Mục Lục :
|
Đông Y và Tây Y
Đông y và Tây y đều nghiên cứu sự sống và bệnh tật của con người nhằm tìm ra các phương pháp điều trị hữu hiệu. Hoàn cảnh lịch sử và sự khác nhau về phương pháp nhận thức đã hình thành những hệ thống học thuật riêng. Sự khác biệt Tây y - Đông y không phải là sự khác biệt giữa “khoa học” và “phi khoa học”, mà là giữa phương pháp nghiên cứu và sách lược tiếp cận đối tượng. Suy cho cùng, mỗi loại phương tiện đều vận hành theo những nguyên lý riêng, có ưu điểm và nhược điểm nhất định.
Nhận thức của Đông y về sinh lý và bệnh lý không căn cứ vào hình trạng giải phẫu cụ thể, mà xuất phát từ các chức năng. Đối với thầy thuốc Đông y, hình trạng và kết cấu các cơ quan không quan trọng bằng các chức năng của nó. Hầu hết những khái niệm trong Đông y đều có tính “hữu danh vô hình”, nghĩa là chỉ biểu thị chức năng, chứ không nhất thiết phải đồng nhất với một cơ quan hay tổ chức thực thể. Những khái niệm như “âm dương”, “khí huyết”, “tạng phủ”, “kinh lạc”... được hình thành thông qua trực giác chứ không chỉ dựa vào thực chứng hay thực nghiệm.
Ví dụ: Các thầy thuốc Đông y thường nói “tả can hữu phế” (gan trái, phổi phải). Nghe thấy vậy, một người hiểu biết chút ít về giải phẫu sinh lý sẽ lập tức thốt lên: Hoàn toàn sai lầm! Có điều, trong Đông y, “can” chỉ “tạng can”, “phế” chỉ “tạng phế”, mà ngũ tạng của Đông y (tâm, can, tỳ, phế, thận) không phải là tim, gan, lách, phổi và thận trong giải phẫu học. Mỗi một tạng hoặc phủ thực chất là một “tổ chức kết cấu động” bao gồm những chức năng tương đồng, đồng bộ theo những tiết luật về không gian - thời gian. Cơ thể người là một Thái cực đồ. Theo phương vị trong không gian, tạng can ở hướng Đông, phía bên trái; tạng phế ứng với hướng Tây, bên phải. Nói “tả can hữu phế” nghĩa là tạng can đưa khí dương lên trên từ phía bên trái, tạng phế dồn khí âm xuống dưới ở phía bên phải. Với mệnh đề này (cùng với những phương thuốc, biện pháp “điều khí”), Đông y đã chữa trị được rất nhiều chứng bệnh mà Tây y phải bó tay.
Có người nói: “Đông y chữa người bệnh, còn Tây y chữa bệnh của người”. Còn nói: “Đông y chỉ thấy rừng mà không thấy cây, Tây y chỉ thấy cây mà không thấy rừng”. Nói như vậy tuy có phần hơi quá, phóng đại, nhưng việc Đông y coi trọng cách tiếp cận tổng quát - toàn bộ “khu rừng”, còn Tây y thì coi trọng những chi tiết cụ thể về từng “cái cây” là sự thật không thể phủ nhận. Đông y coi con người là một chỉnh thể không thể chia cắt, con người giống như một “vũ trụ thu nhỏ”. Phương pháp tư duy hình tượng, trực cảm trong Đông y càng thể hiện rõ trong quá trình chẩn đoán, chữa trị bệnh tật.
Thời xưa, trong hoàn cảnh chưa có các thiết bị tinh vi, Đông y đã phát minh ra một hệ thống chẩn trị độc đáo, đó là phép “biện chứng luận trị”. Khi khám chữa bệnh, thầy thuốc dùng Tứ chẩn (tức “vọng - nhìn, văn - nghe, vấn - hỏi, thiết - bắt mạch, sờ nắn) để thu thập thông tin khách quan về bệnh. Tiếp đó, thầy thuốc phân tích và quy nạp theo “Bát cương” (8 cương lĩnh), tức âm, dương, biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực để tìm ra căn nguyên, bản chất, vị trí bệnh và tương quan giữa “chính khí” và “tà khí”. Sau đó là bước xác định phương pháp và vị thuốc chữa trị cụ thể.
Đối với bệnh tật, Đông y coi trọng "chứng”, còn Tây y thì coi trọng “bệnh”. Chứng trong Đông y không phải là một “triệu chứng đơn nhất theo nghĩa thông thường, mà là một chỉnh thể, là cả “rừng cây”, có tính vĩ mô. Còn “bệnh” là một khái niệm cụ thể, là “cái cây”, mang tính vi mô.
