Mục Lục :
|
Các bài thuốc giải rượu
Nếu trong gia đình bạn có người uống rượu và thỉnh thoảng trở về nhà trong trạng thái quá say, hãy để dành vỏ cam, sấy khô và tán bột. Mỗi khi cần, hãy lấy 6 g bột này cho uống với nước ấm; nếu chưa công hiệu thì có thể cho uống thêm một vài lần.
Chanh tươi giúp giã rượu.
Khi có người say rượu, người tỉnh thường tìm mọi phương cách để nhanh chóng đưa họ trở về trạng thái bình thường và dự phòng các biến chứng không mong muốn. Lúc này, kinh nghiệm dân gian và các biện pháp đơn giản của y học cổ truyền sẽ rất có ý nghĩa.
Trước hết, cần cho người say rượu uống một lượng nước vừa đủ, ít nhất cũng bằng với lượng rượu uống vào, nhằm pha loãng nồng độ rượu trong cơ thể và giúp cho quá trình đào thải rượu được nhanh chóng và thuận lợi. Sau đó, tùy theo hoàn cảnh có thể dùng một trong các bài thuốc sau:
Chanh tươi 1 quả, vắt nước cho uống hoặc thái mỏng ăn cả quả càng tốt.
Lá dong (dùng để gói bánh chưng) 100-200 g, rửa thật sạch, giã nát vắt lấy nước cốt cho uống.
Vỏ quýt phơi khô (để lâu năm càng tốt) 30 g, sao thơm tán vụn; mơ chua 2 quả bỏ hột thái vụn. Hai vị sắc nhỏ lửa với 360 ml nước, sau 30 phút lọc bỏ bã, cho uống. Nếu có thêm một chút nước gừng hoặc trà gừng thì càng tốt.
Trà diệp một nắm, đậu xanh 60 g đập vụn, lá long não 10 g. Tất cả hãm với nước sôi trong bình kín, sau 10-15 phút thì dùng được, chia uống vài lần.
Trà búp 5 g, quất khô (có thể dùng mứt quất hoặc quất tươi cũng được) 16 g, thái vụn. Hai thứ hãm với nước sôi uống đặc.
Trà búp 9 g, cà rốt tươi 60 g, vỏ bí xanh 15 g. Ba vị sắc uống.
Quả cau tươi (bỏ vỏ xanh, bỏ hạt). 50 g, cam thảo 12 g (nửa để sống, nửa sao muối). Tất cả hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút thì dùng được, chia uống vài lần.
Hoa sắn dây (nếu không có dùng củ sắn dây thay thế) 10 g sắc uống. Cũng có thể hãm cùng trà búp 5 g, đậu xanh 10 g với nước sôi, chia uống vài lần.
Vỏ quả chanh 50 g, vỏ quả quýt 50 g, hoa sắn dây 25 g, hoa đậu xanh 25 g, nhân sâm 10 g, đậu khấu 10 g, muối ăn 30 g. Các vị sấy khô nghiền bột, đựng trong bình kín dùng dần. Khi say rượu, lấy 5-7 g pha nước uống, mỗi ngày 3 lần.
Sả - cây thuốc của mọi nhà
Các bộ phận của cây như thân, lá và rễ của cây sả đều có thể dùng làm thuốc để chữa các bệnh về nội, ngoại khoa. Ngoài ra, sả còn được sử dụng trong công nghệ chế biến chất “thơm” của mỹ phẩm.
Sả là loại cây sống lâu năm, mọc thành bụi cao 0,8-1,5 m. Ở vùng đất có độ ẩm cao, ráo, ít nước, sả có thể cao gần 2 m. Thân, rễ màu trắng tím. Lá giống lá lúa. Cụm hoa có nhiều bông nhỏ không cuống. Toàn cây sả có mùi thơm rất đặc biệt.
Hầu hết các loại sả đều có thể trồng làm thuốc. Sả phát triển tốt ở nơi đất xốp, thô, có độ ẩm cao, chịu mát và ít nước, mỗi tháng chỉ 2-3 lần tưới. Trồng sả đại trà phải đúng kỹ thuật, nếu trồng dày sẽ gây thiếu ánh sáng quang hợp, trồng thưa sẽ bị cỏ xâm lấn, hút hết “đạm” trong lòng đất, lá sả sẽ khô, còi, sâu, vàng úa. Cách trồng đem lại hiệu quả cao nhất là nên trồng hàng cách hàng 0,8 m cây cách cây 0,7 m.
Tinh dầu sả có khả năng hỗ trợ tiêu hóa. Để chữa ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn nôn, nôn mửa hay kích thích trung tiện, có thể uống 3-4 giọt tinh dầu sả với nước đun sôi để nguội. Tinh dầu này cũng được dùng làm thuốc diệt trừ muỗi, tẩy mùi hôi trong hồi sức cấp cứu tích cực ở các bệnh viện và những nơi bị ô nhiễm môi trường độc hại…
Lá sả dùng pha nước uống cho mát, chóng tiêu hóa thức ăn, thông tiểu tiện, chữa cảm sốt (cảm cúm), ngày dùng 15-30 g củ hoặc lá.
Lá sả cùng với lá tía tô, bạc hà, chanh, trắc bách diệp, ngải cứu, lá bưởi... dùng làm nồi lá xông rất tốt, vừa rẻ tiền, vừa có tác dụng giải cảm rất hiệu quả và không gây tác dụng phụ nào.
Những khuyến cáo mới để giữ gìn sức khỏe
Hãy hoạt động và hoạt động thật nhiều; tranh thủ vận động bằng mọi cách và mọi lúc nếu có thể. Đó là một trong những khuyến cáo mới nhất của các chuyên gia về sức khỏe dành cho mọi người trong thế kỷ 21 đầy năng động này.
Ngày nay, nhịp sống xã hội diễn tiến nhanh và phát triển không ngừng. Nhưng có một nghịch lý là con người ngày càng lười vận động thể chất. Sau một ngày làm việc căng thẳng, về đến nhà, chúng ta chỉ muốn đi nằm để lấy sức cho ngày làm việc kế tiếp. Đến cuối tuần, nhiều người lại thích ngủ dậy trễ và sau đó nằm ì một chỗ xem phim hay ti-vi. Lối sinh hoạt này cần được điều chỉnh ngay càng sớm càng tốt nếu không muốn gánh chịu những hậu quả xấu.
Hãy tìm mọi cách để vận động như: Gửi xe rồi đi bộ một quãng đến công ty, đi thang bộ thay vì đi thang máy nếu tầng lầu bạn muốn đến không quá cao, tranh thủ chơi đùa với trẻ nhỏ hay chơi cầu lông 10 phút trước khi đi tắm, đi dạo... Nói chung, nên tranh thủ vận động bằng mọi cách và mọi lúc nếu có thể. Còn nếu bạn thu xếp được khoảng 45 phút mỗi ngày để luyện tập thể dục hay thể thao thì thật quá lý tưởng.
Giảm mỡ bằng mọi cách
Mâm cơm người Việt Nam chúng ta có một “công thức chung” là bao giờ cũng gồm một món mặn, món chiên hay xào và món canh. Các thành viên trong gia đình nên bàn bạc với nhau để có một bữa ăn đủ dinh dưỡng nhưng ít mỡ như: giảm tối đa món xào, tăng cường món rau sống hay rau luộc, không ăn các loại thịt cá có nhiều mỡ. Với các thực phẩm hay dùng cho trẻ như phô mai, sữa, nên chọn loại ít béo. Chọn những siêu thị không bán hamburger và gà rán để mua sắm hay dẫn trẻ đi chơi, vì các thống kê cho thấy đa số các phụ huynh “cầm lòng không đặng” khi nhìn con cái ăn các thứ trên và “tặc lưỡi” ăn theo chúng. Nói chung, nên cố gắng chọn cho mình một chế độ ăn “thông minh” do các nhà dinh dưỡng khuyến cáo.
Bỏ thuốc lá
Chúng ta đều đã biết về tác hại của thuốc lá, nhưng không phải ai cũng từ bỏ được nó. Ngay cả nhiều thầy thuốc tuy khuyên bệnh nhân bỏ hút thuốc nhưng bản thân họ cũng chưa từ bỏ được. Nhiều lý do được đưa ra, nhưng chủ yếu vẫn là ý chí từ bỏ thuốc lá chưa đủ mạnh, hay nói cách khác là chưa thật sự muốn bỏ.
Tốt nhất, hãy bỏ từ từ từng điếu một ngày này sang ngày khác cho đến khi dứt hẳn. Nếu đãi khách, nên chọn những nhà hàng không hút thuốc hay những phòng không hút thuốc và nghĩ tới hậu quả xảy đến cho những người thân của mình, đặc biệt là trẻ em khi hít phải khói thuốc. Nên cảnh báo cho thiếu niên về tác hại của thuốc lá vì đối tượng này là những khách hàng đầy tiềm năng của các công ty thuốc lá.
Giảm stress
Xã hội phát triển tất yếu sẽ phát sinh ra nhiều tình huống stress. Bạn hãy chấp nhận nó như một điều không tránh khỏi và tìm mọi cách giảm thiểu để cảm thấy dễ chịu hơn. Có rất nhiều yếu tố tạo nên stress. Việc cần làm đầu tiên là hãy luôn suy nghĩ một cách lạc quan. Cố gắng tự chủ để kiềm chế những hành động hay lời nói mất sáng suốt có thể làm tress trầm trọng thêm. Chẳng hạn, những lúc làm việc quá căng thẳng, có thể đến vòi nước lạnh rửa mặt hoặc đắp nước vào sau gáy để thư giãn, sau đó uống chầm chậm từng ngụm nước lạnh và thở đều, sâu, chậm rãi cho đến khi lấy lại được sự thư thái.
Đừng để đêm về phải trằn trọc không ngủ được vì lo lắng đến các vấn đề trong công việc và sinh hoạt. Hãy tắt điện thoại di động ngay khi về nhà nếu có thể. Ngâm mình vào bồn tắm đồng thời thưởng thức những bản nhạc nhẹ cũng rất có ích. Nếu quá mệt, cứ việc ngủ khoảng 1 tiếng, sau đó mới làm những việc khác. Tránh tiếp xúc với những người quá khó tính... Nói chung có rất nhiều cách để giảm stress. Nếu bạn nhận biết và làm chủ được bản thân, hãy chọn những cách phù hợp nhất với chế độ sinh hoạt của mình.
Tránh bị ô nhiễm
Khi đi đường, bằng mọi cách hãy tránh để khói xe và bụi bặm đừng lọt vào mắt, mũi và họng. Không ăn uống ở những nơi có nhiều người hút thuốc hay gần nơi ô nhiễm. Nếu có điều kiện, nên chọn những nơi ít ô nhiễm và có nhiều cây xanh để sống, còn không hãy cố gắng “đưa thiên nhiên” vào nhà như tạo giếng trời, trồng cây kiểng, xây hồ cá. Hãy vệ sinh nhà cửa, quạt, máy lạnh... thường xuyên và kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu làm việc ở những nơi ô nhiễm.
Không uống rượu quá nhiều
Ngày nay, lượng rượu tiêu thụ ngày càng nhiều và lứa tuổi bắt đầu uống rượu cũng sớm hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu chỉ uống một ly nhỏ rượu vang mỗi ngày (có thể hai ly đối với nam giới) thì sẽ hạn chế được bệnh tim mạch. Nhưng việc uống nhiều hơn có thể sẽ gây ra những vấn đề về sức khỏe như bệnh gan, thận hay ung thư. Do đó, nếu muốn sống lâu, đương nhiên bạn phải biết dùng rượu ở mức độ vừa phải.
Kiểm tra sức khỏe định kỳ
Nhiều người rất bất ngờ khi được thầy thuốc cho biết có khối u trong cơ thể từ lâu nhưng không được phát hiện. Rất nhiều người bị bệnh tim, tai biến mạch máu não, tiểu đường hay ung thư cổ tử cung... cho biết, họ thật sự hối tiếc khi không chịu kiểm tra sức khỏe định kỳ nên đã không phát hiện sớm tình trạng bệnh của mình, chỉ đến khi bệnh trở nặng mới biết, khiến việc điều trị và khả năng phục hồi trở nên khó khăn hơn. Do đó, hãy dành chút thời gian để kiểm tra sức khỏe định kỳ, và bạn sẽ thấy điều này có lợi thế nào cho sức khỏe của mình.
Một số bệnh lý đặc thù của nam giới
Suy chức năng tinh hoàn là một bệnh hay gặp ở nam giới, cứ 500 người thì có một người mắc. Bệnh xuất hiện khi tinh hoàn không bài tiết đủ testosteron hoặc tinh trùng, thậm chí cả hai.
Do đặc điểm và cấu tạo cơ thể, nam giới sẽ có một số bệnh lý mang tính đặc thù như hói đầu kiểu nam, viêm tuyến tiền liệt, ung thư tinh hoàn. Sau đây là một số bệnh lý thường gặp:
Hội chứng Alport: Là một bệnh về gene, ảnh hưởng đến thận, tai và mắt. Hội chứng mang tên bác sĩ Alport vì từ năm 1927, ông đã mô tả một gia đình người Anh có nhiều thành viên bị bệnh thận và điếc. Nam giới trong gia đình này đã tử vong vì bệnh thận, trong khi những thành viên nữ ít khi bị bệnh và sống bình thường.
Hầu hết các trường hợp của hội chứng Alport đều do sự biến dị ở gene tạo keo có tên là COL 4A5 gây nên. Gene này nằm trên nhiễm sắc thể (NST) X. Vì phụ nữ có 2 NST X, nên những phụ nữ bị bệnh thường có một gene bình thường và một gene không bình thường, bệnh không biểu hiện ra ngoài. Còn nam giới bị bệnh chỉ có một NST X, vì vậy nếu NST X mà họ kế thừa có biến dị COL 4A5 thì sẽ bị bệnh. Chất tạo keo týp IV có ở màng đáy của cầu thận, giúp lọc chất thải để bài xuất theo nước tiểu và giữ lại các phân tử còn có ích trong máu. Trong hội chứng Alport, chất tạo keo bất thường đã làm hỏng chức năng lọc, dẫn dến sự đào thải cả protein và hồng cầu qua nước tiểu. Tiểu ra máu là dấu hiệu thường gặp của mọi thể bệnh. Trong tai, chất tạo keo bất thường ở ốc tai gây ra hiện tượng điếc dần dần. Chất tạo keo bất thường cũng ảnh hưởng đến thủy tinh thể của mắt.
Hói đầu kiểu nam: Enzym 5-alpha reductase lần đầu tiên được phát hiện ở tuyến tiền liệt, gây xúc tác để chuyển testosterone thành dihydrotestosterone. Hoóc môn này gắn với thụ thể androgen, thúc đẩy sự phát triển cơ quan sinh dục ngoài và tuyến tiền liệt. Gene chi phối enzym 5-alpha reductase nằm trên NST 5.
Gần đây, người ta đã phát hiện enzym 5-alpha reductase có ở da đầu và một số vùng da khác để thực hiện một phản ứng giống như ở tuyến tiền liệt. Các nhà khoa học cho rằng sự rối loạn hoạt động của enzym 5-alpha reductase trong các tế bào da có thể đã góp phần gây ra hói đầu kiểu nam, trứng cá hay chứng mọc lông nhiều.
U tuyến tiền liệt.
