( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Điều trị chàm bằng y học cổ truyền
Vị thuốc tri mẫu.
Chàm là loại bệnh tổn thương ngoài da có căn nguyên phức tạp, bao gồm 2 yếu tố: cơ địa dị ứng sẵn có trong cơ thể và tác nhân (bên trong hoặc bên ngoài) tác động vào cơ địa, gây nên bệnh.
Tổn thương cơ bản trên da của chàm là mụn nước và rất ngứa. Bệnh thường tiến triển qua 5 giai đoạn (nếu không có biến chứng): đỏ da; nhiều mụn nước lấm tấm; chảy nước vàng do mụn nước vỡ ra, để lại lỗ nhỏ lõm xuống; huyết tương rỉ ra, đóng thành vảy màu vàng rồi thâm dần, vài ngày sau bong vảy; vảy bong để lại lớp da non màu đỏ, không để lại sẹo.
Các biến chứng thường gặp là bội nhiễm (nhiễm thêm các vi khuẩn khác làm cho tổn thương lớn thêm do tăng tiết, vùng tổn thương sưng đỏ, tổng trạng sốt) và dày da vùng tổn thương, sừng hóa, da trên tổn thương khô nhám.
Dựa vào hình thể, chàm được phân thành 5 loại:
- Dạng nấm: Thường khu trú ở chân, màu đỏ sẫm, trên có mụn nước lấm tấm.
- Dạng viêm quầng: Thương tổn khu trú ở mặt, mí mắt.
- Tổ đỉa: Thương tổn khu trú ở rìa các ngón chân, có thể ở cả lòng bàn tay và chân, mụn nước từ sâu đội lên da, rất ngứa.
- Chàm sừng: Thương tổn khu trú ở lòng bàn tay, bàn chân, vảy dày trắng nứt nẻ, sưng đau, dưới vảy có mụn nước.
- Chàm thể đồng xu: Hình tròn hoặc bầu dục, màu đỏ hồng, trên có mụn nước, vảy tiết, khỏi dần từ chính giữa, khu trú ở tay chân.
Theo nguyên nhân, chàm được chia làm 5 loại:
- Chàm tiếp xúc: Do tiếp xúc với một số chất khác trên cơ địa dị ứng. Các tác nhân gây dị ứng gồm sơn, savon, nilon, kem, phấn, giày dép cao su, dây đồng hồ đeo tay, một số cây, cỏ, lá, hoa...
- Chàm vi khuẩn: Viêm nhiễm do vi khuẩn ở đâu đó trên cơ thể như viêm răng, hàm, mặt, tai mũi họng, viêm đường tiêu hóa hoặc một số cơ quan khác. Tổn thương gồm nhiều mụn nước, dễ lan tràn đến nơi khác, sưng đỏ, chảy nước, ngứa dữ dội.
- Chàm trẻ em: Do cơ địa, nội tiết, rối loạn chuyển hóa nước, một số bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng một số chất, thần kinh... Bệnh hay gặp ở trẻ em trên 2 tháng tuổi và thường tới 3 tuổi sẽ tự khỏi; trường hợp cá biệt sẽ bị dai dẳng tới lớn. Thương tổn cơ bản là những mụn nước khu trú hai bên má và trán (trừ mũi và miệng) tạo thành hình móng ngựa, giới hạn rõ rệt, đôi khi lan lên đầu, ngứa dữ dội. Bệnh tiến triển qua 5 giai đoạn như chàm nói chung, có lúc giảm lúc tăng, đôi khi kèm theo sốt cao và thường dễ bị viêm tai giữa.
- Chàm nội tạng: Thương tổn bị biến đổi, mụn nước chuyển thành sẩn lẫn mụn nước, rải rác khắp người.
- Chàm khô: Căn nguyên do cả bên ngoài lẫn bên trong (do hóa chất, do sinh vật, nội tạng...).
Điều trị bằng y học cổ truyền:
1. Thể cấp tính: Lúc đầu da hơi đỏ và ngứa, sau một thời gian ngắn, da sẽ nổi cục, có nhiều mụn nước, rất ngứa, loét, chảy nước vàng trong:
Về thuốc uống trong, dùng một trong các bài sau:
- Thổ phục linh 16 g, nhân trần 20 g.
- Khổ sâm 12 g, kim ngân 16 g.
- Hoàng bá 12 g, ké đầu ngựa 12 g.
- Hạ khô thảo 12 g, hoạt thạch 8 g.
Nếu mụn nước lan ra toàn thân, ngứa nhưng chảy nước ít, dùng các bài thuốc:
- Kinh giới 12 g, sinh địa 16 g.
- Phòng phong 12 g, thạch cao 20 g.
