( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Uống rượu thế nào là vừa mức?
Nhiều tài liệu y học khuyên nên uống chút rượu vang đỏ hoặc rượu thuốc vào mỗi bữa ăn vì điều đó có lợi cho sức khỏe. Nhưng cũng có nhiều thầy thuốc bảo đừng vướng vào rượu bia vì chúng rất có hại". Thực ra, việc có nên uống hay không phụ thuộc vào chính bạn.
Rất khó trả lời thật khoa học và chính xác câu hỏi "có nên uống rượu không" vì có nhiều yếu tố tác động đến kết quả cuối cùng của việc uống rượu. Các yếu tố này tùy thuộc bản thân người uống rượu như tiền sử y học, tuổi tác, giới tính, cân nặng, hiện trạng sức khỏe, môi trường nơi uống rượu v.v... Vậy chúng ta cứ thoải mái hưởng thụ đôi chút “cảm giác lâng lâng” hay nhất quyết từ bỏ “chất men say” này như tránh xa một bệnh dịch?
Trước khi có câu trả lời đúng, ta cần biết rõ về 3 mức độ uống rượu: uống vừa mức, uống quá mức và nghiện rượu (còn gọi là phụ thuộc rượu). Uống vừa mức là uống không quá lượng quy ước mỗi ngày: chai có dung lượng 12 ounce hoặc một lon (1 ounce tương ứng khoảng 30 ml - đối với bia) hoặc 1 ly có dung lượng 5 ounce, (đối với rượu vang); hoặc 1 ly 1,5 ounce (đối với rượu mạnh). Nữ giới chỉ nên uống 1 lượng quy ước/ngày, còn nam giới có thể uống 2 lượng quy ước/ngày. Nói đơn giản là nam giới uống 2 lon bia/ngày là vừa mức.
Thế nào là uống quá mức? Là khi có 1 trong 4 biểu hiện dưới đây xảy ra trong khoảng thời gian 12 tháng:
- Không hoàn thành trách nhiệm bản thân (trong công việc hằng ngày ở cơ quan, gia đình hoặc trường học).
- Uống khi sắp thực hiện những công việc đòi hỏi tính cẩn thận (lái xe, điều khiển máy...).
- Có hành vi ứng xử không đúng (nói năng lung tung, gây gổ, cãi lộn...).
- Tiếp tục uống khi đã có những biểu hiện rối loạn thực thể và chức năng (nôn ói, mệt lả, tim đập nhanh...).
Một người được coi là nghiện rượu khi có 4 biểu hiện rõ rệt sau:
- Thèm muốn cực độ (nhu cầu uống cao hơn cả đói ăn, khát nước).
- Mất tự chủ (không thể tự ngưng uống).
- Cơ thể phụ thuộc rượu (khi thiếu rượu sẽ cảm thấy mệt mỏi, lo lắng, buồn nôn, miệng khô đắng).
- "Chịu rượu” (luôn có nhu cầu uống nhiều hơn mới đủ “đô” để “phê”).
Một số tài liệu y học cho rằng tình trạng nghiện rượu có thể liên quan đến cấu trúc gene (gia đình có người nghiện rượu); nhưng đây không phải là yếu tố quyết định. Phần lớn các thầy thuốc cho rằng tình trạng nghiện rượu phụ thuộc nhiều vào môi trường sống (điều kiện làm việc, sinh hoạt nghề nghiệp, bạn bè, trình độ văn hóa, giáo dục...). Người bắt đầu uống rượu trước 15 tuổi có nguy cơ nghiện cao gấp 4 lần người bắt đầu uống sau 21 tuổi.
Nhiều nghiên cứu y học ghi nhận rằng, việc uống rượu vừa mức đem lại các lợi ích:
- Khỏe tim mạch: Làm giảm 30-50% nguy cơ cơn đau tim ở những người tuổi trung niên, giảm thiểu nguy cơ suy tim hoặc đột tử vì tim ở những người có tiền sử bệnh tim.
- Tốt cho tuần hoàn mạch vành: Làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành vì làm tăng lượng cholesterol tốt trong cơ thể, giúp đào thải cholesterol xấu ra khỏi động mạch, làm giảm nguy cơ bệnh xơ vữa động mạch (ứ đọng nhiều mảng mỡ gây xơ cứng mạch máu).