U lành tuyến tiền liệt: Là loại u thường gặp nhất ở nam giới. Ở tuổi trưởng thành, tuyến tiền liệt nặng khoảng 20 g. Với một số người, tuyến tiền liệt nhỏ đi nhưng đa số tuyến phì đại và trở thành u lành. Ở Việt Nam, đối với nam giới trên 50 tuổi, tỷ lệ này là 50-60%. Hai yếu tố quan trọng gây u lành tuyến tiền liệt là tuổi tác và testosterone.
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh là rối loạn tiểu tiện. Mức độ rối loạn nặng hay nhẹ thể hiện qua 1 tháng theo dõi các biểu hiện sau:
- Cảm giác vẫn còn nước tiểu sót lại trong bàng quang sau mỗi lần đi tiểu.
- Phải đi tiểu lại trong khoảng thời gian chưa đến 2 giờ.
- Số lần không thể nhịn được tiểu.
- Số lần thấy tia nước tiểu yếu.
- Số lần phải rặn gắng sức mới tiểu được…
Nếu có một số triệu chứng trên, cần đến ngay cơ sở y tế khám và điều trị. Nếu u quá to (trên 60 g), có phối hợp sỏi bàng quang, u bàng quang, túi thừa bàng quang, sỏi thận… thì phải mổ.
Viêm tuyến tiền liệt: Thường xảy ra ở người có tuổi, nhưng cũng có khi gặp ở người trẻ. Nguyên nhân thường do virus hoặc vi khuẩn. Thỉnh thoảng, viêm tuyến tiền liệt có ảnh hưởng đến sự xuất tinh. Triệu chứng bao gồm đau lưng, đau vùng tiểu khung, xuất tiết dịch đục ở dương vật, thay đổi thời gian tiểu tiện. Nếu viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn thì có thể điều trị bằng kháng sinh, không do vi khuẩn thì điều trị bằng phương pháp xoa bóp. Thầy thuốc cho ngón tay qua trực tràng rồi ép nhịp nhàng vào tuyến tiền liệt.
Ung thư tuyến tiền liệt: Là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở Mỹ. Tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt tăng lên theo tuổi, hơn 75% gặp ở người trên 65 tuổi. Mặc dù bệnh chiếm tỷ lệ cao nhưng đến nay người ta vẫn chưa rõ cơ địa bẩm sinh nào khiến một số nam giới dễ mắc bệnh. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy lịch sử gia đình là yếu tố nguy cơ chính, có thể là nguyên nhân của khoảng 5-10% số ung thư tuyến tiền liệt.
Khi tuổi cao dần thì tuyến tiền liệt thường cũng to lên. Vì vậy, theo dõi sự phát triển của tuyến tiền liệt bằng cách khám qua trực tràng hàng năm là vấn đề rất cần thiết cho những người trên 40 tuổi.
Giai đoạn đầu của ung thư tuyến tiền liệt không có triệu chứng gì, vì thế khi bệnh nhân đến khám thì tỷ lệ có di căn thường đã lên tới 40%. Tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm…
Suy chức năng tinh hoàn: Do tinh hoàn không bài tiết đủ testosteron hoặc tinh trùng hay cả hai. Ngoài chức năng sản xuất tinh trùng, tinh hoàn còn bài tiết ra testosteron - chất có vai trò quan trọng trong sự phát triển và duy trì những đặc tính thể chất kiểu nam. Trong giai đoạn bào thai, phải có testosteron thì cơ quan sinh dục ngoài của nam mới thành hình được. Trong tuổi dậy thì, testosteron cần bảo đảm đủ để phát triển các đặc tính giới thứ phát như mọc râu, cơ bắp, vỡ giọng. Đến tuổi trưởng thành, testosteron giúp duy trì cơ bắp nở nang và sức mạnh thể chất, khối xương, sản xuất tinh trùng, ham muốn và khả năng tình dục.
Ung thư tinh hoàn: Phát triển từ những tế bào của tinh hoàn, là bệnh lý gặp ở nam giới trẻ, độ tuổi từ 15-30. Bệnh đang có chiều hướng gia tăng. Những điều kiện thuận lợi để ung thư tinh hoàn phát triển là: Gia đình có tiền sử ung thư; tinh hoàn không xuống bìu trong tuổi thiếu niên; tinh hoàn bị chấn thương; viêm tinh hoàn do quai bị sau tuổi dậy thì; người mẹ đã được điều trị bằng hoóc môn trước khi sinh. Giai đoạn đầu của ung thư tinh hoàn thường không có dấu hiệu gì đặc biệt, chỉ thấy tinh hoàn to và rắn khi sờ nắn, cũng có thể không đau hoặc hơi đau. Đôi khi có thêm cảm giác nằng nặng ở bìu, sốt và hơi đau ở vú. Nếu được phát hiện sớm thì đối với thể ung thư tinh hoàn thường gặp nhất là ung thư tuyến tinh (Seminoma), tỷ lệ chữa khỏi có thể lên đến gần 100%. Nếu không được điều trị sớm, các tế bào ung thư có thể lan theo hệ bạch huyết đến các hạch bạch huyết ở bụng, ngực, cổ và cuối cùng là phổi. Vì không có đường liên lạc trực tiếp về bạch huyết giữa 2 tinh hoàn nên khó xảy ra di căn ung thư từ tinh hoàn bệnh sang tinh hoàn lành.
Viêm tinh hoàn: Là biến chứng của quai bị, tuyến nước bọt mang tai ở tuổi vị thành niên bị viêm do virus., Sau thời gian ủ bệnh từ 14-28 ngày, tuyến nước bọt mang tai bắt đầu sưng. Biến chứng thường gặp của quai bị là gây viêm tinh hoàn ở nam hoặc viêm buồng trứng ở nữ, 3-4 ngày sau khi tuyến nước bọt mang tai sưng. Với nam có thể thấy tinh hoàn sưng đau trong 1-2 ngày, sau đó giảm và thường không để lại di chứng gì, nhưng người trẻ hay người trưởng thành có thể bị biến chứng viêm tinh hoàn sau quai bị dẫn đến giảm số lượng tinh trùng.
Bí ẩn của hơi thở
Kiểm soát hơi thở giúp phòng tránh bệnh tật.
Rất nhiều người hay để cho sự tức giận chi phối mình, hoặc dễ gây gổ, đánh nhau mà không biết rằng mỗi lần giận dữ là mỗi lần tự đầu độc. Lúc đó, trong hơi thở của họ sẽ có nhiều chất độc với hàm lượng cao.
Pantajali, một đạo sư Ấn Độ, người thầy vĩ đại của môn phái Yoga ở thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên nói rằng, từng kiểu hơi thở và nhịp điệu riêng của nó thích ứng với từng trạng thái khác nhau của tư tưởng.
Bạn có thể chiêm nghiệm điều này. Khi nào bạn hân hoan, vui cười thì nhịp thở kéo dài, nét mặt rạng rỡ; khi gặp người yêu thì hơi thở ngắn, dồn dập, bạn trở nên bẽn lẽn, rạo rực; khi bạn tĩnh lặng không làm việc gì thì hơi thở điều hòa, sâu, chậm.
Lúc nào bạn thấy yên tĩnh, hân hoan, hạnh phúc, vui vẻ, bạn hãy ghi nhớ kỹ nhịp thở lúc đó. Lúc cơn giận đến, bạn hãy dùng ý chí để không cho phép thay đổi nhịp điệu, mà phải giữ nhịp thở như khi hạnh phúc hân hoan; nhất định cơn giận không thể kéo đến được.
Ngày nay có nhiều người, nhất là bạn trẻ, hay tức giận, gây gổ, đánh nhau. Các bạn ấy không biết rằng mỗi lần tức giận là mỗi lần làm cơ thể mình bị nhiễm độc, gây hậu quả xấu không chỉ về mặt tư tưởng, tính cách mà còn về thể xác nữa. Bác sĩ Gate (Mỹ) đã làm thí nghiệm: hứng hơi thở của người bình thường vào ống nghiệm ướp lạnh, để hơi đó ngưng tụ và không thấy có cặn bã nào đáng kể. Năm phút sau, ông làm người này tức giận, nổi nóng, và hơi thở trong ống nghiệm ngưng tụ một chất cặn bã màu nâu nhạt. Đem chất này chích vào con vật, nó gây nên sự co giật lớn. Điều đó chứng tỏ trong cơn nóng giận, cơ thể tạo chất độc hại gây căng cứng, co giật, có thể làm bế tắc hoặc co hẹp mạch máu, tổn hại thần kinh, tim, huyết áp... Khi giận dữ, độc tố từ các hạch nội tiết chảy vào huyết quản, số lượng bạch cầu giảm sút nhanh chóng.
Khi lòng ham muốn, thèm khát, dục vọng bốc cao, nếu bạn lập tức điều hòa hơi thở thì dục vọng chấm dứt. Lúc nào tư tưởng tán loạn, nhảy nhót lung tung, bồn chồn, lo sợ, căng thẳng, việc đầu tiên bạn cần làm hít vào sâu, nín thở vài ba giây, bụng phình, sau đó thở ra từ từ và cũng nín thở vài ba giây. Nhịp nín thở khi hít vào và thở ra là tùy sức mỗi người. Đây là cách thở bụng 4 thì của các nhà luyện dưỡng sinh khí công, Yoga. Cụ thể như sau:
Pha 1: Bắt đầu từ thở ra, nhẹ, sâu, dài cho hết CO2 để không có không gian tích tụ, ôxy có thể vào tận cùng các phế nang ở đáy phổi. Nếu không ở đáy phổi sẽ thiếu ôxy triền miên.
Pha 2: Nín thở tùy sức.
Pha 3: Hít vào bằng mũi, êm, nhẹ, để mũi kịp điều chỉnh nhiệt độ và ngăn bụi, vi khuẩn. Lưỡi sát hàm răng trên, mặt tươi tỉnh, lắng nghe hơi thở ra vào. Chủ động hạ cơ hoành tự nhiên, ép bụng dưới làm bụng phình lên; hít vào đến khi nào không hít được nữa; thư giãn toàn thân, mắt lim dim, dần dần chuyển vào trạng thái anpha (sóng não dao động 4-10 héc/giây).
Pha 4: Nín thở tùy sức. Sau đó trở lại pha 1 (thở ra...).
Mỗi ngày, nên tập thở dưỡng sinh 1-2 lần vào tối trước khi ngủ và sáng lúc thức dậy. Tập ngoài trời hoặc ngồi tập ngay trên giường đều được. Tập lâu sẽ thành thói quen, có thể hóa giải được bệnh thông thường, nâng cao sức khỏe, làm chậm sự lão hóa cơ thể.
Khi thở ra và nín thở, bạn đã tống độc ra ngoài và cơ thể có một khoảng trống. Những độc tố như nitơ, CO2 tích tụ ở tim. Khi bạn hít vào và ngưng lại thì khí độc lại hòa trộn vào hơi thở, vào máu để thải theo hơi thở ra, cùng với chúng là cả nỗi sầu muộn. Hơi thở được duy trì sâu, đều, thường xuyên thì cơ thể bạn sinh sôi nảy nở, thay cũ, đổi mới, người vui vẻ khỏe mạnh. Các nhà Yoga đã tìm ra điều cơ bản sâu sắc là hơi thở quan trọng hơn tư tưởng. Nó có thể đẩy đi những chướng ngại xấu xa đã ăn sâu vào tiềm thức; cấy vào bạn hạt mầm Chân - Thiện - Mỹ, vốn là bản tính của con người, nhiều khi bị che lấp đi do những âu lo của cuộc sống. Nếu thay đổi được nhịp điệu hơi thở, bạn sẽ thay đổi được trạng thái tư tưởng, suy nghĩ và lối sống của mình. Thay đổi hơi thở cũng có nghĩa là thay đổi hướng nhìn, “nhìn” vào bên trong, lắng nghe nội tâm.
Sau một thời gian luyện tập thở bụng 4 thì, bạn sẽ thấy lúc nào cũng dễ chịu, sảng khoái, đầy tính năng động. Điều đó chứng tỏ thở bụng đã tác động đến sinh lý nội tạng, đến ổn định và điều hòa hoạt động thần kinh. Nếu bạn kiên trì tập thở đều đặn, thường xuyên, có ý thức, tự tin và quyết tâm tạo thành thói quen, xóa bỏ cách thở ngắn, nông cạn như thói quen hiện nay thì một cảm nhận, trực quan kỳ lạ sẽ xảy ra, hào quang tỏa sáng trước ấn đường, mắt bạn tinh anh hơn, bạn nhìn thế giới xung quanh mới mẻ, tươi đẹp hơn.
Lương y Minh Chánh
Những khuyến cáo mới khi đo huyết áp
BÙI NGUYÊN KIỂM
Trải qua hơn một thế kỷ sử dụng, đến nay việc đo huyết áp bằng huyết áp kế vẫn là phương pháp thường quy để chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh tăng huyết áp. Tuy nhiên trên thực tế, việc đo huyết áp theo cách thông thường ngày càng bộc lộ nhiều khiếm khuyết, trong khi căn bệnh giết người âm thầm này đang ngày một tăng cao trên toàn thế giới. Bài viết dưới đây xin giới thiệu cùng bạn đọc những khuyến cáo mới về cách đo huyết áp.
Kỹ thuật đo huyết áp chính xác
1. Cần chỉnh đúng huyết áp kế. Ðo huyết áp bằng huyết áp kế thủy ngân vẫn được xem là cách chính xác trong việc chẩn đoán tình hình bệnh lý và đánh giá đáp ứng điều trị bệnh. Sau một thời gian sử dụng, đa số huyết áp kế đồng hồ, huyết áp điện tử đều có sai lệch, vì vậy nên được chuẩn lại sau mỗi 3 tháng sử dụng.
2. Trước khi đo huyết áp, người được đo cần ngồi nghỉ ngơi hoàn toàn trên ghế ít nhất 5 phút, chân đặt lên sàn nhà, tay đặt trên bàn ngang mức tim. Ðây là tư thế của mức huyết áp thường diễn ra hàng ngày.
3. Ðo huyết áp tư thế đứng, được đo định kỳ mỗi 3-6 tháng, đặc biệt ở những người có nguy cơ hạ huyết áp tư thế (suy tĩnh mạch, đái tháo đường.).
4. Băng quấn tay phải quấn được 80% cánh tay người được đo. Với người to lớn hoặc người quá béo, bao tay nhỏ có thể làm tăng số đo (sai số tới 10-15mmHg và ngược lại).
5. Ðo ít nhất 2 lần cách nhau ít nhất 2 phút cho mỗi lần đo huyết áp. Trị số huyết áp chính xác là giá trị trung bình cộng của 2 lần đo nói trên. Nếu 2 lần đo chênh lệch nhau > 5mmHg, cần thực hiện lần đo thứ 3 và lấy trung bình cộng của cả 3 lần đo.
6. Huyết áp tâm thu được tính từ 2 tiếng đập liên tiếp đầu tiên; Ðể tránh nhầm với "lỗ thủng huyết áp" của người cao tuổi có xơ vữa động mạch hay người bị hẹp van động mạch chủ (chỉ có một tiếng đập đầu tiên).
