( Trở về trang Hải Trình )
  Bản quyền (c) Đệ Nhị Hổ Cáp * Khóa 20 SQHQ/NT  

  Mục Lục :
Y học thường thức

5 cách chữa bệnh bằng mật ong
Mật ong đem lại sức khỏe và sắc đẹp.
Để chữa đau cổ họng, bạn có thể uống hỗn hợp mật ong hòa với nước ép gừng. Thứ đồ uống này còn giúp bạn giảm triệu chứng của cảm lạnh như ho, chảy nước mũi… Một số ứng dụng khác của mật ong:
- Giúp sáng mắt: Pha một thìa mật ong vào nước ép cà rốt, uống trước khi ăn sáng khoảng một giờ; bạn sẽ có đôi mắt trong sáng, tia nhìn tinh anh.
- Thúc đẩy tuần hoàn máu: Trộn 1 thìa nước ép tỏi với 2 thìa mật ong. Dùng 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng và tối. Bài thuốc này giúp thúc đẩy tuần hoàn máu trong cơ thể, khiến da dẻ hồng hào, mịn màng hơn.
- Giảm béo: Pha 1-2 thìa mật ong với 1 thìa nước ép chanh vào một ly nước ấm. Việc uống hỗn hợp này mỗi ngày sẽ giúp lọc sạch đường ruột, giảm béo.
- Trị hen: Trộn 1/2 g bột tiêu đen với mật ong và nước ép gừng, uống 3 lần/ngày.

Trị bong gân bằng y học cổ truyền
Lạc cũng có tác dụng chữa bong gân.
Bong gân là một tổn thương thường gặp ở gân, cơ, dây chằng, bao khớp tại các khớp. Nếu xử trí không kịp thời và đúng cách, nó có thể để lại di chứng như hạn chế vận động khớp, cứng khớp...
Nguyên nhân gây bong gân thường gặp nhất là lao động nặng, chơi thể thao,mang vác vật nặng, bước hụt. Người bệnh thường có cảm giác đau buốt, sưng đỏ hoặc xanh tím, phù nề quanh khớp bị tổn thương.
Để chữa bong gân, có thể áp dụng những bài thuốc Nam sau:
- Rau hẹ tươi rửa sạch, giã nát rồi đắp vào chỗ tổn thương. Ngày đắp 1-2 lần.
- Lá bưởi tươi rửa sạch, giã nát, trộn với ít rượu trắng đắp vào chỗ đau, mỗi ngày 1-2 lần.
- Lá cây nhãn sấy khô, giã nát, trộn với bột chín làm thành hồ, đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày có thể làm 1-2 lần.
- Lạc nhân 60 g, băng phiến 5 g, giã nát, đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.
- Lá sen tươi 60 g, hạt dành dành 12 g. Cả hai vị đem giã nát, đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.
- Dây bí ngô 50 g, gừng tươi 20 g, giã nát đắp vào chỗ đau, có thể dùng băng để cố định thuốc tại chỗ đau, thỉnh thoảng nhỏ thêm ít rượu loãng vào miếng thuốc đắp.
- Hành củ, gừng già và cỏ gấu lượng bằng nhau, giã nát rồi trộn với bột mỳ và rượu trắng, đắp vào chỗ đau.
- Pha mật gấu với rượu trắng nhạt, trong uống ngoài xoa; có tác dụng tiêu sưng nề, tan máu tụ, giảm đau nhanh.
- Hành 2-3 củ, đậu phụ 60 g, giã nát rồi đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.

Mùi vị lạ trong miệng và cách chữa bằng Đông dược.
Ông T., 50 tuổi, hay bị đầy bụng sau bữa ăn, đại tiện lúc táo lúc lỏng, trong miệng luôn có vị ngòn ngọt (dù ông không hề ăn đồ ngọt), súc miệng, đánh răng mãi cũng không hết. Sau khi đi khám nhiều nơi không tìm ra nguyên nhân, ông đến một lương y và được biết mình mắc chứng "tỳ vị khí hư", "hư nhiệt nội sinh".
Sau vài ngày uống thuốc của vị lương y, cảm giác ngọt trong miệng ông T. dần dần biến mất. Triệu chứng đầy bụng sau khi ăn cũng giảm hẳn...
Trên lâm sàng, trường hợp như ông T. thực ra không hiếm. "Vị lạ trong miệng" thực chất là loại triệu chứng sớm, báo trước bệnh tật. Theo lý luận của Đông y, lưỡi thông với tạng Tâm. Khi cơ thể khỏe mạnh, tâm khí điều hòa thì trong miệng không có vị lạ, lưỡi có thể phân biệt chính xác các mùi vị. Nhưng khi âm dương mất cân bằng, hoạt động của một số tạng phủ bị rối loạn, tạng tâm có thể bị ảnh hưởng khiến cho tâm khí bị rối loạn, trong miệng xuất hiện mùi vị dị thường.
Miệng ngọt: Tạng Tỳ bị nóng thì miệng có vị ngọt; nghĩa là khi chức năng tiêu hóa của tỳ vị bị "nhiệt tà" gây rối loạn thì miệng thấy ngọt. Điều này tương tự cách lý giải của y học hiện đại: Chức năng tiêu hóa rối loạn có thể dẫn tới sự phân tiết dị thường một số men tiêu hóa; đặc biệt là khi lượng men amylase trong nước bọt tăng lên, miệng sẽ cảm thấy có vị ngọt.
Miệng ngọt do tỳ vị thực nhiệt: Thường do ăn quá nhiều thứ cay nóng, hoặc do nhiệt độc ở bên ngoài xâm phạm, lâu ngày tích tụ lại mà gây bệnh. Ngoài cảm giác ngọt miệng, bệnh nhân thường thấy khô khát, thích uống nước mát, ăn nhiều, mau đói; hoặc lưỡi lở loét, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô. Để khắc phục, cần thanh tỳ tả hỏa bằng cách dùng một trong 2 bài thuốc sau:
- Tả hoàng tán: Hoắc hương 15 g, chi tử 10 g, thạch cao 10 g, cam thảo 8 g, phòng phong 2 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
- Thanh vị tán: Hoàng liên 10 g, đương quy 10 g, thăng ma 10 g, sinh địa 12 g, đan bì 12 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Ngọt miệng do tỳ vị khí hư: Thường gặp ở người cao tuổi hoặc người mắc bệnh lâu ngày, tỳ vị bị tổn thương, dẫn đến tình trạng cả thực thể và chức năng bị thương tổn (khí âm lưỡng thương), khiến nhiệt tích ở bên trong (hư nhiệt nội sinh) thiêu đốt tân dịch ở tạng tỳ mà gây nên bệnh. Biểu hiện thường gặp: Miệng có cảm giác ngọt mà háo, người mệt mỏi, thở yếu, chán ăn, bụng đầy trướng, đại tiện lúc táo lúc nhão.
Để khắc phục, cần ích khí kiện tỳ và hòa vị dưỡng âm bằng cách dùng 2 bài thuốc sau: Sa sâm 15 g, mạch môn đông 10 g, ngọc trúc 10 g, phục linh 10 g, sinh địa 12 g, hoắc hương 12 g, sa nhân 8 g, trích cam thảo 8 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng đắng: Theo y học hiện đại, vị đắng trong miệng thường liên quan đến những rối loạn trong quá trình chuyển hóa dịch mật. Còn theo Đông y, khi "nhiệt" tích tụ ở gan mật, gây rối loạn chức năng tiêu hóa thủy cốc thì trong miệng xuất hiện vị đắng. Bệnh nhân thường bị đau đầu, choáng váng, chất lưỡi vàng mỏng.
