( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Bài thuốc từ củ cải

Để chữa lở loét trong miệng, lấy 3-5 củ cải rửa sạch, giã lấy nước để ngậm. Mỗi lần ngậm 5-10 phút, ngậm 5-7 lần trong ngày, làm trong 2-3 ngày thì chứng loét miệng sẽ khỏi.
Cây củ cải còn được dùng chữa các bệnh sau:
- Ho ra máu: Nếu ho nhiều ngày, rát cổ, đờm có lẫn máu, lấy củ cải nấu canh với cá diếc, ăn nhiều ngày bệnh sẽ đỡ.
- Hen suyễn, nhiều đờm: Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40-50 ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15-20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.
- Khản tiếng: Lấy 2-3 củ cải và 1 nhánh gừng tươi, rửa sạch, giã nhỏ gạn lấy nước để uống, uống từ 1-2 ngày bệnh sẽ đỡ.

Dược thiện dưỡng thai

Việc bồi bổ cho bà mẹ mang thai phải đáp ứng cả 2 điều kiện: thực dưỡng và dược dưỡng. Đây là một vấn đề không đơn giản vì phải đạt hiệu quả cao nhất về dược lý vừa tránh được những tác dụng không mong muốn.
Trong y học cổ truyền, lý luận và kinh nghiệm về dưỡng thai, an thai rất phong phú và độc đáo. Người xưa đã khéo lựa chọn và phối hợp một số thực phẩm, dược phẩm để chế biến thành những món ăn - bài thuốc (dược thiện) vừa thúc đẩy quá trình sinh trưởng của thai, lại nâng cao được sức đề kháng, phòng chống bệnh tật của người mẹ. Những món dược thiện “dục thai bảo sản” này mang đậm tính tự nhiên, dễ dùng, an toàn và được thai phụ rất dễ chấp nhận.
Bài 1: Thịt gà 250 g, cao gạc hươu 15 g, sâm Cao Ly 8 g. Chọn thịt gà mái tơ (nếu có thịt gà ác thì tốt nhất) rửa sạch, lọc bỏ da và mỡ rồi chặt miếng; sâm Cao Ly thái phiến; cao gạc hươu cắt vụn. Tất cả đem hầm cách thủy chừng 3-4 giờ là được, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần.
Dùng thích hợp cho thai phụ hình thể gầy yếu, tinh thần mệt mỏi, lưng đau gối mỏi, động thai ra huyết ít và loãng, thiếu máu, thai nhi chậm phát triển... Không dùng cho những trường hợp động thai thể Huyết nhiệt, biểu hiện bằng các triệu chứng: tâm phiền bất an, lòng bàn tay và bàn chân nóng, miệng khô họng khát, mặt đỏ môi hồng, âm đạo ra huyết màu đỏ tươi hoặc đỏ tía, có thể có máu cục, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, ít rêu...
Bài 2: Trứng gà 2 quả, ngải cứu 20 g. Lá ngải cứu rửa sạch, trứng gà luộc chín bóc bỏ vỏ, hai thứ cho vào nồi, chế đủ nước, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ đun tiếp chừng 1-2 giờ là được, cho thêm gia vị, ăn trong ngày, dùng liên tục 7-8 ngày.
Dùng thích hợp cho những thai phụ có các biểu hiện của chứng Hư hàn như sắc mặt nhợt nhạt, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng đau gối mỏi, hay có cảm giác khó thở và hồi hộp trống ngực, miệng nhạt, chán ăn, đại tiện lỏng loãng, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, dễ sẩy thai, âm đạo ra huyết lượng ít sắc nhợt... Những trường hợp động thai thể Huyết nhiệt thì không nên dùng bài này.
Bài 3: Thịt dê 250 g, ba kích thiên 15 g, đỗ trọng 12 g, gừng tươi 5 lát. Thịt dê rửa sạch thái miếng, các vị thuốc rửa sạch, tất cả cho vào nồi hầm nhừ trong 2-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Dùng thích hợp cho người tỳ và thận hư yếu, tinh huyết không đủ dẫn đến tình trạng thai nhi chậm phát triển, thai phụ hình thể gầy yếu, ăn kém, mệt như mất sức, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh, đại tiện lỏng nát, chất lưỡi nhợt... Những trường hợp động thai do Huyết nhiệt hoặc thai phụ phát sốt do ngoại cảm thì không được dùng bài này.