- Tăng cường tuần hoàn chung: Ở người có huyết áp bình thường, việc uống rượu vừa mức sẽ giúp phòng chống hiện tượng đóng cục máu, nhờ vậy làm giảm những cơn thiếu máu cục bộ, đặc biệt chống được nguy cơ lấp tắc động mạch ở chi dưới (bệnh mạch ngoại vi).
- Có lợi cho tuần hoàn mạch não: Làm giảm tình trạng thiếu máu não, nhờ vậy giúp phòng chống bệnh suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi (bệnh Alzheimer).
Việc uống rượu quá mức hoặc nghiện rượu gây nhiều điều hại:
- Gây nhức đầu, làm giảm khả năng thích ứng và phối hợp các hành động ứng xử (dễ gây rối nơi công cộng, hành hung người khác). Đặc biệt, người uống rượu quá mức thường dễ gây tai nạn (đụng xe, chấn thương do té ngã...).
- Rối loạn giấc ngủ và hoạt động tình dục.
- Làm tăng huyết áp, có thể gây tai biến mạch máu não, suy tim cấp đến mức đột tử.
- Gây viêm nhiều cơ quan (như phổi, thận), xơ gan, loãng xương và rối loạn các chức năng miễn nhiễm.
- Tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư (miệng, họng, thực quản, gan). Nguy cơ này có thể cao gấp hai lần ở những người nghiện rượu kèm nghiện hút thuốc lá.
- Có thể dẫn đến chảy máu dạ dày ở những người đang dùng các loại thuốc điều trị (an thần, kháng histamin, giảm đau, aspirin).
Các tài liệu y học đã khuyến cáo tuyệt đối cấm uống rượu bia trong trường hợp: huyết áp cao, rối loạn nhịp tim (rung tâm nhĩ...), viêm loét đường tiêu hóa, mắc bệnh gan, phụ nữ đang mang thai (vì gây tổn thương phôi thai).
Như vậy, sau những giờ làm việc mệt mỏi, chúng ta có thể “nâng ly chạm cốc” nhưng phải luôn tự hỏi: sức khỏe của mình ra sao, uống để làm gì và uống bao nhiêu là vừa mức?

Quả hồng chữa bệnh
Tai quả hồng (còn được gọi là thị đế) phơi hay sấy khô được dân gian dùng làm thuốc chữa ho, nấc, đi tiểu đêm. Liều dùng mỗi ngày 6-10 g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Trong quả hồng xanh có chất tanin làm cho quả có vị rất chát. Khi hồng chín, vị chát đó hầu như mất đi. Quả hồng chín có màu vàng hoặc đỏ thẫm. Thịt và tai quả hồng đều được dùng làm thuốc. Theo Đông y, tai hồng (thị đế) vị đắng, tính ôn, có tác dụng chữa đầy bụng, nấc. Dùng đơn thuốc sau: thị đế 8 g, đinh hương 8 g, sinh khương 5 lát, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia nhiều lần uống trong ngày. Có thể thêm các vị trần bì 4 g, thanh bì 4 g, bán hạ 2 g cũng để chữa nấc hoặc đầy bụng không tiêu. Khi dùng đơn thuốc trên, có thể gia giảm vị đinh hương và thị đế, nếu nóng nhiều thì giảm đinh hương, tăng thị đế, nếu lạnh nhiều thì giảm thị đế, tăng đinh hương. Tuy nhiên, không dùng đinh hương quá 10 g. Thịt quả hồng dùng làm thuốc ở hai dạng sau: - Thị sương: Là chất đường trong quả hồng. Khi làm mứt hồng, chất đường tiết ra được thu thập lấy, gọi là thị sương. Cho vào nồi đun nhỏ lửa, khi thành đường thì đổ vào khuôn, phơi cho se rồi dùng dao cắt thành miếng, đem phơi khô hẳn. Dân gian thường dùng thị sương chữa đau họng, ho. - Thị tất: Là nước ép quả hồng khi còn xanh, phơi hay sấy khô, thường dùng làm thuốc chữa tăng huyết áp.