Để khắc phục, cần dùng phép "thanh can tả hỏa" bằng bài thuốc "Long đảm tả can thang": Long đảm thảo (sao rượu) 10 g, hoàng cầm (sao rượu) 12 g, chi tử 10 g, mộc thông 10 g, trạch tả 15 g, xa tiền tử 15 g, sinh địa (sao rượu) 15 g, đương quy (sao rượu) 10 g, sài hồ 10 g, cam thảo 5 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng chua: Y học hiện đại cho rằng, cảm giác chua miệng thường hay gặp ở những người viêm dạ dày và viêm loét đường tiêu hóa, liên quan đến sự gia tăng tiết dịch ở dạ dày. Còn theo Đông y, chua miệng có liên quan mật thiết với chứng can tỳ bất hòa" (tạng can bị rối loạn, ảnh hưởng xấu đến chức năng tiêu hóa của tỳ vị). Ngoài cảm giác chua miệng, bệnh nhân thường thấy ngực sườn đau tức, đau đầu hoa mắt, bồn chồn, dễ cáu giận, sau khi ăn bụng đầy trướng, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng mỏng.
Để khắc phục, cần tả can hòa vị bằng bài thuốc sau: Hoàng liên 10 g, ngô thù du 10 g, phục linh 10 g, bạch truật 10 g, nhân sâm 6 g, cam thảo 3 g, trần bì 15 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng mặn: Theo Đông y, mặn là vị của thận. Nếu làm lụng mệt nhọc quá mức, tuổi cao sức yếu hoặc mắc bệnh lâu, thận sẽ bị suy tổn, chất dịch từ đây vọt lên trên khiến miệng có vị mặn (thường kèm theo lưng gối mỏi đau, đầu choáng tai ù, ngực, lòng bàn chân bàn tay nóng, mồ hôi trộm, di tinh, rêu lưỡi ít).
Để khắc phục, cần tư âm giáng hỏa, bổ ích thận âm bằng bài thuốc sau: Tri mẫu 10 g, hoàng bá 10 g, sơn dược 10 g, đan bì 10 g, phục linh 10 g, thục địa 15 g, ngô thù du 12 g, trạch tả 12 g, phụ tử 12 g, nhục quế 8 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Miệng hôi: Thường liên quan đến 3 tình huống.
- Vị hỏa hun đốt: Miệng nóng hôi, chất lưỡi đỏ hay lở loét, hoặc chân răng sưng thũng, kèm theo khát nước, thích uống lạnh, đại tiện táo, nước tiểu vàng. Để khắc phục, cần thanh tả vị hỏa bằng bài thuốc: Đại hoàng 10 g, hoàng cầm 10 g, hoàng liên 5 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
- Thức ăn tích trệ: Miệng hôi có mùi như lên men chua, mùi thức ăn thối rữa, hoặc kèm theo mùi thức ăn sống, chán ăn, rêu lưỡi dày nhớt. Để khắc phục, cần tiêu thực hóa tích bằng bài thuốc: Sơn tra 10 g, thần khúc 12 g, lai phục tử 10 g, trần bì 10 g, bán hạ 10 g, phục linh 10 g, liên kiều 10 g. Sắc uống.
- Không chú ý vệ sinh răng miệng: Bị sâu răng hoặc viêm loét khoang miệng. Có thể sử dụng bài thuốc: Hoàng cầm 10 g, hoắc hương 10 g, thạch cao 10 g, sinh địa 10 g, cam thảo 4 g. Sắc lấy nước ngậm nhiều lần trong ngày.

Ăn gì để giảm stress?
Chuối là vị thuốc bổ cho thần kinh.
Bạn không gầy và ốm đau, song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và bồn chồn. Đó là những biểu hiện thông thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc sống hiện đại.
Thần kinh căng thẳng cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ. Có rất nhiều loại thực phẩm hỗ trợ cho thần kinh nhưng không gây béo. Vì vậy, việc lựa chọn đúng loại và đúng liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn sảng khoái.