Bài 4: Thịt bò 250 g, đẳng sâm 30 g, hoàng tinh 15 g, gừng tươi 4 lát. Chọn loại thịt bò tươi mềm (nếu được thịt bê là tốt nhất) rửa sạch, thái miếng; Các vị thuốc rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, dùng lửa to đun sôi rồi tiếp tục hầm nhừ bằng lửa nhỏ chừng 2-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Dùng thích hợp cho thai phụ bị huyết hư biểu hiện bằng các triệu chứng như hay hoa mắt chóng mặt, hồi hộp trống ngực, mệt mỏi, ngủ kém hay mê, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt, thai nhi chậm phát triển... Những thai phụ đang bị sốt do ngoại cảm hoặc đi lỏng lỵ do thấp nhiệt thì không được dùng bài này.
Bài 5: Cá chép 1 con nặng chừng 500 g, lạc 30 g, xích tiểu đậu 24 g, gừng tươi 6 lát. Cá chép làm sạch, bỏ nội tạng, đem rán qua; lạc và xích tiểu đậu rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, dùng lửa nhỏ hầm kỹ chừng 2-3 giờ là được, thêm gia vị, ăn nóng.
Dùng thích hợp cho những thai phụ thể chất hư nhược, hay có cảm giác khó thở, ăn kém, đầu choáng mắt hoa, hồi hộp trống ngực, tiểu tiện bất lợi, phù nhẹ chi dưới... Những trường hợp rối loạn tiểu tiện, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu đục do thấp nhiệt không nên dùng bài này.
Bài 6: Cá diếc 2 con, lá tía tô 15 g, sa nhân 6 g, gừng tươi 6 lát. Lá tía tô, sa nhân và gừng tươi rửa sạch, cá diếc mổ bụng, bỏ hết nội tạng, rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, dùng lửa nhỏ hầm thật kỹ chừng 2-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Dùng thích hợp cho thai phụ tỳ hư khí trệ mà nôn và buồn nôn nhiều, ăn kém, chậm tiêu, ngực bụng đầy chướng, mệt mỏi, đại tiện lỏng nát, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt...
Bài 7: Thịt thỏ 250 g, củ cải đỏ 250 g, đẳng sâm 30 g, hồng táo 6 quả. Chọn loại thịt thỏ non mềm, rửa sạch, thái miếng; củ cải đỏ gọt bỏ vỏ, rửa sạch, cắt đoạn; hồng táo bỏ hạt, đẳng sâm rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, dùng lửa to đun sôi rồi hầm thật nhừ bằng lửa nhỏ chừng 2-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Dùng thích hợp cho thai phụ thể chất hư nhược, chức năng tiêu hóa suy kém, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần mỏi mệt, ăn kém, thai nhi chậm phát triển... Những trường hợp tỳ vị hư hàn hoặc bị cảm sốt chưa khỏi thì không nên dùng bài này.
Bài 8: Thịt lợn nạc 100 g, sâm Cao Ly 10 g, a giao 12 g. Sâm Cao Ly rửa sạch, thái phiến; a giao thái vụn; thịt lợn rửa sạch, thái miếng. Tất cả cho vào bát, chế đủ nước rồi đem hầm cách thủy chừng 2-3 giờ là được, chế thêm gia vị, ăn nóng.
Dùng thích hợp cho thai phụ bị động thai thể Khí huyết lưỡng hư, biểu hiện bằng các triệu chứng như hình thể gầy yếu, sắc mặt nhợt nhạt, ngại hoạt động, hay có cảm giác hồi hộp trống ngực, âm đạo ra huyết lượng ít sắc nhợt, lưng đau gối mỏi... Những trường hợp đang sốt do cảm mạo hoặc có chứng huyết nhiệt thì không nên dùng bài này.