10 điều người cao tuổi cần tránh
Người già không nên quay đầu quá nhanh. Khi làm như vậy, các mạch máu dẫn máu lên não có thể bị chèn ép đột ngột, gây tình trạng thiếu máu não, dẫn tới tai biến như ngất, hôn mê, thậm chí đột tử. Khi đã ở vào độ tuổi trên 65, cơ thể con người có nhiều chức năng bị suy giảm như hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, tiết niệu... So với độ tuổi 20-30, các chức năng sinh lý của con người ta ở độ tuổi 65-70 chỉ còn khoảng 60%. Vì thế, việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ở độ tuổi này bao gồm việc bồi bổ cơ thể và tránh các việc làm bất lợi. Sau đây là những điều mà người cao tuổi nên tránh: 1. Ăn quá no: Hệ tiêu hóa do không còn sức hoạt động mạnh như thời trẻ nên nhu động ruột giảm, khả năng hấp thu thức ăn, đào thải chất độc cũng giảm. Vì vậy, nếu ăn no quá, người cao tuổi sẽ bị đầy chướng. 2. Uống rượu bia quá say: Khi tuổi cao, hệ tuần hoàn giảm, chức năng hoạt động, khả năng đàn hồi của mạch, sức bền thành mạch kém, chức năng bài tiết cũng không còn tốt. Vì vậy, thời gian phân hủy kéo rượu dài, dẫn tới nguy cơ ngộ độc rượu cao lên. 3. Uống đồ uống quá lạnh: Các loại đồ uống này sẽ làm thay đổi môi trường vùng họng và thực quản, rất dễ làm vi khuẩn phát triển, gây bệnh viêm họng và gây co thắt thực quản đột ngột. 4. Ăn những thức ăn quá cứng. 5. Lơ là với việc kiểm tra sức khỏe định kỳ: Người cao tuổi cần đặc biệt quan tâm tới các biểu hiện bất thường về tim mạch, huyết áp cũng như các biểu hiện bất thường về mắt do có mối liên quan rất chặt chẽ giữa bệnh về mắt và bệnh tiểu đường. 6. Lao động gắng sức, nhất là khi thấy mệt mỏi, đói, choáng váng đầu óc. 7. Xúc động thái quá: Bất kể trong tình huống nào, người cao tuổi cũng không nên quá vui hoặc quá buồn. Vui quá sẽ làm tim mệt mỏi, buồn quá dễ dẫn tới chứng trầm cảm. 8. Tắm nước quá nóng: Nước nóng sẽ làm cho việc cung cấp máu trong cơ thể mất cân đối, một lượng máu tới vùng da, cơ sẽ tăng lên, máu cho não lại giảm đi, dẫn đến tình trạng thiếu máu não. 9. Ngồi đại tiện ở bệ xí xổm: Việc đứng lên, ngồi xuống sẽ gây khó khăn cho người cao tuổi khi đi đại tiện. Hơn nữa, do cơ vòng vùng hậu môn của người cao tuổi không còn đủ trương lực như khi còn trẻ nên việc ngồi đại tiện trên bệ xí xổm rất dễ gây bệnh trĩ.

Liệt dương do âm hư ở đàn ông trẻ
Vị thuốc câu kỷ tử. Đông y cho rằng, nếu phần âm của cơ thể nam giới bị hư tổn thì dương sự cũng theo đó mà sa sút, dẫn đến liệt dương. Những người bị bất lực do tiểu đường hay sinh hoạt tình dục quá độ cũng thuộc chứng này. Đông y gọi chứng rối loạn cương là dương nuy; trong đó "dương" chỉ cơ quan sinh dục ngoài của nam giới, còn “nuy” là liệt, gân thịt mềm nhũn không cử động được. Dương nuy là hiện tượng có ham muốn nhưng dương vật không thể hoặc không đủ cương để giao hợp. Theo quan điểm Đông y truyền thống, nguyên nhân dẫn đến dương nuy có thể là thận dương suy yếu, tạng tâm và tạng tỳ bị thương tổn, khiếp sợ làm tổn thương tạng thận và thấp nhiệt dồn xuống ứ đọng ở hạ bộ. Trong đó, nguyên nhân đầu tiên phổ biến nhất. Ngày nay, cách sống đã thay đổi nhiều nên tình hình bệnh tật cũng khác xưa. Ngoài 4 “nguyên nhân kinh điển” nói trên, còn thêm một số nhân tố khác dẫn đến dương nuy. Đặc biệt, do mức sống vật chất nâng cao và ảnh hưởng của văn hóa tình dục Âu Mỹ (sinh hoạt tình dục sớm, tình dục không tiết chế), dương nuy có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều ở độ tuổi thanh niên và trung niên. Một ví dụ điển hình là anh H., 38 tuổi, bị bất lực sau 2 năm mắc bệnh tiểu đường. Sau một thời gian điều trị, bệnh tiểu đường tạm ổn định nhưng dương sự không hồi phục. Bệnh nhân đã sử dụng đủ các loại thuốc “bổ thận tráng dương” mà không chút cải thiện. Anh H. đến phòng khám Đông y với tình trạng dương vật đã hoàn toàn mất khả năng cương, kèm theo các triệu chứng toàn thân như tinh thần mệt mỏi, đầu choáng, mắt hoa, tai ù, lòng bàn chân, bàn tay hâm hấp nóng, miệng khô, họng háo, lưng gối đau mỏi... Sau khi xem mạch, thầy thuốc chẩn đoán là dương nuy do âm hư và cho dùng bài thuốc “Tả quy ẩm gia vị”, gồm các vị thuốc: sinh địa, thục địa, thỏ ty tử, nữ trinh tử, hạn liên thảo mỗi thứ 15 g, sơn dược 20 g, câu kỷ tử 10 g, sơn thù du 10 g, lộc giao 6 g, quy giao 6 g, ngưu tất 3 g, sa sâm 12 g, mạch môn đông 12 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang. Sau khi uống được 10 thang, bệnh nhân có chuyển biến tích cực: dương vật đã có thể bột khởi nhưng không đủ cứng, bụng dưới thường hay có cảm giác tức đau. Thầy thuốc kê thêm sa nhân 3 g vào bài thuốc cũ, uống tiếp 15 thang, dương sự đã hoạt động trở lại gần như bình thường. Tiếp tục điều dưỡng và uống thuốc thêm 6 tháng nữa, bệnh hồi phục tốt. Một trường hợp khác là anh N., 30 tuổi, bị dương nuy đã gần 2 năm. Anh có thói quen thủ dâm trước khi lập gia đình. Năm 25 tuổi lấy vợ, cũng là lúc bắt đầu làm ăn phát đạt, anh thường đi nhà hàng, dùng đủ thứ cao lương mỹ vị, tình dục bột phát mạnh, chuyện chăn gối phóng túng vô độ, không biết tiết chế. Hai năm sau, dương vật vẫn bột khởi, nhưng độ cứng ngày càng giảm, thỉnh thoảng lại bị xuất tinh sớm. Anh N. tự mua thuốc “bổ thận tráng dương” về uống, bệnh tình có vẻ như ổn định, lại tiếp tục phóng túng như trước. Một năm sau thì anh hoàn toàn bất lực, chạy chữa rất nhiều nơi nhưng đều vô hiệu; người gầy yếu, dáng vẻ bơ phờ, thường bị váng đầu, chóng mặt, tinh thần khó tập trung, hay quên, lưng gối mỏi, đêm ngủ không yên, rất dễ cảm mạo và đau họng... Thầy thuốc nhận định, bệnh do âm tinh bị hao tổn quá nặng, liên lụy đến phần dương, dẫn đến dương nuy; cho uống “đại bổ âm hoàn” hợp với “tam tài phong tủy đan” gia giảm: thục địa, hà thủ ô, thái tử sâm, long cốt, mẫu lệ mỗi thứ 30 g, cao quy bản, mạch môn đông, sơn thù du, bạch thược, thỏ ty tử, phục thần mỗi thứ 15 g, ngũ vị tử 10 g, cam thảo 10 g, viễn chí (nướng), tri mẫu, hoàng bá mỗi thứ 6 g. Sắc nước uống mỗi ngày