- Thuyền thoái 6 g, tri mẫu 8 g.
- Khổ sâm 12 g.
Về thuốc rửa ngoài, có thể lấy tô mộc 30 g, lá trầu 20 g. Đun sôi với 1 lít nước và một ít muối, thấm rửa tổn thương rồi hong cho khô ngay. Hoặc: Lá khế 100 g, lá kinh giới 100 g. Đun sôi trong nước rồi tắm.
Về thuốc bôi, lấy hùng hoàng 5 g, thạch cao 5 g. Ngâm với giấm rồi trộn đều, bôi lên chàm.
2. Thể mạn tính: Da dày, thô, khô, ngứa và trên vùng tổn thương có nhiều mụn nước, hay gặp ở cổ chân, cổ tay, khuỷu tay và nhượng chân. Về thuốc uống, dùng:
- Hoàng bá 12 g, thương truật 8 g.
- Ké đầu ngựa 12 g, phù bình 12 g.
- Phòng phong 8 g, bạch tiểu bì 12 g.
- Hy thiêm thảo 12 g.
Về thuốc rửa, dùng lá khế 100 g, lá kinh giới 100 g đun sôi, rửa vết chàm loét. Về thuốc bôi, dùng xuyên hoàng liên 4 g, hồng hoa 4 g (có thể thay bằng hồng đơn và chu sa) tán thành bột, hòa với mỡ trăn, bôi vào tổn thương, sau đó rửa sạch bằng thuốc rửa trên.

Hoa mào gà đỏ chữa tiêu viêm, cầm máu
Theo Đông y, mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, cầm máu. Người bị rong kinh có thể lấy hoa mào gà 20 g, ngải cứu 20 g sao cháy, sắc uống ngày một thang.
Một số bài thuốc khác:
- Ho ra máu: Hoa mào gà đỏ 15 g, lá huyết dụ 20 g sao cháy, lá trắc báo 20 g sao cháy, cỏ nhọ nồi 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Tiêu chảy: Hoa mào gà 10 g, vỏ dộp cây ổi 8 g, vỏ quả lựu 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Lỵ lâu ngày: Hoa mào gà 20 g, cỏ seo gà 20 g, lá mơ lông 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Khí hư: Hoa mào gà 20 g, rễ cây bấn 20 g, bồ công anh 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Sốt xuất huyết: Hoa mào gà 20 g, lá trắc bá sao đen 20 g, hoa hòe sao đen 15 g, ké đầu ngựa 15 g, lá dâu 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái rắt): Hoa mào gà 20 g, bồ công anh 20 g, mã đề 20 g, râu ngô 15 g, rau má 20 g. Sắc uống ngày một thang.

Cây bầu đất
Cây còn có tên là rau lúi, khám khom, kim thất, đái dầm, thiên hắc địa hồng... Dân gian thường dùng bầu đất để chữa đái són, tiểu không tự chủ, đái buốt, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu máu, lỵ và các bệnh về thận.
Bầu đất là loại cây nhỏ có nhiều cành, thân nhẵn. Lá hình trứng tròn hoặc tù ở đáy, nhọn ở đầu, mọc so le. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới có màu đỏ tím nên có tên thiên hắc địa hồng. Cây này thường mọc hoang ở nhiều nơi và được trồng, dùng toàn cây làm thuốc. Có thể dùng rau bầu đất nấu canh ăn, hay sắc uống, phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng có thể tới 80 g.
Một số bài thuốc Nam thường dùng:
- Phụ nữ viêm bàng quang mạn tính: Rau bầu đất nấu canh ăn, hoặc sắc nước uống với bột thổ tam thất và ý dĩ sao, cả hai vị bằng nhau, mỗi lần 10-15 g, ngày uống 2 lần.
- Chữa đau mắt: Lá bầu đất rửa sạch, thêm vài hạt muối, giã nhỏ đắp lên mắt đau.
- Chữa lỵ: Bầu đất 30 g, rau sam 30 g. Nấu canh ăn ngày 1-2 lần.
- Chữa viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái dắt): Bầu đất 30 g, mã đề 20 g, râu ngô 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Trẻ em đái dầm: Bầu đất 20 g, nấu canh ăn hàng ngày. Nên ăn vào buổi trưa. Các buổi tối nên hạn chế ăn canh, uống nhiều nước.
- Khí hư, bạch đới: Bầu đất 20 g, rễ củ gai sao vàng 16 g, cỏ xước 16 g, kim ngân hoa 12 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.