Khoai mài - vị thuốc bổ quý

Cây khoai mài.
Đông y gọi vị thuốc này là hoài sơn, có tác dụng bổ tỳ rất tốt. Hoài sơn được sử dụng trong các bài thuốc chữa chán ăn, rối loạn tiêu hóa, đi tiêu lỏng do tỳ yếu.
Khoai mài là loại cây leo, thân rễ phình thành củ dài 0,5-1 m, đường kính 2-10 cm, có nhiều rễ con. Lá đơn mọc đối hoặc có khi mọc so le, đầu lá nhọn, phía cuống hình tim, kẽ lá có những củ con. Phiến lá dài 8-10 cm, rộng 6-8 cm. Hoa đực, hoa cái khác gốc. Quả khô có ba cạnh và có rìa. Cây mọc hoang khắp miền rừng núi, hiện được trồng ở nhiều nơi.
Từ rất xa xưa, các nhà y học cổ đã quy chức năng tiêu hóa của cơ thể cho một cơ quan gọi là tạng Tỳ. Tài liệu xưa nhất về lâm sàng là 2 cuốn Thương hàn và Kim quỹ (khoảng thế kỷ 2-3) xác định bệnh của tạng Tỳ chủ yếu là đi tiêu lỏng, sợ lạnh... Cách chữa là dùng các vị thuốc nóng nhất như can khương (gừng khô), nhục quế (quế loại tốt), phụ tử... Dần dần qua thực tế, thầy thuốc đời sau ghi nhận các mức độ bệnh khác nhau của Tỳ, đưa ra nhiều bài thuốc có các vị thuốc bổ dưỡng hoặc kích thích tiêu hóa như đảng sâm, bạch truật, trần bì, sa nhân.
Từ thực tế Tỳ bị bệnh sẽ sinh ra các triệu chứng như đi tiêu lỏng, sợ lạnh, để chữa bệnh phải dùng các vị thuốc nóng, hầu tiếp thêm “lửa” cho Tỳ; một quan niệm đã hình thành: Tỳ là dương và thuốc vào Tỳ cần phải ấm nóng. Lối phân tích trên phù hợp với đa số bệnh Tỳ. Nhưng còn một số trường hợp có các triệu chứng trái ngược, điều trị bằng các bài thuốc cũ tỏ ra không hiệu quả. Đó là các trường hợp Tỳ có bệnh, cũng chán ăn chậm tiêu, nhưng trong người không thấy lạnh, trái lại còn thấy nóng, khát nước; phân chỉ hơi lỏng, thậm chí có khi còn táo bón. Điều đó chứng tỏ Tỳ có cả âm và dương. Khi Tỳ âm bị suy tổn sẽ sinh ra khô khát, nóng trong, đại tiện bí, nặng hơn có thể thổ huyết, gây chán ăn, chậm tiêu, gầy mòn... Để chữa bệnh, ngoài các vị thuốc bổ Tỳ, cần dùng thêm các vị thuốc mát nhằm đồng thời nâng đỡ âm và dương. Có một vị thuốc độc đáo đảm nhiệm được cả hai nhiệm vụ nêu trên: đó là Hoài sơn.
Trong dân gian, nhiều người vẫn cho Hoài sơn là vị thuốc vô thưởng vô phạt, ăn cả một gánh cũng không chết. Các thầy thuốc thì chỉ khoe giỏi dùng phụ tử, thục địa, chứ không ai dám thú nhận vẫn dùng Hoài sơn hằng ngày. Thế nhưng ai cũng phải công nhận Hoài sơn là một trong những vị thuốc cổ nhất, được ghi trong sách từ cách đây 2.000 năm, và ngày nay vẫn được dùng phổ biến. Đông y cho rằng Hoài sơn vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ Tỳ bổ âm, trị tiêu khát, cầm tiêu chảy, mạnh Tỳ, Phế, Thận. Hoài sơn bổ Tỳ mà không làm khô ráo, bổ âm mà không làm đầy trệ.
Người xưa dùng Hoài sơn trong bài Lục vị để bổ âm, trị chứng nóng trong, người gầy, đổ mồ hôi trộm: Thục địa 32 g, phục linh 12 g, sơn thù 16 g, trạch tả 12 g, hoài sơn 16 g, đan bì 12 g.
Hoài sơn cũng được dùng trong bài Sâm linh bạch truật tán để bổ Tỳ, trị chứng tiêu chảy kéo dài, cơ bắp teo nhão, chán ăn, mệt mỏi không có sức: Đảng sâm, hoài sơn, bạch truật, bạch linh, cam thảo mỗi thứ 80 g; biển đậu, hạt sen, ý dĩ, cát cánh, sa nhân mỗi thứ 40 g; trần bì 30 g, tán bột, ngày uống 12 g.
Ngày nay, Hoài sơn được dùng để trị các chứng suy dinh dưỡng trẻ em, tiểu đường, ho đàm nhiều do viêm phế quản mãn, tiêu chảy kéo dài, suy nhược cơ thể ở phụ nữ có thai, người mới ốm dậy... Có thể dùng phối hợp trong bài thuốc hoặc dùng đơn độc. Một số đơn thuốc đơn giản:
- Trị suy dinh dưỡng trẻ em: Hoài sơn 15 g, ý dĩ 10 g tán bột; gan gà 1 cái thái nhỏ. Hấp chín, ngày ăn 2 lần.
- Trị tiểu đương type 2 thể nhẹ và trung bình: Hoài sơn 20 g, hoàng kỳ 16 g, sinh địa 16 g, mạch môn đông 12 g, thiên hoa phấn 12 g, sắc uống ngày một thang. Có thể chỉ dùng 100 g hoài sơn, nấu thành cháo, ăn hàng ngày để trị viêm phế quản mãn, tiểu đường, suy nhược.