7. Huyết áp tâm trương được tính khi tiếng đập cuối cùng mất đi.
8. Cần đo tay đối bên để đối chiếu mức huyết áp của hai tay.
9. Người đo huyết áp nên nói hoặc ghi lại cho người được đo trị số huyết áp cũng như mức huyết áp mục tiêu của họ.
Một số điểm cần lưu ý khi đo huyết áp
Số đo huyết áp là trị số biến thiên thay đổi theo nhịp sinh học (thức ngủ, ngày đêm) và chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố như các chất kích thích, thuốc men, trạng thái tâm lý, vận động thể lực... Vì vậy, con số huyết áp lúc đo chỉ đánh giá được tình trạng huyết áp ngay vào thời điểm đó mà thôi. Muốn phản ánh chính xác tình trạng huyết áp thực sự của người bệnh, cần sử dụng kỹ thuật theo dõi huyết áp 24 giờ.
Lý tưởng nhất là đo áp lực máu ở trung tâm, tức huyết áp ở động mạch chủ - Bởi vì, người ta thấy những biến chứng chính của bệnh tăng huyết áp như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim thường ảnh hưởng lên các mạch máu gần trung tâm hơn là các mạch máu chi, nơi chúng ta vẫn thường đánh giá mức huyết áp. Với cách đo thông thường hiện nay, việc xác định con số huyết áp sẽ không được chính xác ở bệnh nhân có xơ vữa động mạch, người có suy giảm tính đàn hồi của thành mạch.
"Hiệu ứng áo choàng trắng" dùng để chỉ tình trạng phản ứng nhất thời do lo lắng khi gặp thầy thuốc của một số bệnh nhân. Nếu xác định bệnh tăng huyết áp, nên được đo ít nhất 3 lần, cách nhau mỗi tuần lễ và nếu có kê đơn thuốc hạ áp, không được dùng loại thuốc quá mạnh cho bệnh nhân mới được phát hiện bệnh. Tuy nhiên, người ta thấy những bệnh nhân này ít nhiều có cường thần kinh giao cảm và theo dõi hơn chục năm sau, tỷ lệ tăng huyết áp cao rõ rệt.
Việc tự đo huyết áp hàng ngày tại nhà được khuyến khích vì giúp nâng cao sự quan tâm của bệnh nhân với điều trị, cũng như giúp bệnh nhân có thông tin ngay về mức độ hiệu quả hạ huyết áp của thuốc. Tuy nhiên việc đo huyết áp tại nhà cần có một hiểu biết kỹ thuật nhất định và máy đo huyết áp phải được kiểm tra đều đặn để đảm bảo độ chính xác, nó cũng giúp tránh được hiện tượng "tăng huyết áp áo choàng trắng". Vì vậy, khi đo ở nhà, nếu số đo mức huyết áp trung bình > 135/85mmHg cũng đã được xem như bị tăng huyết áp.
Mỗi khi phát hiện một con số huyết áp cao, cần nhớ rằng chẩn đoán cuối cùng của bệnh tăng huyết áp là chẩn đoán lâm sàng một hàm số của các yếu tố nguy cơ, tác động của mức huyết áp đến bệnh nhân và mức huyết áp hiện nay. Chẳng hạn một lần đo thấy mức huyết áp là 140/90mmHg thì chưa phải là lời tuyên án cho bệnh nhân sẽ phải điều trị suốt đời.
Trước nay dụng cụ đo huyết áp bằng cột thủy ngân vẫn được coi như "tiêu chuẩn vàng" của phương pháp đo huyết áp, nhưng càng ngày, người ta càng nhận ra những giới hạn của nó. Ðiều này đặc biệt đúng khi chúng ta biết rằng tăng huyết áp chủ yếu ảnh hưởng lên các động mạch lớn, chứ không phải các động mạch trung bình hay động mạch nhỏ. Cho nên điều quan trọng là làm sao đánh giá được áp lực động mạch trung ương bằng những phương tiện mới sẽ được sử dụng hàng ngày trong thực tế.
Sáng xoa mặt, tối xoa chân
–
Một phương pháp tự phòng bệnh & chữa bệnh đơn giản, hiệu quả
ÐẶNG NGỌC DIỄM
Phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả mọi người để giữ gìn sức khỏe. Như chúng ta biết bộ mặt, vành tai, bàn tay, bàn chân, lưng, ngực là những cơ quan phản ánh toàn bộ tình trạng cơ thể, do đó nếu mỗi sáng và tối, các bạn chịu khó xoa mặt, mũi, chân tay như hướng dẫn dưới đây thì chắc chắn sẽ phòng ngừa hoặc giảm được bệnh tật. Quan trọng là cần thực hiện một cách nghiêm túc, đều đặn mỗi ngày.
A. SÁNG XOA MẶT
Có 8 động tác, mỗi động tác xoa từ nửa phút đến một phút (30-60 lần). Sáng sớm vừa ngủ dậy, trước khi xuống giường, xoa 2 tay vào nhau cho nóng rồi làm 8 động tác sau đây:
1. Xoa hai ổ mắt: Úp 2 cườm tay lên 2 ổ mắt (tay chạm xung quanh mắt, gờ xương, không đè mạnh vào mắt), xoa vòng quanh mắt cho đủ 30 lần. Công dụng: làm cho mắt tinh và sáng, khai thông khí huyết, đỡ mệt mỏi, nhức tê 2 tay.
2. Xoa mũi: Có 2 động tác
Ðặt 2 ngón tay trỏ miết vào 2 cạnh bên mũi lên tới cạnh mắt 30 lần. Sau đó chập 2 ngón tay cái và trỏ vuốt từ trên đầu sống mũi xuống 30 lần. Công dụng: Làm cuống phổi, cuống họng, lá mía, sống lưng, mông, háng khỏe lên. Ðặc biệt động tác miết ngược từ 2 cánh mũi lên mắt còn chữa được bệnh sa tử cung ở phụ nữ, có tác dụng cường dương đối với nam giới.
3. Xoa má: Dùng 2 tay xoa toàn bộ má mỗi bên 30 lần. Công dụng: Làm cho toàn bộ xương sườn, cánh lưng, thần kinh sườn, hai lá phổi, gan, mật, dạ dày được thông thoáng.
4. Xoa tai: Dùng 2 ngón tay cái để sau 2 tai, các ngón còn lại để ở phía trước tai rồi xoa vành tai và toàn bộ tai mỗi bên 30 lần. Công dụng: Trị tai ù, tai điếc... Ngoài ra còn trị được nhiều bệnh ngoại vị và nội tạng của cơ thể.
5. Xoa trán: Úp bàn tay xoa toàn bộ trán, mỗi tay xoa 30 lần. Công dụng: Chữa các bệnh thuộc lục phủ ngũ tạng.
6. Xoa miệng, cằm: Dùng cả bàn tay xoa toàn miệng cằm, mỗi tay xoa 30 lần. Công dụng: Chữa các bệnh thuộc lục phủ ngũ tạng.
7. Cào trên đầu: Lấy 10 đầu ngón tay của 2 bàn tay cào từ trước đầu ra sau, xong từ đỉnh tai kéo ra sau ót 30-60 lần. Công dụng: Giúp máu lưu thông lên não, chữa đau mỏi toàn thân, tốt cho hệ thần kinh não bộ, đặc biệt đối với chân tay người liệt.
8. Xoa sau ót: Dùng cả bàn tay xoa sau gáy và ót, mỗi tay xoa 30 lần. Công dụng: Tăng sức chịu đựng của toàn bộ cơ thể.
Tóm lại: Xoa mặt buổi sáng có 4 tác dụng: Giúp khí huyết lưu thông toàn bộ cơ thể; Da dẻ mịn màng, đẹp đẽ; Làm tiêu nám, mụn trên da mặt; Giúp mắt tinh, tai thính, tỉnh táo, dễ chịu...
Chú ý: Sau khi thực hiện xong khoảng 5 phút nên rửa mặt bằng khăn bông nhúng nước ấm, rồi dùng khăn chà sát kỹ mặt, cổ, gáy, nếu nguội có thể nhúng tiếp nước ấm. Ðây là động tác bổ sung cho cách xoa mặt bằng tay nói trên để đạt hiệu quả tốt hơn.
B. TỐI XOA CHÂN
Ngược lại với xoa mặt, các bạn nên xoa chân vào buổi tối trước khi đi ngủ. Thực hiện 6 động tác sau:
Ðộng tác 1: Ngồi trên sàn, bàn chân trái đặt lên đầu gối chân phải. Bàn tay trái để lên mu bàn chân, bàn tay phải đặt dưới lòng bàn chân. Sau đó vuốt nhẹ bàn chân theo hướng mũi tên trong ảnh. Ðổi chân và lặp lại động tác này.
Ðộng tác 2: Ðặt cổ chân trái lên đầu gối phải. Dùng ngón tay cái ấn nhẹ và xoa đều lên phần mặt trong của gót chân theo hướng mũi tên như trong ảnh.
Ðộng tác 3: Ngón tay cái đặt phía dưới lòng bàn chân, sau đó ấn và vuốt nhẹ theo đường rãnh giữa những ngón chân.
Ðộng tác 4: Dùng ngón cái của bàn tay trái ấn và miết nhẹ theo đường mũi tên như trong ảnh cho đến ngón cái của bàn chân.
Ðộng tác 5: Ðặt bàn chân trái lên đầu gối và kéo mũi chân hơi chúi xuống đất. Dùng ngón tay cái xoa lòng bàn chân thành hình những vòng tròn nhỏ theo hướng mũi tên trong ảnh.
Ðộng tác 6: Nắm lấy những ngón chân, bóp và vuốt nhẹ như trong ảnh.
Sau đó lặp lại động tác 1. Trong suốt quá trình thực hiện các động tác đừng quên thoa một ít dầu massage.
Trong khi thực hiện các động tác sáng xoa mặt, tối xoa chân nói trên, hãy cố gắng tìm những chỗ đau thốn, khó chịu nhất trên mặt, chân và day ấn chỗ đó nhiều hơn (trừ trường hợp là mụn đầu bạc hay sưng tấy). Day từ nhẹ tới mạnh đến khi nào hết đau mới thôi (nếu cần có thể làm mỗi ngày vài lần). Ðây là những bí quyết rất đơn giản nhưng hữu hiệu vì các điểm đau thốn trên da là những sinh huyệt báo hiệu bệnh sắp hay đang xảy ra. Day ấn các điểm trên sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh làm lành bệnh một cách tự nhiên.
Trà dược chống mệt mỏi sau lao động
HOÀNG KHÁNH TOÀN
Sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi, chúng ta có nhiều cách để phục hồi sức khỏe như chơi thể thao, tập khí công, ăn uống bồi bổ sức lực, nằm thư giãn. Tuy nhiên có một phương pháp còn ít người biết đến là dùng trà dược của y học cổ truyền. Gọi là trà bởi vì cách sử dụng của nó cũng tương tự như pha trà uống thường ngày, chứ không nhất thiết trong thành phần phải có trà thực thụ. Người ta thường căn cứ vào tính chất công việc, thời tiết và thể chất của người dùng để lựa chọn loại trà dược cho phù hợp nhằm thu được hiệu quả cao nhất. Có thể dẫn một vài loại trà dược điển hình sau:
1. Ðộc sâm trà
Nhân sâm thái phiến hoặc nghiền vụn, mỗi ngày dùng 3-9g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 10 phút thì dùng được, uống thay trà. Nếu không có sâm củ thì dùng trà sâm đóng gói sẵn thay thế. Có công dụng bổ khí cường thân, hồi phục sinh lực sau lao động rất tốt, đặc biệt là lao động cơ bắp. Người bị huyết áp cao không nên dùng.
2. Nhân sâm đại táo trà
Nhân sâm 3-5g thái phiến, đại táo 10 quả bỏ hột, hãm với nước sôi trong bình kín sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng bổ khí sinh huyết.
3. Nhân sâm liên tử trà
Nhân sâm 6g thái phiến, liên tử (hạt sen) 10g đập vụn ngâm trong nước 30 phút, cho thêm một chút đường phèn rồi hấp cách thủy, sau 1 giờ thì dùng được, uống nước ăn cái trong ngày. Có công dụng bổ ích tỳ phế, cường tráng thân thể.
4. Tăng dịch ích âm trà
Huyền sâm 15g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, sinh địa 12g, ngọc trúc 12g. Các vị thái phiến hoặc nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín 15 phút, uống thay trà trong ngày. Có công dụng dưỡng âm, sinh tân, nhuận táo, rất tốt cho những người lao động trong điều kiện nắng nóng, háo khát do ra mồ hôi nhiều. Người tỳ hư đi lỏng không nên dùng.
5. Thanh hao mai đông trà
Thanh hao 15g, ô mai 7g, mạch môn 10g, lá sen tươi 9g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng thanh nhiệt khứ thử, sinh tân chỉ khát, rất tốt cho những người lao động trong mùa hè nắng nóng, môi khô, miệng khát, ra mồ hôi nhiều. Người tỳ vị hư yếu, tiết tả không nên dùng.
6. Hoàng kỳ táo khương trà
Hoàng kỳ sao 10g, đại táo 3 quả bỏ hột, gừng tươi 2 lát. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng ích khí phù chính, hòa dinh cố biểu, rất tốt cho những người làm việc trong thời tiết gió rét, băng giá dễ bị cảm mạo.
7. Quế chi cam thảo trà
Quế chi 10g, cam thảo sống 5g nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng ôn bổ tâm dương, hòa dinh ích khí, dùng rất tốt cho những người lao động ngoài trời vào mùa đông hoặc công nhân nhà máy nước đá, đông lạnh. Những người có chứng nhiệt không nên dùng.
8. Ngũ vị táo nhân kỷ tử trà
Ngũ vị tử 6g, kỷ tử 6g, toan táo nhân sao đen 6g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng định tâm an thần, kiện não ích trí, dùng rất tốt cho những người lao động trí óc dễ căng thẳng thần kinh.
9. Thủ ô đan sâm trà
Hà thủ ô chế 25g, đan sâm 25g, mật ong vừa đủ. Các vị tán vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng ích thận bổ can, hoạt huyết hóa ứ, dùng rất tốt cho những người bị thiểu năng mạch vành, cao huyết áp. Người có huyết áp thấp không nên dùng.
10. Ba kích đỗ trọng ngưu tất trà
Ba kích 20g, ngưu tất 15g, đỗ trọng 20g, ngũ vị tử 9g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Có công dụng ôn bổ thận can, làm mạnh gân cốt, dùng rất tốt cho những người lao động cơ bắp phải bê vác, vận động cột sống nhiều.
Ngoài công dụng chống mệt mỏi do lao động, nếu dùng thường xuyên các loại trà dược nói trên còn góp phần chữa trị các bệnh mạn tính. Tất cả đều rất đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm và dễ dùng. ?
Bệnh sưng đau các khớp (chứng tý)
BS. TRẦN VĂN BẢN
ÐẠI CƯƠNG
Sưng đau các khớp theo Ðông y thuộc phạm vi chứng tý. Bệnh thuộc hệ cơ, khớp xương ở tứ chi và cơ nhục.
Tý có nghĩa là không thông của kinh lạc, khí huyết gây ra bệnh lý ở các phần kể trên.
Chứng tý tùy nguyên nhân gây bệnh khác nhau mà chia làm 3 loại: Phong thắng gọi là hành tý; Hàn thắng gọi là thống tý; Thấp thắng gọi là trước tý.
NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH
Nguyên nhân do thời tiết ẩm thấp hoặc tiếp xúc, lao động, nằm ngồi nơi ẩm ướt, hay sau khi làm việc mệt nhọc, bị mưa, rét làm cho ba thứ khí: Phong, Hàn, Thấp nhân lúc chính khí hư yếu, tấu lý sơ hở, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, lưu lại ở kinh lạc, gân cơ, xương khớp làm cho khí huyết không lưu hành được mà phát ra bệnh.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
1. Hành tý: Do phong tà là chính
Triệu chứng lâm sàng: Sưng đau hoặc đau mỏi các khớp, gân cơ, thớ thịt, đau di chuyển, có khi hết hẳn nhưng tự nhiên lại xuất hiện trở lại; sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù.
Phương pháp điều trị: Tán phong, khu hàn, trừ thấp.
Bài thuốc: Bài phòng phong thang:
Phòng phong 16g, hoàng cầm 12g, xuyên quy 16g, cát căn 16g, xích phục linh 12g, khương hoạt 10g, hạnh nhân 8g, quế chi 8g, tần giao 12g, cam thảo 6g.
Cách bào chế: Hạnh nhân bỏ vỏ, xuyên quy tẩm rượu, quế chi cạo bỏ vỏ. Mười vị trên + 2.000ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.
Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.
2. Thống tý: Do hàn là chính
Triệu chứng lâm sàng: Sưng đau các khớp, cơ, xương. Ðau cố định dữ dội, ít hoặc không di chuyển. Tại vùng sưng đau không nóng, không đỏ, chân tay lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng. Mạch phù, trì hoặc nhu hoãn.
Phương pháp điều trị: Tán hàn, khu phong, trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.
Bài thuốc: Ðộc hoạt tang ký sinh gia giảm.
Ðộc hoạt 12g, đương quy 12g, ngưu tất 8g, tang ký sinh 8g, thục địa 12g, nhân sâm 8g, tần giao 8g, thược dược 12g, phục linh 12g, phòng phong 8g, xuyên khung 6g, cam thảo 4g, tế tân 4g, đỗ trọng 8g, quế tâm 6g.
Cách bào chế: Các vị trên + 1.900ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 300ml.
Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.
3. Trước tý: Do thấp tà là chính
Triệu chứng lâm sàng: Các khớp đau mỏi, nặng nề, vận động khó khăn, cảm giác tê, đôi khi sưng đau nếu thấp phối hợp với nhiệt có sưng nóng, người mệt mỏi rã rời. Rêu lưỡi dính, nhớt. Mạch nhu hoãn.
Phương pháp điều trị:
+ Nếu thiên về thấp hàn: Táo thấp khu hàn, tán phong.
+ Nếu thiên về thấp nhiệt: Táo thấp thanh nhiệt, tán phong.
Bài thuốc
+ Nếu thiên về thấp hàn: Bài trừ thấp quyên tý thang.
Thương truật 16g, trần bì 8g, bạch truật 16g, cam thảo 6g, phục linh 16g, khương hoạt 12g, trạch tả 16g, sinh khương trấp 4 giọt, trúc lịch 4 thìa cà phê.
- Cách bào chế: Thương truật tẩm nước gạo sao. Bảy vị trên (trừ sinh khương và trúc lịch) + 1.500ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.
- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.
+ Nếu thiên về thấp hàn, dùng bài Nhị diệu thang: thương truật 48g, hoàng bá 48g.
- Cách bào chế: Thương truật tẩm nước gạo sao, hoàng bá tẩm rượu vi sao. Hai vị trên + nước 1.200ml, sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.
Chú ý: Trong quá trình biện chứng luận trị cần lưu ý 3 loại: phong, hàn, thấp tý thường phối hợp với nhau, nhưng khi thấp đã hóa nhiệt hoặc hợp với ngoại nhiệt, ngoại hàn gây các chứng thiên về phong thấp hàn hoặc thiên về phong thấp nhiệt; hoặc thiên về thấp hàn hoặc thấp nhiệt, phải gia giảm thuốc cho phù hợp để chữa trị có kết quả.
Nếu chứng tý đã lâu ngày làm cho khí huyết đều suy kém, khi chữa phải bổ chính khu phong tán hàn, trừ thấp. Thường dùng bài Tam tý thang:
Nhân sâm 8g, bạch truật 12g, phục linh 12g, cam thảo 4g, đương quy 12g, xuyên khung 6g, bạch thược 12g, hoàng kỳ 12g, bào ô đầu 2g, quế tâm 6g, phòng phong 8g, phòng kỷ 12g, tế tân 4g, sinh khương 8g, đại táo 7 quả.
- Cách bào chế: Các vị trên + 1.900ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.
- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 6 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 2 lần.
+ Nếu bệnh lâu ngày biểu hiện tổn thương: Tâm, can, thận, khí huyết nghiêm trọng gây ra các chứng sưng đau khớp, gầy yếu xanh xao, hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ..., khi chữa phải tư bổ can thận, an thần khu phong, trừ thấp; Thêm các vị táo nhân, viễn chí, thạch xương bồ.
Nếu bệnh lâu ngày biểu hiện khớp ngón tay, ngón chân to, cứng, hạn chế vận động do phong đàm bế tắc kinh lạc thì thêm các vị: Nam tinh, bán hạ, bạch giới để hóa đàm; Thiên ma, tần giao để thư cân.
Cây dừa cạn, nguyên liệu chế tạo thuốc trị ung thư
GS. ÐOÀN THỊ NHU
MÔ TẢ CÂY VÀ ÐỊA LÝ PHÂN BỐ
Cây dừa cạn, còn có tên là trường xuân hoa, là cây thảo sống lâu năm, hoa màu hồng, mọc riêng lẻ ở kẽ lá gần ngọn. Ở Việt Nam, dừa cạn là cây hoang dại, có vùng phân bố tự nhiên tương đối đặc trưng từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang dọc theo vùng ven biển, tương đối tập trung ở các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Ðà Nẵng, Bình Ðịnh và Phú Yên. Ở những vùng phân bố tự nhiên ven biển, dừa cạn có khi mọc gần như thuần loại trên các bãi cát dưới rừng phi lao, trảng cỏ cây bụi thấp, có khả năng chịu đựng điều kiện đất đai khô cằn của vùng cát ven biển. Dừa cạn còn được trồng khắp nơi trong nước để làm cảnh và làm thuốc.
Theo kinh nghiệm dân gian ở Việt Nam và Trung Quốc, có nơi dùng thân và lá phơi khô sắc uống để thông tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ, ít và làm thuốc điều kinh. Ở nam châu Phi, người dân dùng trị bệnh đái tháo đường. Có nơi dùng chữa tiêu hóa kém và lỵ.
TÁC DỤNG DƯỢC LÝ
Các nhà khoa học đã nghiên cứu chiết xuất từ cây dừa cạn hai alkaloid Vinblastin và Vincristin, là những chất ức chế mạnh sự phân bào. Các alkaloid này liên kết đặc hiệu với Tubulin, là protein ống vi thể ở thoi phân bào, phong bế sự tạo thành các vi ống này và gây ngừng phân chia tế bào ở pha giữa. Ở nồng độ cao, thuốc diệt được tế bào, còn ở nồng độ thấp làm ngừng phân chia tế bào. Ngoài ra cao dừa cạn còn có tác dụng hạ huyết áp, ngăn cản sự phát triển của thai trên động vật mang thai và kháng một số chủng nấm gây bệnh.
CÔNG DỤNG TRỊ UNG THƯ CỦA ALKALOID DỪA CẠN
1. Vinblastin sulfat: Là thuốc dùng trong liệu pháp phối hợp, được lựa chọn hàng đầu để điều trị ung thư biểu mô tinh hoàn và được lựa chọn hàng thứ hai trong liệu pháp trị bệnh Hodgkin, ung thư nhau, ung thư biểu mô da đầu và ung thư biểu mô thận. Lựa chọn hàng thứ ba để điều trị u nguyên bào thần kinh, ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư dạng nấm da. Nó cũng được dùng chữa bệnh sarcom lympho, sarcom chảy máu Kaposi và sarcom tế bào lưới.
Các tác dụng không mong muốn như buồn nôn, nôn, nhức đầu và dị cảm xảy ra sau khoảng 4-6 giờ và kéo dài 2-3 giờ. Hiện tượng tiêu chảy, táo bón, tắc ruột, liệt, chán ăn và viêm miệng cũng có thể xảy ra và thường báo trước những tác dụng độc hại thần kinh. Tổn thương hệ thần kinh đôi khi có tính lâu dài khi dùng liều quá cao; đã xảy ra mù và tử vong. Chứng rụng tóc có tính hồi phục đã xảy ra ở khoảng 30-60% người dùng thuốc. Sự ức chế nhẹ tủy xương với giảm bạch cầu xảy ra ở tỷ lệ cao bệnh nhân, buộc phải ngưng dùng thuốc.
Thuốc có tác dụng độc hại tại chỗ. Cần tránh sự tràn thuốc ra ngoài khi tiêm tĩnh mạch, vì có thể gây viêm tĩnh mạch ở nơi tiêm. Vinblastin có thể gây độc cho thai, nên chỉ dùng ở thời kỳ mang thai nếu tình trạng bệnh đe dọa tính mạng hoặc bệnh nặng mà các thuốc an toàn hơn không có hiệu lực.
2. Vincristin sulfat: Là một trong những thuốc chống ung thư được dùng rộng rãi nhất, đặc biệt có ích đối với các bệnh ung thư máu, thường được dùng để làm thuyên giảm bệnh bạch cầu lympho cấp. Nó được dùng trong liệu pháp phối hợp thuốc, là lựa chọn hàng đầu để điều trị bệnh Hodgkin, u bạch huyết không - Hodgkin, ung thư biểu mô phổi, u Wilm, bạch cầu tủy bào mạn (đợt cấp tính), sarcom Ewing và sarcom cơ vân. Phối hợp thuốc chứa Vincristin là lựa chọn hàng thứ hai cho ung thư biểu mô vú, ung thư cổ tử cung, u nguyên bào thần kinh và bệnh bạch cầu lympho mạn tính.
Một số chuyên gia ưa dùng Vincristin chỉ để làm thuyên giảm và không dùng trong điều trị duy trì vì việc sử dụng kéo dài sẽ gây độc hại thần kinh. Sự kháng Vincristin có thể phát triển trong quá trình điều trị. Vincristin gây giảm bạch cầu nên phải đếm số lượng bạch cầu trước mỗi liều. Những tác dụng phụ thường bắt đầu với buồn nôn, nôn, táo bón, co cứng cơ bụng, sút cân và phục hồi nhanh. Thuốc cũng có thể gây những phản ứng chậm phục hồi như rụng tóc và bệnh thần kinh ngoại biên.
Những tai biến nặng về thần kinh có thể xảy ra như mất những phản xạ gân sâu, viêm đau thần kinh, tê các chi, nhức đầu, mất điều hòa. Những khuyết tật thị giác, liệt nhẹ hoặc bại liệt và teo một số cơ duỗi có thể xảy ra chậm. Liệt những dây thần kinh sọ 2, 3, 6 và 7 cũng có thể xảy ra. Các tai biến thần kinh có thể kéo dài trong nhiều tháng. Thuốc gây độc tại chỗ, cần tránh sự tràn thuốc ra ngoài, tốt nhất nên cho dùng thuốc bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch. Phần lớn thuốc được thải trừ trong mật và một phần ít hơn trong nước tiểu. Trong bệnh vàng da tắc mật, độc tính của Vincristin lớn hơn và cần phải giảm liều. Vincristin thải trừ chậm nên có nguy cơ tích lũy, do đó ít nhất một tuần mới được dùng một lần.
Vincristin gây độc hại cho thai. Ðối với phụ nữ còn khả năng sinh đẻ, cần dùng các biện pháp tránh thai. Phụ nữ đang điều trị với Vinblastin hoặc Vincristin không được cho con bú.
Thực dưỡng bồi bỗ ngũ tạng
Lương y BÀNG CẨM
Học thuyết tạng phủ là nội dung quan trọng của Ðông y học với ngũ tạng tâm, can, tỳ, phế, thận là chủ yếu. Triệu chứng hồi hộp, đoản hơi, tự ra mồ hôi của Tâm khí hư; Triệu chứng hồi hộp, hay quên, mất ngủ, mộng nhiều của thể Tâm huyết hư; Chóng mặt, móng khô cằn, lượng kinh ít của Can huyết hư; Ăn ít tiêu chảy, tay chân yếu sức của Tỳ khí hư; Thở gấp, khạc đàm không sức của Phế khí hư; Ho khan, đàm ít mà dính, má đỏ, ra mồ hôi trộm của Phế âm hư; Lưng gối ê mỏi của Thận âm hư; Vai lưng hàn lạnh, liệt dương xuất tinh sớm của Thận dương hư v.v. là những biểu hiện hay gặp. Ðối với những chứng này, dùng một số món ăn thực dưỡng sẽ đạt hiệu quả.
I. Bổ tâm:
Nhân sâm - linh chi - đan sâm tán: Nhân sâm 30g, linh chi 60g, đan sâm 90g. Tất cả tán thành bột mịn. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần dùng 3g với nước ấm sẽ có tác dụng bổ khí hoạt huyết, thông kinh lạc. Thích hợp cho thể tâm khí hư kèm ứ trệ của bệnh mạch vành.
II. Bổ can
Canh gan heo: Gan heo 1 cái, đầu hành 1 cọng, trứng gà 1 quả, nước tương lượng vừa. Gan heo rửa sạch, bỏ màng gân, xắt lát, thêm hành đoạn, nấu với nước tương làm canh, lúc chín cho vào trứng gà, sau khi chín nêm gia vị. Công dụng bổ can dưỡng huyết, nhuận táo sáng mắt. Thích hợp cho chứng can huyết bất túc, sắc mặt vàng bủng, giảm thị lực, quáng gà...
Canh thịt gà nấu thủ ô - đương quy: Thịt gà 250g, thủ ô 20g, đương quy 15g, câu kỷ tử 15g. Thịt gà rửa sạch xắt lát, các dược liệu cho vào túi vải cột kín, nấu chung với thịt gà cho chín mềm. Canh có tác dụng đại bổ can huyết, dùng trong các chứng chóng mặt do can huyết bất túc gây ra, hoa mắt, dễ mỏi mệt...
III. Bổ tỳ
Bánh hoài sơn - biển đậu: Hoài sơn (củ mài) 200g, biển đậu (đậu ván tươi) 50g, trần bì (vỏ quít) 50g, táo đỏ 500g. Củ mài rửa sạch lột vỏ, xắt lát mỏng; Táo đỏ bỏ hột cùng đậu ván tươi, vỏ quít xắt sợi, tất cả cho vào thau, thêm nước nhồi thành dạng bánh bột, hấp với lửa nhỏ chừng 20 phút. Bánh dùng ấm vào buổi sáng, mỗi lần 50g, giúp kiện tỳ chỉ tả, thích hợp trong các chứng tỳ khí hư suy, đại tiện lỏng hay tiêu chảy không dứt, thân gầy, mặt vàng bủng, mệt mỏi yếu sức...