Thời xưa, thần y Hoa Đà từng chữa trị cho hai người cùng bị bệnh phát sốt, đau đầu. Nhưng khi kê đơn thuốc, ông lại cho một bệnh nhân dùng thuốc “tả hạ” (thông đại tiện mạnh - thuốc tẩy), còn người khác dùng thuốc “phát hãn” (làm ra mồ hôi để giải cảm). Có người thắc mắc: “Vì sao họ có cùng một bệnh, ông lại cho dùng những bài thuốc khác nhau như vậy?” Hoa Đà giảng giải: “Bệnh một người thuộc chứng nội thực, bệnh người kia thuộc chứng ngoại thực, vì vậy phải sử dụng những phép chữa và bài thuốc khác nhau”. Và 2 ngày sau, cả hai người đều khỏi bệnh.
Thời nay, một danh y đã chữa hai người cùng bị bệnh loét tiêu hóa. Bệnh nhân thứ nhất từng bị viêm loét và xuất huyết dạ dày. Một lần, do làm việc quá sức, lúc đi đường lại gặp mưa to, về đến nhà, anh ta uống chút rượu nho lạnh thì đột nhiên thổ huyết liên tục; vào bệnh viện cấp cứu và chữa trị bằng Tây y 2 ngày vẫn không sao cầm được. Sợ thủng dạ dày, các bác sĩ quyết định phẫu thuật gấp. Người nhà bệnh nhân do dự, nửa đêm đến tìm vị lương y già họ Bồ. Ngay tối đó, bệnh nhân được dùng “Trắc bách diệp thang”. Sáng hôm sau, thổ huyết tạm ngừng, vị lương y thêm “nhân sâm” và “tam thất” cùng sắc uống. Sau vài lần điều chỉnh đơn thuốc, người bệnh không còn bị thổ huyết; bệnh viêm loét dạ dày cũng khỏi và nhiều năm sau không tái phát.
Bệnh nhân thứ hai bị viêm loét hành tá tràng đã 13 năm, đại tiện phân lẫn máu, dạ dày đau, lúc đói đau tăng thêm; đã chữa trị khắp nơi không có kết quả. Thầy Bồ xem mạch, cho uống “Tứ nghịch tán” kết hợp với “Tả kim hoàn”. Sau một thời gian, bệnh đã được chữa khỏi hoàn toàn. Cả hai trường hợp, theo y học hiện đại đều thuộc một bệnh loét tiêu hóa nhưng lại thuộc hai “chứng” khác nhau theo phân loại của Đông y, nên đã được áp dụng những phép chữa và phương thuốc khác nhau. Người thứ nhất có chứng “vị hàn huyết ứ”, phải dùng phép chữa “ôn thông vị dương” và “tiêu ứ chỉ huyết”. Người thứ hai thuộc chứng “can vị bất hòa kiêm thấp nhiệt”, phải dùng các phép chữa “sơ can hòa vị”, “thanh nhiệt lợi thấp”.
Công việc chẩn đoán và chữa trị bệnh tật của thầy thuốc Đông y thực chất là một quá trình suy đoán về sự hoạt động của cơ thể, thông qua nhận thức về những biểu hiện bên ngoài của từng người bệnh. Vì vậy, việc chữa trị bệnh tật trong Đông y có chính xác, hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực nhận biết của thầy thuốc.
'Thiền định' với sức khỏe
Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ thể.
Theo định nghĩa thông thường, thiền định là một kiểu thư giãn chủ động tích cực với hiệu quả cao nếu luyện tập đúng cách. Theo định nghĩa khoa học, thiền định là quá trình đạt tới sự tỉnh thức tuyệt đối trong trạng thái tĩnh, có được do luyện tập. Đó là trạng thái tập trung ức chế đồng đều cả nơron thần kinh cảm giác lẫn nơron thần kinh vận động, tập trung bắt đầu từ vỏ não và hệ thần kinh vận động.
Khác với thư giãn thông thường, thiền định có tác dụng điều chỉnh lớn đến mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại, cân bằng cơ thể với môi trường sống; kiểm soát quá trình quan hệ giữa nội giới và ngoại giới. Vì thế, ngoài tác dụng thư giãn, thiền định còn có tác dụng phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng các chức năng cơ thể mà chủ yếu là mất cân bằng giữa tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh.
Tác dụng thư giãn của thiền định có được đem lại là do người tập điều khiển vỏ não, chủ động ức chế hệ thần kinh động vật, từ đó dẫn đến ức chế hệ thần kinh thực vật mà trước tiên là các trung khu hô hấp, làm giảm nhịp thở kèm theo buông lỏng cơ. Khi đã ức chế sâu, thư giãn cơ sâu thì nhịp thở rất thấp, năng lượng tiêu hao xuống tối thiểu, cơ thể rơi vào tình trạng đông miên, hô hấp trên từng tế bào cơ thể đều giảm đến mức tối thiểu.