Bưởi - loại quả nhiều lợi ích

Bưởi được dùng nhiều trong Đông y.
Trẻ đau trướng bụng hoặc tiêu chảy do ăn không tiêu có thể chữa bằng cách: Lấy vỏ bưởi rửa sạch, cạo bỏ lớp ngoài, cắt thành từng khúc, nấu với nước sôi một lát rồi vắt nước, ngâm trong đường 1 tuần. Lấy nước mứt nuốt dần, dùng liền 5 ngày.
Nước bưởi chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường trái cây, đạm, béo, acid tannic, beta-caroten và các chất khoáng như phospho, sắt, canxi, kali, magiê, các vitamin B1, B2, C.
Đông y cho rằng mỗi bộ phận của quả bưởi đều có tác dụng riêng. Cơm bưởi vị ngọt, chua, tính mát, không độc, có tác dụng kiện tỳ, trị ho, giải rượu. Vỏ ngoài chứa tinh dầu (vỏ trong thường dùng làm mứt), vị cay, đắng, ngọt, tính ấm, có tác dụng trị ho, giảm đau. Hạt bưởi vị đắng, tính ấm, chứa chất béo, có tác dụng trị đau thoát vị bẹn, sa đì. Lá bưởi vị đắng, the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tán khí, thông kinh lạc, giải cảm, trừ đờm, tiêu thực, hoạt huyết, tiêu sưng, tiêu viêm.
Theo y học hiện đại, nước bưởi có thành phần tựa như insulin, giúp hạ đường huyết, có tác dụng hỗ trợ đối với bệnh nhân tiểu đường, cao huyết áp. Vỏ chứa tinh dầu giúp kháng viêm, làm giãn mạch. Kiểm chứng thực tế cho thấy ăn bưởi đều đặn sẽ giúp giảm cân và phòng chống được tiểu đường.
Vỏ ngoài của bưởi chứa nhiều tinh dầu, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và trị cảm cúm, thường được dùng trong liệu pháp nấu nồi xông giải cảm. Ngồi ra, vỏ bưởi còn chứa nhiều flavonoid như naringosid, hesperidin, diosmin, diosmetin, hesperitin... có tác dụng bảo vệ thành mao mạch, giảm tính thấm, giúp cho mao mạch đàn hồi và bền vững hơn, từ đó ngăn ngừa tai biến do vỡ các mao mạch, gián tiếp giúp hạ huyết áp. Một số người còn dùng vỏ ngoài quả bưởi xoa trên da đầu để kích thích lỗ chân lông phòng trị bệnh hói hay rụng tóc.
Một số bài thuốc có bưởi
1. Chữa ho nhiều, đàm khí nghịch
- Cơm bưởi 100 g, rượu gạo 15 ml, mật ong 30 ml, chưng cách thủy cho chín nhừ, mỗi ngày ăn 1 lần.
- Cơm bưởi cắt nhuyễn cho vào bình, ngâm rượu, đậy kín 1 đêm, nấu nhừ, dùng mật ong trộn đều, ngậm nuốt thường xuyên.
2. Rối loạn tiêu hóa, thai phụ miệng nhạt, nước dãi trào ngược
- Cơm bưởi 60 g, ăn hết một lần, mỗi ngày ăn 3 lần.
- Nước bưởi, mỗi lần dùng 50 g, ngày 3 lần, dùng liền 5 ngày.
- Bưởi 5-8 quả ép lấy nước, dùng lửa nấu đặc, thêm 500 g mật ong, 100 g đường phèn, 10 ml nước gừng tươi, cùng nấu thành dạng cao, để nguội, đựng trong lọ. Mỗi lần dùng 15 ml, ngày 2 lần, dùng liền 5 ngày.
3. Hôi miệng, giải rượu
- Cơm bưởi 100 g, nhai nuốt dần dần.
- Bưởi 1 quả lấy nước, vỏ quít 10 g, gùng tươi 6 g, thêm đường đen lượng vừa nấu chung, mỗi ngày dùng 1 liều, dùng liền trong 5 ngày.
4. Say tàu xe hay rối loạn tiêu hóa, miệng nhạt buồn nôn do cảm
Mứt bưởi 30-60 g, nhai nuốt dần.
5. Đau khớp hay té ngã sưng đau
Vỏ bưởi tươi 250 g, gừng tươi 30 g, cùng băm nhuyễn, đắp tại chỗ, mỗi ngày thay 1 lần.
6. Dị ứng da hay mẩn ngứa không rõ nguyên nhân
Bưởi da xanh 1 quả, cắt bổ nguyên quả, nấu nước thoa rửa tại chỗ, mỗi ngày làm 3 lần, đồng thời có thể ăn bưởi 60 g, mỗi ngày 3 lần.
7. Thoát vị bẹn, sa đì
Hạt bưởi 15 g, băm nhuyễn nấu nước uống, ngày uống 1 lần vào sáng và chiều.
8. Bong gân, sưng khớp do lạnh, chấn thương
Lá bưởi không kể liều lượng, nướng chín để nắn, xoa bóp hay nấu nước xông và ngâm tại chỗ.