Vịt hấp tứ quân: Vịt non 1 con, đảng sâm 30g, bạch truật 15g, phục linh 20g, gia vị lượng vừa. Vịt giết mổ rửa sạch, bỏ vỏ và chân, trần qua nước đang sôi rồi bẻ cánh vịt hướng về vai. Ðảng sâm, bạch truật, phục linh xắt lát, chứa trong túi vải hai lớp cột kín rồi đặt vào bụng vịt. Cho vịt vào thố, thêm gừng, hành, rượu trắng lượng vừa phải, dùng giấy dán kín miệng thố, cho vào nồi hấp khoảng 3 giờ, lột bỏ giấy và túi thuốc trong bụng vịt ra (bỏ cả hành, gừng), thêm muối, bột ngọt. Dùng canh ăn thịt. Công dụng ích khí kiện tỳ. Thích hợp trong các chứng tỳ hư ăn ít, sắc mặt vàng bủng, đại tiện lỏng...
IV. Bổ phế
Cháo thiên môn đông: Thiên môn đông 20g, gạo 100g, đường phèn một ít. Nấu thuốc bỏ bã, thêm gạo vào nước thuốc nấu thành cháo. Sau khi chín thêm đường phèn nấu sơ. Công dụng bổ phế dưỡng âm, thích hợp trong các chứng ho ra máu do phế âm hư, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô đau, khát nước táo bón...
V. Bổ thận
Thịt dê tiềm (tần) câu kỷ tử: Thịt dê tươi 250g, hoài sơn (củ mài) 100g, câu kỷ tử 25g, long nhãn 15g, táo đỏ 10 quả. Thịt dê tươi rửa sạch xắt lát, cho vào các vị thuốc và gia vị lượng vừa phải gồm muối, gừng, rượu trắng, đại hồi, tần chín, dùng canh ăn thịt trước khi ngủ. Mỗi ngày dùng một thang, dùng liên tục 10 ngày là một liệu trình. Công dụng bổ thận tráng dương, điều trị thận suy liệt dương, đau lưng, ớn lạnh...
Canh ba ba - tủy heo: Ba ba 1 con, tủy heo 200g, gia vị lượng vừa. Rửa sạch tủy heo cho vào chén. Ba ba sau khi giết, bỏ móng vuốt, đầu, nội tạng, thêm nước, lửa nhỏ nấu sôi, thêm gừng hành, bột tiêu, tủy heo rồi nấu đến chín, nêm bột ngọt. Dùng canh ăn thịt. Công dụng tư âm bổ thận, ích tủy đầy tinh, thích hợp trong các chứng thận âm bất túc, chóng mặt hoa mắt, di tinh mộng nhiều, lưng gối mỏi đau...
CƠ SỞ SINH HỌC CỦA TÍNH "TRĂNG HOA" VÀ SỰ THỦY CHUNG
BS. ÐÀO XUÂN DŨNG
Những nghiên cứu khoa học về ham muốn tình dục và các hóa chất thần kinh gắn liền với trạng thái này đã cho thấy: động cơ thôi thúc con người đi đến hành động tình dục chủ yếu là do những phản ứng hóa học diễn ra trong bộ não. Thực tế đời sống cũng chứng minh rằng hành động tình dục nhiều khi không xuất phát từ tình yêu hay từ mong muốn thiết lập một mối quan hệ lâu dài, mà chỉ đơn thuần vì nhu cầu hoàn toàn thể chất.
Nguồn gốc sinh học của hành vi tình dục
Nguồn gốc sinh học của hành vi tình dục chính là những tế bào vùng dưới đồi - một vùng chỉ có vài cm2 trong não nhưng đóng vai trò rất quan trọng và phức tạp trong việc điều chỉnh, chi phối những hành vi bản năng như ăn uống hay tình dục. Vùng dưới đồi đã có ở nhiều sinh vật cấp thấp và phát triển sớm hơn nhiều cấu trúc khác của não có chức năng kiểm soát những tiến trình tư duy phức tạp ở con người như ghi nhớ và ngôn ngữ. Vùng dưới đồi cùng với những cơ quan khác điều hòa nồng độ testosterone - hormone tạo ra sự kích thích và hành động tình dục. Hành vi tình dục của nhiều loài động vật và của cả loài người có liên quan với nồng độ của hormone testosterone. Với cả nam lẫn nữ, nồng độ testosterone ảnh hưởng đến ham muốn và hành động tình dục. Tuy nhiên, khác với giới động vật, ở loài người không có mối tương quan tuyệt đối giữa nồng độ hormone và hành vi tình dục vì còn có vai trò can thiệp của ý thức.
Một loại hóa chất khác cũng đã được khám phá có liên quan đến hành vi tình dục, đó là các chất dẫn truyền thần kinh làm nhiệm vụ bảo đảm liên lạc giữa những tế bào của não. Nhà tâm thần học Michael Liebowitz là một trong những người đầu tiên đã nghiên cứu về hóa thần kinh trong tình yêu và tình dục. Ông nhận thấy có những người rất dễ lao vào các cuộc tình dù không thích hợp, tuy nhiên họ lại rất dễ chán, thay bạn tình như thay áo. Ông cho rằng những người này có thể thiếu chất phenylethylamin (PEA) - một hóa chất của não có cấu trúc giống như amphetamin, chi phối cảm xúc sảng khoái và hứng khởi. Vì thiếu hụt kéo dài hóa chất này nên đương sự đã đi tìm sự "vui vẻ" trong những cuộc gặp gỡ lãng mạn hay tình dục. Michael Liebowitz đã cho những người này dùng loại thuốc ức chế men monoamine oxydase (IMAO) - một loại thuốc chống trầm cảm có tác động đến nồng độ phenylethylamin cũng như đến nồng độ của nhiều chất dẫn truyền thần kinh khác như dopamin, serotonin và norepinephrine. Sau khi được điều trị, nhiều bệnh nhân đã hết thói "trăng hoa", hết đi tìm "tình yêu bằng mọi giá", có thể vì họ không cảm thấy tình trạng cô đơn là nặng nề nữa hoặc đã trở nên tự tin, thận trọng hơn trong việc lựa chọn bạn tình. Họ không cần đến sự hứng khởi như khi tìm đến các cuộc tình - một trạng thái giống như dùng amphetamin.
Ngoài phenylethylamin, những khám phá mới còn tìm ra 2 hormone khác là ocytocine và vasopressine cũng đóng vai trò quan trọng trong tình dục và tình yêu. Nồng độ 2 hormone này trong máu tăng lên ở cả nam và nữ khi hứng khởi tình dục và khi xuất tinh. Sự bài tiết ocytocine hình như còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển những mối liên hệ cảm xúc, khuyến khích sự ghép thành từng cặp bạn tình. Larry Young và cộng sự thuộc bộ môn khoa học về hành vi và tâm thần học, trường Ðại học Emory đã phát hiện ra rằng ocytocine là một trong số nhiều hóa chất thần kinh khác có chức năng điều chỉnh nhiều hành vi xã hội mang thuộc tính của chế độ một vợ một chồng, trong đó có việc nam nữ ghép thành cặp bạn tình và việc người bố dạy dỗ con cái.
Helen Fischer, nhà nghiên cứu nữ, cộng tác viên của khoa nhân chủng học trường Ðại học Rutgers khẳng định rằng, hệ thống các hóa chất thần kinh ở bộ não con người đã tiến triển theo hướng khuyến khích tính hấp dẫn nam nữ và sự giao phối, nhằm làm cho cặp bạn tình duy trì được thời gian cần thiết để sinh sản và nuôi dạy con.
Sự khác biệt về hành vi tình dục của con người so với giới động vật:
Như đã trình bày, không có mối tương quan tuyệt đối giữa nồng độ hormone và hành vi tình dục ở người vì còn có vai trò can thiệp của ý thức. Sự phát triển của ý thức (cơ sở sinh học là vỏ não) đã làm cho hành vi tình dục của loài người phát triển theo 3 hướng tích cực, khác hẳn giới động vật:
Biết loại trừ và phê phán: Hạn chế những mặc cảm có tính chất siêu hình, phê phán sự phủ nhận vai trò của người phụ nữ trong đời sống tình dục, biết lựa chọn bạn tình theo những chuẩn mực tốt đẹp (Ngoài ngoại hình còn phải tính đến năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức, tâm hồn), không tìm kiếm sự thỏa mãn tình dục bằng mọi giá. Ðặc thù này là cơ sở cho mối quan hệ chung thủy giữa vợ và chồng cũng như việc phòng tránh AIDS và nhiều cạm bẫy sa đọa khác.
Biết phát triển, nuôi dưỡng chức năng tình dục: Làm phong phú trí tưởng tượng bằng các sản phẩm văn hóa, tạo điều kiện cho phản ứng tình dục, làm cho tình dục thoát ly ảnh hưởng của ý thức (Không có hoạt động sinh lý nào lại nhạy cảm với hoạt động của vỏ não như sinh lý tình dục...).
Biết tinh lọc và nâng cao: Coi là thấp kém những hành vi tình dục sai lạc, đề cao đời sống tình dục của từng cá nhân (Làm cho hoạt động tình dục có ý nghĩa và yên tâm hơn bằng cách phát minh ra các phương pháp tránh thai, giúp con người làm chủ những quy luật sinh lý khắc nghiệt về sinh sản), quan tâm đến yếu tố làm phong phú, đa dạng thêm đời sống...
QUẢ DỨA VỚI Y HỌC ĐÔNG, TÂY
BS. VŨ HƯỚNG VĂN
Dứa mà các tỉnh miền Nam nước ta thường gọi là thơm, khóm, là một loại quả thơm ngon có giá trị. Từ xưa, dứa đã được nhân dân ta chữa một số bệnh có kết quả tốt. Dứa còn có men (enzym) giúp ích cho tiêu hóa, đang được nhiều nước Âu, Mỹ khai thác bào chế một số loại dược phẩm điều trị có hiệu quả.
MỘT SỐ LOẠI DỨA ĐẶC SẢN NHIỆT ĐỚI
Dứa có tên khoa học là Ananas sativa Lindl, thuộc họ Bromeliaceae, là một đặc sản nhiệt đới, có khoảng 60-70 giống có thể chia làm 3 loại:
Loại hoàng hậu (Queen): Thịt quả vàng đậm, giòn, thơm, ngọt. Quả nhỏ, mắt quả lồi, loại dứa này có phẩm chất cao nhất. Dứa hoa, thơm, hay dứa Tây thuộc loại này.
Loại Cayenne: Thịt quả vàng ngà, nhiều nước, ít thơm và vị kém ngọt hơn dứa hoa. Quả rất to vì thế còn gọi là dứa độc bình.
Loại Spanish: Thịt quả vàng nhạt có chỗ trắng, vị chua, hương kém thơm và nhiều nước hơn dứa hoa. Quả trung bình, mắt sâu; Dứa ta, dứa mật… thuộc loại này.
Quả dứa chín thường được cắt từng khoanh hay từng miếng ăn tươi; hoặc ướp với đường. Dứa còn được dùng xào với thịt bò, nấu canh chua. Dứa cũng là nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp đồ hộp, rượu mùi, bánh kẹo.
GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA DỨA
Trong 100g dứa ăn có được từ 0,5-0,8g (tùy loại dứa) protein, 6,5-9g glucid, 0,7-1g acid hữu cơ, và có nhiều loại vitamin khác như B1, B2, C, PP, Caroten… Các chất khoáng như sắt, canxi, phospho… Đặc biệt, trong dứa có chứa bromelin là một loại enzym có tác dụng thủy phân protein thành các acid amin có tác dụng tốt trong tiêu hóa. Ở pH 3,3 bremelin tác dụng như pepsin (men tiêu hóa protein của dịch vị), ở pH 6 thì như trypsin (men tiêu hóa protein của dịch tụy). Do đó, sau những bữa ăn có nhiều thịt, nên ăn tráng miệng bằng một vài miếng dứa cho dễ tiêu hóa hấp thụ.
Trong toàn bộ cây dứa từ lá, quả… đều có bromelin nhưng tập trung nhiều nhất trong lõi quả. Bromelin chịu được nhiệt độ cao, ở pH 3,5 sau khi đun 1 giờ vẫn còn hoạt tính. Trong nhân dân, người ta thường băm một ít dứa ướp vào thịt gia súc già, dai (trâu, bò, lợn…) 30-40 phút, rồi mới đem xào nấu, thịt sẽ rất mau mềm, ăn dễ tiêu hóa. Nghành công nghiệp thực phẩm cũng dùng bromelin làm mềm thịt (tác dụng của bromelin còn mạnh hơn papain của đu đủ) và để thúc đẩy quá trình thủy phân protein trong sản xuất nước chấm.
TRỊ LIỆU THEO KINH NGHIỆM DÂN GIAN
Dứa có tính giải khát, sinh tân dịch và tiêu thực. Trong nhân dân, người ta thường dùng rễ cây dứa làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu tiện khó khăn. Dùng dịch ép quả dứa chưa chín làm thuốc tẩy nhuận tràng. Nõn lá non đem sắc uống (hoặc giã ép lấy nước) làm thuốc chữa sốt. Quả dứa chín nướng cháy, gọt bỏ vỏ, mỗi ngày ăn 1 quả, ăn trong 4 ngày để chữa huyết áp cao… Đặc biệt, nhiều người dùng quả dứa chín chữa bệnh sỏi thận có hiệu quả: Lấy một quả dứa chín để nguyên vỏ, khoét ở cuống quả một lỗ nhỏ, lấy 7-8g phèn chua giã nhỏ nhét vào, dùng thân dứa vừa khoét đậy lại, đem nướng trên than hồng (hoặc vùi vào lửa) cho cháy xém hết vỏ, thịt quả chín mềm, để nguội vắt lấy nước uống, mỗi ngày uống nước của 1 quả, sỏi thận sẽ bị bào mòn dần và tan hết, nếu sỏi nhỏ thì có thể tiểu tiện ra được.
BROMELIN VỚI Y HỌC HIỆN ĐẠI
Từ 1963, bromelin của dứa đã được dùng vào điều trị bệnh rối loạn tiêu hóa dạ dày, ruột. Bromelin làm tăng hệ miễn dịch, ức chế quá trình viêm làm giảm phù nề và tụ huyết, bôi lên nơi tổn thương (vết thương, vết bỏng, vết mổ) làm sạch các mô hoại tử, mau lành sẹo. Bromelin phối hợp với thuốc kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn làm tăng hiệu quả kháng sinh, phối hợp với một số thuốc điều trị hen (theophyllin, ephedrin…) làm tăng tác dụng chống hen của các thuốc này. Mới đây, một nghiên cứu đăng trên tạp chí y học Anh cho biết: Qua thử nghiệm trên chuột, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy bromelin làm giảm hơn 50% dấu hiệu viêm phổi đối với bệnh hen, và liều lượng càng cao thì hiệu quả càng được cải thiện.
Bromelin còn có tác dụng làm giảm di căn của các bệnh ung thư, liều dùng 200-300mg/kg thể trọng kết hợp với hóa trị liệu, hay xạ trị. Trong công nghiệp dược phẩm, người ta sử dụng các phế liệu của nhà máy chế biến dứa (vỏ, lõi dứa) để chiết suất bromelin. Nhiều hãng dược phẩm châu Âu đã đưa bromelin trong thành phần thuốc như: Ananase (Anh quốc), Extranase (Pháp), Traumanase (Đức)… có tương ứng với 20mg bromelin tinh chế, dùng uống có tác dụng phân hủy fibrin, chống viêm. Viên Tetranase của Pháp là dạng bào chế phối hợp thuốc kháng sinh oxytetracyclin với bromelin, nhằm mục đích tăng hiệu lực của kháng sinh này để điều trị viêm nhiễm sau chấn thương, viêm nhiễm đường hô hấp.