Thực đơn hoàn thiện
Ăn đủ bữa và đủ chất là yếu tố đầu tiên cần lưu ý. Trong bữa ăn cần có đủ rau, ngũ cốc và hoa quả. Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản xuất đủ lượng đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị hạ đường huyết - nguyên nhân số một gây bồn chồn và cáu gắt.
Đối với thần kinh yếu...
Bột mì là dưỡng chất an toàn nhất. Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh mì hoặc các loại bánh quy trong ngày. Nên lưu ý đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm có tác dụng bồi bổ não như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối ... Thói quen uống đều đặn chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh.

Uống nhiều nước
Uống nước lọc vào bất cứ lúc nào có thể. Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày. Cần loại bỏ thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè đen. Làm nóng cầu chì năng lượng...
Bằng những thực đơn sau:
- Nấu cháo gạo tẻ với sữa 2 lần/tuần.
- Salát hoa quả gồm chuối, dứa.
- Bữa phụ nên ăn lạc rang, hạt điều, hạt dẻ.
Nước sinh tố: 1 quả chuối, 1 thìa nước cốt chanh tươi, 1 thìa lạc rang bóc vỏ, 1 thìa mật ong, 150 mg sữa tươi. Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống không hoặc kèm với đá bào. Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng cường năng lượng, sữa giàu canxi và lạc mang lại lecithin. Tất cả đều rất có lợi cho hoạt động của não bộ.

9 bí quyết để ăn nhiều mà không béo
Nên từ chối những món có nhiều năng lượng như thế này.
Một số người sợ béo nên ăn quá ít. Kết quả là chưa kịp gầy đi thì cơ thể họ đã mệt mỏi, suy nhược; để rồi sau đó cơn “cuồng” ăn trỗi dậy, làm họ béo thêm. Những "kinh nghiệm ăn uống" sau giúp bạn tránh phải kiêng khem khổ sở mà không sợ bị béo.
Hãy kiên nhẫn thực hiện theo 9 lời khuyên dưới đây:
- Ăn chậm: Ăn càng chậm, thức ăn được thu nhận càng ít. Sau khi chúng vào dạ dày 20 phút, đại não sẽ truyền tín hiệu: “No rồi”.
- Khi được mời đi ăn tiệc, hãy hàn huyên với bạn bè để giảm “mật độ” ăn uống. Hãy từ bỏ ý nghĩ: “Ăn hôm nay, mai nhịn bù”.
- Dùng các loại thức ăn có lượng dinh dưỡng thấp, tránh chất béo. Ngoài ra, bạn có thể chọn những món phải nhai đi nhai lại nhiều lần như bánh mì cứng, rau nhiều xơ...
- Khi nấu nướng, nên chọn phương pháp chế biến tự nhiên, thô sơ như: luộc, nướng, hấp. Vứt bỏ tất cả thức ăn thừa của ngày hôm trước.
- Khi cảm thấy đói mới ăn, không nhất thiết đến giờ là ăn.
- Ăn xong nên rời bàn ngay.
- Nên ngồi ăn, không nên đứng hay nằm.
- Trong khi xem phim, đọc sách, không nên ăn vặt hay nhâm nhi các loại nước ngọt.
- Vận động, làm việc vặt trong nhà để tiêu hao bớt năng lượng dư thừa trong cơ thể.

Cách dùng sơn tra phòng chống rối loạn lipid máu
Quả sơn trà (táo mèo).
Nếu như trong y học cổ truyền, loại quả này chỉ giúp tiêu thực thì với y học hiện đại, nó còn có nhiều tác dụng khác, trong đó có công năng điều chỉnh rối loạn lipid máu.
Sau đây là một số cách dùng sơn tra nhằm lập lại sự cân bằng của quá trình chuyển hóa lipid trong cơ thể và dự phòng tích cực các bệnh lý thuộc hệ tim mạch như tai biến mạch não, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim...