Chữa sỏi nhỏ ở thận bằng y học cổ truyền

Dứa có tác dụng chữa sỏi thận.
Có rất nhiều cây thuốc và bài thuốc chữa sỏi thận. Trường hợp sỏi còn bé thì có thể dùng các cây, lá lợi tiểu để tống sỏi ra, nhưng phải dùng dài ngày.
Các bài thuốc:
- Rễ cây dứa (thơm) rửa sạch, phơi khô, sao lên nấu nước uống hằng ngày. Hoặc: Dùng dịch ép lá và quả dứa chưa chín mỗi ngày 20-30 g. Có thể giã nát nõn dứa, vắt lấy nước hoặc sắc lên uống.
- Mỗi ngày dùng đọt non dứa dại 15-20 g, rễ dứa dại 6-10 g, chế biến như với rễ và nõn dứa thường.
- Đem 10 g râu ngô cắt nhỏ, đun sôi với 200 ml nước, để nguội, cứ 3-4 giờ uống 3 thìa canh. Hoặc chế thành cao lỏng, đóng vào lọ 20 g, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 30-40 giọt trước bữa ăn. Râu ngô giúp làm tăng lượng nước tiểu 3-5 lần.
- Rễ cỏ tranh rửa sạch, phơi khô, sao lên; mỗi ngày sắc 10-40 g uống (vừa tống sỏi vừa chữa được đái máu).
- Râu ngô 40 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 25 g, rễ cỏ tranh 30 g, hoa cúc 5 g. Tất cả thái nhỏ, trộn đều, mỗi lần dùng 50 g hãm như chè, pha thành 750 ml, chia uống trong ngày.
- Xa tiền tử 10 g, cam thảo 2 g, nước 600 ml (tương đương 3 bát) đun sôi lên 30 phút, chia 3 lần uống trong ngày.
- Kim tiền thảo mỗi ngày lấy 10-30 g sắc uống.