Từ thịt quả dứa xay hoặc giã nát, người ta còn dùng làm mặt nạ (đắp lên mặt) nhằm lột nhẹ lớp tế bào sừng phía ngoài, bộc lộ lớp da non phía trong mịn màng và trắng hơn.
CẨN THẬN KHI DÙNG DỨA
Quả dứa có nhiều bổ ích, song cũng nên biết mặt trái của nó. Vì dứa có tác dụng phân hủy fibrin chống tụ huyết, nên có tài liệu khuyên: Những người có bệnh chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu (người hay chảy máu cam, sốt xuất huyết, vết thương lớn, phụ nữ băng huyết…) không nên ăn dứa.
Không nên ăn dứa tươi vào lúc đói, vì các acid hữu cơ của dứa và bromelin tác động mạnh vào niêm mạc dạ dày, ruột, dễ gây nôn nao, khó chịu.
Vấn đề cuối cùng, dân gian thường gọi là “say dứa” thực chất là ngộ độc. Trong thực tế, có người ăn dứa đã gặp tai biến thậm chí có trường hợp tử vong. Sau khi ăn dứa 30-60 phút thấy khó chịu, mệt mỏi, ngứa khắp người, gãi xước da chảy máu vẫn ngứa, nổi mày đay. Về tiêu hóa, có những triệu chứng của ngộ độc thức ăn: Đau bụng dữ dội, nôn mửa, ỉa chảy. Về hô hấp, tuần hoàn có thể mạch nhanh nhỏ, khó thở, huyết áp hạ.
Nếu ngộ độc nhẹ, khoảng 3 giờ sau nạn nhân sẽ khỏi. Nếu nặng, nạn nhân khó thở, trụy tim mạch, mê man và tử vong. Vì thế trong nhân dân, người ta còn cho rằng ăn phải “dứa có nọc rắn phun”. Thực ra, ăn dứa không “say”, cũng không có nọc rắn (rắn chỉ cắn khi cần tự vệ, hoặc săn con mồi). Theo nhiều tác giả, thủ phạm là một loại vi nấm có độc tính cao. Vi nấm thường có trên mặt đất ẩm phát triển mạnh trong mùa hè trùng với mùa dứa chín. Dứa mọc ở sát đất, thu hái xong cũng để dưới đất, vỏ dứa xù xì, mắt dứa làm thành những cái hốc là nơi cư trú tốt cho nấm. Mặt khác, dịch bào của dứa có độ ẩm, có hàm lượng đường cao và pH acid là những điều kiện thuận lợi cho nấm độc phát triển. Nếu dứa bị dập nát, dịch bào thấm ra, nấm sẽ phát triển, có điều kiện xâm nhập sâu vào trong quả dứa, gây độc cho người ăn. Để phòng ngừa tai biến này, khi mua cần chọn dứa tươi và nguyên lành. Không ăn dứa dập nát, gọt dứa phải gọt dầy cho hết lớp vỏ, cắt sâu cho hết mắt dứa, cắt gọt xong xát qua ít muối rồi rửa sạch, mới bổ ra ăn. Và không ăn nhiều dứa khi đang đói.
ÐÔI VÀNH TAI KỲ DIỆU
Tác giả : BS. QUÁCH TUẤN VINH
Theo y học cổ truyền phương Ðông, tiền nhân đã quan niệm "Nhân thân tiểu thiên địa", ý nói cơ thể con người là một vũ trụ thu nhỏ. Và trong cái vũ trụ thu nhỏ đó, đôi vành tai của bạn lại là một tiểu vũ trụ nữa trong cơ thể. Có thể ví như một mô hình âm dương đang ngày đêm xoay vần, chuyển dịch ngay trong cái vũ trụ thu nhỏ là chính con người chúng ta - Cùng tồn tại, xoay vần, cùng biến hóa với con người, tự nhiên và năm tháng!
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NHĨ CHÂM
Nhĩ châm có một lịch sử phát triển dài lâu. Trong Nội kinh, một cuốn sách y kinh điển đã có từ trước công nguyên, các bậc tiền nhân đã quan niệm rằng: "Thập nhị kinh mạch vu nhĩ chi tụ hội", ý nói 12 kinh mạch chính trong cơ thể con người đều tụ hội ở đôi tai. Sách Linh khu và khí tạng phủ bệnh hình có ghi: "12 kinh mạch, 365 lạc, huyết khí của chúng ta đều đi lên mặt và đến các khiếu, các liệt khí của chúng đều đi đến tai...". Các kinh dương đều có liên quan đến tai, các kinh âm thì thông qua những kinh biệt hợp lại ở kinh dương và cũng tương ứng với các bộ phận của tai. Sách Tố vấn mục thích luận có ghi lại: "Thiếu âm, thái âm ở tay, chân và 5 lạc dương minh đều gặp nhau ở tai trong". Trong hệ thống y học cổ truyền phương Ðông, có tới 9 huyệt như thính cung, thính hội, nhĩ môn, nhĩ tiêm... của các kinh mạch tập trung quanh tai.
Ngược theo dòng thời gian, chúng ta có thể ghi nhận một số mốc lịch sử: Vào những năm 430 TCN, Hipocrates, được coi là ông tổ của nghề y, trong cuốn "Bàn về sinh sản" cũng đã nói đến kinh nghiệm của người Ai Cập châm loa tai ở phụ nữ để giảm hoạt lực của tinh trùng. Biển Thước, Tần Việt Nhân (407-310 TCN) là các danh y Trung Hoa đã châm loa tai để cấp cứu đột tử. Cuốn "Những thành tựu về y học kỳ lạ của Valsalva" có đề cập đến phương pháp đốt loa tai để điều trị chứng đau thần kinh tọa. Ở Việt Nam, nhân dân các vùng thiểu số cũng thường áp dụng một số biện pháp tác động trên loa tai để chữa sốt cao, viêm họng...
Thận được coi là đứng đầu ngũ tạng trong cơ thể, có chức năng khai khiếu ra tai. Sách Kinh khu mạch đồ cho rằng "Thận khí thông ra tai". Thận hư sẽ gây ảnh hưởng đến thính lực, làm cho tai ù, tai điếc... Các y gia đời trước cho rằng những bộ phận của tai đều có liên quan đến các tạng phủ. Ðến năm 1956, Pon Nogier, một châm cứu gia người Pháp đã phát hiện sự liên quan giữa vành tai với một số căn bệnh. Những phát hiện đầu tiên đó của Nogier cũng đưa ra một sơ đồ nói lên mối liên quan mật thiết giữa các cơ quan, tạng phủ trong cơ thể với vành tai. Trong báo cáo đầu tiên vào năm 1956, 26 huyệt đã được Pon Nogier đưa ra, tới năm 1975, ông đã phát hiện tới 78 huyệt. Có thể nói, những nghiên cứu của Pon Nogier như một phát kiến mới, độc lập với những hiểu biết về nhĩ châm của y học dân gian Trung Quốc.
HIỆU QUẢ CỦA NHĨ CHÂM
Có thể nói, châm cứu trên loa tai là một phương pháp của châm cứu cổ truyền đã được nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Ai Cập, Ý, Bồ Ðào Nha, Nga và cả Việt Nam nghiên cứu áp dụng vào chẩn đoán, điều trị, dự phòng. Ngày nay, trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến, nghiên cứu và phát triển nhĩ châm vẫn là một vấn đề đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Có nhiều biện pháp tác động lên loa tai để chữa bệnh như xoa sát vành tai, châm cứu, đốt bấc, thủy châm, chiếu tia laser, đặt viên từ, dán cao thuốc... Trong từng trường hợp cụ thể, thầy thuốc sẽ áp dụng những phương pháp nhất định để đạt mục đích. Các thầy thuốc Việt Nam trong lần công tác tại Cuba cũng đã áp dụng nhĩ châm để chữa viêm quanh khớp vai cho các bệnh nhân người Cuba. Một trường hợp bệnh nhân là nữ đồng nghiệp người Cuba đã được nhĩ châm, tác dụng giảm đau rất rõ ràng và thậm chí sau liệu trình châm cứu, mỏ gai xương trên phim X-quang của bệnh nhân cũng biến mất! Trong y văn cũng đã mô tả một trường hợp bệnh nhân thủng dạ dày, được nhĩ châm đã cho kết quả giảm đau rõ rệt. Tuy nhiên nên lưu ý, trong các bệnh ngoại khoa, chỉ nên áp dụng châm cứu khi chẩn đoán đã rõ ràng. Một người bệnh đau thần kinh tọa, chỉ bằng một mũi châm vào huyệt tọa cốt ở vành tai, cảm giác nóng ấm sẽ truyền lan đến thắt lưng và chân đau của bệnh nhân. Và chỉ với một lần châm ấy, người bệnh có cảm giác thật sự dễ chịu, mọi đau đớn dường như tan biến. Ở một bệnh nhân khác đã được bệnh viện chẩn đoán là viêm dây thần kinh số V, thầy thuốc châm cứu đã sử dụng biện pháp điều trị châm thần môn, giao cảm - là hai huyệt có tác dụng chống viêm giảm đau mạnh. Chỉ sau một thời gian điều trị, căn bệnh đã thuyên giảm rõ rệt. Ngoài ra trong dân gian còn lưu truyền cách chích lể huyệt nhĩ tiêm ở đỉnh vành tai để chữa bệnh chắp lẹo cũng là một kinh nghiệm hay.
Ðể chẩn đoán huyệt (dò huyệt) trên loa tai, người ta có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Khi các nhà khoa học phát hiện rằng các huyệt là những điểm dẫn điện tốt thì thông qua sự thay đổi điện trở ở huyệt, máy chẩn đoán huyệt đã ra đời. Ở nước ta cũng đã chế tạo một số máy có chức năng chẩn đoán huyệt như máy Therapul 2.
Nếu không có máy dò huyệt, bạn có thể sử dụng ngay một đầu ống thuốc tiêm để tìm huyệt. Ðây là phương pháp rất đơn giản, dựa trên cơ sở khi ấn ép vào đúng huyệt thường gây cho bệnh nhân cảm giác đau, căng tức khác thường...
CHẨN ÐOÁN BỆNH QUA VÀNH TAI
Nghiên cứu của Pon Nogier cũng cho thấy, các cơ quan trong cơ thể đều có những vùng tương ứng trên vành tai. Và trên cơ sở sơ đồ các vùng cơ thể, người ta có thể chẩn đoán được bệnh hay còn gọi là nhĩ chẩn. Trong quá trình hành nghề y, chúng tôi được ghi nhận ca bệnh sau: Vào năm 1990, một bệnh nhân cũng là thầy thuốc, giám đốc một bệnh viện lớn ở tỉnh QN, sau khi đi làm chuyên gia nước ngoài về có triệu chứng bị đau dạ dày, đã dùng các thuốc chữa đau dạ dày như Cimetidin... nhưng không khỏi. Khi được nhĩ chẩn, vùng gan và vùng dạ dày đều có phản ứng nhưng vùng gan có phản ứng mạnh hơn. Chính vì vậy ông được khuyên nên đi kiểm tra lại về gan. Bản thân ông cũng cho rằng mình không thể bị bệnh gan. Vài ngày sau đó, do bệnh đau dạ dày không thuyên giảm, ông phải vào bệnh viện Việt - Xô khám và điều trị. Siêu âm chẩn đoán đã cho thấy hình ảnh khối u trong gan. Khi mổ, giáo sư giải phẫu cho biết dạ dày bị dính vào bề mặt khối u ở gan và đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến đau dạ dày kéo dài. Qua trường hợp trên, cho thấy nhĩ chẩn có thể giúp ta định hướng chẩn đoán trong một số trường hợp khó. Trên thực tế, các nhà khoa học một số nước cũng đã khẳng định vai trò của nhĩ chẩn (chẩn đoán trên vành tai). Trước đây, y văn của Nga cũng có ghi nhận việc chẩn đoán sớm bệnh nhân mắc bệnh xơ gan dựa vào chẩn đoán trên loa tai.
Tập luyện ở người có tuổi
GS. PHẠM KHUÊ
Tất cả các hình thức hoạt động thể lực, làm vận động các cơ bắp đều có tác dụng tốt đối với cơ thể. Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, địa phương, thậm chí mỗi gia đình, cá nhân có thể có những cách tập luyện riêng để củng cố sức khỏe. Ngoài ra từng lứa tuổi cũng có những sở thích riêng đối với một phương pháp, một kỹ thuật nào đó, nhưng điều quan trọng là phải bảo đảm an toàn. Bài viết dưới đây chỉ xin giới thiệu một vài hình thức luyện tập thích hợp với người trung niên, người cao tuổi phải làm việc nhiều bằng trí óc.
ÐI BỘ VÀ CHẠY CHẬM
Ði bộ chữa bệnh có khối lượng vận động thấp
Ðược xem như mức độ ban đầu, là sự chuẩn bị trước khi bước vào tập chạy. Ði bộ thích hợp với người có tuổi, giúp họ dễ dàng xác định hướng vận động theo tốc độ và quãng đường đi. Một người đi bộ 2 giờ trên quãng đường bằng phẳng với tốc độ 3,9km/giờ sẽ tiêu hao 696kcal.
Thông thường, quy ước theo tần số bước là: 100 bước/phút là chậm; 120 bước/phút là trung bình, trên 120 bước/phút là nhanh.
Khi bắt đầu tập đi bộ chữa bệnh, chỉ nên đi khoảng 1-2km. Sau một thời gian tăng dần lên, mỗi ngày tăng khoảng 100m. Yêu cầu cần đạt là sau khi tập cảm thấy khoan khoái. Nếu thấy mệt hơn tức là đã đi quá mức độ cho phép.
Ðối với người có tuổi ít tập luyện, khi chuyển từ đi bộ sang chạy chậm, phải tiến hành dần dần và chỉ chuyển sang chạy sau khi đã tập đi bộ đều đặn.
Chạy chậm, nhẹ nhàng tại chỗ
Là bộ phận rất quan trọng trong thể dục chữa bệnh, có thể thay thế nhiều hình thức luyện tập chữa bệnh khác.
Bắt đầu có thể thực hiện như sau: Chạy tại chỗ từ 30 giây đến 1 phút, chạy 3 lần trong ngày, mỗi lần tăng thêm 10 giây. Thời gian vận động tối đa từ 10-15 phút, chạy 3 lần trong ngày.
Luân phiên giữa đi bộ và chạy chậm nhẹ nhàng
Nội dung cơ bản của phương pháp này là luyện tập với cường độ vận động khác nhau, thích hợp với người có tuổi và sức khỏe trung bình. Bắt đầu chạy chậm, nhẹ nhàng khoảng 200m, sau đó đi bộ cũng khoảng 200m rồi lại tiếp tục chạy, cứ như vậy luân phiên xen kẽ. Toàn bộ quãng đường chạy không vượt quá 1.000-1.500m.
Chạy chậm nhẹ nhàng
Áp dụng cho những người tương đối khỏe mạnh, ít nhiều đã có sự chuẩn bị thể lực từ trước. Có thể tập mỗi tuần 3 buổi, mỗi buổi 30 phút với tốc độ 7km/giờ; hoặc tập mỗi buổi sáng với thời gian ít hơn, khoảng 15 phút. G. Hinmo xác nhận rằng tập chạy chậm, nhẹ nhàng liên tục, thường xuyên mỗi ngày 15-30 phút trong thời gian 12-18 tháng sẽ làm tính đàn hồi và thể tích của mạch máu tăng lên gấp đôi.