Ở những người có tập thiền (không kể các nhà tu hành chân chính), nhu cầu vật chất không lớn, một mặt vì sau khi tập, chuyển hóa cơ thể xuống thấp, tiêu hao năng lượng ít và hợp lý. Do đó, người tập thiền không có nhu cầu lớn cho các sinh hoạt. Người tập thiền tốt không cần ăn nhiều mặc dù khẩu vị của họ rất tốt, ăn rất ngon miệng. Không lấy gì làm lạ, các nhà tu hành chân chính tập thiền đạt đến mức tiêu hao năng lượng cơ thể xuống mức tối thiểu. Hằng ngày họ thường chỉ ăn một bữa vào chính ngọ mà vẫn lao động sinh hoạt bình thường.
Người tập thiền tốt đương nhiên sẽ tạo lập được trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, điều hòa được các nhu cầu sinh hoạt tinh thần, chủ động điều tiết được hệ thần kinh sinh dục, luôn luôn cân bằng giữa ý thức và tâm thức. Có lẽ vì thế mà chúng ta không thấy họ mắc các bệnh tâm sinh lý đặc biệt.
Khi ngồi thiền, các cơ quan trong cơ thể tương tác cân bằng nhau ở mức chuyển hóa rất thấp. Theo định luật phản hồi, nó tác động đến hệ thần kinh, đưa ra trạng thái tâm sinh lý của người thiền. Đỉnh cao của trạng thái sinh lý này là thời gian ngồi “nhập thiền”, tác dụng của nó không chỉ có trong lúc ngồi thiền mà còn kéo dài trong suốt cả ngày. Ngoài thời gian ngồi thiền, người tập vẫn duy trì trạng thái này bằng cách giữ sự cân bằng tương tác các cơ quan của cơ thể, được thực hiện bằng những hoạt động nhẹ nhàng tập trung không phân tâm trong suốt cả ngày.
Theo giáo sư Soto Yukimasa (Đại học Kyoto, Nhật Bản), thiền giúp tăng cường tính nhẫn nại, làm cho ý chí bền vững, tăng cường khả năng suy nghĩ, ổn định về tình cảm và mau chóng khiến đầu óc tỉnh táo, bình tĩnh. Nó cũng giúp nâng cao hứng thú và hiệu suất của hành động, hình thành nhân cách hoàn thiện hơn và đạt tới cảnh giới giác ngộ. Bác sĩ Hasegawa (Đại học Osaka) cho rằng việc tọa thiền sẽ phát triển sự tập trung của phần não bên trong, tức là phần dưới vỏ não, và tập trung sự hoạt động của vỏ não.
Theo Viện đại học Cologne (Đức), thiện định giúp người ta bớt nóng nảy, hung hăng, giảm bệnh về tinh thần và ham muốn khống chế, cấm đoán, ngăn cản người khác, giảm tính bất định. Nó làm tăng sức hòa hợp, thân thiện với người khác, biết kính nể người và tự chê mình, tăng sự tự tin, thỏa mãn, khả năng chịu đựng trong tình huống xấu, tăng tính quả quyết, tự tin ...
Tóm lại, nghiên cứu của các tác giả gần giống nhau về trạng thái hoạt động của hệ thần kinh người tập thiền. Đó là trạng thái yên tĩnh, ổn định không xung đột của hệ thần kinh với biểu hiện: nhẫn nại, bền bỉ, tự tin, bình tĩnh, ổn định nhân cách, hoàn thiện tình cảm, đầu óc sảng khoái, thân thiện, hòa hợp với mọi người. Trạng thái yên tĩnh ổn định, sự ứng xử hợp tình hợp lý với sự việc và con người xung quanh chứng tỏ người tập thiền luôn vui vẻ về tâm hồn và khỏe mạnh về thể chất.
Khi chủ động giảm được tiêu thụ năng lượng, gốc tự do trong cơ thể cũng giảm theo; cơ thể cân bằng hoạt động tương tác các cơ quan. Sự cân bằng ổn định của cơ thể sẽ tác động trở lại não bộ theo định luật phản hồi, tạo trạng thái cân bằng ổn định cho hoạt động của vỏ não, tăng sức bền, sức chịu đựng và khả năng điều hòa, điều khiển cơ thể. Trạng thái thần kinh này giúp con người chống stress rất tốt.
Sức khỏe thể lực tốt cùng với trạng thái thần kinh ổn định sẽ làm cơ thể thích ứng tốt với môi trường sống và môi trường nhân văn. Đó là nền tảng của cơ sở phòng bệnh. Nếu sự cân bằng các cơ quan tương tác được duy trì, cơ thể sẽ không xảy ra những tai biến bất thường. Ví dụ: Nếu tương tác giữa cơ quan tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh được ổn định thì thường không xảy ra các tai biến về não.