- Sơn trà 60 g, gạo tẻ 100 g, đường trắng 10 g. Nấu sơn tra và gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Tiêu thực tích, tán huyết ứ, làm giảm mỡ máu.
- Trà mạn 6 g, sơn tra 15 g, hoa hòe 18 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 18 g, hà thủ ô 30 g; sắc uống thay trà. Công dụng: Tiêu thực giảm béo, làm mềm huyết quản, hạ lipid máu, thích hợp cho những người béo phì có kèm theo rối loạn lipid máu.
- Sơn trà 30 g, tang thầm (quả dâu chín) 15 g, gạo tẻ 30 g; nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Dưỡng huyết, hoạt huyết, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu. Thích hợp cho những người bị rối loạn lipid máu thuộc thể Âm hư dương cang (hoa mắt chóng mặt, lòng bàn tay bàn chân nóng, hay sốt nóng về chiều, đau vùng trước tim, đổ mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ ít hoặc không rêu).
- Sơn trà 30 g, hà diệp (lá sen) 10 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu ở tất cả các thể.
- Sơn trà 10 g, hòe hoa 10 g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt bình can, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu có kèm theo cao huyết áp.
- Sơn trà 10 g, cúc hoa 10 g, thảo quyết minh 15 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Làm giảm mỡ máu, khứ ứ thanh nhiệt, thông tiện. Dùng cho người bị rối loạn lipid máu và béo phì.
- Sơn trà, kim ngân hoa, cúc hoa mỗi thứ 15 g, tang diệp 10 g; sắc uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt, bình can, hoạt huyết, hóa ứ, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu kèm theo cao huyết áp và các chứng trạng của Can dương thượng cang (đầu choáng mắt hoa, mắt đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, ngực bụng đầy tức, tai ù, hay quên, đại tiện táo kết).
- Sơn trà 15 g, trạch tả 15 g, kỷ tử 30 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Dưỡng can, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng thích hợp cho người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp.
- Sơn trà 30 g, hoa hòe tươi 5 g, lá sen non 15 g, thảo quyết minh 10 g, đường trắng vừa đủ; sắc kỹ lấy nước, chế thêm đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Làm giãn mạch máu, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu.
- Sơn tra 15 g, đan sâm 15 g, quyết minh tử 12 g, hồng hoa 5 g; sắc uống thay trà, dùng liên tục 1-3 tháng. Công dụng: Hoạt huyết thông mạch, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, thiểu năng tuần hoàn não và bệnh động mạch vành.
- Sơn trà 15 g, nhân trần 20 g, sinh mạch nha 15 g; sắc kỹ 2 lần, chia uống 2 lần trong ngày, liên tục trong nửa tháng. Công dụng: Thanh can lợi đởm, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu có kèm theo tình trạng chán ăn, đầy bụng, chậm tiêu.
- Sơn trà 9 g, nấm linh chi 9 g, trạch tả 15 g, thảo quyết minh 15 g, xích thược 12 g; sắc uống trong ngày. Công dụng: Tán ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành.
- Sơn tra 50 g, mạch môn 30 g, ngâm với 1.000 ml rượu trắng, mỗi ngày lắc 2 lần, sau 10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 20 ml. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch.
- Sơn trà, quyết minh tử, hà thủ ô, tang ký sinh, trạch tả mỗi thứ 100 g, mật ong vừa đủ. Đem các vị thuốc sắc kỹ lấy 500 ml rồi hòa với mật ong, đun sôi một lát là được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50 ml, 30 ngày là một đợt điều trị. Công dụng: Hoạt huyết, hóa ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp.
- Sơn trà, tang ký sinh, hoàng kỳ mỗi thứ 30 g, ngũ vị tử 10 g, bồ công anh 70 g, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 g; 30 ngày là một liệu trình điều trị. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt, ích khí bổ thận và làm giảm mỡ máu.