TẬP THỞ ÐỀU
Khối lượng không khí hít vào, thở ra mỗi ngày rất lớn, khoảng một vạn lít, nếu lao động có thể tăng lên gấp đôi, gấp ba. Muốn cho máu có nhiều oxy nuôi dưỡng cơ thể, nhất là não, cần phải chú ý đến vấn đề thở tốt, nghĩa là đảm bảo:
Không khí trong lành
Không khí ô nhiễm, đặc biệt ở các đô thị tập trung, thành phố công nghiệp thường chứa nhiều mầm bệnh. Bởi vậy, cần tránh tập thở ở môi trường ô nhiễm. Khi làm việc và sinh hoạt trong môi trường ô nhiễm, phải hết sức bảo vệ đường hô hấp và không nên ở đó lâu.
Khi tập thở, nên chọn địa điểm và lúc có không khí trong lành, tốt nhất là ở nơi quang đãng, có vườn hoa cây cỏ, gần thiên nhiên vì có lợi cho hệ thần kinh trung ương. Các "Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời" do biết tận dụng những nơi không khí trong lành nên đã thu được nhiều kết quả tốt. Niềm tự hào của một thành phố văn minh là có các công viên sạch đẹp, nơi mọi người dân sau giờ làm việc có thể đến tịnh dưỡng tinh thần và tập luyện, phục hồi sức khỏe.
Phải thở bằng mũi
Trong mũi có nhiều lông nhỏ. Bụi bặm, vi khuẩn trong không khí qua lỗ mũi đều bị các lông đó giữ lại, sau đó được đẩy ra ngoài cùng với đờm và chất nhầy ở mũi.
Mặt khác khí trời lạnh ở bên ngoài khi qua đến phổi đã được mũi sưởi ấm. Nhờ vậy ít gây viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi. Nếu thở bằng mồm, sẽ thiếu hàng rào bảo vệ nói trên nên dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp, nhất là vào mùa lạnh. Cũng để tránh các bệnh hô hấp về mùa lạnh và ẩm, ta cần tập thở quanh năm. Tập thở đều từ lúc còn khỏe mạnh, từ tuổi trung niên và tốt hơn nữa là từ lúc còn trẻ.
Tập thở sâu
Mỗi phút ta thở khoảng 15 lần. Khối lượng không khí trao đổi mỗi lần thở khoảng chừng 1/2 lít. Nếu thở sâu, khối lượng không khí trao đổi có thể tăng gấp 4 - 5 lần lúc thở thường.
Thở sâu ảnh hưởng tốt đến hệ tuần hoàn vì làm tăng việc trao đổi khí giữa máu và không khí bên ngoài, giúp tim co bóp tốt hơn; Máu vào động mạch não, vành nhiều hơn; Máu tĩnh mạch trở về tim dễ hơn. Thở sâu cũng ảnh hưởng tốt đến hệ thần kinh do não được cung cấp nhiều oxy, hoạt động tâm thần ở thần kinh được tốt hơn.
Trong việc thở, cần chú ý nhiều đến thì thở ra, vì ở người có tuổi hay có hiện tượng ứ không khí ở các phế nang làm tăng khối lượng không khí cặn, giảm việc đưa oxy từ phổi vào máu.
Cần xây dựng thói quen thở sâu trong mọi trường hợp có thể được, như lúc luyện tập, đi dạo, lúc ở nhà, ngồi làm việc... Miễn là không khí ở đó không quá ô nhiễm.
Thở bụng theo phương pháp khí công
Có thể thực hiện theo từng động tác sau:
Ngồi ghế, thả lỏng hai tay, không nhúc nhích hai vai. Miệng thở ra nhẹ, rất chậm; thót bụng để thở ra. Khi bụng thót hết, ngừng thở cho bụng phình lại rồi nhẹ nhàng thở vào. Khi bụng phình lên hết, ngừng một tí rồi thở ra. Thực hiện 4-5 phút như vậy.
Với động tác thót bụng, lúc đã quen rồi không cần không khí qua miệng nữa. Sau đó chỉ thở qua mũi, ra vào đều qua mũi.
Tập thở như vậy trong các tư thế: nằm ngửa (hai chân gấp), nằm nghiêng một bên, nằm sấp, đứng thõng tay phía trước.
Cho bụng thót vào, phình ra thật nhanh.
Thót bụng đến cùng, sau đó dùng các cơ sườn kéo lồng ngực lên nhưng không cho không khí vào phổi. Bụng sẽ thót đến mức tối đa.
Nhờ một người nắm tay thành quả đấm ấn mạnh vào bụng, giữ mạnh không cho tay người ấy ấn sâu vào bụng, đó là tập thở nén.
Co rút cơ bụng bên phải, rồi bên trái thành một động tác xoắn bụng.
Những người còn yếu chỉ tập 3 động tác đầu. Những người bệnh nặng hơn chỉ tập 2 động tác đầu.
THỰC HÀNH TỰ XOA BÓP
Tự xoa bóp vùng đầu, mặt, cổ
Bộ não và các giác quan phần lớn nằm ở vùng đầu mặt. Các bộ phận cơ yếu này cần được vận động để quá trình tuần hoàn lưu thông, điều hòa, làm tròn những chức năng của nó. Thế nhưng trong đời sống hàng ngày, vùng đầu mặt thường ít vận động hơn chân tay, vì thế tự xoa bóp vùng đầu mặt là một phương pháp dưỡng sinh quan trọng nhằm thúc đẩy tuần hoàn mao mạch, giúp đầu óc minh mẫn, mắt tinh, tai thính, nước bọt tiết nhiều, ăn uống ngon miệng dễ tiêu. Ðặc biệt xoa bóp vùng này rất cần thiết đối với những người làm việc nhiều bằng trí óc.
Buổi sáng dậy hay trước khi đi ngủ, lấy hai bàn tay làm lược chải từ trước trán ra sau gáy khoảng 10 lần rồi gãi nhẹ vào chân tóc khoảng 5 lần. Dùng lòng bàn tay vò nhẹ vào đỉnh đầu khoảng 10 cái, vuốt từ trán ra thái dương, vòng sau vành tai, tới 2 bên gáy khoảng 5 lần. Làm như vậy sẽ thấy bớt nặng đầu và tỉnh táo.
Dùng ngón trỏ và ngón cái véo từ đầu tới đuôi lông mày khoảng 5 lần. Các cơ rất nhỏ của mắt được vận động sẽ lâu mỏi hơn.
Co ngón tay cái lại, lấy mu của đốt hai ngón cái xát khoảng 10 lần hai bên sống mũi, day huyệt nghinh hương (ở sát chân cánh mũi 10 lần), day chóp mũi khoảng 10 cái; Có thể giúp dễ thở, đỡ ngạt mũi hơn khi thay đổi khí hậu.
Răng hàm dưới gõ lên răng hàm trên khoảng 10 lần. Dùng ngón trỏ xát da bọc ngoài hàm trên và hàm dưới khoảng 10 cái. Khi rửa mặt lấy khăn lót ngón tay trỏ xát thẳng vào lợi. Như thế chân răng sẽ được củng cố, phòng được bệnh răng miệng. Ðưa đầu lưỡi lia bên ngoài hàm trên và hàm dưới rồi lia bên trong và hàm dưới khoảng 5 lần, nuốt nước bọt tiết ra; Có tác dụng gây cảm giác thèm ăn và kích thích tiêu hóa.
Lấy lòng bàn tay áp vào lỗ tai rồi buông ra đột ngột khoảng 10 lần. Vẫn lấy lòng bàn tay áp vào lỗ tai, bật các ngón tay vào xương chẩm sau gáy khoảng 10 lần; Xoa bóp vành tai, véo vành tai khoảng 5 lần; Có tác dụng phòng chứng ù tai, nặng tai.
Rửa mặt khô bằng bàn tay sạch, xát vào nhau cho ấm, nhắm mắt lại, hai bàn tay xát mạnh từ trán xuống cằm và ngược lại, xoa từ trán ra hai bên thái dương xuống gò má, hàm dưới và cằm khoảng 10 lần. Hai bàn tay đan các ngón vào nhau, day qua gáy khoảng 10 lần, phòng được mỏi, vẹo cổ. Có thể kết hợp xát cổ từ trên xuống dưới khoảng 15 lần, day huyệt thiên đột ở chỗ lõm trên xương ức.
Tự xoa bóp thân mình
Dùng lòng bàn tay vuốt ngực từ yết hầu xuống quá mỏ ác khoảng 10 lần. Úp bàn tay vào giữa hai núm vú, bàn tay kia đặt chồng lên xoa khắp ngực theo chiều kim đồng hồ khoảng 20 vòng. Tay phải úp vào cạnh sườn trái, luồn dưới nách trái tới tận phía sau lưng. Miết ngang theo xương sườn từ hố nách phải sang bờ lưng bên trái. Miết từ bụng xuống bụng dưới khoảng 5 lần. Ðổi sang bên trái và cũng làm như thế. Tác dụng đỡ đau xương sườn, dễ thở.
Một bàn tay nắm lại đặt vào vùng bụng dưới, bàn tay kia chồng lên xoa theo chiều kim đồng hồ khoảng 40 vòng. Cũng xoa bụng trên như thế. Tác dụng giúp bụng đỡ đầy trướng, táo bón.
Tự xoa bóp chân tay
Ngồi duỗi hai chân, xoa từ mông đùi đến cổ chân, từ trên xuống, rồi từ dưới lên khoảng 20 lần. Day hai đầu gối theo chiều kim đồng hồ khoảng 20 lần. Xoa 2 bàn chân vào nhau, cả mu và lòng bàn chân khoảng 20 lần. Tác dụng làm giảm mệt mỏi cơ bắp do phải đi đứng lâu hoặc nằm ngồi một chỗ lâu.
Bàn tay nọ nắm lấy bàn tay kia xoa xát cả lòng bàn tay và mu bàn tay khoảng 20 lần, rồi xoa bóp từ vai xuống cổ tay và ngược lại khoảng 20 lần. Làm như thế để thúc đẩy tuần hoàn máu nuôi dưỡng chi trên, tăng sức khỏe, độ dẻo dai, nhất là đối với những người phải viết nhiều và cần các động tác khéo léo.
Sau xoa bóp, nếu có điều kiện có thể thực hiện một số động tác thể dục, chạy kết hợp với thở sâu, chậm, êm, đều. Trong hoàn cảnh sống chật chội, vẫn có thể tiến hành xoa bóp để bảo dưỡng sức khỏe thường xuyên.
TẬP THỂ DỤC BUỔI SÁNG VÀ THỂ DỤC GIỮA GIỜ
Ðộng tác 1: Tập thư giãn
Nằm ngửa hoặc nằm nghiêng tự nhiên thoải mái. Theo dõi hơi thở tự nhiên của mình và nhẩm đếm liên tục từ 30 - 50 lần.
Ðộng tác 2: Tập thở bụng
Nằm hoặc ngồi thẳng, hít vào bằng mũi hoặc mồm đồng thời bụng thắt vào. Tập 10 đến 20 lần.
Ðộng tác 3: Tập đầu và cổ
Ðứng dậy, tay chống hông: Ngửa đầu hít vào bằng mũi. Cúi đầu thở ra bằng mũi. Ngoảnh mặt vào bên trái hít vào, ngoảnh mặt vào bên phải thở ra. Nghiêng đầu về bên trái hít vào, nghiêng đầu về bên phải thở ra. Quay vòng đầu (trái sang phải) hít vào, quay vòng đầu ngược lại (phải sang trái) thở ra.
Ðộng tác 4: Tập lồng ngực
Kết hợp với thở rất sâu. Ðứng thẳng, dạng chân, tay giơ cao chếch chữ V, lòng bàn tay hướng vào nhau, ưỡn ngực, ngửa mặt đồng thời hít vào từ từ và sâu bằng mũi. Hai tay ôm ngực, cúi đầu thở ra hết bằng mồm, giơ thẳng hai tay về trước, bàn tay ngửa, ưỡn ngực ngửa mặt đồng thời hít vào từ từ và sâu bằng mũi.
Ðộng tác 5: Tập tay kết hợp với thở sâu và nhịp nhàng bằng mũi
Lòng bàn tay hướng vào nhau hít vào, đầu ngón tay chạm vai. Khuỷu tay sát thân, thở ra. Lòng bàn tay hướng vào nhau, hít vào, gập hai tay về vai, đầu ngón tay chạm vai, khuỷu tay ngang vai, thở ra. Dang ngang hai tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài đồng thời hít vào. Gập hai tay trước ngực, bàn tay duỗi và úp, thở ra. Dang hai tay, bàn tay ngửa, hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Ðộng tác 6: Tập chân kết hợp với thở sâu và nhịp nhàng bằng mũi
Nhấc cao đầu gối trái, hít vào. Duỗi thẳng chân trái, ngón chân quặp từ từ, đưa chân vòng qua trái về phía sau rồi kéo chân về tư thế thẳng đứng, thở ra. Kiễng hai gót chân, hít vào. Từ từ ngồi xuống, đầu gối chụm, đồng thời đưa hai tay về phía trước, bàn tay úp, thở ra. Từ từ đứng lên, hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Ðộng tác 7: Tập vặn mình kết hợp với thở sâu và nhịp nhàng
Hít vào, thở ra - trở về cử động lúc đầu đồng thời hít vào, trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Ðộng tác 8: Tập nghiêng mình kết hợp với thở sâu và nhịp nhàng
Dạng chân trái, hai tay giơ thẳng song song về phía trước, lòng bàn tay hướng vào nhau rồi dang ngang, bàn tay ngửa, đồng thời hít vào - thở ra. Trở về cử động 1, hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Ðộng tác 9: Tập toàn thân kết hợp với thở sâu và nhịp nhàng bằng mũi
Chân phải kiễng gót, lòng bàn tay ngửa, ưỡn mình ngửa mặt, hít vào. Lòng bàn tay hướng vào nhau, thở ra. Trở về cử động 1 hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Ðộng tác 10: Tập đi bộ tương đối nhanh hoặc chạy thong thả một quãng ngắn, kết hợp nhịp nhàng với thở sâu (hai bước hít vào bằng mũi, hai bước thở ra bằng mũi hoặc mồm).
Trên đây là 10 động tác thể dục để người có tuổi tự tập hay tập có người hướng dẫn. Tuy nhiên, mỗi người có thể gia giảm đôi chút, cái chính là vận động từ từ, không bỏ qua một bộ phận nào của cơ thể.
Đậu đen với bệnh rụng tóc
Thật khó chịu khi phải "sở hữu" một mái tóc lơ thơ do bệnh rụng tóc gây nên. Bài thuốc đơn giản rẻ tiền từ đậu đen có thể giúp bạn cải thiện tình hình.
Chuẩn bị: 500 g đậu đen; 1 lít nước (tùy tình hình mà bạn định lượng thích hợp với tỷ lệ 1 đậu đen 2 nước). Sau khi rửa sạch đỗ đen, bạn cho đỗ vào nồi đất, đổ nước vào, đun với lửa nhỏ. Đợi đến khi các hạt nở đều thì lấy đậu đen ra khỏi nồi, phơi khô. Sau đó, cho thêm một ít muối vào, trộn đều. Cho đậu đen vào bình hoặc lọ sạch, dùng dần.