'Thập nhị đoạn cẩm' - bài tập tự chữa bách bệnh
“Thập nhị đoạn cẩm”, nghĩa là 12 tấm gấm. Việc luyện tập 12 động tác này lâu ngày sẽ làm cho huyết mạch lưu thông, trừ khử bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.
Phương pháp tập như sau:
1. Cắn răng: Hai hàm răng nhẹ nhẹ cắn vào nhau 36 lần.
2. Nuốt nước bọt: Lòng dạ thanh thản, lấy đầu lưỡi ngoáy trong mồm để nước bọt ra đầy mồm, rồi súc miệng 36 lần, nuốt nước bọt làm 3 lần và dùng ý niệm đưa nước bọt về phía đan điền (vùng dưới rốn).
3. Rửa mặt: Hai tay xoa vào nhau cho nóng lên, rồi xoa lên mặt, từ hai khóe miệng lên cánh mũi ra hai bên má, lên hai bên thái dương, lại kéo xuống cằm, làm đi làm lại nhiều lần, xoa đến khi nóng là được.
4. Gõ trống trời: Hai tay bịt tai, ngón tay trỏ đặt lên trên ngón tay giữa rồi bật mạnh xuống đầu, làm 24 lần.
5. Động huyệt cao manh: Hai vai quay đi quay lại 36 lần.
6. Đỡ trời: Nắm hai tay, sau khi hít đầy khí, nín thở, đồng thời một tay xòe ra hướng lên trời, sau đó từ từ bỏ xuống, mỗi tay làm 3 lần.
7. Bắn cung phải trái: Nín hơi, tay trái đưa thẳng ra phía trước, tay phải làm động tác kéo dây cung. Tay phải tay trái đổi động tác cho nhau, làm 3 lần.
8. Xoa đan điền: Tay trái để vào chỗ thận, tay phải xoa vào đan điền, hai tay thay đổi nhau 36 lần.
9. Xoa huyệt nội thận: Nín hơi, hai tay xoa cho nóng, xoa huyệt mệnh môn (chính giữa thắt lưng, dưới đốt sống thứ 2 tính từ dưới lên) 36 lần.
10. Xoa huyệt dũng tuyền: Tay trái cầm bàn chân trái lên, tay phải xoa vào bàn chân trái 36 lần, lại đổi sang chân phải.
11. Xoa huyệt hiệp tích: Xoa khe xương ngực số 3 và số 4; 36 lần.
12. Vẩy chân: Chân trái đứng yên, chân phải nhấc lên vẩy 7 lần, lại đổi sang chân trái, vẩy 7 lần.
Đây là bài tập tối thiểu cho một người bình thường; nghĩa là một người khỏe mạnh khi có điều kiện cần luyện tập những môn thể dục mạnh khác, thập nhị đoạn cẩm chỉ là bài tập bổ sung.
Những người cao tuổi hoặc có bệnh, tùy theo hoàn cảnh, nên tập đều đặn bài này, phải kiên trì tập hằng ngày, ít nhất là một lần một ngày.
Có những người thời gian rất eo hẹp do phải đi công tác, phải thường xuyên tiếp khách khứa... Có thể chia thành nhiều phần tập vào những khoảng thời gian thích hợp trong ngày. Thí dụ: Khi đi vệ sinh, ở trong phòng toilette vẫn có thể tập các động tác từ số 1 đến số 7, chí ít là đến động tác số 5. Còn các động tác khác như xoa bóp có thể thực hiện ngay khi tắm. Lúc đó, vừa kết hợp kỳ cọ, vừa xoa bóp toàn thân, trước hết ưu tiên xoa các huyệt mà bài tập đã nêu từ động tác 8 đến động tác 10. Khi tắm, nên ngồi xuống xoa huyệt dũng tuyền ở hai lòng bàn chân, kết hợp với xoa xà phòng, kỳ cọ cả bàn chân, sẽ có cảm giác thật thú vị, hết sức dễ chịu.
Các động tác 1, 2 nếu thực hiện đều đặn sẽ rất có hiệu quả cho hệ tiêu hóa. Trước đây, ông Đàn thường bị đau đại tràng, đau dạ dày ở vùng thượng vị, táo bón... Từ khi tập đều đặn thập nhị đoạn cẩm, nhất là các động tác 1, 2 thì các chứng trên biến mất, khiến ông ăn uống rất chủ động, không phải kiêng quá mức, dùng bia rượu vẫn không hề hấn gì.
Động tác thứ 3 (rửa mặt) có thể vận dụng sáng tạo thêm, miễn là có thời gian và sức khỏe để thực hiện. Thí dụ: Có thể dùng hai ngón tay trỏ day các huyệt ở chân mũi, thời gian tùy ý, hoặc day mắt, xoa quanh miệng nhiều vòng.