một thang, liên tục 30 ngày. Theo lời dặn của thầy thuốc, anh N. quyết thanh tâm quả dục, kết hợp với ăn uống đủ dinh dưỡng, luyện tập thân thể ở mức độ thích hợp... Sau 1 tháng, tinh thần anh bắt đầu tỉnh táo hơn, người đã có da có thịt, đêm ngủ yên giấc, nhưng dương sự vẫn chưa bột khởi. Đến khám lại, thầy thuốc bỏ bớt những vị thuốc tính hàn như tri mẫu, hoàng bá, thêm một số vị thuốc trợ dương như dâm dương hoắc, cáp giới... Sau 1 tháng nữa, dương sự đã bắt đầu khởi động. Anh uống thêm 30 thang, bệnh dương nuy đã gần như phục hồi. Để củng cố, thầy thuốc bảo bệnh nhân về mua “Lục vị hoàn” uống tiếp 3 tháng. Bệnh diễn tiến tốt. Sau 1 năm, bệnh không tái phát và vợ chồng sinh được một con trai. Theo Đông y, tạng Thận chủ quản chức năng sinh dục. Thận dương có ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng cương cứng. Tuy nhiên, âm dương phải nương tựa vào nhau mới có thể tồn tại, phát sinh và phát triển. Y gia thời xưa thường so sánh âm và dương với nước và lửa trong khi nấu cơm. Nước không đủ (âm suy), mà cố dùng lửa đốt (lạm dụng thuốc bổ thận tráng dương) thì cơm không thể chín mà cháy thành than. Hai trường hợp nói trên tuy bị dương nuy trong những tình huống rất khác nhau nhưng có chung một nguyên nhân và cơ chế bệnh. Người thứ nhất bị tiểu đường là một bệnh âm hư, âm bị hư tổn nặng, liên lụy đến dương, cuối cùng dẫn đến dương nuy. Người thứ hai do phóng dục quá độ khiến âm dịch và tinh huyết bị suy kiệt nặng, nên liên lụy cả đến phần dương. Âm dịch trong cơ thể bị thoát tiết quá nhiều nên phần dương cũng theo đó mà tiêu vong đi. Các trường hợp dương nuy do âm hư như trên thường kèm theo chứng “tảo tiết” (xuất tinh sớm) và các biểu hiện toàn thân như người gầy, da khô, mệt mỏi, tinh thần khó tập trung, thần kinh căng thẳng, hay quên, bồn chồn, lo sợ vô cớ, ra mồ hôi trộm, lưng đau gối yếu, gót chân đau nhức, chất lưỡi đỏ, mạch nhanh nhỏ... Phép chữa cơ bản là “tư âm giáng hỏa” (bổ âm kết hợp với giáng hỏa). Trên lâm sàng thường dùng những bài thuốc bổ âm kinh điển làm nền tảng, gia giảm cho phù hợp với chứng trạng ở từng bệnh nhân. Riêng những bệnh nhân dưới 30 tuổi, thường dùng bài thuốc Tư âm khởi dương thang (hiệu quả đạt 80%): Thục địa 20-40 g, hà thủ ô chế 40 g, câu kỷ tử 20 g, sơn dược 15 g, dương khởi thạch 15-30 g, dâm dương hoắc 5-10 g, ma hoàng 1-3 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang. Mỗi liệu trình 15 ngày; trong thời gian uống thuốc không sinh hoạt tình dục, kiêng ăn những thức ăn cay nóng, kích thích. Nếu lưng đau gối mỏi, thêm đỗ trọng, hoàng tinh mỗi thứ 15 g. Mất ngủ thêm toan táo nhân sao 15 g, viễn chí 12 g; hoặc tô diệp, bách hợp mỗi thứ 10 g. Chân tay lạnh, thêm phụ tử chế, can khương mỗi thứ 10 g, nhục quế 5 g. Người mệt mỏi, nhiều mồ hôi (tự hãn) thêm đẳng sâm, hoàng kỳ, sơn thù nhục mỗi thứ 15 g. Đầu choáng váng trướng đau, thêm cúc hoa 12 g, bạch thược 10 g. Âm nang ẩm, lạnh, thêm ba kích, thỏ ty tử mỗi thứ 15 g.