9 loại nước uống làm mịn da

Nước cà chua tuy ít tốn kém nhưng có giá trị dinh dưỡng cao đối với da. Chọn quả cà chua chín đỏ, không vết đen, rửa sạch, cắt thành miếng nhỏ, ép lấy nước uống (có thể thêm ít nước đun sôi để nguội nhưng không cho đường).
Nước là thành phần chính của mọi tế bào và các tổ chức trong cơ thể, trong đó có làn da. Thiếu nước, da sẽ bị khô, không mịn màng, giảm độ đàn hồi và nếp nhăn xuất hiện. Bạn có thể dùng những thức uống tốt cho da dưới đây:
1. Sữa trứng gà: Chứa một lượng lớn chất đạm, vitamin nhóm B, vitamin C nên có hiệu quả đặc biệt trong việc trong chăm sóc làn da. Dùng sữa tươi thì cần phải đun sôi. Với người quá cân, béo phì, nên dùng loại sữa bột không béo; vào mùa lạnh có thể dùng sữa bột bình thường. Trứng gà đánh lên cho đến khi hoàn toàn tan trong sữa để tránh mùi tanh và đề phòng khó tiêu. Khi pha, nên liệu lượng sữa để có thể uống hết cho một lần, không nên để lâu.
2. Sữa đu đủ: Là loại thức uống mát, thơm ngon, thích hợp với người suy nhược cơ thể, da khô. Lấy một lát đu đủ chín, tươi, cắt thành những miếng nhỏ cho vào cốc sữa. Nếu không sẵn sữa tươi, có thể dùng sữa bột. Cho thêm ít mật ong, ít nước đun sôi để nguội tùy mức rồi cho vào máy xay đều. Cũng có thể dùng dao, thìa băm nhuyễn đu đủ ra. Pha xong, nên uống ngay.
3. Nước chanh mật ong: Có tác dụng bảo vệ sắc đẹp cho da, thường dành cho người khô da, mụn nhọt, da nóng. Lấy một quả chanh tươi, rửa sạch, cắt đôi vắt lấy nước rồi cho ít mật ong, nước lạnh hoặc đá lạnh, khoắng đều. Nước chanh mật ong là thức uống mát mẻ dễ chịu trong ngày hè oi bức. Có thể dùng vài lần trong ngày.
4. Nước canh đậu xanh, ý dĩ: Nếu dùng thường xuyên sẽ làm da trắng đẹp, trơn nhẵn hơn. Lấy khoảng 100-200 gam đậu xanh và 50-100 g ý dĩ rửa sạch, cho vào nước, đun sôi trong vài phút rồi để lửa nhỏ ninh khoảng 20 phút. Khi uống, cho thêm một ít mật ong hoặc đường phèn. Đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, giải khát nên có tác dụng làm trắng da. Ý dĩ có tác dụng làm giảm những nốt dạng xơ trắng trên da mặt. Người da đầu có nhiều mụn trứng cá đầu đen nếu uống nhiều nước đậu xanh, ý dĩ có thể thu được kết quả tốt.
5. Nước canh long nhãn: Có công dụng cường thân bổ huyết, chữa mất ngủ, giúp da mịn màng thường dùng với người sắc diện kém tươi. Cho khoảng 50-100 g nhãn khô vào nước, đun sôi rồi thêm ít đường ăn sao cho hơi ngan ngát, độ ngọt thật ít mới giữ được độ thơm ngon của long nhãn. Có thể uống nước long nhãn ấm, nóng tùy thích.
6. Sữa hạnh nhân: Lấy hai thìa nhỏ bột hạnh nhân cho vào cốc sữa bột khuấy đều. Tùy khẩu vị, có thể thêm ít đường ăn hoặc mật ong cho tăng hương vị. Hạnh nhân có tác dụng làm trắng da. Uống đều đều, sữa hạnh nhân mang lại hiệu quả lâu dài trong việc chăm sóc sức khỏe da.
7. Sữa tấm kiều mạch: Là món điểm tâm thú vị, vừa giàu dinh dưỡng vừa ngon miệng. Lấy hai thìa lớn tấm kiều mạch cho vào cốc sữa đã pha còn nóng, khuấy đều. Hiệu quả càng tăng nếu đun sôi lên rồi uống lúc âm ấm. Sữa tấm kiều mạch chứa nhiều vitamin và chất khoáng thích hợp với người mệt mỏi, biếng ăn, da khô thô ráp. Thức uống này rất được ưa chuộng với phụ nữ trung niên, người mắc bệnh đường ruột.
8. Nước củ cải: Làm trắng và mịn da. Lấy khoảng một cân củ cải tươi, rửa sạch, đem xay lấy nước. Mỗi ngày uống 2-3 cốc nước củ cải tươi liên tục trong vài tháng sẽ cải thiện làn da. Nước củ cải tươi thích hợp với người da ngăm đen, khô ráp.