Động tác 4 (gõ trống trời) cũng có thể cải tiến thêm như: kẹp hai vành tai bằng ngón trỏ và ngón giữa, xoa day nhiều lần cho nóng lên, rồi mới thực hiện tiếp các điều chỉ dẫn.
Thuật sống thọ
Bí ẩn về sự trường thọ của người châu Á.
Ở châu Á rất nổi tiếng trên thế giới về sự trường thọ của người dân. Người dân khu vực này tự hào trước thực tế những vùng có nhiều người thọ lâu một cách đặc biệt và đây không phải là trường hợp hiếm có, hy hữu. Không chỉ riêng người dân tỉnh Ba Mã ở Trung Quốc nổi tiếng về sống thọ mà tại nhiều khu vực khác của châu Á, người dân cũng tự hào về tuổi thọ của mình.
Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Tuổi thọ bình quân của những người dân nước này hiện là 81,6. Đảo Okinawa của Nhật Bản là nơi có tuổi thọ bình quân cao nhất thế giới là 81,8 tuổi. Thung lũng Hunza ở vùng núi phía Bắc nước Pakistan cũng là nơi nổi tiếng với những người dân sống thọ trên 100 tuổi đã từng được sách báo thế giới nói đến từ thập niên 30 của thế kỷ 19. Và ở Hàn Quốc, các nhà lảo khoa đang nghiên cứu một quần thể làng ở vùng núi Sungchang, nơi có những nông dân hơn 90 tuổi vẫn còn làm việc trên các cánh đồng. Vậy bí ẩn nằm ở đâu?
• Okinawa, hòn đảo của tuổi thọ
Cuối tháng 1-2005, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản tự hào cho biết Nhật Bản tiếp tục giữ vị trí là nước có nhiều người trên 100 tuổi nhất thế giới. Thống kê của Bộ Y tế Nhật cho thấy số người ở độ tuổi “3 chữ số” ở nước này sẽ đạt kỷ lục mới trong năm nay, với 25.038 người, vượt qua mức kỷ lục năm ngoái là 2.000 người.
Bộ Y tế Nhật cho biết con số năm nay, bao gồm những người Nhật sẽ bước sang tuổi 100 vào cuối tháng này, đã vượt xa con số 23.038 người được ghi nhận trong năm qua. Cũng trong năm 2003, phụ nữ Nhật đã lập kỷ lục mới về tuổi thọ, với tuổi thọ bình quân là 85,3. Đàn ông Nhật có thể thọ đến 78,3 tuổi. Tại Mỹ, theo báo cáo năm 2002 của Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh và Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia Mỹ, tuổi thọ của phụ nữ Mỹ là 79,9 và tuổi thọ của đàn ông Mỹ là 74,7.
Số người sống trên trăm tuổi của Nhật đã tăng lên gấp 150 lần kể từ khi chính phủ bắt đầu việc thống kê vào năm 1963 - năm mà số người trường thọ như vậy chỉ là 153 người. Năm 2003 là lần đầu tiên số người trên trăm tuổi ở Nhật đạt mức 20.000 người. Trong 12 năm qua, số người sống trăm tuổi tại Nhật đã tăng 10% mỗi năm và phụ nữ vẫn chiếm đa số với 84,7% trong khi Okinawa luôn là nơi chiếm số đông nhất trong số 47 tỉnh, thành của xứ hoa anh đào. Tỉ lệ người sống 100 tuổi tại Nhật là 18,05/100.000 người.
Theo Bộ Y tế Nhật, quần đảo Okinawa phía Nam Nhật có nhiều người trên 100 tuổi nhất, 635 người, với tỉ lệ 47/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức bình quân toàn quốc là 18/100.000. Nằm ở cực Nam Nhật Bản, đảo Okinawa được xem là nơi có số người sống thọ nhiều nhất thế giới: 660 người thọ trên 100 tuổi, tuổi thọ trung bình của nam giới là 78 và nữ giới là 86. Ở độ tuổi 90, 80% nam giới và 60% nữ giới ở đây vẫn còn minh mẫn, vượt xa con số 40% tại các nước Âu Mỹ. Ngoài ra, tất cả những người già đều duy trì được nồng độ hormone sinh dục rất cao. Sau 27 năm nghiên cứu hiện tượng này, chuyên gia về tim mạch và lão khoa nổi tiếng người Nhật Makoto Suzuki đã tìm ra bí quyết, đó là môi trường không khí trên đảo không bị ô nhiễm, các cư dân đều duy trì cách ăn uống truyền thống (nhiều rau, cá), hoạt động nhiều (đi bộ, làm vườn), sống tương thân tương ái (tránh stress). Trong ngày, người già ở Okinawa không bao giờ ở yên. Ngoài thời gian dành cho nhà cửa (dọn dẹp, giặt giũ, nấu ăn), họ còn gặp nhau vào đầu giờ chiều để cùng chơi bóng cổng (gate-ball), một dạng cricket nhẹ nhàng. Chơi xong, mọi người cùng nhau đi bộ về nhà, cách sân đấu vài cây số, vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ.