Cà chua có thể ngừa ung thư
Chất tạo màu cho cà chua (lycopene) có thể làm giảm sự phát triển các khối u ở tuyến tiền liệt ở chuột. Các nhà khoa học đang thử nghiệm tác dụng chống ung thư của lycopene trên cơ thể người bằng cách sử dụng phiên bản nhân tạo của nó. Trong thí nghiệm của mình, các nhà khoa học Hà Lan tại Trung tâm Y khoa Eramus (Rotterdam, Hà Lan) đã cấy tế bào ung thư tiền liệt tuyến của người vào cơ thể chuột. Sau đó, họ dùng một lượng nhỏ LycoVit, một loại dược phẩm bổ sung lycopene, để điều trị cho một số con. Sau 42 ngày, sự phát triển của các khối u ở những con này đã giảm 50% so với các con chuột không được điều trị. Điều đáng nói là khi kết hợp dùng lycopene với vitamin E, sự phát triển của các khối u giảm tới 73%. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy kháng nguyên đặc trưng của tuyến tiền liệt tăng giảm theo sự phát triển của các khối u. Điều này có nghĩa là chúng có thể được sử dụng để theo dõi tác dụng của việc điều trị đối với con người. Tiến sĩ Jacqueline Limpens, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết một lượng vừa phải lycopene nhân tạo và vitamin E có tác dụng kìm hãm sự tăng trưởng của tế bào ung thư lớn nhất, liều lượng nhiều hơn lại không hiệu quả như vậy. "Rất nhiều tác nhân thuốc và hợp chất tự nhiên tuân theo đường phản ứng hình sin. Có nghĩa là liều quá cao hay cực thấp không đem lại hiệu quả, tác dụng lớn nhất có được khi ta sử dụng một liều nằm giữa 2 thái cực này ", bà nói. Tiến sĩ Limpens cho rằng cần có thêm những thử nghiệm trước khi khẳng định rằng liệu pháp mới có thể giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Nhưng theo bà, phát hiện này cùng với nhiều kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy sự phối hợp giữa lycopene và vitamin E có thể giúp bảo vệ nam giới khỏi căn bệnh chết người này. Limpens nói: "Chúng tôi có thể nói rằng nam giới nên thường xuyên ăn các thực phẩm giàu lycopene và vitamin E như các sản phẩm cà chua đã qua chế biến, đu đủ, bưởi chín, dưa hấu, mầm lúa mì, hạt ngũ cốc, xoài, các loại rau lá xanh, dầu hạch quả và ô liu. Thực ra, đây chỉ là một phần trong việc thực hiện lối sống lành mạnh và chế độ ăn uống nhiều rau và các thực phẩm có lợi cho sức khỏe khác".

Hoa quả chứa nhiều chất xơ
Ngoài việc giúp cho việc đại tiện trở nên dễ dàng hơn, chất xơ còn có tác dụng ngăn ngừa ung thư, béo phì, tiểu đường, điều trị sỏi mật và giảm mỡ máu.
Tiến sĩ Denis Burkitt thuộc Viện Ung thư Mỹ nhận thấy rằng, dân cư ở các vùng quê châu Phi nghèo khổ ít bị ung thư đại tràng hơn người phương Tây. Ông phát hiện nguyên nhân chính là chế độ ăn rất nhiều chất xơ của họ.
Chất xơ bao gồm hai loại: Loại không tan trong nước gồm cellulo và hemicellulo, có nhiều trong các loại rau xanh, quả, măng... Loại hòa tan gồm pectin, pentozan và chất nhầy, có nhiều trong vỏ cám của hạt gạo, hạt đại mạch, ngô, hạt lạc, các loại đậu, cùi trắng của quả bưởi, cam, vỏ táo, vỏ nho... Vài năm trở lại đây, nhiều nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về những tác dụng đáng kể của chất xơ trong việc phòng và chữa bệnh, ngoài một vài tác dụng đã biết đến từ rất lâu. Tác dụng phòng và điều trị của chất xơ chủ yếu lại tập trung vào các chứng bệnh mạn tính, gắn với tuổi già:
Phòng ngừa táo bón: Do có đặc tính hút nước, chất xơ không hòa tan trương lên khi ở trong ruột, làm nở và mềm khối phân, kích thích thành ruột, tăng nhu động ruột khiến việc đẩy phân ra ngoài dễ dàng hơn. Tác dụng này được coi là một tác dụng kinh điển của chất xơ. Ngoài ra, chất xơ có tác dụng hấp phụ các chất độc có trong hệ tiêu hóa, tăng khả năng miễn dịch của hệ thống này, tăng cường hoạt động của hệ vi khuẩn đường ruột nên giảm được nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhất là bệnh tiêu chảy. Tác dụng này thấy rõ ở trẻ em.