- Sơn trà 30 g, cát căn 15 g, tang ký sinh 15 g, quyết minh tử 30 g. Tất cả sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 8 g với nước ấm, 30 ngày là một liệu trình. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt, giáng áp, giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu kèm theo huyết áp cao.
- Sơn trà, hà thủ ô, thảo quyết minh mỗi thứ 15 g, đan sâm 20 g, kỷ tử 10 g, sắc kỹ, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, ích khí bổ thận, thanh nhiệt, giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành.

Điều kỳ diệu của chất xơ
Hoa quả và rau xanh rất giàu chất xơ.
Một chế độ dinh dưỡng ít chất béo và giàu sợi xơ có thể giúp ngăn ngừa nguy cơ phát triển các bệnh ung thư đường tiêu hóa. Nguyên nhân có thể do chất xơ trong ruột được chuyển hóa thành các axit béo trung hòa có tính năng chống ung thư.
Trước đây, người ta tin rằng chất xơ chỉ có tác dụng phòng ngừa táo bón và bình ổn huyết áp. Tuy nhiên, các chuyên gia đến từ Viện Ung thư Mỹ và Đại học Arizona khẳng định sức mạnh của chất xơ còn mạnh hơn nhiều: nó còn khống chế bệnh ung thư thư ruột kết ở bất cứ giai đoạn nào. Chất xơ có nhiều trong trái cây, rau củ và các chế phẩm từ lúa mỳ. Theo giáo sư Barnett Kramer, thành viên nhóm nghiên cứu, sợi xơ tự nhiên trong thực phẩm có thể kìm hãm sự phát triển các túi nang bất thường trên thành ruột.
Nhóm của Kramer đã theo dõi một số bệnh nhân có ít nhất một khối u polyp - dạng tiền khởi của ung thư, và những người đang phải đối mặt với nguy cơ phát triển khối u mới. Hầu hết số bệnh nhân này còn dễ bị ung thư ruột kết, do có rất nhiều dạng ung thư bắt đầu từ những khối polyp. Sau khi một số người được chỉ định một chế độ ăn giàu chất xơ và ít béo, số khác vẫn ăn những khẩu phần ăn bình thường, các chuyên gia nhận thấy nhóm có chế độ dinh dưỡng đặc biệt có ít nguy cơ phát triển khối u polyp mới trong nhiều năm, theo đó tránh được cả ung thư ruột kết.
Một bằng chứng khác được tiến sĩ Denis Burkitt - vốn là một chuyên gia phẫu thuật khối u - ghi nhận được từ cuộc sống thường ngày. Ông đã phát hiện ra cư dân ở những vùng quê châu Phi nghèo khổ ít bị ung thư ruột kết hơn người phương Tây. Nguyên nhân là do trong khẩu phần ăn hằng ngày của họ rất giàu chất xơ.
Theo các chuyên gia về dinh dưỡng và ung thư hàng đầu thế giới, dường như có một hiện tượng sinh hóa đặc biệt ở đây. Chất sợi thường được chế biến thủ công và quá trình này đã giúp loại bỏ đáng kể các tác nhân gây ung thư. Do đó, hệ tiêu hóa, đặc biệt là phần ruột kết sẽ ít phải tiếp xúc trực tiếp với các chất độc hại. Chính những thức ăn chế biến thủ công lại giúp cho hoạt đông tiêu hóa diễn ra dễ dàng hơn, làm cho thời gian lưu lại trong đường ruột của thức ăn ít hơn, giúp ruột tránh phải chịu một áp lực sinh hóa bất thường.
Ngoài ra, chất xơ còn có tính năng hấp thu các axit có trong dịch mật, cũng như những hóa chất tiết ra từ gan và bao tử. Lượng axit mật dư thừa có thể gây tổn thương tế bào, dẫn đến sự xuất hiện khối ung thư. Trong khi đó, càng ăn nhiều chất béo thì lượng axit dịch mật tiết ra càng nhiều.