• Trung Quốc: 3 khu vực có nhiều người sống thọ nhất.
Làng Pinghan, một khu làng nhỏ bé nằm sâu giữa các dãy núi đá vôi ở vùng Tây Nam huyện Ba Mã, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc là nơi đang thu hút được sự chú ý đặc biệt của các chuyên gia lão khoa vì vùng này là một trong những nơi có tỉ lệ nhiều người sống thọ lâu một cách kỳ lạ trên thế giới. Trong số 238.000 người dân thành phố Ba Mã đã có hơn 78 người trên 100 tuổi và 237 người trên 90 tuổi.
Cuối năm 2004, ba thành phố có nhiều người trường thọ ở Trung Quốc là Như Cao (tỉnh Giang Tô), Chung Tường (tỉnh Hồ Bắc) và huyện Ba Mã (khu tự trị Quảng Tây) đã tổ chức "Diễn đàn chung những xứ sở trường thọ hàng đầu Trung Quốc" để cùng tìm hiểu bí quyết sống lâu của loài người.
Hiện nay, huyện Ba Mã có 78 cụ trên 100 tuổi, thành phố Chung Tường có 42 cụ, thành phố Như Cao có 209 cụ. Ba khu vực này đã được công nhận là nơi vó nhiều người sống lâu nhất ở Trung Quốc nói riêng và trên thế giới nói riêng. Theo số liệu thống kê mới nhất được Bộ Dân số và Gia đình Trung Quốc công bố, hiện nước này là một trong những nước tại châu á có nhiều người cao tuổi sống trên thế giới với 130 triệu người (10% dân số). Theo dự báo, đến giữa thế kỷ 21, số người già ở Trung Quốc sẽ lên hơn 400 triệu, chiếm khoảng 1/4 dân số.
Theo con số thống kê của Trung Quốc, ở thủ đô Bắc Kinh có khá nhiều người sống trên 100 tuổi. Khi điều tra người ta thấy rằng nhiều người trong số này sống tự nhiên theo sở thích mà không để ý gì tới những kiêng kỵ để kéo dài tuổi thọ. Bà Liao Wengying 106 tuổi, người cao tuổi nhất Bắc Kinh kể rằng: Bà thích ăn mỡ và bữa ăn tối bà thích nhất món thịt kho Tàu. Người phụ nữ này trông vẫn khỏe mạnh, tai vẫn thính và mắt vẫn tinh. Người ta đoán cùng lắm bà chỉ khoảng 80 tuổi. Người cao tuổi thứ hai là bà Gua Biru, 105 tuổi, mỗi tháng ăn 2 kg đường trắng và khoảng 3 kg bánh kẹo khác. Bà Feng Koushi ở quận Haidian thích ăn rất mặn. Vậy mà bà không bị huyết áp cao cũng chẳng có biểu hiện gì về bệnh tim mạch như những phân tích y học thường chứng minh và cảnh báo. Tuy nhiên, ngoài một vài trường hợp cá biệt như vậy còn nói chung những người trường thọ đều có lối sống lành mạnh, có lợi cho sức khỏe và tuổi thọ. Những người trường thọ này thường ăn những thức ăn đơn giản, không có hàm lượng protein cao và không quá giàu dinh dưỡng. Phần lớn họ sống theo lối truyền thống, có từ 3 - 5 thế hệ sống chung dưới một mái nhà. Con cháu quây quần bên ông bà và tình yêu thương đùm bọc của đại gia đình làm cho người già lúc nào cũng vui vẻ và đầu óc luôn thoải mái.
Theo điều tra nhân khẩu học thì những người này thường xuất thân từ các gia đình nông dân, có gen "sống thọ". Cha mẹ của những người cao tuổi hàng đầu trước đây cũng thọ tới 80 - 90 tuổi hoặc có người sống tới 100 tuổi. Phần lớn những người trường thọ là những người gầy, tầm thước và có một đời sống tinh thần thoải mái dễ chịu.
