứa, lở loét. Bột quả chuối tiêu xanh để phòng và chữa loét dạ dày. Vỏ quả chuối xanh có tác dụng làm se, diệt nấm, nhựa của quả chuối xanh chữa hắc lào.
Lá chuối tiêu non còn ở trong thân đem giã nát, đắp làm thuốc cầm máu vết thương, làm dịu vết bỏng. Củ và rễ chuối tiêu giã lấy nước cốt hoặc dịch thân cây uống chữa sưng tấy, nhọt sưng đau, nóng quá phát cuồng, mê sảng, co giật, kiết lỵ tiêu chảy.
Các bài thuốc có chuối tiêu:
Chữa trúng độc do ăn uống: Củ chuối tiêu thái miếng, cho đầy nồi, đổ ngập nước, lấy một bát cho uống để làm nôn mửa.
Chữa nhọt, sưng tấy, mụn nhọt: Củ hoặc rễ chuối tiêu giã nát đắp.
Chữa phế nhiệt, đàm suyễn: Rễ chuối tiêu 60 g, rau sam 30 g, giã nát, ép lấy nước, đun ấm, bỏ bã uống nước.
Chữa đái ra máu: Rễ chuối tiêu tươi 120 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc nước uống.
Chữa sốt cao phát cuồng, mê sảng, co giật: Dùng một lóng trúc hoặc nứa vót nhọn đầu, chọc vào giữa thân cây chuối tiêu cho nước chảy ra. Hứng lấy một bát uống. Có thể dùng củ và rễ, giã nát vắt lấy nước cốt uống.
Chữa hắc lào: Rửa sạch chỗ hắc lào bằng nước nóng, gãi cho sượt da ra, lau khô. Lấy một quả chuối xanh còn non trên cây, bẻ hoặc cắt cho nhựa chảy ra, chấm bôi vào chỗ có nấm, làm 4-5 lần.
Phòng và chữa viêm loét dạ dày: Thịt quả chuối tiêu xanh, phơi sấy khô ở nhiệt độ dưới 50 độ C, tán bột, ăn hằng ngày với liều 20-30 g.
Chữa phụ nữ ít sữa và người già táo bón: Hoa chuối tiêu thái nhỏ, luộc chín, trộn với muối vừng hoặc muối lạc rang, ăn 2-3 bữa liền.
Chữa táo bón: Chuối 2 quả, để cả vỏ, nấu chín ăn, dùng nhiều lần.
Chữa tăng huyết áp: Vỏ và cuống quả chuối tiêu 30-60 g, sắc uống, dùng nhiều lần
.
|