Mỗi ngày, bạn có thể dùng hai lần, mỗi lần khoảng 6 g. Nên nhai kỹ trước khi ăn, sau đó uống một lượng nước vừa phải.
Bài thuốc này có tác dụng rất tốt đối với những người bị hói đầu, rụng tóc, sức khoẻ giảm sút sau khi sinh, mới ốm dậy hoặc da bị lang ben.
CÂY SEN - CÂY THUỐC
BS. QUAN THẾ DÂN
Cây sen từ lâu đã rất quen thuộc với chúng ta. Hình ảnh hoa sen hồng rực rỡ "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" là biểu tượng đẹp của một loài hoa đồng nội. Hoa sen là loại hoa dân dã nhưng cũng đẹp một cách kiêu kỳ, sang trọng... Lá sen thơm mát, một hương thơm kỳ diệu khó tả thành lời. Trong rất nhiều bài thơ hay về Hà Nội, tôi nhớ nhất bài thơ về cốm Vòng của Nguyễn Xuân Thâm, trong đó có câu "Xanh già sen Tây Hồ". Có lẽ câu thơ hay không phải vì nghệ thuật gieo vần đặt chữ mà vì sự liên tưởng do nó gợi lên: lá sen xanh già, những hạt cốm non, hồ Tây, mùa thu... Cứ thế những kỷ niệm về một vùng đất, về một thời ùa về... Còn trong lĩnh vực thảo dược học, có lẽ ít loài cây nào mà hầu như tất cả các bộ phận đều là những vị thuốc quý như cây sen.
Xin kể về những vị thuốc đó:
Hạt sen (còn gọi là Liên nhục, Liên tử) vị ngọt tính bình, có tác dụng bổ tỳ dưỡng tâm cố tinh sáp trường. Hạt sen là một vị thuốc quý vừa có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, được dùng trong nhiều đơn thuốc. Ðặc biệt hạt sen còn dùng chữa trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng. Hạt sen cũng là một loại thực phẩm quý, thường dùng nấu chè, làm mứt, chế biến thành nhiều món ăn ngon. Xin nêu một vài đơn thuốc có hạt sen:
- Chữa di tinh, hoạt tinh, di niệu: bài Cố tinh hoàn
Liên nhục 2kg.
Liên tu 1kg.
Hoài sơn 2kg.
Sừng nai 1kg.
Khiếm thực 0,5kg.
Kim anh 0,5kg.
Các vị tán thành bột, riêng kim anh nấu cao, làm thành viên hoàn, ngày uống 10-20g.
- Chữa tiêu chảy mãn tính
Liên nhục 12g.
Ðảng sâm 12g.
Hoàng liên 5g.
Sắc uống hoặc tán bột uống mỗi ngày 10g.
- Chữa mất ngủ do tâm hỏa vượng: bài Táo nhân thang
Táo nhân 10g.
Viễn trí 10g.
Liên tử 10g.
Phục thần 10g.
Phục linh 10g.
Hoàng kỳ 10g.
Ðảng sâm 10g.
Trần bì 5g.
Cam thảo 4g.
Sắc uống ngày 1 thang.
Tâm sen (còn gọi là Liên tử tâm): Vị đắng tính hàn, có tác dụng thanh tâm trừ phiền, chỉ huyết sáp tinh. Dùng an thần, trị sốt cao mê sảng, hồi hộp tim đập nhanh, huyết áp cao. Thường dùng phối hợp với một số vị thuốc khác như cúc hoa, hoa hòe, hạt muồng... pha trà uống để dễ ngủ, hạ áp. Liều dùng 1,5-3g.
Tua sen (Liên tu): Vị ngọt sáp, tính bình, tác dụng thanh tâm cố thận, sáp tinh chỉ huyết. Dùng riêng hoặc phối hợp với hạt sen. Liều thường dùng 1,5-5g.
Gương sen (Liên phòng): Vị đắng sáp, tính ôn, có tác dụng tiêu ứ chỉ huyết, dùng trị các chứng băng lậu ra máu, tiểu ra máu... Thường dùng để cầm máu bằng cách đốt thành than rồi phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng 5-10g.
Lá sen (Hà diệp, Ngẫu diệp): Vị đắng sáp, tính bình, tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết. Dùng trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao. Chữa các chứng cảm sốt mùa hè rất tốt. Ðã ứng dụng nhiều năm chữa sốt xuất huyết thể nhẹ.
- Chữa sốt cao nôn ra máu, chảy máu cam: bài Tứ sinh thang
Sinh địa tươi 24g.
Trắc bá diệp tươi 12g.
Lá sen tươi 12g.
Ngải cứu tươi 8g.
Nấu lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
- Trị béo phì, hạ cholesterol máu cao: Ðây là một công dụng mới phát hiện của lá sen. Trên thị trường hiện có bán nhiều loại trà giảm béo có lá sen. Có thể tự dùng bằng cách nấu lá sen tươi uống thay nước hàng ngày, mỗi ngày 1 lá.
Ngó sen (Ngẫu tiết): Là một món ăn ngon, ngoài ra còn dùng trị các chứng đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết kéo dài, khí hư bạch đới, tiêu chảy kéo dài. Liều dùng 6-12g.
ÐÔI ÐIỀU VỀ Y HỌC DÂN GIAN
Thạc sĩ HOÀNG KHÁNH TOÀN
Ðến nay hẳn không ai phủ nhận y học dân gian là một trong những bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền y học cổ truyền nước nhà. Nhưng thế nào là y học dân gian? Ðặc trưng của nó là gì? Vai trò xu hướng phát triển ra sao?... Những vấn đề này, ngay cả trong giới chuyên ngành, không phải ai cũng đã tường tận. Bởi vậy, tình trạng hoặc nhấn mạnh một cách quá đáng hoặc quá coi thường một bộ phận trong kho tàng kinh nghiệm chữa bệnh quý báu của cha ông âu cũng là điều dễ hiểu. Trong bài viết này, chúng tôi xin được mạnh dạn trình bày một số vấn đề cơ bản để bạn đọc có thể tham khảo và bàn luận.
Y học dân gian là gì?
Có thể hiểu y học dân gian (folk-medicine) là toàn bộ những kinh nghiệm phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe có tính tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy, trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài trong những chế độ xã hội có giai cấp và tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay.
Y học dân gian còn được gọi là kinh nghiệm dân gian, y học bình dân (để phân biệt với y học bác học), y học truyền khẩu (để phân biệt với y học thành văn)... Những khái niệm này xuất hiện từ khi nào không rõ, nhưng có lẽ sớm nhất cũng chỉ từ đầu thế kỷ XX. Trên thực tế, khái niệm y học dân gian rất ít được sử dụng, mà chủ yếu là dùng các cụm từ "kinh nghiệm chữa bệnh dân gian", "môn thuốc dân gian", hay chìm lẫn trong các khái niệm y học dân tộc, y học cổ truyền, Ðông y...
Y học dân gian ra đời và phát triển như thế nào?
Ngay từ thuở nguyên sơ, khi còn ở thời đại đồ đá, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật bảo vệ cuộc sống, người xưa đã biết dùng cây cỏ quanh mình để làm thuốc và biết sáng tạo ra những cách chữa bệnh không dùng thuốc. Ví dụ, ban đầu củ gừng, củ tỏi... chỉ được dùng với mục đích nấu nướng để làm thay đổi và đa dạng hóa mùi vị, tạo ra những thức ăn ngon miệng, nhưng dần dần về sau người ta nhận thấy chúng còn có khả năng làm ấm bụng và dễ tiêu, làm hết đi lỏng do ăn phải những đồ sống lạnh..., và thế là bắt đầu một cuộc hành trình dài - từ trong lòng đất - củ gừng và củ tỏi đã theo con người lên bàn ăn, đi vào tủ thuốc của từng gia đình, đồng thời công dụng chữa bệnh của chúng được thử thách qua thời gian và lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Theo đà phát triển của lịch sử, kho tàng kinh nghiệm dân gian phòng chống bệnh tật ngày càng phong phú và đa dạng. Cùng với sự ra đời của chữ viết, người xưa đã biết ghi chép, tổng hợp và đúc rút ra những quy luật về mối quan hệ giữa cơ thể con người và bệnh tật cùng phương thức sử dụng kho tàng kinh nghiệm chữa bệnh đã có, từ đó dần dần hình thành nên nền y học thành văn mang đậm tính bác học và chuyên nghiệp. Tuy nhiên, không phải vì thế mà nền y học dân gian không còn đất để phát triển mà ngược lại, như một dòng nước ngầm chảy âm thầm trong lòng đất, nó vẫn tiếp tục có sức sống mãnh liệt, trải qua mọi thăng trầm của lịch sử, không ngừng phục vụ nhân dân và đắp bồi cho nền y học thành văn.
Y học dân gian có đặc điểm gì?
Trước hết, y học dân gian luôn mang đậm tính thực tiễn và có mối quan hệ hết sức mật thiết với đời sống sinh hoạt của nhân dân lao động. Bởi lẽ, sự ra đời, tồn tại và phát triển của nó là do nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm và lưu giữ từ đời này sang đời khác. Dường như nền y học này tham gia vào đời sống sinh hoạt thường ngày của nhân dân lao động với tư cách như là một thành phần, một nhân tố cấu thành của những sinh hoạt đó. Hai chữ "dân gian" (trong dân) trong tên gọi của nó cũng đã đủ nói rõ điều này.
Thứ hai, đó là tính truyền miệng (truyền khẩu) hay nói cách khác truyền miệng là phương thức tồn tại chủ yếu của y học dân gian, khi chưa có chữ viết thì đó là phương thức duy nhất, nhưng ngay cả khi văn tự đã xuất hiện và nền kinh tế rất phát triển thì phương thức truyền khẩu vẫn là chủ yếu với tư cách là một trong những phương thức sáng tạo của hoạt động khoa học không chuyên gắn liền với hoạt động thực tiễn.
Thứ ba, y học dân gian mang đậm tính văn hóa vì nó chính là một bộ phận không thể thiếu của kho tàng văn hóa dân tộc, nhất là nền văn học Việt cổ, so với y học thành văn nó dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa hơn. Xét về mặt nguồn gốc thì ở bất cứ dân tộc nào, y học dân gian cũng mang bản sắc đậm đà của nền văn hóa dân tộc đó.
Thứ tư, y học dân gian rất gần gũi với tự nhiên và dễ phù hợp với sinh lý tự nhiên của cơ thể con người. Phương thức dùng thuốc và không dùng thuốc của nó rất gần gũi với những sinh hoạt hàng ngày, thậm chí nhiều khi rất khó phân biệt đâu là phần can thiệp của y học và đâu là phần hoạt động sống thường nhật.
Cuối cùng, y học dân gian là một nền y học mang đậm tính đại chúng, tính phổ biến. Hầu hết các kinh nghiệm dân gian đều rất dễ dùng, dễ kiếm, đơn giản và rẻ tiền. Vì tính chuyên môn hóa không cao nên mọi người đều có thể nhận thức và vận dụng một cách dễ dàng.
Nội dung của y học dân gian?
Có thể nói, y học dân gian là cả một kho tàng kinh nghiệm hết sức phong phú, nhưng nội dung chủ yếu vẫn không ngoài hai vấn đề lớn có quan hệ hữu cơ với nhau: dưỡng sinh và trị liệu, hay nói đầy đủ là phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Khó có thể kể hết các biện pháp mà y học dân gian sử dụng nhưng tựu trung cũng không ngoài hai nhóm lớn: dược vật liệu pháp (dùng thuốc) và phi dược vật liệu pháp (không dùng thuốc). Dược vật liệu pháp bao gồm nhiều dạng thuốc như thang, cao, đơn, hoàn, tán, tửu dược, trà dược... và nhiều phương thức sử dụng như uống, bôi, xông, xoa, đắp, dán... Phi dược vật liệu pháp cũng là cả một kho tàng kinh nghiệm hết sức phong phú, từ những thủ thuật cụ thể như châm cứu, xoa bóp, cạo gió, giác hơi... đến các phương pháp tập luyện như khí công, dưỡng sinh... và những kinh nghiệm trong đời sống sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm gội, ngủ nghỉ, chọn nơi ở, dưỡng thai, sinh hoạt tình dục...
Vai trò của y học dân gian
Ra đời do yêu cầu bức thiết của thực tiễn cuộc sống và được lưu truyền giữ gìn trong nhân dân nên y học dân gian có một vai trò rất đặc biệt trong việc phòng chống bệnh tật và bảo vệ sức khỏe cho con người. Ngay cả khi nền y học thành văn đã hình thành và phát triển, y học dân gian vẫn lặng lẽ tồn tại và được sử dụng khá rộng rãi trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần đắc lực vào công cuộc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cá nhân và cộng đồng.
Ở làng xã Việt Nam, hầu như nhà nào cũng trồng dăm ba "cây nhà lá vườn" vừa để làm rau ăn, gia vị hàng ngày, vừa để dùng làm thuốc khi đau ốm, hầu như người nào cũng biết một vài bài thuốc đơn giản hoặc đôi ba môn đánh gió, cạo gió, xông, chườm, tẩm quất, day bấm huyệt..., hầu như bà nội trợ nào cũng biết cách nấu, cách dùng một số món ăn - bài thuốc theo kinh nghiệm cổ xưa truyền khẩu... Ðiều đó cho thấy, y học dân gian có một vị thế không nhỏ trong đời sống thường nhật của nhân dân ta, nhất là trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn.
Hơn nữa, y học dân gian còn có một vị trí quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền y học thành văn, mà trước hết nó là một bộ phận cấu thành không thể thiếu và là cơ sở của nền y học cổ truyền nói chung. Không ít những kinh nghiệm chữa bệnh dân gian đã được phân tích, chứng minh, chỉnh lý và nâng cao dưới ánh sáng của khoa học kỹ thuật hiện đại và được áp dụng một cách rộng rãi, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng một nền y học hiện đại.
Cho đến nay, ở nước ta, y học dân gian đã được quan tâm phát hiện, bảo tồn và khai thác, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục giải quyết, thậm chí là khá cấp bách như: thống nhất quan điểm, đấu tranh khắc phục một số quan niệm cực đoan (hoặc quá coi thường y học dân gian do hiểu biết còn nông cạn, hoặc quá nệ cổ mà đề cao nền y học này một cách quá đáng); Khẩn trương phát hiện, sưu tầm và bảo tồn kho tàng tri thức y học dân gian, tránh nguy cơ thất truyền đang có xu hướng tăng cao, nhất là ở cộng đồng các dân tộc thiểu số; Tích cực tổ chức nghiên cứu chứng minh, thẩm định các kinh nghiệm dân gian trên cơ sở khoa học và không làm mất đi bản sắc của chúng... Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng: Con người khó lòng biết hết được kho tàng kinh nghiệm từ hàng ngàn năm dồn lại và ngày nay vẫn đang tích lũy thêm lên. Khoa học dù có tiến bộ đến đâu cũng không thể giải mã hết được những bí mật của tạo hóa. Vì vậy, bên cạnh khoa học bao giờ cũng tồn tại kinh nghiệm sống của con người được tạo nên bởi bề dày của sự tiến hóa và bề dày của lịch sử từng dân tộc, trong đó không thể thiếu vắng nền y học dân gian.
Chú thích ảnh: Con nấc mẹ dán ngọn trầu không.
|