• Giải mã những bí ẩn về sự trường thọ
Thật may mắn khi chúng ta là người châu Á và mang trong mình những bí ẩn của vùng đất huyền diệu này. Vì sao có một số cộng đồng dân cư châu Á sống ở những nơi rất xa nhau, có những tập tục văn hóa và điều kiện sống hoàn toàn khác nhau lại mang đặc điểm chung là có tuổi thọ rất cao? Điều này các nhà khoa học đã tiến hành thu thập và phân tích nhiều dữ liệu thông tin, từ thói quen ăn uống cho đến sở thích riêng của những người có tuổi thọ cao nhất và đã hé lộ một phần "bí quyết":
Theo các chuyên gia, chế độ ăn uống chủ yếu là cá và ít mỡ của người Nhật là bí quyết giúp họ sống lâu. Con số người ở độ tuổi 100 hoặc hơn ở Nhật đã tăng hầu như mỗi năm kể từ khi chính phủ bắt đầu thống kê vào năm 1963, khi nước Nhật nỗ lực hiện đại hóa để nâng cao mức sống của người dân. Người già nhất Nhật Bản hiện nay là cụ bà Ura Koyama, 115 tuổi, thấp hơn 2 tháng tuổi so với người giữ kỷ lục sống thọ nhất thế giới theo sách Guinness là một phụ nữ Hà Lan tên Hendrikje van Andel-Schipper. Bà Koyama sinh vào tháng 8-1890 ở Hiroshima, hiện đang sống trong bệnh viện và vẫn ăn đủ 3 bữa ăn/ngày bằng đôi đũa của mình. “Bà thích mọi thứ và không có những suy nghĩ bi quan, tiêu cực. Tôi nghĩ chính tính cách của bà đã giúp bà sống thọ” – Takeshi, cháu trai 59 tuổi của bà, cho biết. “Tôi hy vọng một ngày nào đó bà sẽ trở thành người sống thọ nhất thế giới”.
Ngoài những điều mà những người thọ lâu ở châu Á vẫn thường hay truyền lại cho con cháu như ăn ít thịt, nhiều rau và thường xuyên tập thể dục thì có một bí quyết đã được người dân Okinawa đúc kết thành câu thành ngữ: "Chỉ ăn no tám phần mười". Điều này mới nghe thoạt đầu chúng ta sẽ cảm thấy khó tin, nhưng các nhà khoa học Mỹ đã công bố một công trình nghiên cứu cho biết một chế độ ăn từ 1.50 calo đến 1.400 calo mỗi ngày sẽ giúp chúng ta nâng cao sức khỏe và tuổi thọ. Chuyên gia lão khoa Chen, người đã hơn 10 năm nghiên cứu sự trường thọ ở Ba Mã, cho biết: Người dân ở vùng này thường xuyên không được ăn no trong nhiều năm. Còn các nhà nghiên cứu ở Okinawa cho biết những người dân trên đảo có chế độ ăn ít calo hơn 20% so với mức bình thường ở Nhật Bản, trong khi mức tiêu thụ calo trung bình ở Nhật thấp hơn 20% so với Mỹ. Hiện nay, tuổi thọ trung bình ở Nhật cao hơn ở Mỹ là 4,5 tuổi.
Ngoài chế độ ăn ít calo, các nhà nghiên cứu đang ra sức tìm hiểu các loại thức ăn riêng ở từng địa phương đã giúp người cao tuổi giảm những căn bệnh liên quan đến tuổi già. Chẳng hạn như, những người dân Ba Mã vẫn thường hay nấu ăn bằng loại dầu ăn lấy từ quả gai dầu. loại dầu ăn này có nhiều chât béo chưa no, vitamin E và B1 là những chất có tác dụng chống ô-xy hóa, làm cho hệ tim mạch khỏe hơn và ngăn ngừa được một số bệnh ung thư. Còn những người dân đảo Okinawa cao tuổi thường ăn rất nhiều cá có dầu như cá hồi, cá ngừ và cá thu. Những loại cá này có nhiều chất béo omega-3 có khả năng ngăn ngừa những căn bệnh về tim mạch. Ngoài ra, người dân nơi đây còn ăn nhiều đậu phụ, những món ăn làm từ đậu tương và quả goya có chứa nhiều chất flavonoit và một số hợp chất có tác dụng phòng chống ung thư khác. Vì vậy, hằng năm ở Okianwa, tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh đau tim chỉ bằng 1/5 so với ở Bắc Mỹ, trong 100.000 người dân mới có 6 người bị chết vì ung thư vú, thấp hơn 5 lần so với Mỹ, tỉ lệ bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến thấp hơn 7 lần so với Mỹ. Ở một công trình nghiên cứu khác, bác sĩ L.Bonci, Trưởng Khoa Dinh dưỡng của Đại học Pittsburgh (Mỹ), đã công bố kết quả nghiên cứu của ông cùng các đồng nghiệp về một số loại thức ăn giúp kéo dài tuổi thọ. Theo đó, trong chế độ ăn hằng ngày mọi người nên bổ sung 5 thành phần dinh dưỡng sau: các chế phẩm từ đậu nành (ít nhất là 30 g/ngày); chất xơ từ rau củ và trái cây (20 g- 35 g chất xơ với ít nhất từ 9 - 11 lần ăn/ngày); các loại rau quả có màu sắc xanh đậm, tím, đỏ và vàng như rau cải, cà, dâu, cam vốn chứa carotenoid, anthocyanin giúp ngăn ngừa bệnh tim, ung thư và cải thiện trí nhớ; năng uống sữa tốt nhất là loại sữa không quá béo (1.000 mg/ngày) và uống nhiều nước (2 - 2,5 lít/ngày) giúp thải độc tố ra khỏi cơ thể.