Phòng ngừa bệnh ung thư: Các chuyên gia về ung thư học của Mỹ đã khẳng định rằng: chất xơ có tác dụng rất mạnh trong việc phòng ung thư đường tiêu hóa mà đặc biệt là ung thư đại tràng. Nó làm tăng khả năng miễn dịch của hệ thống tiêu hóa, khuyến khích hệ vi khuẩn hữu ích trong ruột phát triển. Chính hệ vi khuẩn này đã tác động thường xuyên lên thành ruột, hạn chế sự phân chia bất thường của các tế bào, kìm hãm sự phát sinh, phát triển các túi nang bất thường trên thành ruột. Hơn nữa, khi lên men trong ruột, chất xơ còn tạo môi trường có tính khử cao, chống lại các chất oxy hóa; mà đại tràng là nơi phát sinh và chứa nhiều chất oxy hóa, chất độc trong quá trình chuyển hóa thức ăn.
Riêng các chất xơ hòa tan lại có một vai trò trong chuyển hóa lipid, glucid và lipoprotein. Vì thế, nó làm giảm thời gian thức ăn tồn đọng trong hệ tiêu hóa, giúp hệ thống này ít phải chịu sức ép của thức ăn về góc độ khối lượng cũng như sinh hóa.
Chất xơ còn có tác dụng ngăn ngừa nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Với những phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo và đạm, nguy cơ ung thư vú có liên quan đến oestrogen giảm đáng kể. Ở những trẻ em gái có chế độ ăn như vậy, tuổi xuất hiện kinh nguyệt cũng muộn hơn và vì thế sẽ ít bị ung thư vú hơn khi trưởng thành.
Giảm mỡ máu: Khi các chất xơ không hòa tan hút nước, chúng giữ luôn một phần muối mật nên kích thích cơ thể tăng cường sản xuất muối mật để bù vào lượng thiếu hụt, vì thế mà tăng sử dụng cholesterol. Lượng cholesterol tích lũy sẽ giảm đi kéo theo lượng cholesterol trong máu cũng giảm. Còn các chất xơ hòa tan tác động lên quá trình chuyển hóa lipid nên giảm nguy cơ xơ vữa động mạch. Các chuyên gia khuyên rằng những người bị tăng cholesterol máu nên tăng lượng chất xơ trong khẩu phần hằng ngày.
Phòng ngừa và điều trị tiểu đường: Chất xơ làm hạn chế tăng đường huyết sau khi ăn; nhất là các chất xơ hòa tan do có khả năng tăng tính nhạy cảm của insulin. Nó tham gia chuyển hóa triglycerid nên giúp kiểm soát nồng độ đường trong máu một cách hiệu quả. Đường sẽ được giải phóng từ từ vào máu, duy trì được nồng độ đường/máu một cách ổn định. Đây chính là mục đích của việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh tiểu đường.
Chống béo phì: Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nên chỉ tạo cảm giác no mà không không tăng lượng calo cho cơ thể. Vì thế, nó rất lợi cho những người bị béo phì. Mặt khác, do chất xơ có thể hạn chế và kiểm soát lượng đường trong máu nên không tạo ra tình trạng thừa đường để chuyển hóa thành mỡ dự trữ. Ngay trong quá trình tiêu hóa thức ăn, cả chất xơ hòa tan và không hòa tan đều làm tăng tốc độ vận chuyển thức ăn trong ruột, hạn chế được sự hấp thu các chất dinh dưỡng nên cũng hạn chế tăng cân.
Điều trị sỏi mật: Khi kết hợp với acid mật, các chất xơ tự nhiên ngăn chặn nguy cơ tạo ra sỏi mật.
Chất xơ quan trọng như vậy nhưng vẫn ngày càng giảm đi trong khẩu phần ăn hằng ngày do sự phổ biến loại thực phẩm tinh chế, đã bị loại bỏ gần hết chất xơ. Theo một khảo sát gần đây, lượng chất xơ trong khẩu phần ăn của chúng ta hiện nay chỉ bằng 40-50% so với 30 năm trước. Đó chính là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc các căn bệnh của xã hội hiện đại như ung thư, tim mạch, tiểu đường...
Với người Việt Nam, để có đủ chất xơ trong một ngày, mỗi người cần ăn tối thiểu 300 g rau xanh và 100g quả tươi.