Ngưu bàng - cây thuốc quý
Cây còn có tên là đại đao, á thực, hắc phong tử, thường mọc hoang và được người dân dùng nấu canh. Cả Đông và Tây y đều sử dụng ngưu bàng làm thuốc. Ngưu bàng là cây thảo, sống hàng năm, cao 1-1,5 m, lá mọc thành hoa thị ở gốc, mọc so le trên thân. Cụm hoa hình đầu, mọc ở đầu cành, cánh hoa có màu hơi tím... Lá to rộng có hình tim, mặt dưới lá có nhiều lông trắng.
Bộ phận dùng làm thuốc là quả (ngưu bàng tử), rễ (ngưu bàng căn). Theo Tây y, rễ ngưu bàng có tác dụng lợi tiểu, ra mồ hôi, thường dùng chữa tê thấp, sưng đau khớp và một số bệnh ngoài da. Theo Đông y, ngưu bàng tử vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh nhiệt, giải độc..., chữa cảm cúm, viêm tuyến vú, viêm phổi, viêm họng, viêm tuyến nước bọt, viêm tai giữa, mụn nhọt, sởi, đậu và một số bệnh ung thư... Do cây có tính hàn nên người tỳ vị hư hàn (lạnh bụng, ăn uống chậm tiêu, không muốn ăn, thích ăn uống ấm nóng...) không được dùng.
Một số bài thuốc Nam được dùng trong dân gian:
- Chữa đậu chẩn mọc trong cổ họng: Ngưu bàng tử 8 g, cát cánh 6 g, cam thảo 3 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa cảm mạo, thủy thũng, chân tay phù: Ngưu bàng tử 80 g, sao vàng, tán bột. Ngày uống 8 g chia ba lần. Dùng nước nóng chiêu thuốc.
- Chữa phù thũng cấp tính: Ngưu bàng tử 6 g nửa sao, nửa sống, phù bình (bèo cái) sao khô 6 g. Tất cả đem tán nhỏ, ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g. Dùng nước nóng chiêu thuốc.
- Chữa viêm tuyến vú: Ngưu bàng tử 12 g, sài đất tươi 20 g, bồ công anh 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Chữa nước tiểu sẻn đỏ, ít: Ngưu bàng tử 12 g, mã đề 30 g, rau sam 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa mụn nhọt: Ngưu bàng tử 12 g, sài đất tươi 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo đất 16 g..
- Chữa viêm họng: Ngưu bàng tử 12 g, lá húng chanh 12 g, lá rẻ quạt 5 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ung thư cổ tử cung: Ngưu bàng căn 20 g, chư thực tử 20 g. Các vị tán bột, uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 6-8 g.
- Chữa các loại ung thư: Ngưu bàng tử 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ung thư vú: Ngưu bàng tử 60 g, sao vàng tán bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-8 g.
- Chữa ung thư đại tràng: Ngưu bàng căn 20 g, xích tiểu đậu 8 g, đương quy 12 g, đại hoàng 6 g, bồ công anh 12 g. Tất cả đem xay nhỏ hoặc tán bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-10 g.
- Trẻ em khóc đêm: Ngưu bàng tử tán bột mịn, băng đắp vào rốn trẻ. Ngày thay thuốc 1 lần.

Điều trị hắc lào bằng thuốc nam
Quả bồ kết có thể chữa hắc lào.
Bồ kết 12 g, phèn chua 20 g, thêm nước, đun sôi, để nguội rồi tắm. Sau khi lau khô người, bôi thuốc vào chỗ da bị tổn thương.
Các thuốc bôi bao gồm:
- Vỏ cây đại tươi 50 g; củ chút chít 50 g; cồn 70 độ 100 ml. Hai vị thuốc rửa sạch, giã nát, ngâm vào cồn 7 ngày, dùng bôi vào chỗ hắc lào ngày 1-2 lần.
- Hạt muồng châu tươi 20 g; hạt bồ kết tươi 12 g. Tất cả giã nát, ngâm vào 100 ml cồn 70 độ trong 7 ngày, dùng dung dịch bôi chỗ hắc lào ngày 1-2 lần.
- Rễ, cành, lá cây kiến cò 50 g giã nát, ngâm vào 100 ml cồn 70 độ trong 7 ngày. Dùng dung dịch trên bôi 1-2 lần lên chỗ hắc lào.
- Rễ cây bạch hoa xà (bỏ lõi) 100 g ngâm trong 20 ml cồn 90 độ. Sau 7 ngày thì lấy bôi 1-2 lần lên chỗ hắc lào.
Ngoài việc tắm thuốc và bôi các dược phẩm tự chế trên, bệnh nhân nhiễm nấm hắc lào cần thay luộc quần áo đều đặn, phơi nắng để diệt nấm và bào tử. Không chà xát vùng hắc lào để phòng gây nhiễm trùng và lan rộng tổn thương, khiến nấm ăn sâu, khó chữa hơn.