Tuy vậy, chế độ ăn dù tốt đến đâu cũng không thể biến ta thành người thọ trăm tuổi, mà sự trường thọ là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố từ chế độ ăn, chế độ tập luyện thủ dục, trạng thái tâm lý, môi trường gia đình, xã hội và yếu tố di truyền. hầu hết người dân Okinawa đều có thói quen hoạt động nhiều. Ngoài công việc làm ăn, họ thường xuyên khiêu vũ, đi bộ, làm vườn... Người già cũng vậy, cứ đầu giờ chiều là họ hẹn nhau cùng chơi bóng cổng (gate ball), một dạng cricket không rõ nguồn gốc mà từ vài năm nay đã được xem là "môn thể thao của những người bất tử". Cụ bà Hide Nakamasu, hiện đã 92 tuổi, ở đảo Okianawa nhưn chưa hề bỏ buổi chơi môn bóng gậy cổ truyền ở địa phương. Cụ cho biết, chính yếu tố di truyền là một trong những nhân tố quan trọng giúp con cái và cháu chắt của bà sống lâu. Cha mẹ của cụ trước đây đều đã thọ trên 90 tuổi. trong số 3 người con, 10 người cháu và 9 chắt của cụ chưa có ai bị ốm nặng bao giờ. Điều này rất hợp lý và các nhà khoa học đã từng nghiên cứu tác động của gien di truyền đối với tuổi thọ. Còn tại thung lũng Sunchang, cư dân có thói quen leo bộ lên các dốc núi vừa để lao động vừa để tập thể dục trong khí trời tinh khiết. hơn nữa, khẩu phần ăn uống bao giờ cũng bao gồm đậu các loại, bánh làm từ bột kiều mạch và cây óc chó lẫn nhiều loại rau tươi đã giúp kéo dài tuổi thọ của người dân nơi đây thêm 10 tuổi.
Cuối cùng, theo các nhà nghiên cứu, một trong những yếu tố then chốt nữa dẫn đến sự trường thọ là tinh thần. Yếu tố tinh thần đóng góp một phần không nhỏ vào cuộc sống của những người trường thọ. Đó là khả năng vượt qua những căng thẳng trong cuộc sống thường ngày. Đó còn là sự lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống. Như cụ bà Huang Maliang ở làng Ba Mã cho đến nay dù đã 105 tuổi vẫn tự hào về khả năng may vá thêu thùa của mình cho dù bà đã không cầm kim từ 2 năm qua do đau thần kinh tọa. Hay như cụ ông Asanori Takemuara ở đảo Okinawa, là thợ làm bánh dù đã 93 tuổi nhưng vẫn đều đặn thức dậy lúc 5 giờ để vào làm ca buổi sáng, công việc mà ông đã làm từ hơn nửa thế kỷ qua. Tuy tuổi đã cao nhưng ông vẫn sáng tạo ra thêm nhiều kiểu bánh mới. Hay như cụ bà Setsuko Miyasato cũng đâu thua kém các cụ bà cùng tuổi khác khi vẫn đều đặn dành 3 giờ mỗi ngày để chăm sóc cây trái trong ruộng rau và vườn cây ăn quả của mình cho dù đã ngoài 90 tuổi. "Nói cho cùng thì thái độ sống của bạn mới là quan trọng nhất. Mỗi buổi sáng thức dậy tôi lại cảm thấy hạnh phúc và biết ơn trời đất đã ban tặng cho mình cuộc sống, vẫn cho mình khỏe mạnh. Bạn nên cố gắng không lo nghĩ quá nhiều về ngày mai. Đừng bận tâm quá. Đừng suy nghĩ nhiều quá. Hãy hát lên" - cụ bà Setsuko Miyasato bộc bạch. Ngoài ra, cũng theo bà Setsuko Miyasato, sự tôn trọng, coi trọng tiếng nói, uy tín của người già đã tạo nên sức mạnh nội lực cho người cao niên sống vui vẻ là yếu tố quan trọng để kéo dài tuổi thọ. Thật là tuyệt vời làm sao khi một trong những yếu tố đem lại sự trường thọ cho con người cũng đồng thời là yếu tố giúp ta sống vui vẻ, hạnh phúc hơn.
|